Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thơ Văn Phật Giáo


...... ... .

 

 

Lầu Hoàng Hạc

Hoang Phong

 

            Thôi Hiệu (704-754), người Biện Châu, huyện Khai Phong (bây giờ là một thành phố lớn) thuộc tỉnh Hà Nam. Ông đi chơi tỉnh Vũ Xương, trèo lên lầu Hoàng Hạc, tức cảnh đề thơ. Bài thơ viết theo thể thất ngôn, lấy tựa là lầu Hoàng Hạc, dịch âm như sau : 

 

                                                            Hoàng Hạc Lâu

 

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.

Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tái không du du.

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

 

                    Thôi Hiệu (thế kỷ thứ 8)

            Tạm dịch nghĩa như sau:

 

                                                Người xưa đã cỡi hạc vàng bay xa,

Nơi này chỉ còn trơ lầu Hoàng Hạc,

Hoàng hạc bay xa không trở lại,

Ngàn năm mây trắng vẫn trôi hoài.

Trời quang nhìn thấy cả hàng cây ở tận bến Hán Dương.

Cỏ thơm  xanh rờn trên bãi sông Anh Vũ.

Chiều xuống, chẳng biết quê nhà ở phương nao,

Khói sóng trên sông làm cho ta buồn.

 

            Biết bao nhiêu thi sĩ Việt Nam và những người yêu thơ cỗ đã dịch bài thơ này. Tôi xin chép ra đây vài bản được nhiều người biết đến, như các bản dịch của các cụ Tản Đà, Trần Trọng Kim, Khương Hữu Dụng.

                       

Gác Hoàng Hạc

                                                           

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu ?

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ !

Hạc vàng đi mất từ xưa,

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.

Hán dương sông tạnh cây bày,

Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.

Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai ?

                                Tản Đà dịch

Lầu Hoàng Hạc

                                                           

Người đi cỡi hạc từ xưa,

Đất này Hoàng Hạc còn lưa một lầu,

Hạc vàng đi mất đã lâu,

Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.

Hán Dương cây bóng lòng sông,

Bãi kia Anh vũ, cỏ trông xanh rì,

Chiều hôm lai láng lòng quê,

Khói bay sóng vỗ, ủ ê nỗi sầu.

 

                    Trần Trọng Kim dịch

 

Lầu Hoàng Hạc

                                                           

Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút,

Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi!

Hạc vàng một đã đi, đi biệt ?

Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi.

Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng,

Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời,

Hoàng hôn về đó, quê đâu tá?

Khói sóng trên sông não dạ người.

                    Khương Hữu Dụng dịch.

 

            Theo tôi bản dịch của cụ Tản Đà hay nhất, nhiều thi tính và ít gượng ép. Quả thật khó mà dịch nỗi cách ỡ đối ngữ ữ và ỡ đối ý ữ trong bài thơ của Thôi Hiệu. Bài thơ của ông có tám câu, chữ và ý đều đối nhau từng cặp hai câu. Kỹ thuật đạt đến mức tuyệt đỉnh. Nhạc tính phong phú. Hoài cảm và xúc động của ông trước thiên nhiên đã đạt đến mức cao độ.

 

            Tôi đã có ý định thử dịch xem sao, nhưng khi đọc bản diễn nôm của cụ Tản Đà, liền bỏ ngay cái ý điên rồ đó. Cụ Tản đã cản lối những người đi sau mất rồi. Chỉ thấy trong bản dịch của cụ hai chữ có thể thay được :

 

            - Câu ba, chữ ỡ đi ữ có thể thay bằng chữ ỡ bay ữ, vì chim thì bay đúng hơn là đi.

- Câu cuối, chữ ỡ ai ữ, có thể thay bằng chữ ỡ ta ữ, vì chữ ỡ ai ữ tuy nhẹ nhàng nhưng hời hợt và vô tình hơn chữ ỡ ta ữ, chữ ỡ ta ữ có vẽ thầm kín và đậm đà hơn.

