Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thơ Văn Phật Giáo


...... ... .

 

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam

Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam

TP Hồ Chí Minh

Khóa III (1993-1997)

 

Tư TưỞng PhẬt Giáo

Trong văn hỌc thành văn ViỆt Nam

(Luận văn tốt nghiệp)

 

GSHD: Tiến sĩ Phan Lạc Tuyên

Tăng sinh: Thích Tâm Pháp 

 

Mục lục

 

Phần I: Dẫn nhập

 

Phần II: Nội dung

 

 Chương I: Tinh Thần Phật giáo

I/. Đặc tính dân tộc Việt Nam.

II/. Phật giáo hòa hợp với tinh thần dân tộc.

III/. Phật giáo hòa hợp với Nho học.

IV/. Phật giáo hòa hợp với Lão học.

V/. Tinh thần từ bi quảng đại.

 

Chương II: Phật giáo luôn thích nghi với hoàn cảnh Việt Nam. 

I/. Thời kỳ Bắc thuộc.

II/. Thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

 

Chương III: Tư tưởng Phật giáo trong văn học thành văn Việt Nam.

I/. Tư tưởng Phật giáo trong văn học bình dân.

II/. Tư tưởng Phật giáo trong văn học chữ Hán.

III/. Tư tưởng Phật giáo trong văn học chữ Nôm.

IV/. Tư tưởng Phật giáo trong văn chương chữ Việt.

 

Phần III: Tổng kết 

  

Phần I: Dẫn nhập ^

Văn học là một hình thái ý thức xã hội, gắn liền với xã hội cụ thể. Do đó, văn học một dân tộc phải gắn liền với lịch sử dân tộc ấy. Văn học Việt Nam cũng vậy. Cuộc sống và con người Việt Nam đã phản ảnh trong văn học Việt Nam, hay nói đúng hơn cuộc sống và con người Việt Nam đã in dấu ấn trong văn học Việt Nam. Văn học không chỉ là tấm gương phản chiếu đời sống, mà là hình bóng của đời sống, gắn chặt với lịch sử trong quá trình phát triển của mình.

Điều này có thể thấy ngay trong thời vua Hùng: Với các chủ đề sản xuất, chủ đề chống quân xâm lược. Và nhất là, mười một thế kỷ mất nước, có khả năng mất nòi, không nhân vật anh hùng của nước nào không kèm theo một hay nhiều truyền thuyết ca ngợi, đề cao, tin tưởng, ấp ủ, gởi gấm nguyện vọng thâm thiết độc lập tự do.

Thời quốc gia phong kiến độc lập, tiếng nói chống xâm lăng, vấn đề giữ nước nổi bậc trong văn học thế kỷ XV, chính vì đó là vấn đề sống còn số một của nước nhà buổi ấy. Còn từ thế kỷ XVi trở đi, cho đến giữa thế kỷ XIX thì là vấn đề đời sống nhân dân, bởi đó là thời gian nhân dân ta vùng lên giành lấy quyền sống, quyền tự quyết của mình. Tám mươi năm chống thực dân xâm lược và thống trị, văn học lại vang lên dóng dã, mãnh liệt tiếng reo hò khắng chiến và lời tâm huyết cứu nước, cứu nòi.

Ở Pháp các trào lưu văn học được phân kỳ: Thời Trung Cổ (thế kỷ XI-XV), Phục Hưng (thế kỷ XVI), Cổ Điển (thế kỷ XVII), Triết học (thế kỷ XVIII), Lãng Mạn và Hiện thực (thế kỷ XIX-XX)… Và cũng có người muốn độc đoán, lấy mẫu người lý tưởng làm tiêu chuẩn cho các thời kỳ: Bậc Thánh, Hiệp Khách, Chính Nhân, Triết Nhân …

Ở Trung Quốc, đối với văn học thời Phong Kiến và trước đó, các nhà nghiên cứu hầu như thống nhất các triều đại và sự ra đời của các thể văn làm căn cứ như: Văn học trước thời Phong kiến, văn học thời Phong kiến, văn học chiến quốc, văn học Tần Hán, văn học Ngụy Tấn, Nam Bắc Triều, văn học Đường, văn học Tống, văn học Nguyên, văn học Minh, văn học Thanh.

Trong văn học Anh, người ta cũng thường chia theo lịch sử, thế kỷ với các trào lưu văn học. Từ khởi thủy đến Trung Cổ, thời Phục Hưng hay thời Elisabeth, thế kỷ XVII, thời văn học Cổ Điển, thời kỳ văn học Lãng Mạn, thời kỳ văn học Victoria, văn học Cận Đại và Hiện đại.

Trong văn học Mỹ, người ta cũng chia theo lịch sử chính trị: thời kỳ thuộc địa, thời kỳ Cộng hòa, thời kỳ Dân chủ với sự xuất hiện của Chủ nghĩa Lãng Mạn, rồi chủ nghĩa hiện thực.

Ở Liên Xô, văn học Nga được phân chia theo thế kỷ: văn học Nga thế kỷ XI-XVII, văn học Nga thế kỷ XVIII, văn học Nga thế kỷ XIX, văn học Nga đầu thế kỷ XX.

Còn ở Việt Nam, trước “Việt Điện Ưu Linh Tập” có quyển “Lục Độ Tập Kinh” của Khương Tăng Hội viết ở Luy Lâu thế kỷ thứ III, bao gồm nhiều truyện dân gian, thư gởi Đạo Cao của Lý Miễu, Phú Bạch Vân Chiếu Xuân Hải của Khương Công Phụ….rồi từ nhà Đinh trở đi đến Lý Trần ta thấy các nhà Sư, nhà Nho đã viết văn làm thơ rồi.

Cái khó của người nghiên cứu để xác định nền văn học thành văn Việt Nam là sự hạn chế tài liệu, khả năng phát hiện khá mong manh…nhưng không vì thế mà lơ là bỏ qua những áng văn thơ, tuy bằng chữ Hán nhưng viết ra tại đất nước này và nội dung trực tiếp đến thực thế Việt Nam, tác giả là người Việt Nam. Đó là chưa kể một số sách theo người viết do bọn cướp nước vơ vét mang về phương Bắc sau khi nhà Tiền Lý bị chúng đánh bại.

Trong quá trình phát triển, văn học thành văn Việt Nam gồm nhiều yếu tố mang tính phổ quát, gần gủi với quần chúng. Nó không phải là đặc điểm tổng quát về văn học của chủ nghĩa Mác Lênin. Văn học của xã hội có giai cấp đều mang tính giai cấp. Văn học là vũ khí đấu tranh giai cấp… Nó cũng không phải là đặc điểm chi phối từng hiện tượng văn học nhỏ. Văn học Cổ đều theo phương pháp sáng tác truyền thống với những tính chất trí tuệ, đôi khi có tính thần thoại hoặc huyền học và nặng nề cổ văn Đông phương, hay nói đến diên tịnh để tượng trưng sự việc, sự vật ước lệ…hoặc một tác giả văn học Cổ thường mắc vào mâu thuẫn trong thế giới quan…Nó là những đặc điểm của lịch sử phát triển văn học. Văn học phát triển nhanh hay chậm, thuận lợi hay khó khăn, tồn tại ở những dạng nào, bao gồm những thành phần gì, nội dung giải quyết những vấn đề gì là chủ yếu, phục vụ sự nghiệp dân tộc ra sao, giao lưu với văn hóa, văn học các dân tộc chung quanh như thế nào, phản ảnh đời sống dân tộc ra sao, vẻ ra gương mặt của con người Việt Nam từ xưa đến nay như thế nào, tạo ra những truyền thống gì cho đạo đức, cho lý tưởng, cho thẩm mỹ khả dĩ làm bài học cho các thế hệ mai sau…Đó là những đặc điểm cơ bản, những đặc điểm có tính qui luật.

Khi nghiên cứu văn học dân tộc, nhất là văn học thành văn, chúng ta không thể nào quên nền văn học Phật giáo, hay nói đúng hơn là những tư tưởng Phật giáo nằm trong văn học, thi ca. Vì từ khi du nhập, trong quá trình tồn tại và phát triển, Phật giáo đã có nhiều đóng góp trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc, nhất là trong lịch sử tư tưởng văn học dân tộc Việt: “Phật giáo Việt Nam, một tôn giáo đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong lịch sử tư tưởng văn hóa nước ta”.[1](1)

Phật giáo không chỉ tồn tại như một tôn giáo mà đã hòa vào cuộc sống của cư dân Đại Việt, góp phần tạo nên tính đa dạng, phong phú trong các yếu tố dân tộc Việt. Đến khi đất nước giành được độc lập thì vai trò của Phật giáo càng được thể hiện rõ hơn. Phật giáo lúc bấy giờ là quốc giáo, có ảnh hưởng sâu xa mọi mặt đến đời sống của người dân Việt. Ảnh hưởng đó có thể được giải thích với các lý do sau:

-         Thứ nhất, do tư tưởng giáo lý Phật giáo phù hợp với tâm hồn, cách nghĩ dân tộc sau hơn ngàn năm bị ngoại bang thống trị, đang khao khát hướng tới xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ.

-         Thứ hai, tư tưởng Phật giáo đặc biệt là các nhà tu hành luôn tâm niệm rằng họ là những người con được sinh ra, lớn lên từ đất việt, nên luôn phấn đấu, bảo vệ dân tộc, bảo vệ đất nước, vì sự trường tồn phồn vinh cho dân tộc Việt.

-         Thứ ba, các nhà tu hành luôn áp dụng phương châm “Phật pháp tại thế gian” nên cố gắng hoạt động không mệt mỏi vì sự phát triển của dân tộc đạo pháp.

Đến thời kỳ cận hiện đại, lịch sử xã hội nước ta có những biến đổi sâu sắc, tinh thần tư tưởng nhập thế của Phật giáo lại càng thể hiện cụ thể rõ nét hơn. Bằng chứng là, nhiều nhà tu hành, Phật tử trực tiếp gián tiếp tham gia vào công cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược hoặc ủng hộ, che dấu cán bộ, chiến sĩ Cách mạng vì mục đích duy nhất là giành độc lập, tự do cho tổ quốc, giải phóng thống nhất đất nước Việt Nam. Điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong lá thư gởi cho các Phật tử ở Việt Nam nhân ngày lễ rằm tháng bảy… “Đức Phật là Đại Từ Đại Bi, cứu khổ cứu nạn. Muốn cứu chúng sanh ra khỏi khổ nạn. Người phải hy sinh tranh đấu diệt lũ ác ma. Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng để đánh tan thực dân phản động, để cứu dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng Đại Từ Đại Bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi ải nô lệ…Tôi cám ơn đồng bào”. ([2])

Trong những thập niên gần, nhất là hơn hai mươi năm qua, sau nhiều năm đất nước bị chia cắt, nhân dân ta đã sống hòa bình trong không khí yên lành của xã hội. Những mất mát, những mặc cảm do chiến tranh gây ra trong cộng đồng dân tộc dần được xóa bỏ, phai nhòa theo năm tháng, tâm lý người dân Việt cũng từng bước ổn định và có những ước vọng về tương lai.

Thế nhưng, với mô hình kinh tế mới hình thành và một số cơ chế xã hội chưa thật hoàn chỉnh, còn phải đương đầu với muôn vàn khó khăn để xây dựng đất nước, một số người lao động lương thiện còn lo miếng cơm manh áo hằng ngày, chưa thoát khỏi cảnh nghèo đói, khốn khổ, bần cùng, thiếu các phương tiện cơ bản của đời sống, thì có lắm kẻ tôn thờ vật chất bán rẻ lương tâm, lợi dụng chính sách thoáng mở và những sơ hở của nhà nước để chiếm đoạt của công, tham nhũng, mưu cầu lợi ích cá nhân, tán tận lương tâm, chà đạp lên nhân phẩm người khác, có khi quên cả quê hương đất nước. Nó không chỉ nghiêm trọng ở những con số khổng lồ về tiền bạc bị mất mát, thâm hụt, mà tệ hại hơn, còn tạo những bất ổn định mới, tạo mối nguy hiểm cho toàn xã hội mà nạn nhân trước tiên là từng lớp trẻ tuổi hiếu động. Tâm lý thực dụng đua đòi, hưởng thụ, các tệ đoan xã hội, các vụ trộm cướp, xử dụng chất kích thích ma túy, cần sa nơi trường học, nạn mãi dâm không ngừng tăng trưởng và đau buồn nhất la` trong môi trường giáo dục học đường, đã làm cho các cơ quan có chút lương tri lo lắng, báo động. Đúng như Tiến sĩ Phan Lạc Tuyên nhập định tại cuộc hội thảo Đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại : “…Xã hội chúng ta đang chìm đắm trong tham sân si và tội lỗi như mây mù dày đặc đã làm thay đổi diện mạo người của chúng ta và biến xã hội thành một đấu trường, mà chúng ta lá những kỷ phải đấu thời La Mã Cổ Đại…”([3]).

Thậm chí một số người hoạt động văn hóa, cầm bút phải uốn mình theo qui luật thị trường cạnh tranh vì lợi nhuận vật chất. Sự thật, chúng ta đang chứng kiến thời kỳ phát triển điên loạn về sản xuất hàng hóa, kéo theo nó cơn lũ hung hăng của một nền văn minh vật chất, với việc giành giật thị trường và tình trạng băng hoại đời sống tinh thần, con người mất hết lương tâm, lương tri của mình, một thứ văn minh do Tây phương và chủ nghĩa Tư bản mang tới, một mẫu của “xã hội tiêu dùng” trong “thời đại thừa thiếu” như một kinh tế là người Mỹ Gallraith đã viết trong nhiều tác phẩm kinh tế học.

Nhưng người dân Việt Nam đã bắt gặp tư tưởng của Phật giáo, một tôn giáo ít màu sắc thần bí, chứa đựng những ý niệm giá trị về Từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha mà người dân Việt nêu lên thành bản sắc. Trong tư thế hòa nhập đó, tư tưởng Phật giáo đã đi vào ca dao, dân ca, tục ngữ, các truyện cổ tích với những hình ảnh, ngôn từ biểu trưng ý thức hướng thiện, lòng nhân hậu vị tha, góp phần vào sự nghiệp cứu nước xây dựng tổ quốc đi vào ổn định và lớn mạnh.

Văn chương thành văn mang tư tưởng Phật giáo cực tịnh vào các đời Lý, Trần với các tác giả vừa là Phật tử, vừa là Thiền sư mộ đạo, chứng đạo như: Vạn Hạnh, Mãn Giác, Ngô Chân Lưu, Trần Thái Tông, Tuệ Trung … đã đóng vai trò quyết định, thúc đẩy mạnh mẽ vào công việc xây dựng bảo vệ tổ quốc. Đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển truyền thống dân tộc, truyền thống đạo đức, truyền thống văn hóa ứng xử. Như giáo sư Mạc Đường phát biểu : “…Phật giáo với  tư cách là quốc gia, là biểu tượng tinh thần của dân tộc Việt Nam thời Lý Trần, một trong những đặc trưng văn hóa của văn hóa Việt Nam truyền thống, là một khuôn mẫu ứng xử của phép “đối nhân xử thế” Việt Nam và đạo đức Việt Nam cổ truyền…”([4]). Và nó vẫn còn tiếp tục lưu chuyển rải rác trong văn học cận đại, hiện đại.

Và trong thế kỷ XXV sắp tới, thế kỷ của tình thương đồng loại, thế kỷ của vấn đề toàn cầu hóa, hành động vì lợi ích cho số đông, cho tất cả, thế kỷ của lòng tin thực sự thì đạo Phật nhất là tư tưởng Phật giáo tự nó sẽ là ngôn ngữ, là phương châm hành động thiết thực hữu hiệu nhất trên hành tinh này.

Đối với những vấn đề thật sự có ý nghĩa không nhỏ, lại có tầm bao quát trọng đại, thật không dễ gì có thể giải quyết thỏa đáng và dứt khoát một lần với sức lực một người. Ở đây, người viết mạo muội đề xuất và nêu ý kiến của mình để làm nổi bật tính nhấn quán, biện chứng giữa tư tưởng Phật giáo và văn học thành văn Việt Nam trong giai đoạn từ thời Trần đến nay.

Bằng phương pháp khoa học, theo tiêu chuẩn mang tính toàn cầu, người viết phân chia bố cục, nội dung tập luận văn theo thể thống nhất gồm:

Phần I: Dẫn nhập.

Phần II: Nội dung.

Trong phần nội dung phân làm ba chương, mỗi chương đều có đề mục riêng biệt để làm rõ chú ý của người viết.

Phần III: Tổng kết.

Trong phần này, người viết sẽ cô động và nói lên quan điểm, nhận thức, đánh giá của mình đối với tập luận văn. Người viết cũng không dám quên rằng mình đứng trước không phải một chuyên đề, mà là một loạt những chuyên đề, những chuyên luận. Nên, dù đề cập và làm hết khả năng của bản thân, người viết vẫn coi đây là khởi điểm, hết sức khiêm tốn!

Người viết thành tâm bái tạ công ơn dạy dỗ của cố Hòa Thượng Thích Huệ Phát, Thích Huệ Hưng, Ban trụ trì của Giác Ngộ, Ban giám hiệu, Quí giáo sư, quí ân nhân Phật tử, đã tận tình truyền đạt những tinh ba kiến thức sống cho người viết làm hành trang bước vào cuộc đời đầy gian lao thử thách này.

Đặc biệt hơn hết là Giáo Sư tiến sĩ Phan Lạc Tuyên, người luôn ưu tư vận mạng dân tộc, truyền thống văn hóa đất nước, đã hoan hỷ hướng dẫn, cung cấp tư liệu để hoàn thành tập luận văn này. Nguyện cầu thần lực Tam Bảo, hồn thiêng dân tộc Việt Nam gia hộ, phò trì chư tôn đức giáo sư thân tâm an lạc, tinh thần minh mẫn để mãi là những nhà giáo gương mẫu, những vị lãnh đạo tinh thần kiên định, mau đưa đất nước Việt Nam thoát khỏi nạn kiếp lủng đoạn tinh thần trong giờ phút này, để ngày mai con người Việt Nam thật sự sống an bình, thịnh vượng!

Để kết thúc lời dẫn nhập, người viết xin dâng hai câu thơ nói lên mục đích của mình :

Viết cho tôi, cho ngàn đời lịch sử

Cho muôn loài, vạn thuở nhân sinh.

 

Phần II: Nội dung ^

Chương I: Tinh thần Phật giáo  ^

I/. Đặc tính dân tộc Việt Nam:

Lần về quá khứ, lịch sử Phật giáo, lịch sử dân tộc có biết bao công trình tráng lệ nguy nga, có biết bao anh hung liệt sĩ hy sinh oanh liệt, có biết bao người đã nằm xuống cho quê hương mà không cần ai biết đến. Trang sử vẽ vang đó đã ghi vào sử vàng của nhân dân Việt Nam.

Vả lại, Việt Nam là một nước nằm ở ngã ba đường giao lưu quốc tế với Đông Nam Á và Châu Á, là nơi dừng chân hoặc trạm trung chuyển của các thương buôn vùng Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, Ấn Độ trên đường đến Trung Quốc với khu vực có vùng thiên nhiên nhiệt đới gió mùa Tây Nam và Đông Bắc tạo nên hai mùa mưa nắng rõ rệt, dẫn đến nền văn minh nông nghiệp, mang truyền thống ổn định. Trên cơ sở đó, Việt Nam – nơi gặp gỡ nhiều dân tộc, nhiều nguồn văn hóa, văn minh – đã tạo ra một sắc thái riêng biệt của Việt Nam, đó là tính linh hoạt trong ứng xử, tổng hợp trong tiếp nhận.