 

            Bài thơ Lầu Hoàng Hạc là bài thơ nổi tiếng nhất của Thôi Hiệu và cũng là một trong những bài thơ thất ngôn nổi tiếng của cả thời Đường. Theo tích xưa, vào thế kỷ thứ 6 trước tây lịch, có một vị tiên cỡi một con hạc vàng đến đáp ở bãi sông Trường Giang. Người sau xây một cái tháp tại nơi này để tưởng nhớ đến vị tiên. Tháp trở thành một nơi thắng cảnh, nhưng có lẽ vì hai bài thơ của Thôi Hiệu và Lý Bạch (Nơi lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng), mà lầu Hoàng Hạc đã trở thành cái lầu nổi tiếng nhất của nước Tàu ngày nay.

 

Thôi Hiệu sinh năm 704, Lý Bạch sinh năm 701, hai người trạc tuổi nhau. Thôi Hiệu đề thơ ở lầu Hoàng Hạc trước. Khi Lý Bạch đến chơi, thấy bài thơ của Thôi Hiệu, liền phóng bút mà phê như sau:

 

                                    Nhân tiền hữu cảnh đạo bất đắc,

                                    Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.

 

            Hai câu này ngày nay thấy khắc bằng chữ thật lớn thếp vàng trên một phiến đá cạnh nơi lầu Hoàng Hạc, chữ và mặt đá còn mới, chắc chắn không phải bút tích của chính Lý Bạch. Xin tạm dịch nghĩa hai câu ấy như sau:

 

                                    Thấy cảnh đẹp trước mắt chưa tìm ra lời,

                                    Đã thấy thơ của Thôi Hiệu đề trên đỉnh đầu.

 

            Khen nhau đến như thế thì quả thật siêu phàm, chỉ có những vĩ nhân mới làm được và viết được. Tuy khen nhưng biết đâu trong lòng cũng tức nhau một tiếng gáy, vì sau này Lý Bạch cũng có làm một bài thơ về lầu Hoàng Hạc, viết theo thể thất ngôn tuyệt cú. Bài thơ cũng nổi tiếng không kém bài Hoàng Hạc lâu của thôi Hiệu.  Bài thơ của Lý Bạch như sau:

 

                        Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng

 

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,

Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.

Cô phàm viễn ảnh bích sơn tận,

Duy kiến trường Giang thiên tế lưu.

 

                    Lý Bạch (thế kỷ thứ 8)

           

            Tạm dịch nghĩa như sau:

 

Tiễn bạn từ biệt hướng tây nơi lầu Hoàng Hạc,

Tháng ba hoa khói, đi Dương Châu.

Cánh buồm khuất xa trong vùng núi biếc,

Chỉ thấy dòng Trường Giang chảy ở chân trời.

 

            Bình luận và vạch cái ỡ hay ữ của Đường thi thì vô tận, chưa kể những thêu dệt quá lố của một số phê bình gia. Không biết bao nhiêu sách Tàu và sách Ta nói đến thơ Đường. Ngay cả sách Tây, có những tác giả chỉ cần nghiên cứu, giải thích và bình luận một bài thơ Đường duy nhất cũng viết thành một quyển sách. Tôi chỉ xin ghi chú thêm vài chi tiết nhận thấy trong một ít sách Ta mà tôi biết :

 

1- Trong câu một, các chữ ỡ từ biệt hướng tây ữ (tây từ), các phê bình gia và thi nhân của Ta, từ cụ Ngô Tất Tố đến cụ Trần Trọng Kim và v.v. đều hiểu rằng ỡ giã biệt ở hướng Tây lầu Hoàng Hạc ữ. Cụ Ngô Tất Tố không thấy nói đến hướng Tây trong câu thơ dịch của cụ nhưng cụ có giải thích rằng Mạnh Hạo Nhiên đi lên phía Tây. Nếu tra cứu kỹ hơn, như trong sách Đường thi tam bách thủ của Lưu Đại Trừng (do một người bạn gốc Hoa thuật lại cho tôi) thì diễn nghĩa của câu một phải là ỡ Bạn cũ đi về hướng Đông, từ biệt ở bên lầu Hoàng Hạc  ữ. Như thế có lẽ hợp lý hơn. Mạnh Hạo Nhiên từ biệt phía Tây đi về hướng Đông tức là Dương Châu. Trong một câu thơ cô đọng như thơ Đường mà có đến hai túc từ xác định cùng một nơi chốn (đã chỉ rõ lầu Hoàng Hạc, lại xác định thêm ở phía Tây của lầu Hoàng Hạc) có lẽ thừa, Lý Bạch lại không thấy điều ấy chăng ? Mặt khác, ta biết rằng Quảng Lăng và Dương Châu là một, tức ở vào hướng Đông, thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay. Mạnh Hạo Nhiên từ biệt hướng Tây đi về hướng Đông. Thơ Đường quả thật tinh vi và bí hiểm, xử dụng thật ít chữ nên đôi khi khó hiểu.