Tinh thần kiên nhẫn chịu đựng gian khổ, coi thường gian khổ, từ trời, đất, nước, thời tiết, khí hậu, từ số kiếp chẳng may hay từ người khác cố ý hãm hại … tất cả đều vượt qua và đến ngày nay đức tính này vẫn còn tồn động sống mãi trong người Việt.

Sự yêu quê hương đất nước, suốt ngày, suốt năm tháng quanh quẩn với hòn đất, và vì cảnh sống trong lành êm ấm tình họ hàng bà con, không ai bóc lột ức hiếp ai, mà chỉ là lá lành đùm lá rách, tất cả đã vui với nhau và cùng để lại cho nhau nhiều kỷ niệm.

Trên luân lý truyền thống quý báu này, người Việt không chịu cúi đầu làm nô lệ ngoại bang. Có những tình thế bắt buộc phải lệ thuộc nhưng tinh thần yêu quê hương đất nước lại biến thành ngòi thuốc súng cứ âm ỉ trong lòng dân Việt.

Người thanh niên Việt Nam sẵn sang hy sinh tính mạng của mình để đem thân ra bảo vệ quê hương dân tộc:

Giặc Tây đánh tới cần giờ

Biểu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công.

Quê hương xứ sở của mình dù nhỏ nhoi nghèo thiếu nhưng người Việt vẫn yêu mến, quí trọng nó :

Ta về ta tắm ao ta

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.

Trải qua những lần đau thương, về sau cả ngàn năm dưới quyền đô hộ của Tàu, dân Việt dù bị hành hạ cơ cực đến đâu cũng vẫn bám lấy mảnh đất Ông cha mà chịu đựng, chớ không rời bỏ quên quê hương như người Do Thái.

Sự thích sống thảnh thơi, hòa mình với thiên nhiên đó là điều mà đời nay gọi là tự do, do chế độ chính trị ban phát, hay do ý thức đấu tranh mà có. Nhưng ở nguyên thủy, những tương quan xã hội nói trên, người Giao Chỉ đã quá dư tự do, khi sống thảnh thơi với mảnh ruộng, miếng vườn của mình. Không phải là tự do xâu xé, lẫn nhau, và tự do buông thả thú tính, mà đây là sự tự do có ý thức, tự do trong lễ nghĩa, để đời sống chung trong làng có nề nếp, dù phép vua ở chính quyền Trung ương cũng không thắng được lệ của làng.

Điều này được minh chứng qua hội nghị Diên Hồng, muôn người như một quyết chung lưng đấu cật chiến đấu tới cùng. Tinh thần sống hòa mình này, ta nghe văng vẳng từ đồng quê vọng lại :

Khôn ngoan đối đáp người ngoài

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

Thật vậy, nếu cảm thấy mình khôn ngoan, có tài thì nên đem tài mình chống lại giặc ngoại xâm, và có tài mà đứng riêng một mình thì dù có tài giỏi đến đâu cũng không làm nên việc gì được.

Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

Mặc khác, cùng sống chung trên một đất nước thì khổ vui đồng chịu, chúng ta phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Với tinh thần chị ngã em nâng, sự cứu giúp này sẽ lành mạnh hóa xã hội.

Gặp cơn nguy biến hoạn nạn, thiên tai lũ lụt, tình đồng bào chúng ta đâu nỡ làm ngơ, mà phải ra tay cứu giúp nhau. Người biết chia xớt khổ đau cho nhau thật là một tình thương đáng kính quí. Tình thương ấy đã phát ra ngôn ngữ, người Việt Nam không bao giờ quên :

Đường xa xin chớ ngại ngùng

Trèo non xuống biển ta cùng đỡ nhau.

Như đã biết, xã hội Việt Nam được xây dựng trên nền tảng gia đình. Gia đình có anh vui, hạnh phúc thì xã hội mới vững mạnh. Vì thế trong gia đình cha mẹ phải Từ, con cháu phải Hiếu.

Muốn con hiếu thảo trước phải dạy chúng biết công đức sanh thành, khổ cực của mẹ cha. Công ơn cha mẹ được người bình dân hình dung rộng như biển, cao như núi :

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Đã biết công ơn cha mẹ nặng nề như vậy, kẻ làm con lúc nào cũng hy vọng đền đáp. Có người cho sự học hành đỗ đạt, làm đẹp mặt nở mày cha mẹ là đền ơn. Có người sống trong cảnh nghèo thiếu vất vả nhưng lòng biết ơn cha mẹ không bao giờ quên. Họ phải nhịn ăn để nuôi cha mẹ.

Đói lòng ăn đọt chà là

Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.

Khi cha mẹ gặp lúc trở trời trái gió, người con hiếu thảo lo sợ cha mẹ đi xa, nên đến trước bàn Phật thắp hương cầu nguyện :

Lâm râm khấn vái Phật trời

Xin cho cha mẹ ở đời với con.

Như vậy, hiếu thảo là chất liệu thiết yếu trong xã hội Việt Nam. Thế nên, trong tinh thần dân tộc, ai cũng đặt chữ hiếu lên trên tất cả.

Những điều trình bày trên, thiết tưởng đó là quan niệm nhân sinh, quan niệm triết lý, nói trọn trong đời sống thái hòa, trong đặc tính dân tộc có từ thời vua Hùng Vương đến nay.

II/. Phật giáo hòa hợp với tinh thần dân tộc:

Lịch sử cho biết Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam từ thời xa xưa bằng hai con đường Hồ Tiêu (đường biển) và Đồng Cỏ (đường từ Trung Á xuống).

Có thể nói từ thời Hùng Vương và trước đó. Đạo vào Việt Nam đã hòa nhập vào bản sắc của dân tộc, theo lối tư duy linh hoạt, bản chất nhu hòa, không cực đoan, thiên về âm tính đã biến đạo Phật thành đạo của dân tộc. Người dân Việt Nam xem đức Phật như người mẹ hiền rất dân gian, phổ cập.

Từ thời Hùng Vương trở về sau, nhất là Phật giáo Đại Thừa phát triển, Phật giáo đã hòa nhập và là sức mạnh của dân tộc để lại thiên nhiên, giặc giả ngoại xâm. Thời đó, Phật giáo vừa là sức mạnh để đánh giặc, vừa là bộ mặt văn hóa của đất nước như “An Nam tứ đại khí” mà sách Trung Quốc ca tụng.[5]

Như vậy, bằng hai con đường Hồ Tiêu và Đồng Cỏ ta khẳng định Đạo Phật đã vào Việt Nam sớm hơn Trung Quốc. Nét rõ rệt nhứt là thời vua A Dục (Asoka) , sau cuộc kiết tập kinh điển lần thứ ba, vua sai nhiều tăng sĩ truyền đạo ra nước ngoài , trong đó có hai cao tăng UTTARA và SONA được phái đến Suvanna và Bhumi xứ vàng thuộc bán đảo Đông Dương từ Miến Điện đến Việt Nam. Con đường Đồng Cỏ khởi nguyên từ vùng Đông Bắc Ấn, hoặc từ phía Trung Á tới Lạc Dương. Và cũng có thể các tăng lữ, thương nhân qua vùng Tây Tạng, theo triền sông Mê Kông, sông Hồng, sông Đà mà vào Việt Nam.

Trong Đại Nam Thuyền Uyển Truyền Đăng tập lục ghi Thiền sư Trí Không thời Lý giải thích thắc mắc của Thái Hậu Linh Nhân, dẫn lời Pháp sư Đàm Thiên khuyên Tề Cao Đế (479-483) bỏ ý định tuyển tuyển tăng đồ sang truyền bá Đạo Phật ở Giao Châu :

Xứ Giao Châu đường thông với Thiên Trúc. Khi Phật pháp chưa tới Giang Đông thì Luy Lâu đã có xây hơn 20 ngôi chùa, chọn hơn 500 vị tăng và dịch được 15 bộ kinh rồi. Vì thế, người ra nói rằng Giao Châu đã theo Đạo Phật trước chúng ta…” [6].

Xem ra Đạo Phật đã vào Việt Nam sớm, sớm hơn Trung Quốc, đã vào tận xương tủy của người Việt Nam. Nên nói đến tinh thần Phật giáo là nói đến tinh thần dân tộc. Mà đề cập đến tinh thần dân tộc, một điều không thể thiếu đó là phương pháp hợp lý, hợp cơ. Bởi lẽ “Phật pháp bất định pháp”, tức giáo pháp Đức Phật không cố định, không câu mệ một cách cứng ngắt, mà luôn linh động, uyển chuyển tùy thời, tùy cơ.

Chủ trương Phật giáo là “Tùy duyên nhi bất biến” hoặc ngược lại “bất biến nhi tùy duyên”. Bản chất từ bi, trí tuệ giải thoát của Đạo Phật không bao giờ thay đổi nhưng phương tiện thực hiện từ bi …cần phải tùy thời, tùy cảnh và tùy căn cơ chúng sanh.

Vì thế, Phật giáo đến nước nào, đều có hình Thái thích nghi với dân tộc nước đó. Phật giáo ở nước nào là của dân tộc nước đó và cũng mang tên nước đó. Chính tinh thần này mà Hồ Chí Minh thành công trong sự nghiệp giải phóng đất nước của mình.