 

Mạnh Hạo Nhiên (689-740) là người Tương Dương, tánh tình phóng khoáng, không màng danh lợi, ẩn cư đọc sách ở núi Lộc Môn, cỡi lừa ngao du sơn thủy, không đi thi. Năm 35 tuổi, xuôi dòng Trường Giang đi về phía Đông du ngoạn vùng Chiết Giang, đến năm 39 tuổi mới quay về Tương Dương. Năm 40 tuổi ông lên Tràng An, tài thi phú của ông đã làm chấn động cả giới thi nhân tại kinh đô lúc bấy giờ. Theo sách của Cheng W.F. và  Collet H.  (LI PO l’immortel banni buvant seul sous la lune, (Lý Bạch, con người bất tử ngồi uống rượu một mình dưới trăng) nhà xuất bản Moundarren, ấn bản lần thứ tư, 1990) Lý Bạch làm bạn với Mạnh Hạo Nhiên lúc ông 28 tuổi, Mạnh Hạo Nhiên lúc ấy đã 40. Có lẽ hai người gặp nhau ở kinh đô Tràng An (?). Vậy họ từ biệt nhau ở lầu Hoàng Hạc vào năm nào, và Lý Bạch làm bài thơ tiễn Mạnh Hạo Nhiên vào lúc nào ? Có lẽ vào những năm hai người mới quen nhau và cùng du ngoạn ở vùng ba hẽm vực trên sông Trường Giang ?

 

2- Trong câu hai, chữ ỡ yên hoa ữ (hoa khói) không ai biết đích xác là gì. Cụ Kim không dịch, Cụ Tất Tố dịch thẳng là hoa khói. Có sách thì giải thích là mưa bụi, tuyết khói lấm tấm như hoa v.v. và v.v. Tôi dốt đặc chữ Hán, chỉ biết dùng một chút xúc cảm trong tôi để đến gần với Lý Bạch mà thôi. Đứng ở lầu Hoàng Hạc nhìn ra Trường Giang thì chỉ thấy có sóng và nước, nên tôi trộm nghĩ ỡ yên hoa ữ ở đây là khói trên mặt sóng, hoặc khói sóng như hoa trên mặt nước tức bọt sóng (?), như thế vừa phù hợp với cảnh vật và cả ý thơ : chữ yên (khói) trong thơ Tàu thường đi đôi với cảnh sông nước, thuyền của Mạnh Hạo Nhiên lướt trên hoa sóng của Trường Giang để đi Dương Châu.

 

3-  Câu ba, hầu hết các sách Tàu và Ta đều ghi là ỡ bích không tận ữ (Cánh buồm xa hút trong màu trời xanh vô tận).  Riêng sách của Lưu Đại Trừng chép là ỡ bích sơn tận ữ, ông  dựa vào những bài thơ ký sự của Lục Du (1125-1210) và cho rằng chữ sơn mới đúng là chữ của Lý Bạch đã viết. Dù sao thì chữ sơn, theo ý tôi, có lẽ cũng hay hơn chữ không (cánh buồm xa dần trong vùng núi biếc), và cũng tránh khỏi lập đi lập lại với chữ thiên tế (chân trời) trong câu bốn. Không biết chữ nào đúng hơn và đúng với chữ mà Lý Bạch đã dùng.