Trước lúc chia tay với cụ Huỳnh Thúc Kháng, lúc đó là quyền Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh chỉ nói câu võn vẹn : “Dĩ bất biến ứng vạn biến [7],nghĩa là nắm vững lấy cái bất biến, tức cái nguyên tắc không thay đổi để ứng dụng vào cái vạn biến một cách linh hoạt tùy lúc, tùy nơi, cũng giống như câu “Tùy thời biến dịch” hoặc câu “Tùy cơ ứng biến” mà Hồ Chủ Tịch từng khẳng định trong tác phẩm nói về văn hóa Á Đông của Người. Như trước có đề cập, tinh thần dân tộc là tinh thần giải thoát, tự tin, thoát khỏi ách nô lệ ngàn năm của thực dân phong kiến, và chống trả quyết liệt chủ nghĩa thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chủ trương giải thoát của Đạo Phật là vượt ra ngoài vòng nô lệ, bất cứ nô lệ nào, từ ngoài đem đến hay từ trong phát sanh.

Bởi quyết thoát nô lệ nên Phật giáo luôn pháp từ tính ỷ lại, dạy Phật tử phải nổ lực tự cường, như câu : “Các người hãy tự thắp đuốc lên mà đi [8]. Tinh thần hùng lực và giải thoát của Đạo Phật rất thích hợp với tinh thần bất khuất và độc lập của dân tộc Việt Nam. Chánh điện các chùa đều có bảng “Đại Hùng Bửu Điện” oai nghiêm rực rỡ, cũng đủ nói lên rằng, Phật giáo cương quyết đập tan hết mọi xiềng xích do xã hội tạo ra như giai cấp Bà La Môn thiết lập ở Ấn Độ. Xiềng xích lại bản thân con người do ngũ dục trói buộc, xiềng xích nội tâm do tham sân si sai xử. Tất cả thứ xiềng xích đó, Đức Phật đã phá bỏ, Đức Phật không bao giờ chịu khuất phục dưới một sức mạnh nào, dù là sức mạnh vô biên của nghiệp lực truyền kiếp lưu lại. Nghiệp lực ấy đã thể hiện qua hình thức vô số ma vương bao quanh cây Bồ đề chiến đấu với Ngài, cuối cùng Ngài đã chiến thắng chúng và thành bậc Đại Giác Ngộ [9].

III: Phật giáo hòa hợp với Nho giáo :

Do hoàn cảnh lịch sử (thời kỳ Bắc thuộc) Chư vị Thiền sư Việt Nam nếu không tinh thong cả Phạn Ngữ lẫn Hán học, thì ít nhất cũng thong thạo Hán văn. Vì kinh sách Phật giáo phần nhiều bằng Hán văn. Sự hòa hợp giữa Nho giáo và Phật giáo do đó không khó khăn gì.

Vì tinh thông Hán học, tu sĩ Phật giáo cũng tôn trọng những chủ trương luân lý xã hội của Nho gia như đề cao “Tứ Ân”: ơn cha mẹ, ơn sanh thành, ơn Quốc Vương, ơn Tam Bảo.

Đối với các triều đại cầm quyền, các vị Thiền sư luôn đóng vai trò cộng tác, giúp ích cho nhân dân xã hội mà không có tham vọng chính trị.

Các tài liệu sử cũng như văn học còn để lại liên hệ đến Phật giáo trong các triều Lý, Trần chứng tỏ Chư vị Thiền sư Việt Nam đã ý thức rõ ràng về sự cần thiết phải nhâp thế hay có một giáo lý nhập thế cho đời sống cộng đồng. “Thế gian chư pháp huyễn bất thực, duy đạo vi thực…Thả nho khả thuyết quân thần phu tử chi đạo, Phật pháp khả ngôn Bồ Tát Thanh Văn chi Ông. Nhị giáo chi thù, kỳ qui tất nhất [10]. Hoặc Thiền sư Viên Chiếu trả lời câu hỏi về ý nghĩa Phật và Thánh : “Trú tắc Kim Ô Chiếu - Dạ lai ngọc thơ minh [11] .

Hình ảnh trên gợi cho ta thấy Chư vị Thiền sư thừa nhận sự hiện diện của Nho giáo là cần thiết để điều hòa sinh hoạt thường nhật của xã hội hiện thực (mặt trời chiếu ban ngày để mọi người làm việc), còn Phật giáo là con đường siêu thoát cho tâm linh (ánh trăng dịu mát ban đêm khiến tâm hồn lâng lâng…gợi ý thơ). Vượt lên bình diện siêu hình, chư vị Thiền sư cũng hay kết hợp vũ trụ quan động biến của Dịch học, tư tưởng nhất quán của Khổng Tử với thế giới quan nhất như và chủ trương qui tâm của Phật học. Trong bài văn bia chùa Linh Xứng do đại sư Hải Chiếu viết để ca tụng công nghiệp kết hợp này : … “Thiền tổ hiển thực như thực nhất tâm, Thanh nhân thích thời nhi thong hồ vạn biến. Vạn giả nhất chi tán, nhất giả nải vạn chi tôn. Chí ư hiền sĩ giáo xuất, qui phạm điệt hưng, tụ kỷ tán dĩ qui Tông, bảo ư nhất nhi thống vạn… [12].

Như vậy, dưới mắt các vị Thiền sư, giữa Đức Phật và Đức Thánh, cần có hạng hiền trí để hòa hợp hai hệ thống xuất thế và nhập thế như Lý Thường Kiệt vừa phá Tống bình Chiêm, giúp vui trị nước trong đời sống hiện thực, vừa góp công xây dựng đời sống tâm linh như xây chùa, tô tượng, đúc chuông. Chính Lý Thường Kiệt cũng thường nói : “Kẻ nhân trí vui là vui với núí sôn. Đời đời truyền lại là Danh với Đạo. Nếu không dựng chùa ở nơi này để mở đạo thì danh núi đâu đủ quí [13].

Cuối văn bia kể trên, Đại Sư Hải Chiếu còn làm bài kệ ca tụng chân như với đức tính hóa dục vạn vật của Thái cực :

…“Chí tại chân như!

Thể lượng thái hư,

Thần nhi bất trắc,

Hóa chi hữu dư.

Nhất vũ bái nhuận,

Tam thảo manh thư…” [14]

Tinh thần hòa hợp Nho - Phật được biểu hiện rõ ràng hơn cả trong bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam của vua Trần Thái Tông : “…thị dĩ dụ quần mê chi phương tiện, minh sinh tử chi tiệp kính giả, ngã Phật chi đại giác dã, nhiệm thùy thế chi quyền hành, tác tướng lai chi quĩ phạm giả, Tiên Thánh chi trọng trách dã”.[15]

Tinh thần Phật giáo Việt Nam không những không gây xung đột với các tư tưởng khác, mà còn đem lại cho người ta một quan điểm rộng rãi về tâm linh vũ trụ.

Cũng trong bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam, Trần Thái Tông cho ta thấy quan điểm tổng hợp đồng nhất trong sai biệt.

Tinh thần bình đẳng, hòa hợp đã được một nhà vua Việt Nam vừa anh dũng, vừa nhân từ toát yếu vào câu văn trên là cả một đời sống hiện thực, không phải là mỹ từ suông, mà là một chứng nhân lịch sử. Đủ tỏ trong tinh thần Phật giáo Việt Nam có sẵn một sức mạnh tích cực, luôn dung hòa phối hợp với Khổng học, phối hợp giữa siêu nhiên với hiện thực để đem lại sự toàn diện.

Ngay từ đầu thế kỷ nguyên độc lập của dân tộc, ở miệng Thiền sư Mai Viên Chiếu (999-1090) một hôm vị tăng hỏi về ý nghĩa khác nhau giữa Phật với Thánh như thế nào, Thiền sư đáp:

Ly hạ trùng dương cúc

Chi đầu thục khí oanh.[16]

Đời sống toàn diện, theo truyền thống Đông phương có thể thực hiện bằng ba phương diện, tùy theo bản năng từng người: Tình cảm, tri thức, hành động tương đương với ba khuynh hướng của con người lý tưởng trong Khổng học: nhân, trí, dũng.

Ba phương diện thực hiện ấy của đạo học đưa đến ba trình độ để cận đạo, trình độ nhìn tuyệt đối với nhân loại như hài thế giới cách biệt nhau, đấy là trình độ lưỡng nguyên ; trình độ tuyệt đối với nhân loại gần nhau như hoàn toàn với khuyết điểm, đấy là trình độ phi lưỡng nguyên thiếu sót. Cái nhìn tuyệt đối với nhân loại cùng một thể, đấy là trình độ nhất nguyên tâm linh. Cả ba trình độ ấy không có chi mâu thuẫn chống đối nhau, mà bổ túc cho nhau, giúp lẫn nhau để cùng tiến tới mục đích chung.

Như vậy, không những trong lĩnh vực văn học, tinh thần hòa hợp giữa Phật Thánh biểu lộ rõ rang, mà ngay trong sinh hoạt quốc gia, tinh thần này cũng đưa đến kết quả tốt đẹp đó là sự hỗ trợ giữa tôn giáo và chính trị trong gia đoạn kiến thiết và phát triển quốc gia mà người viết trình bày ở một đoạn phần sau.

Dù sao trong sinh hoạt xã hội, nếu có sự hỗ trợ tốt đẹp, chính trị sẽ củng cố tôn giáo, giúp tôn giáo đứng vững trong đời sống hiện thực với những nhu cầu hiện thực không thể chối bỏ, ngược lại tôn giáo cũng sẽ thanh lọc, lý tưởng hóa chính trị, giúp chính trị có hậu thuẫn tâm linh, thường bền vững hợp là những vật chất phù du.