 

Tôi xin chép ra đây bản dịch của bài thơ sang pháp văn tìm thấy trong cuốn sách tiếng Pháp đã trích dẫn trên đây :

 

      Au Pavillon de la Grue jaune, adieu à Meng Hao jan qui part à Kuan ling

 

Mon vieil ami quitte l’ouest au Pavillon de la Grue jaune

Dans la splendeur des nuées de fleurs au trosième mois, il descend vers Yang chow

La voile solitaire, lointaine silhouette, dans l’azure disparaît

On ne voit plus que le Long Fleuve couler au bord du ciel.

 

Cheng W.F. và Collet H., tháng 5, 1988 (Sách xuất bản lần thứ nhất)

           

            Theo bản dịch này ta thấy rõ là Mạnh Hạo Nhiên rời hướng Tây và hoa khói có nghĩa là hoa xuân trong tháng ba. Tác giả còn thêm danh từ rực rỡ (splendeur) để chỉ hoa khói (nuées de fleurs), danh từ rực rỡ chẳng những đã không có trong câu thơ của Lý Bạch, lại không phù hợp với ý và xúc cảm của toàn bài thơ, vả lại không hợp lý nữa vì thuyền của Mạnh Hạo Nhiên lướt đi trên mặt nước Trường Giang chứ không phải trên hoa xuân rực rỡ. Câu ba không nói đến chữ ỡ sơn ữ hay chữ ỡ không ữ, chỉ nói bóng thuyền mất hút ở chân trời.

 

            Tôi mạn phép góp thêm vài lời vụng về như sau :

 

Hoàng Hạc Lâu tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng lăng

 

Tiễn bạn rời Tây lầu Hoàng Hạc,

Tháng ba hoa nước mờ chân sóng,

Xuôi mái Dương Châu xa cố nhân.

Cánh buồm hun hút vùng núi biếc,

Trường Giang chảy mãi tận chân trời.

 

                    Hoang Phong dịch tại Lầu Hoàng Hạc

                                Ngày 09.09.01

           

            Bài thơ của Lý Bạch hết sức là cô đọng, không thể dịch bằng cách tóm tắt trong bốn câu như nguyên bản. Tôi xin phép được dùng đến năm câu mới đủ ý. Tôi không chú tâm đến thi luật, chỉ cố gắng trình bày một chút xúc cảm và nhạc tính cảm nhận được trong bài thơ của Lý Bạch. Xin chân thành tạ lỗi đến cụ Lý và những người đọc các dòng này. 

            Lầu Hoàng Hạc nguyên thủy ở một bãi sông gần núi Xà Sơn thuộc Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc, nay dời đến gần đầu cầu Vũ Xương thành phố Vũ Hán. Cây cầu bắc ngang sông Trường Giang, khá đồ xộ do người Nga xây giúp. Cầu có hai tầng một cho xe lửa, một cho xe ô-tô. Gần cầu là khách sạn Holliday Inn rất cao và sang trọng, cũng thuận tiện cho du khách đến xem lầu Hoàng Hạc. Phía sau khách sạn là bến đậu của du thuyền đón khách ngược sông Trường Giang đi vào vùng Ba Hẽm Vực. Quả thật người sau cũng biết chọn chỗ để làm ăn lắm, không biết họ có nghĩ đến công lao của Thôi Hiệu vặn óc để làm thơ cho lầu Hoàng Hạc được nổi tiếng hay không. 

Lầu Hoàng Hạc chẳng những thay chỗ mà còn được xây đi xây lại không biết bao nhiêu lần qua mười mấy thế kỷ nay rồi. Ngày xưa, lầu cất bằng cây nên thường bị cháy. Lầu mới ngày nay dùng thêm vật liệu cứng như gạch đá, xây vào đời nhà Thanh, tức cách nay một hay hai trăm năm là nhiều. Ngày nay, lầu có trang bị thêm cả thang máy cho du khách lớn tuổi hay những người lười trèo cầu thang. Vé vào cửa có băng từ tính đọc bằng máy để dễ kiểm soát từng chặn, giá 30 yuẩn (tiền tệ) tức độ chừng 28 quan Pháp. Nếu dùng thang máy đi lên phải trả thêm 2 yuẩn ; dùng thang máy trở xuống thì rẽ hơn, chỉ có 1 yuẩn thôi. 