IV/. Phật giáo hòa hợp với Lão học :

Đạo Lão cũng từ Trung Quốc du nhập sang Việt Nam ; theo nhận xét của cố giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì “đạo Lão thích hợp với tín ngưỡng gốc của dân Việt, nên nó lan tràn nhanh chóng và hòa lẫn với những tập tục dân gian …Phật giáo từ Ấn Độ lan tràn đến nam lục địa. Với tính cách ôn hòa Phật giáo chóng ăn sâu vào lòng tín ngưỡng người Việt. Nó dung hòa dễ dàng và nó dễ đi đôi với đạo giáo đến từ trước”.[17]

Ở trên chúng ta thấy Phật giáo dễ dàng hòa nhạp với Nho giáo, thi` ở đây chúng ta cũng không thấy khó khăn khi Phật giáo hòa hợp với Lão giáo.

Lão học phát triển theo hai chiều hướng: ở giới sĩ phu học thức thì trở thành khuynh hướng xuất thế với thái độ coi thường danh lợi như đám mây nổi, trọng cuộc sống nhàn tản tự do; ở giới bình dân là đạo giáo phát thuật. Giới sĩ phu có khuynh hướng xuất thế dễ dàng chấp nhận giáo lý thiền môn với điểm tương đồng như Thái động khinh rẻ lý trí biện biệt nhị nguyên đưa đến chủ trương “bất ngôn nhi giáo” (Lão Tử) hay “bất lập văn tự” (Thiền Tông). Chẳng hạn lời Sư Tịnh Thiền : “Trí nhân vô ngộ đạo - Ngộ đạo tắc ngu nhân[18] rất gần gũi với chủ trương Lão Tử : “Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri[19].

Ngược lại, các vị thiền sư với đời sống thanh đạm, gần thiên nhiên, cũng chẳng xa lạ gì với nếp sống phóng khoáng của môn đồ Lão học.

Có một vấn đề được xem như là bản chất của Thiền, bản chất của Đạo; là sự chứng đạt pháp phải được khởi nghiệm từ bản thân hành giả, Phật và Pháp chỉ là bản đồ hướng đạo, còn sự đến đích là quá trình tự thể nghiệm của hành giả.

Trong thơ Thiền Tuệ Trung Thượng sĩ, sự tự tu, tự chứng không mong cầu tha lực rất được nhấn mạnh. Thiền sư khuyên chúng ta không nên dựa vào ai ngoài chính sự thực hành Thiền. Hãy tự làm trọn đảo giác ngộ cho chính mình, đó là chân lý siêu tuyệt của Phật.

Học đạo mênh mang có ai hay,

Gạch đem mài kiếm nhọc nhằn thay

Của người anh hãy thôi nương tựa

Một ảnh xuân về hoa đó đây.[20]

Điều này còn cho thấy ngay cả sự thể nghiệm chính mình cũng chỉ có thể là thể nghiệm, chứ trình bày ra là xa lìa bản chất của Thiền. Trong quá trình tu tập, khi buông bỏ được tâm bám víu nhị biên ; Thiền sư đã trở nên xuất trần, siêu việt, càng gần gũi với tâm tịch diệt thuở nào:

Từng bị tham dục xúi dục nhọc than

Thong dong ba cõi giữa hồng trần.

Buông tâm đây đó ngang Phật Tổ

Càng phủi tâm càng bày lặng dưng.[21]

Rồi qua “phóng Cuồng Ca”  bản chất siêu thoát của Thiền sư có mang chút hương vị Lão Trang, xin trích một vài câu trong bản dịch của Nguyễn Đổng Chi :

“Trời đất nheo mày chù, sao mênh mang,

Chống gậy rong chơi chữ, chống ngoại phương …

Lãng vạn niên chừ, đọc thơ khảo bàn

Sông chín khúc chừ, ca bài Thương lang

Hỏi thăm Tào Khê chừ, chào ông Lô Thị

Yết Kiến Thạch Đầu chừ, cùng một Lão Bàng”.

Những điểm đích, nhân vật trong bài ca đều liên hệ đến Lão học và Phật học như ngoại phương : Chữ trong sách Trang Tử, Thiên Đạo Tông Sư “bĩ du phương chi ngoại dã ”, có nghĩa “nó là kẻ rong chơi ngoài thế tục”.

Khảo bàn: Tên một bài thơ Thiên Vệ Phong trong kinh thi, khen ngợi chí thạch đại và lòng khoang quảng của bậc hiền giả ẩn cư chốn lâm tuyền.

Tào Khê: Tên khe nước, nơi có chùa trụ trì của Ông Lô Thị, tức Lục Tổ Huệ Năng.

Thạch Đầu: Tức ngài Trần Hi Thiên, đệ tử của Huệ Năng, dựng am trên đồi đá.

Lão Bàng: Bàng Uẩn, một cư sĩ Phật giáo đời Đường – Trung Quốc. Ông đem tất cả gia tài chất lên ghe rồi đánh chìm.

Trở lại với bình dân, nơi đạo Lão đã biến thành tín ngưỡng Pháp thuật, thần thông thì Phật giáo hay đúng hơn là giới tu sĩ Phật giáo cũng thích nghi dễ dàng.

Trong các sách Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục, Lĩnh Nam Chích Quái, Tuyền Kỳ Mạn Lục, cũng như trong văn chương bình dân, các tác giả đều chép và kể chuyện nhiều vị thiền sư có pháp thuật cao cường, có thể đằng vân giá vũ, hàng long phục hổ như Không Lộ Thiền sư, hoặc có tiên tri như Vạn Hạnh Thiền sư biết trước nhà Tiền Lê sắp đổ, nhà Lý sẽ lên thay, hoặc có tài trị bịnh như Minh Không Thiền sư chữa ác tật hóa cọp cho vua Lý Thần Tông lại chính là Đạo Hạnh Thiền sư thác sinh. Tuy nhiên, các vị thiền sư có pháp thuật thường sử dụng phép thần thong của mình để cứu đời và như một phương tiện thu phục lòng tin quần chúng trong việc truyền bá giáo lý thiền môn. Chẳng hạn Đạo Hạnh thiền sư ngăn cản không cho Giác Hoàng đầu thai làm con vua Lý Nhân Tông để tác quái hay truyện Ma Kha thiền sư tóm lược như sau :

Ma Kha thiền sư, gốc Chiêm Thành, theo học Pháp với Thiền sư Pháp Thuận và sống trong khoảng các đời vua Lê Đại Hàn, Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông. Khi Sư vào Á Châu, trấn Sa Đãng, thấy dân ở đây có tục thờ cúng quỷ thần, làm nghề sát sinh. Sư khuyên họ ăn chay, không sát sanh. Song họ vẫn sợ thần linh không dám theo. Sư bèn trổ tài chữa bịnh hũi cho mọi người dân ở đó bằng cách đọc chú rồi phun nước vào mình bịnh nhân. Họ vẫn chưa chịu theo. Nhân có một người kỳ hào họ Ngô một hôm say rượu, đem rượu thịt đến ép Sư ăn uống và nói : Nếu Hòa Thượng theo tôi được cái thú này thì chúng tôi xin theo đạo Ngài. Sư nói : Bần Tăng không dám từ chối, chỉ sợ đau bụng thôi. Ông họ Ngô nói: Nếu Hòa Thượng đau bụng thì tôi xin chịu thay. Sư bèn ăn thịt uống rượu. Lát sau, giả đau bụng, ruột sôi như sấm rền, hơi thở nghẹn kêu lên: Ông Ngô đâu, đau bụng thay cho ta đi. Ông họ Ngô cuống lên, không biết làm sao. Sư bèn chấp tay niệm Phật, cầu xin cứu độ. Lát sau, Sư nôn thịt thành con thú chạy đi, nôn rượu thành nước phun ra đồng, rồi Sư nói: Người của các Ông có bệnh, ta chữa khỏi, ta có bệnh, các Ông không đau thay được cho ta. Vậy nay các người có theo đạo của ta không? Mọi người bái phục xin theo[22].

V/.Tinh thần Từ Bi Quảng Đại:

Tinh thần hòa hợp kể trên có thể chưa đủ để giáo lý của Đức Phật Tổ thấm sâu vào hồn người Việt nếu không có tinh thần Từ bi Quảng đại. Bản chất giáo lý của Đạo Phật thừa nhận tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.[23] Đã có Phật tánh thì dù các chúng sanh do hành nghiệp bất đồng bị quả báo sai biệt nhưng Phật tánh vẫn đầy đủ như nhau. Bởi hành nghiệp bất đồng nên chúng sanh chiêu cảm thân thể, hành động ngôn ngữ khác nhau. Như vậy, ta không thể bắt mọi người hiểu biết, hành động như ta được. Trong kinh Phật dạy: “Khi có Phật ra đời giáo hóa, người y theo pháp Phật dạy tu hành chứng quả gọi là Thanh Văn; khi không có Phật ra đời và không còn giáo pháp của Phật, người tự quán sắt lý sanh diệt của vạn vật mà ngộ đạo, gọi là Độc giác”. Như thế, không phải chỉ y cứ theo lời Phật dạy mà tu hành mới thành chánh quả, mà bất cứ ai biết xét đúng lý sanh hóa của vũ trụ được giác ngộ đều chứng thành quả.