            Mỗi ngày hàng ngàn du khách từ xa đến, tốn kém biết bao nhiêu, cả thì giờ lẫn tiền bạc, họ ồn ào, tấp nập nối đuôi nhau chờ đợi mua vé vào xem. Người xưa thì phải khổ sở xây đi xây lại không biết bao nhiêu lần cái lầu Hoàng Hạc, dời hết chỗ này đến chỗ khác. Chẳng qua cũng vì một vài xúc cảm nhỏ nhoi của thi nhân mà ra cả. Một chút xúc cảm của người xưa cũng lôi kéo được biết bao nhiêu du khách và làm khổ biết bao nhiêu người. Người ta thường nói một nhà sư Tây Tạng ngồi trong một hang núi, hay một người tu thiền ngồi im trước một bức tường, họ phát động và hồi hướng từ tâm của mình, trải rộng lòng từ bi của mình ra muôn vật muôn loài cũng gây được ảnh hưởng nhiều lắm. Biết đâu điều ấy cũng đúng được phần nào ?  Mọi sự chung quanh ta, từ vật chất, sự sống, tư tưởng cho đến hành động đều liên đới với nhau, chằng chịt với nhau, phát hiện và biến dạng không cùng. 

            Lầu Hoàng Hạc không cao lắm, tôi quên đếm nhưng hình như có năm tầng kể cả tầng trệt, cầu thang cũng dễ đi, người đông chen lấn nhau. Trên tầng chót, ta có thể nhìn thấy cây cầu do người Nga xây, bắc ngang sông Trường Giang, xe cộ tấp nập trên cầu. Khói ô nhiễm của thành phố và khói dơ của xe cộ mù mịt trên sông và phố xá. Bên này và bên kia sông, các toà nhà chọc trời san sát nhau, nhiều vô kể. Phải có một chút tâm hồn thi sĩ và nhất là phải nhắm mắt lại mới thấy được hàng cây xanh ở bến Hán Dương và cỏ thơm trên bãi Anh Vũ. Nếu cố gắng tưởng tượng mạnh thêm một chút nữa may ra sẽ thấy được cánh buồm của Mạnh Hạo Nhiên mất hút ở chân trời trong vùng núi biếc. 

            Đứng trên lầu Hoàng Hạc, ta chẳng thấy có gì là thật cả. Trước mắt không phải cái quang cảnh mà Thôi Hiệu và Lý Bạch đã thấy. Kể cả cái lầu cũng không phải. Chẳng qua tôi ỡ thấy ữ những chuyện xưa ở trong đầu của tôi mà thôi, bằng cái trí tưởng tượng của tôi. Cái thấy méo mó đó chắc gì đã đúng với cái thấy của Thôi Hiệu và Lý Bạch từ hơn 12 thế kỷ trước. Ấy là chưa nói đến cái thấy của hai ông cũng đã lệch lạc vì những xúc cảm trong lòng của hai ông. Cảnh thật của lầu Hoàng Hạc không biết ở đâu. Quả thật khó mà tìm, có thể là không có ?  Nhưng nếu không có thì làm sao lại có hai bài thơ truyền tụng đến bây giờ ? Vậy thì muốn không có phải có trước đã, nhưng ngược lại nếu ta cho rằng có thì lại sai, vì nó không có.  Đúng là lầu Hoàng Hạc phải có, vì tôi đang đứng ở tầng cao nhất, nhìn ra chiếc cầu do người Nga bắc ngang sông Trường Giang, trên cầu xe cộ tấp nập. Khói mây ô nhiễn mù mịt trên thành phố và trên mặt sông, còn tôi thì đáng đứng trên nền gạch hoa mòn nhẳn vì vết chân của du khách.

                                                                                   

Bures-Sur-Yvette, 28.10.01            

---o0o---

Cập nhật: 01-8-2008

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thơ Văn

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544