Thế thì Đức Lão Tử, Khổng Tử đâu không phải là hang Độc giác. Bởi quan niệm này, Phật giáo không bao giờ kỳ thị các tôn giáo khác, trái lại còn dung hòa than mật. Bằng chứng trong lịch sử Việt Nam thời Lý Trần là thời độc tôn của Phật giáo, mà khoa thi tam giáo vẫn được mở đời Lý Nhân Tông, và chủ trương tam giáo đồng nguyên thịnh đạt nhầt thời Trần Thái Tông, một ông vua rất thong hiểu Phật giáo. Ta hãy nghe Ngài nói: “Ấy, thân mệnh tuy là chú trọng thật, song cũng chưa trọng bằng chí đạo kia. Cho nên Khổng Phu Tử có câu : Sớm nghe đạo tối chết cũng cam. Ông Lão Tử có câu, ta có sự lớn là vì ta có cái than. Đức Thế Tôn cầu đạo xả thân cứu khổ, thế chả phải ba đấng thánh đều khinh thân trọng đạo đó sao”.[24] Vua Trần Thái Tông đã có lần trốn lên núi xuất gia đã viết nhiều tác phẩm về đạo giáo má vẫn tôn trọng Khổng Tử, Lão Tử, xem hai Ngài cũng là bậc Thánh; điều đó đủ chứng tỏ tinh thần Quảng đại của Phật giáo. Không phải như các tôn giáo khác chỉ trọng Ông giáo chủ của mình là Thánh, còn giáo chủ của tôn giáo khác là yêu quái, đạo mình là chính, đạo khác là tà, rồi sanh tâm khinh miệt kỳ thị. Nên trong lịch sử truyền bá Đạo Phật, ta không thấy vết thù hay giọt máu đọng lại trong trang sử. Đức tính Từ bi cứu khổ còn thể hiện rõ nét nơi hành xử của hàng Tăng Lữ. Quý Ngài chỉ biết ban phát, mở rộng thậm chí lắm khi bị người khác dèm pha khinh miệt nhưng không lộ một nét sân, mà trái lại còn thương hơn nữa. Vì đây là những đáng thương, cần sự tha thứ.

Mặt khác, như trên đã nói, Đạo Phật tuy của chúng sanh nhưng có những chúng sanh không ý thức được điều đó, nhất là những kẻ đang ở vào hoàn cảnh mà tự họ cho là sung sướng như có địa vị cao, quyền thế lớn, tiền bạc nhiều. Bởi vậy, có thể nói thêm đạo Phật là tôn giáo của chúng sanh đau khổ, và ý thức được sự đau khổ của mình, chẳng hạn quần chúng đang rên siết vì bệnh tật, đói nghèo cần được Đức Phật cứu khổ hoặc đám cô hồn vất vưỡng ở thế giới bên kia cũng mong được phép Phật tế độ.

“Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi

Muôn nhờ Đức Phật từ bi

Giải oan cứu khổ độ về Tây phương”.[25]

Vì vậy sự biểu hiện cao quí nhất của Phật giáo đối với mọi người là phải từ bỏ nếp sống giàu sang thường dễ dẫn dụ con người vào đường đam mê sa đọa. Chư vị tu sĩ Việt Nam nói chung, các vị thiền sư nói riêng đã tuân theo giáo lý của Đức Phật bằng nếp sống thanh đạm, ăn chay mặc nâu sồng, không nằm giường cao, đệm êm, đặt biệt là quy tắc “bất tác bất thực” của Thiền Tông.       

Trong cuộc đời thực cũng như trong cáctác phẩm văn chương, nhắc đến “cửa chùa” là người ta nghĩ đến tam quan lúc nào cũng sẵn sang mở ra chào đón khách thập phương vào vản cảnh chùa hay cần đền nhà chùa, cũng như tấm long Từ bi Quảng đại của Đức Phật không bao giờ đóng lại đối với bất cứ một ai, đặt biệt đối với những kẻ hoạn nạn đau khổ đang đi tìm sự an trú cho thân xác hay cho tâm hồn. Quả vậy, thất tình, chán đời, người ta đến chùa tìm niềm an ủi nơi giáo lý diệt khổ của đấng từ bi lánh nạn ẩn thân, người ta có thể đến chùa để tìm nơi tạm trú. Không phải chỉ trong các tác phẩm văn chương lấy tôn giáo làm chủ đều như : “Quan Âm Thị Kính” mới có sự kiện này, mà ngay trong những tác phẩm nặng nề về tình ái như truyện Phan Trần Trần Kiều Liên chạy loạn lạc mẹ vào chùa thế phát, ăn mặc nâu sồng; Trong Đoạn Trường Tân Thanh, Thúy Kiều nhờ Quan âm Cát để lánh nạn Hoạn Thư, và ngôi chùa của Ni Sư Giác Duyên biến thành “Chiêu Ẩn Am” để đón Thúy Kiều trốn khỏi nanh vuốt họ Hoạn. Rồi cũng lại dưới mái thảo đường của vị Ni Sư đầy long từ bi ấy, Thúy Kiều trở lại với nếp sống “gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng”, sau khi được vớt lên khỏi sông Tiền Đường.

Tinh thần Từ bi Quảng đại của Phật giáo càng thích hợp với dân tộc Việt Nam, một dân tộc vốn trưởng thành trong nổi đau khổ triền miên tạo nên bởi hoàn cảnh khắc khe của lịch sử: lập quốc, kiến quốc gian nan, chiến đấu chống ngoại xâm khổ nhục. Tinh thần này cũng tìm thấy môi trường để nẩy nở: Đó là nếp sống thô sơ, đạm bạc của dân ta, lệ thuộc vào nền kinh tế  thô sơ nông nghiệp, luôn nhẫn chịu bao khổ sở vất vả.

Trong đời sống thực tế cũng như trong các tác phẩm văn chương, ta cũng thấy sự nhẫn nhục từ bi của giới Tăng sĩ Phật giáo trước những lời chỉ trích của mọi giới đối với một số phần tử sa sút đạo đức.

Trong bài diễn thuyết “Cụ Trương Hán Siêu với Phật giáo”, diễn giả Đinh Gia Thuyết nói đến phong trào bài xích giới Tăng đồ Phật giáo trong văn học chữ Hán đời Trần có đưa ra nhận xét “chỉ có Nho đã Phật chứ không có Phật đã Nho”. Rồi trong các tác phẩm văn chương chữ Nôm, văn chương truyền khẩu, giới tu sĩ Phật giáo không có phản ứng gì mạnh mẽ đối với tật xấu đầy dẫy của các tổ chức khác trong khi họ phải chịu những lời châm biếm khá nặng nề!.

Chương II: Phật giáo luôn thích nghi với hoàn cảnh Việt Nam ^

Ở đoạn trên, người viết trình bày qua tinh thần hòa hợp của Phật giáo. Đó chính là đặc tính thích ứng đối với các ý thức hệ bị biệt cùng hiện diện ở mọi nơi mọi lúc. Ngoài ra Phật giáo còn có đặc tính thích ứng rất cần thiết cho sự trường tồn, nhất là ở vào hoàn cảnh lịch sử biến đổIicủa đất nước chúng ta.

I/. Thời kỳ Bắc thuộc:

Trước hết, lịch sử Phật giáo Việt Nam cho biết giáo lý của Đức Phật đã du nhập vào Việt Nam bằng ngã : một trực tiếp từ Ấn Độ sang (chữ Đồng Tử Tiên Dung học đạo)[26]. Hai là từ Trung Hoa sang. Vì theo địa lý, vị trí Việt Nam tiện cho sự giao thong háng hải từ Ấn Độ qua Trung Hoa cho nên có những Phật gia từ Tây Trúc sang đây truyền đạo hoặc có những vị tu sĩ Việt Nam lặn lội sang tận quê hương của Đức Phật để cầu học đạo. Những vị tu sĩ sau này hẳn phải thạo Hán văn lẫn Phạn ngữ để tham dự vào việc dịch kinh từ Phạn ngữ sang Hán văn.

Song hiển nhiên là đất Giao Chi thuộc Hán thì Hán văn phải đắc dụng hơn và chính quyền đế quốc nhất là vào các thời Đường chắc phải tạo mọi sự dễ dàng cho các vị Thiền sư Trung Hoa sang đây truyền đạo. Kết quả là kinh sách đại thừa bằng Hán văn được phổ biến sâu rộng hơn. Các Thiền sư Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc cho mãi đến các triều đại độc lập về sau đã phải học chữ Hán trước khi học kinh Phật. Do sự kiện này giới tu sĩ Phật giáo Việt Nam đã thích ứng với hoàn cảnh lịch sử: Họ cố gắng học tập để trở thành tinh thông cả Hán học lẫn Phật học. Họ tiếp nhận kinh sách bằng  chữ Hán, truyền bá giáo lý bằng chữ Hán, và đặc biệt là họ biết sử dụng sức học uyên thâm của mình ở hai lĩnh vực để nâng cao uy tín của dân tộc thuộc địa đối với chính quốc. Sách Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quí Đôn, Thiền Thiền Dật có chép lại một số bài thơ của các danh sĩ Trung Quốc đời Đường tặng các vị Thiền sư An Nam kể lại về việc Sư được mời vào điện vua Đường để giảng kinh Phật, bài Tồng Phụng Đình pháp Sư Qui An Nam :

Cố hương Nam Việt ngoại

Vạn lý bạch vân phong

Kinh luân từ thiên khứ

Hương hoa nhập hải phùng

Lộ đào thanh phạm triệt

Thần các hóa thành trùng

Tâm đáo trường an mạch

Giao Châu hậu dạ chung.[27]

Hoặc bài Tống An Nam Duy Giám pháp Sư :

Giảng kinh xuân điện lý

Hoa nhiễu ngự sang phi

Nam hải kỷ hồi quá

Cựu sơn lâm lão qui.

Xuất phong hương tổn ấn

Lộ Vũ Khánh sanh y

Không thủy ký như bỉ

Vãng lai tiêu tức hy.[28]

Hay trong quan hệ giữa ta và Trung Hoa, người Trung Hoa đã không dám coi thường dân tộc Việt Nam, và người bình dân Việt Nam. Hình ảnh người lái đò đối đáp nhanh chóng trên sông đủ làm cho sứ Tàu khâm phục tài năng, bản lãnh của dân tộc Việt.

Đỗ Pháp Thuận trong vai anh lái đò với hai câu cuối của một bài thơ:

…Bạch mao phô lục thủy

Hồng trạo bải thanh ba.[29]

Hay bài Tống Vương Lang Qui của Khuôn Việt Thái Sư, tặng tiễn Lý Giác:

Tường quang phong hảo cầm phàm trương

Thần tiên phục đế hưng

Thiên lý vạn lý thiệp hương lăng

Cửu thiên qui lộ trường

Nhân tình thảm thiết đối ly trường

Phan luyến sứ tinh lang

Nguyện tương thân ý vi nan cương

Phân minh tấu ngã hoàng.[30]

Trong hoàn cảnh đất nước bị đô hộ, áp bức mà một số tu sĩ Phật giáo An Nam được vua Đường Trung Hoa mời vào cung điện để giảng giáo lý Phật đà, hoặc các đời vua sau rất kính trọng An Nam qua cung cách cư sử, đối đáp thơ văn của Thiền sư Việt Nam, quả là một vinh dự lớn lao không những cho Phật giáo mà còn cho dân tộc nữa.

II/. Thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc:

Khi Việt Nam thoát ách đô hộ và phải dồn mọi nổ lực xây dựng một quốc gia có chủ quyền độc lập, Phật giáo Việt Nam lại càng chứng tỏ khả năng thích ứng của mình. Vai trò của vị thiền sư trở nên quan trọng trong mọi sinh hoạt chính yếu của quốc gia: chính trị, ngoại giao, giáo dục, văn hóa tư tưởng…Học vấn uyên bác của các vị thiền sư lúc này trở nên rất đắc dụng! Nhất là khi những người cầm quyền xuất thân từ chốn Thiền môn Phật học.

Lịch sử ghi chép tên những vị thiền sư như Ngô Chân Lưu, Đỗ Pháp Thuận, giúp vua Lê Đại Hành trong việc giao thiệp với sứ để cựu chánh quốc không còn khinh rẻ cựu thuộc quốc nước. Nguyên danh hiệu Khuôn Việt Đại Sư mà Đinh Tiên Hoàn tặng cho Sư Ngô Chân Lưu cũng đủ nói lên địa vị quan trọng của các vị thiền sư trong giai đoạn này.

Sang đến đời Lý, vai trò Phật giáo trở nên quan trọng trong biến cố thay đổi ngôi vua từ Lê Ngọa Triều bạo ngược sang Lý Thái Tổ xuất thân từ cửa Thiền. Có thể nói thượng tầng lãnh đạo của quốc gia thời đó do giới Phật giáo đào tạo. Từ vua đến quan đều là môn đệ của các vị thiền sư. Bài Truy Tán Vạn Hạnh Thiền sư của vua Lý Nhân Tông đã nói lên vai trò rường cột quốc gia của thiền sư có pháp danh được lấy làm trường học, đường xá ở thành phố này.

Vạn Hạnh dung tam tế

Ưng phù cổ sấm thi

Hương quan danh cổ pháp

Trụ tích trấn vương kỳ [31]

Trụ tích trấn vương kỳ” nghĩa là chống cây tích trượng mà giữ vững kinh vua. Quả thật là trong đời Lý, tôn giáo đã hỗ trợ đắc lực cho chính trị, giới tu sĩ Phật giáo không thể bị coi thường là những kẻ tiêu cực lánh đời, vì họ đã tham gia tích cực vào công việc xây dựng cơ đồ cho dân tộc. Sau này giới Nho sĩ cao cấp mà xuất hiện được để nắm giữ vai trò lãnh đạo quốc gia cũng là nhờ công lao đào tạo giáo dục đấu tiên của các trường thiền học và do các vị Sư trong chùa cất nhắc. Như đến cuối đời Lý những vị quan đại thần trong triều như Thái úy Tô Hiến Thành, Thái Bảo Ngô Hòa Nghĩa đối với Sư Thí Thiền vẫn phải giữ lễ sư đệ và nhận những lời dạy bảo:

“…tham dục truất trừ thiện lý ngoại

Hi di chi ý nhật bao dung”.[32]

Qua đời Trần, Trần Thủ Độ đã dùng đến thủ đoạn tàn bạo để giành ngai vàng từ tay nhà Lý. Hành động này hẵn đã gây ấn tượng xấu trong dân chúng. Nên Ông vua đấu tiên của triều đại này đã biết hướng tâm về giáo lý nhiệm mầu của Đức Phật hầu làm giảm bớt tính chất khốc liệt của cuộc tranh chấp quyền hành bằng bạo lực. Lệ nhường ngôi cho con để xuất gia đầu Phật của các vua triều Trần và việc thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tỏ rõ rằng sau giai đoạn cần phải trực tiếp tham gia việc nước, Phật giáo Việt Nam đã lại biết rút về cương vị khiêm tốn nhưng siêu việt của tôn giáo để mở lối thoát tâm linh cho những con người đã hoàn thành nhiệm vụ thế tục.

Đến Triều Hậu Lê, có lẽ đất nước càng mở rộng thì guồng máy cai trị càng phức tạp và giới sĩ phu nho học càng trở nên cần thiết. Vua Lê Thái Tổ, trong công cuộc chiến đấu chống quân xâm lược cứu nước, đã phải nhờ đến sự giúp sức đắc lực của một Nho sĩ Nguyễn Trãi. Đến khi vua Lê Thánh Tông trọng văn học thì nho giáo nghiễm nhiên chiếm địa vị độc tôn. Trong giai đoạn này Phật giáo Việt Nam có vẻ suy vi nhưng thật ra là rút về địa vị khiêm tốn trong đại chúng. Tư tưởng Phật giáo đã ăn sâu vào tâm hồn dân tộc để hoàn thành sự đúc kết tư tưởng truyền thống của dân tộc với yếu tố tam giáo và yếu tố bình dân.

 

Chương III: Tư tưởng Phật giáo trong văn học thành văn Việt Nam ^

Trong phần này, người viết đề cập đến tư tưởng Phật giáo trong những tác phẩm văn chương tiêu biểu, hay một vài tác giả tiêu biểu trong văn đàn Việt Nam.

Người viết cũng cần nói thêm là sự thể hiện tư tưởng Phật giáo không nhất thiết phải được phát hiện từ thuật ngữ Phật học. Thực tế cho thấy có nhiều nhà văn, nhà thơ không phải là Phật tử nhưng diễn đạt cảm xúc của mình qua thơ văn lại có nhiều ý tưởng, nội dung phù hợp với tinh thần, tư tưởng Phật giáo. Như vậy, tư tưởng Phật giáo đã lắng sâu vào tiềm thức con người Việt Nam, trở thành xương máu da thịt, hơi thở và ngôn ngữ của người Việt Nam.

I/. Tư tưởng Phật giáo trong văn học bình dân:

Trước hết, người viết đề cập đến hình ảnh và vai trò của Đức Phật trong văn chương bình dân. Trong văn chương bình dân, Đức Phật thường được mệnh danh là Bụt. Hình ảnh Bụt ở người bình dân là một hình ảnh đàng hoàng, chững chạc nên người đời thường nói:

“No nên Bụt, đói nên ma”[33]

Không chỉ có vỏ bề ngoài, Bụt còn hiện than tư cách đạo đức bên trong :

“Đi với Bụt mặc áo Cà sa, đi với ma phải mặc áo giấy”.

Rõ ràng, Bụt tượng trưng cái thiện, cái đẹp, còn ngược lại ma quỉ tượng trưng cho cái xấu, cái ác (xấu như ma, dữ như quỉ). Tấm lòng Bồ Tát hay Bụt rất quảng đại vị tha mà người đời phải cố gắng noi theo, dù biết là khó khăn vì bản tính con người là tham lam ích kỷ:

“Của người Bồ Tát, của mình lạt buộc”.

Vì thế, địa vị của Bụt ở trên cao, được mọi người tôn sùng:

“Bụt ngồi trên tòa, không gà nào dám mổ mắt”[34]

Trong truyện cổ, vai trò của Bụt hiện ra rõ ràng hơn. Ở đây, đối với người dân Bụt là một đấng quyền năng siêu phàm nhưng bình dị, quảng đại quần chúng và “hiền như bụt”! Ngài lại luôn luôn nâng đỡ người cô thế. Trong truyện “Tấm Cám [35] cứ mỗi lần cô con gái hiền lành tên Tấm bị người mẹ ghẻ và đứa em gái khác mẹ cay độc hành hạ và nàng chỉ biết ngồi khóc thì Bụt hiện ra giúp đỡ. Truyện “Cây tre trăm đốt [36] tả Đức Phật xuất hiện cứu giúp, làm trợ duyên cho thiện nghiệp của chính những người hiền lành, tốt bụng thành tựu viên mãn trên đường đời như bà mụ giúp sản phụ được mẹ tròn con vuông chứ không thể tạo ra được bào thai.

Người bình dân hay gặp những bất công trong đời sống. Bởi vậy, họ khao khát sự công bằng, và nhiều khi họ cũng muốn Bụt đóng vai trò cầm cân nẩy mực, như trong truyện cổ tích “Con Rắn Và Người Nuôi Rắn”.[37] Người nuôi rắn bị rắn dọa mổ chết, xin cùng rắn đi hỏi Hạc thì Hạc bảo rằng là đồ vô ơn bạc nghĩa, hỏi rùa thì rùa bảo rắn cắn chết người là đúng, hỏi quạ thì quạ mổ chết rắn ngay. Hồn rắn kiện Bụt; Bụt xử cho Hạc được đứng trên cao, vì Hạc nói câu có nghĩa. Rùa nói câu bất nghĩa nên phải ép mình đội bia ở dưới thấp; còn rắn đáng chết và quạ được tha xác rắn lên ngọn tre để nêu gương cho đời (nên đầu cây phướn có con quạ đậu, dưới buông tấm vải tượng trưng hình con rắn).

Dù giữ việc phán xét hành vi Thiện - Ác, Bụt vẫn có vẻ hiền từ thực thà. Ngài không nghiêm khắc như Diêm Vương thi hành những hình phạt nặng nề ghê rợn, dù nhiều khi Ngài cũng hay biến hình đổi dạng để thử lòng người.

Giận dữ là một điều tai hại. Nó được liệt vào ba tội căn bản Tham - Sân - Si. Nếu nguồn gốc của khổ đau là chấp ngã, nó khiến ta làm khổ mình và khổ người, biến thế gian này thành địa ngục thì sân hận là một phản ứng, một biểu thị mãnh liệt của “ngã”, thấy mình bị xúc phạm hay không đạt điều mình muốn. Nó phải đốt phá, tiêu diệt đối lập. Truyện “Hai vợ chồng con Chiền Chiện và Ông Sư” ghi lại những hậu quả thảm khốc của giận dữ.[38]

Chúng ta tham lam, giận dữ, tạo ác, báo oán vì nghĩ có mình và có cái của mình. Nhưng, sự thật vô ngã, bởi mọi ngã đều do tứ đại giả hợp mà tuân theo luật vô thường, chẳng có gì tồn tại, tất cả đều sinh diệt.

Tấm bi hài kịch của hai con chim trong truyện “Chẽo Cờ và Vẹt [39] cũng là hình cảnh của con người chúng ta. Trong truyện này, ta lại thấy một điều văn chương truyền khẩu, bình dân phục vụ cho mọi tầng lớp mà bình dân là đa số, nên ở căn bản thiết lý sâu xa mà chi tiết có những điểm hay những lời khi tầm thường thực tế, khi ngộ nghĩnh cợt đùa như câu kết: “Còn cây thị vẫn là của nhà chùa, Ông sư bà vải được hưởng với nhau”. Ta khôn nên lấy lời hại ý mà hiểu chủ đích của tác giả. Nhà chùa tượng trưng cho sự vô ngã, vậy của nhà chùa là không của ai.

Người bình dân có hiểu hay không hiểu hết thì tác dụng vẫn sâu xa chân chính, vẫn làm họ cảm thấy rằng, tham lam vơ vét thực ra không có lợi, chỉ chuốc lắm khổ đau. Những điều mà trí người ta không hiểu hoàn toàn nhưng lòng rung cảm sẽ lắng xuống tiềm thứa, nói theo danh từ Duy thức học thì thành những chủng tử dưới A lại gia thức để nẩy nở dần cho đến ngày hiện hành, nổi lên ý thức và biến thành hành động. Vậy căn bản vô minh là không nhận ra lẽ vô thường để chấp chặt, chấp ngã đến nổi tranh giành nhau, nổi sân đối với nhau, báo oán và chết ví báo oán.

Hoặc câu truyện “Phù Du và Đom Đóm [40] với những lời cổ lổ nhưng đượm vẽ thiêng liêng, huyền diệu, phảng phất ý vị đạo đức, giáo lý Phật giáo với câu kết của Đom Đóm vừa đi vừa hát:

“Sự đời nghĩ cũng ngán thay

Nữa đêm nữa ngày có kẻ không tin!”

Con Phù du sớm sinh chiều chết nên không thể nào tin tưởng dược rằng lại có ban đêm, thế nhân sống trong cuộc vô thường, cuốn theo dòng sinh tử lưu chuyển, không nhận định lẽ tự nhiên trong vũ trụ.

Những bậc có mắt tuệ, nhìn suốt chân ảnh cuộc đời khai thị cho quần sinh. Những vị đó bị kẻ không hiểu cười là gàn gỡ, nói chuyện ảo huyền trong khi vũ trụ đối với họ là thực tại, bản thân họ thực tại, hạnh phúc của họ cũng thực tại như không bao giờ hết, chẳng khác nào phù du kia sớm sinh chiều chết biết sao được mặt trời sẽ lặng.

Ngọn đèn của Đom Đóm phòng lúc đêm hôm tỏ lối nhằm đường khỏi ra vào chuớng ngại thì con mắt tuệ giúp cho bậc giác ngộ đối phó với vô thường, vượt khỏi vòng sinh diệt. Con phù du không có đốm sáng ấy của đom đóm nên sớm sinh chiều chết bị cuốn vào nguồn sinh diệt. Không phải ai cũng lường được hết ý nghĩa sâu xa của truyện này. Nhưng ít nhất nó cũng giúp cho bớt kiêu căng tàn nhẫn khi đương thịnh, để khôn ngoan khiêm tốn phòng lúc suy. Đối với những kẻ cầm quyền, nó dạy đức thận trọng tiên liệu mọi việc trước khi nói và làm. Truyện này có tiềm năng ý nghĩa mênh mang, chắc chắn phải do một vị Thiền sư đạo cao hay một thánh triết ẩn danh tạo lập.

Như vậy, hầu hết truyện dân gian, cổ tích bề ngoài có vẻ đơn giản, phảng phất hương vị cợt đùa nhưng tác giả phải là người nắm vững, thấu hiểu rất sâu giáo lý Đạo Phật. Đó là phần truyện cổ tích, ta thử điểm qua thơ ca mang đậm nét dân gian xem sao ?

Trong thơ ca Việt Nam, hầu hết chịu ảnh hưởng Phật giáo, điển hình như quyển thơ “Quan Âm Diện Thiện”, “Quan Âm Thị Kính” … cốt truyện lời thơ hoàn toàn Phật giáo. Không những thơ ca có công dụng tiêu khiển trong những ngày nhọc nhằn mệt mỏi, mà cũng để xây dựng giáo hóa người Việt có những đức tính cao thượng, biết làm lành lánh dữ.

Những đức tính mà người Việt coi là cơ bản là trong gia đình phải hiếu thảo với cha mẹ, ngoài xã hội nhân ái với mọi người. Đọc thơ “Quan Âm Diệu Thiện” chúng ta thấy hai đức tính đó nổi bật nhất, như trong đoạn mở đầu quyển thơ :

“Chân như Đạo Phật rất mầu,

Tâm trung chữ Hiếu, niệm đầu chữ Nhân.

Hiếu là độ được đấng thân,

Nhân là vớt khỏi trầm luân mọi loài”.

Nói về chữ Hiếu, Diệu Thiện là con gái vua nước Hưng Lâm xứ Tây Trúc. Bà mộ Phật pháp không chịu lấy chồng. Vua cha giận đày đọa đến chết. Nhưng sau khi hồn Bà dạo qua 18 cửa ngục ở Diêm La, được hoàn trở lại dương thế. Vì ghét con đi tu, vua cha đã đốt chùa, hại các Tăng – Ni. Do nhơn ác ấy, sau này vua mắc quả báo đau đớn khổ sở. Bà tu hành đắc đạo, dùng thần thông cứu cha :

“Ấy là phép Phật thần thông,

Giả làm chước ấy để phòng cứu cha”.

Tuy nhiên, người Việt Nam rất nặng tinh thần dân tộc, dù cốt truyện phát xuất từ nơi nào cũng phải biến hóa thành của người Việt Nam. Bà Diệu Thiện tuy người Tây Trúc, nhưng khi tu hành được Phật giới thiệu sang Việt Nam, ở chùa Hương Tích:

Đức Phật mới chỉ đường tu,

Rằng có một chùa ở thôn Hương Sơn,

Gần bể Nam Việt thanh nhàn,

Sang tu chốn ấy sẽ toan viên thành.

Thơ Quan Âm Diệu Thiện nhằm vào chữ Hiếu và lòng Nhân, thì thơ Quan Âm Thị Kính nhằm vào chữ “Nhẫn nhục” và “Cứu độ”. Thị Kính đã mắc oan tình “oan toan ám sát chồng”, bà trá hình quyết chí vào chùa tu:

Xuất gia quyết một tâm liền,

Phụ tình đới nhật, bước lên dặm đường.

Quần chân, áo chít dịu dàng,

Giả hành nam tử, ai tường căn nguyên.

Tưởng xuất gia là ổn, nào ngờ oan khiên chưa dứt, Thị Mầu lại một phen vu oan đã giở thói trăng hoa. Dù bị làng tra tấn tàn nhẫn nhưng Bà vẫn cam tâm nhịn chịu. Sự oan ức nhục nhã này nếu không đủ sức nhẫn nhục thì không sao chịu nổi. Nhờ sức nhẫn nhục mới làm sáng tỏ ý chí của người chơn chánh tu hành. Bà tự an ủi:

Chữ rằng : nhẫn nhục nhiệm hòa,

Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu.

Đến đứa con oan của Thị Mầu đem ném trước hành lang chùa, Bà động lòng trắc ẩn, đem vào chùa nuôi, mặc tình Sư phụ phản đối, xã hội dèm pha, thế gian chê cười. Bà vẫn thấy cứu mạng người là trên hết, cao cả nhất:

Bạch rằng : muôn đội thầy thương,

Xưa nay thầy dạy muôn đường nhỏ to

Dẫu xây chín đợt phù đồ

Sao bằng làm phước cứu cho một người.

Vì lòng từ bi thương xót chúng sanh, Bà Thị Kính an nhẫn mọi khó nhọc để đóng vai một người mẹ. Đâu những khổ nhọc nhai cơm mớm sữa, mà còn bị thế gian khinh bỉ chê cười, xem Bà là kẻ gian manh núp bóng Bồ Đề, làm điều tà vậy. Thế mà, Bà vẫn cam chịu, miễn cứu được mạng người thì thôi. Bao nhiêu đó, ta thấy rõ đức tính từ bi, nhẫn nhục của Bà viên mãn.

Người bình dân công nhận rằng, người nào có đầy đủ lòng từ bi, viên mãn hạnh nhẫn nhục thì người ấy chắc chắn thành Phật. Nên Bà Thị Kính liền đó chứng thành Phật quả. Đọc những quyển thơ trên, ta thấy tư tưởng Phật giáo và tinh thần dân tộc đã đồng nhất. Những lời thơ bình dị này gần một tác động lớn trong dân tộc.

II/. Tư Tưởng Phật giáo trong văn học chữ Hán: