Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thơ Văn Phật Giáo


. .

 

Tặng Một Vầng Trăng 

TẬP TRUYỆN THƠ ( THIỀN )

* Diệu Phương xuất bản 2004 *

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

 --- o0o --- 

MỤC LỤC 

    - Lời nói đầu

01- Tặng một vầng trăng

02- Những hạt đậu biết nhảy.

03- Thân cây mọc nghiêng.

04- Ném sỏi xuống giếng.

05- Sợi tơ oan nghiệp.

06- Nước mắt người tu hành.

07- Nắng mưa là bệnh của trời

08- Trái tim bình yên.

09- Mẹ Quán Thế Âm  

10- Cô lái đò. .

11- Người khách trọ

12- Con nhện.

13- Tu ngồi, tu nằm.

14- Một ly trà.

15- Ngọc trên đường bùn

16- Vậy sao!.

17- Tuân lời.

18- Nếu yêu, hãy yêu công khai.

19- Thiếu từ tâm.

20- Sóng lớn.

21- Một ông Phật

22- Ðường lầy.

23- Thiền sư và mẹ.

24- Lời mẹ khuyên.

25- Tim ta cháy như lửa

26- Tụng kinh.

27- Giọng nói của hạnh phúc.

28- Không nước, không trăng.

29- In kinh

30- Ngủ lúc ban ngày.

31- Trong cõi mộng

32- Kẻ cướp đi tu

33- Ðúng và sai

34- Họa sỹ tham lam

35- Ông Phật mũi đen.

36- Người cho nên cám ơn.

37- Cửa thiên đường.

38- Bắt giam tượng Phật.

39- Chiến sỹ nhân đạo

40- Con đường hầm

41- Trong tay định mệnh

42- Sát sinh.

43- Chế ngự con ma.

44- Học im lặng

45- Lãnh chúa đần độn.

46- Cải hóa thật sự 

47- Phát đạt thật sự.

48- Không làm, không ăn.

49- Tri âm, tri kỷ

50- Ðến thời phải chết

51- Ðối thoại thiền

52- Dạo mát nửa đêm.

53- Dạy điều tối cao.

54- Không vướng mắc

55- Thiền viện yên lặng

56- Thiền của Phật

 

Lời Nói Ðầu ^

"Tặng Một Vầng Trăng" là một tuyển tập gồm một số những truyện, những giai thoại mang đầy vị Thiền. Nguyên bản viết bằng văn xuôi. Cư sĩ Tâm Minh Ngô Tằng Giao đã phỏng theo nội dung những truyện này và kể lại cho chúng ta bằng những lời lẽ bình dị qua thể thơ "lục bát" đầy tình tự dân tộc để người đọc và người nghe dễ hiểu, dễ nhớ và dễ thuộc.

9 truyện đầu tiên nội dung được phỏng theo cuốn "Những Hạt Ðậu Biết Nhảy" nguyên bản của tác giả Lâm Thanh Huyền ở Ðài Loan. Dịch giả Phạm Huê chuyển ngữ sang tiếng Việt.

4 truyện kế tiếp nội dung được phỏng theo những "Truyện Cổ Phật Giáo".

43 truyện còn lại được cư sĩ Tâm Minh chọn lựa rồi phỏng dịch và chuyển thơ theo cuốn "101 Zen Stories" ("101 Truyện Thiền") do Nyogen Senzaki và Paul Reps kể bằng tiếng Anh. Những chi tiết về tên người, nơi chốn, niên đại, môn phái v.v. hầu như được bỏ qua, không đề cập tới trong thơ để dễ tập trung vào nội dung chính yếu đầy vị Thiền của truyện.

" 101 Zen Stories " đã được ấn hành lần đầu vào năm 1939 bởi Rider and Company, Luân  Ðôn, và David McKay Company, Philadelphia. Những truyện và những giai thoại về Thiền này đề cập tới những kinh nghiệm thực chứng của các Thiền sư Trung Hoa và Nhật Bản trải qua một thời gian dài hơn năm thế kỷ.

Tài liệu được chuyển sang tiếng Anh bắt nguồn: Một là từ cuốn sách có tên gọi là Shaseki-shu (Collection of Stone and Sand: Thạch Sa Tập hay Góp Nhặt Cát Ðá), viết vào cuối thế kỷ thứ 13 bởi một Thiền sư Nhật có tên là Muju (Vô Trú). Và hai là từ những giai thoại khác của các vị Thiền sư, Thiền tăng, đồ đệ dòng Thiền xuất hiện rải rác trong nhiều cuốn sách khác nhau đã được ấn hành tại Nhật vào khoảng thế kỷ 20.

Mong rằng những vần thơ "lục bát" kể lại các truyện và những giai thoại thơm ngát hương Thiền trong cuốn "Tặng Một Vầng Trăng" này sẽ phần nào chuyên chở được một triết lý cao siêu và thâm thúy nào đó khiến người đọc và người nghe phải tĩnh tâm để suy nghĩ rồi tự thức tỉnh mà tìm theo một con đường tốt đẹp hơn trong cuộc sống. 

DIỆU PHƯƠNG

(Mùa Phật Ðản năm 2004)

 

* 1 * ^

Tặng Một Vầng Trăng

 

Thiền sư cất túp lều tranh

Một mình ẩn dật tu hành rừng sâu

Thị thành xa lánh từ lâu

Tâm hồn thanh thản, đạo mầu kiên trinh.

Một đêm đầy ánh trăng thanh

Thiền sư lên núi dạo quanh ngắm trời

Bóng hằng vằng vặc muôn nơi

Thiên nhiên, vạn vật chơi vơi ảo huyền

Giữa vùng thanh tịnh thần tiên

Sư bừng khai ngộ thấy liền được ra

"Tự tính bát nhã" thăng hoa

Từ lâu tiềm ẩn cao xa trong người

Chính là trí tuệ tuyệt vời

Thấu nhìn đạo lý, việc đời thật chân.

*

Thiền sư hoan hỷ vô ngần

Vội vàng rảo bước về am tu hành

Nào ngờ khi tới lều tranh

Nhìn vào thấy trộm viếng mình bên trong

Loay hoay lục lọi lung tung

Có chi quý giá mà mong kiếm tìm,

Tội thay cho kẻ nghèo hèn

Tay không thất thểu muộn phiền bước ra

Vô tình chạm mặt sư già,

Thật ra sư đã về nhà từ lâu

Ðứng ngoài nấn ná chẳng vào

Sợ làm cho trộm chợt đâu giật mình.

Trộm vừa ra khỏi lều tranh

Thiền sư cầm sẵn một manh áo choàng

Cà sa cũ kỹ ố vàng

Hiền từ lên tiếng, dịu dàng, thiết tha:

"Con từ xa tới thăm ta

Lều tranh nghèo mạt, thật là tiếc thay!

Trời khuya, gió lạnh heo may

Nào ta còn có gì đây làm quà

Chỉ còn manh áo cà sa

Tặng con kỷ niệm gọi là chút thôi!"

Nói xong sư mỉm nụ cười

Nhẹ choàng tấm áo lên người trộm kia,

Ngỡ ngàng chẳng biết nói chi

Trộm bèn lầm lũi ra đi vội vàng.

Nhìn theo sư khẽ thở than:

"Lòng ta cảm thấy vô vàn héo hon!

Ước gì tặng được cho con

Vầng trăng rực rỡ trên non đêm này!"

Trăng khuya phô sắc đẹp thay

Sáng tươi, tinh khiết, tròn đầy, sạch trong

Nhìn thêm thanh thoát cõi lòng

Núi rừng cảnh vật chập chùng thênh thang

Ánh trăng tỏa thật dịu dàng

Sáng soi đều khắp non ngàn nơi nơi

Tượng trưng tự tính con người,

Tiếc thay trộm lại buông lơi tâm mình

Mắt mờ bởi bóng vô minh

Chạy theo dục vọng thường tình nhân gian

Như trăng trên đỉnh non ngàn

Bỗng nhiên che phủ bởi làn mây đen

Thật là bất hạnh vô biên

Còn đâu sáng suốt mà tìm hướng đi!

Còn đâu ánh sáng lương tri

Phá tan tăm tối u mê thân mình!

*

Hôm sau vừa rạng bình minh

Thiền sư thức dậy, quả tình ngạc nhiên

Nhận ra áo cũ để bên

Món quà đêm trước vừa đem tặng người

Nay người hoàn trả lại rồi

Cà sa ngay ngắn xếp nơi cạnh mình,

Thiền sư vui vẻ thật tình

Hoa lòng nở rộ, lặng thinh mỉm cười,

Bước ra ngắm cảnh núi đồi

Thiền sư khe khẽ nói lời thiết tha:

"Kẻ đáng thương, đáng xót xa

Cuối cùng ta tặng được quà cho ngươi

Một vầng trăng sáng tuyệt vời

Sáng nơi trần thế, rạng nơi tâm người!"

 

 (phỏng theo tập truyện văn xuôi

Những Hạt Ðậu Biết Nhảy

của Lâm Thanh Huyền, Phạm Huê dịch)

 

* 2 * ^

Những Hạt Ðậu

Biết Nhảy

 

Làng kia có một lão bà

Sống đời lầm lũi, cửa nhà đơn côi

Chồng con đều đã qua đời

Bà nhờ mảnh đất nhỏ nơi sau nhà

Quanh năm trồng đậu bán ra

Kiếm ăn sinh sống cho qua tháng ngày,

Ðời bà khổ cực lắm thay

Gian truân từ nhỏ tới nay nhiều bề

Biết là nghiệp chướng nặng nề

Bà mong chuộc tội xưa kia của mình.

Thấy bà quyết chí tu hành

Có người hiểu đạo thương tình giúp ngay

Dạy câu thần chú linh thay

Giải trừ nghiệp chướng lâu nay chất chồng

Ðây lời đức Quán Thế Âm:

"Án Ma Ni Bát Mê Hồng. Chớ quên!"

Lòng tin bà rất vững bền

Nhưng không biết chữ, lại thêm tuổi già

Thật là tội nghiệp cho bà

Miệng luôn lẩm nhẩm cố mà nhập tâm

Lời Bồ Tát Quán Thế Âm,

Nhưng khi về đến trước sân nhà mình

Thời bà lại nhớ lầm thành:

"Án Ma Ni Bát Mê Hành". Hại thay!

*

Tuy sai, bà lão nào hay

Tối ngày cứ tụng câu này mãi thôi,

Ðể thêm khích lệ lòng người

Bà bày hai chén trước nơi mặt mình

Một thời đầy những đậu nành

Chén kia bà lại để dành trống không,

Mỗi câu thần chú đọc xong

Bà đem một hạt đậu trong chén đầy

Bỏ qua bên chén không này

Dần dần cho đến lúc đầy mới ngưng,

Rồi làm ngược lại nhiều lần

Ðọc kinh, chuyển đậu, với tâm chân thành

"Án Ma Ni Bát Mê Hành",

Ba mươi năm thoáng trôi nhanh trong đời

Dù kinh sám hối sai lời

Lão bà cứ tụng, lòng thời thiết tha.

*

Một ngày linh ứng hiện ra

Ðậu kia tự động nhảy qua chén rồi

Mỗi khi bà tụng dứt lời

Chẳng cần chờ đến tay người đem sang.

Lòng bà mừng rỡ ngập tràn

Nghĩ mình tu thật đúng đường! Tốt thay!

Công lao sám hối lâu nay

Khổ kia chấm dứt! Nghiệp này tiêu tan!

Bà thêm phấn khởi vô vàn

 Tối ngày tụng niệm lại càng thêm hăng.

*

Một hôm có vị cao tăng

Du hành đây đó, đi ngang qua làng

Ngang lều lụp xụp tồi tàn

Nhà sư chợt thấy hào quang rạng ngời

Toả ra rực rỡ tuyệt vời

Khiến sư kinh ngạc, ngẩn người nghĩ suy

Chắc rằng trong túp lều kia

Có người đắc đạo trọn bề chân tu.

Sư bèn dừng bước vân du

Ghé vào thăm hỏi, nào ngờ thấy đâu

Gặp mình bà lão bạc đầu

Không còn ai khác, trước sau mình bà.

Tò mò, sư hỏi cho ra:

"Bà tu kinh sách nào mà linh thay?"

Lão bà thành thật tỏ bày:

"Tôi đây chữ nghĩa có hay chút nào

Nói chi kinh sách tối cao

Cả đời chuyên tụng một câu tâm thành

'Án Ma Ni Bát Mê Hành'

Câu kinh sám hối tụng quanh miệt mài."

Sư nghe tiếc nuối thở dài:

"Câu bà vừa đọc lầm sai vô ngần

Ðúng lời đức Quán Thế Âm

'Án Ma Ni Bát Mê Hồng' từ xưa!"

Lão bà nghe nói sững sờ

Từ lâu lầm lẫn bây giờ mới hay

Bao ngày tụng niệm uổng thay

Ba mươi năm tụng giờ này công toi!

*

Nhà sư từ giã đi rồi

Lão bà thay đổi, tụng lời mới nghe

Lòng bà chộn rộn nhiều bề

Khiến cho ý chí dễ gì tập trung,

Ðậu thời chán nản vô cùng

Chẳng còn hứng khởi tưng bừng nhảy qua

Lão bà nước mắt chan hòa

Miệng tuy tụng niệm, xót xa trong lòng

Thế là nước lã ra sông

Ba mươi năm tụng, uổng công tu hành.

Sư lên gần đỉnh đồi xanh

Ngoái nhìn lại phía lều tranh bà già

Một vùng u ám bao la

Hào quang nào thấy chói lòa nữa đâu

Giật mình sư khẽ than mau:

"Thôi ta gây chuyện khổ đau nữa rồi

Thế là ta lỡ hại người!"

Sư liền quay gót trở lui xuống liền

Tìm về nơi mái lều trên

Gặp bà Phật tử sư bèn nói nhanh:

"Bà ơi cứ tụng tâm thành

'Án Ma Ni Bát Mê Hành' như xưa,

Vừa rồi tôi chỉ nói đùa

Câu bà quen tụng kể như đúng rồi!"

*

Sư từ biệt, trở lên đồi

Lão bà tiếp tục những lời tụng xưa

Lòng vui biết mấy cho vừa

Tiếng kinh sám hối như ru hồn người,

Nhìn kìa! Hạt đậu tuyệt vời

Giờ đây lại nhảy theo lời cầu kinh.

Sư lên đến đỉnh non xanh

Ngoái đầu nhìn lại quả tình mừng vui

Hào quang sáng một góc trời

Phát ra rực rỡ từ nơi mái lều.

*

Lòng thành giá trị thật nhiều

Nơi người con Phật tin theo đạo mầu.

 

(phỏng theo tập truyện văn xuôi

Những Hạt Ðậu Biết Nhảy

của Lâm Thanh Huyền, Phạm Huê dịch)

 

* 3 * ^

Thân cây

mọc nghiêng

 

Con người trên cõi dương gian

Nào ai tránh khỏi cái màn tử vong

Khi đời này chấm dứt xong

Thảy đều ước muốn về trong đất lành

Nơi sạch sẽ, miền tịnh thanh

Khắp vùng cực lạc, an bình mãi thôi.

Có người hỏi đức Như Lai:

"Lòng con luôn mãi hướng nơi đất lành

Hướng về 'tịnh thổ' tâm thành

Mong sau khi chết vãng sanh chốn này

Nhưng con e ngại lắm thay

Gặp khi đột ngột lìa ngay cõi đời

Làm sao niệm Phật kịp thời

Tâm đâu kịp hướng về nơi mong chờ

Lìa dương gian quá bất ngờ

Chẳng còn biết sẽ vật vờ về đâu?"

*

Phật nghe xong, khẽ gật đầu:

"Các con chớ có lo âu làm gì

Ðể ta kể chuyện cho nghe

Chuyện cây thông nọ bên lề rừng xanh.

Cây sinh ra, lớn lên nhanh

Nhưng không mọc thẳng, thân hình lại nghiêng

Mọc nghiêng qua mãi một bên

Có khuynh hướng ngả về miền phía Ðông,

Một ngày trời nổi cơn giông

Nếu mà sét đánh cây thông đổ nhào

Cây này sẽ đổ hướng nào?"

Mọi người đều nói đổ vào hướng Ðông.

Mỉm cười Phật dạy ung dung:

"Con người cũng giống cây thông vô ngần

Chúng sinh khi sống thành tâm

Hướng về cửa Phật nguyện thầm thiết tha

Hướng về 'tịnh thổ' thăng hoa

Thì khi mãn nghiệp lìa xa cõi trần

Dù bất chợt cũng an tâm

Sẽ đi về hướng mình thầm ước mơ

Tây phương cực lạc đón chờ!"

 

(phỏng theo tập truyện văn xuôi

Những Hạt Ðậu Biết Nhảy

của Lâm Thanh Huyền, Phạm Huê dịch)

 

* 4 * ^

Ném sỏi

xuống giếng

 

Phật và đệ tử một ngày

Thong dong tản bộ cạnh ngay cánh đồng

Chợt đâu thấy một đám đông

Quây quần làm lễ vô cùng nghiêm trang

Tiễn đưa một kẻ họ hàng

Mới vừa tạ thế trong làng tuần qua.

Bà con thương tiếc xót xa

Mời nhiều tu sĩ về nhà tụng kinh,

Ra đồng làm lễ linh đình

Mong người quá cố vãng sinh an lành.

Thân nhân cầu khẩn tâm thành

Mong cho siêu thoát vong linh người nhà

Tây phương cực lạc chóng qua,

Tiếng kinh cầu nguyện vang xa trên đồng.

Có người thắc mắc trong lòng

Cúi xin hỏi Phật, cầu mong tỏ tường:

"Thưa Thế Tôn, theo lệ thường

Ðọc kinh khi có người thương qua đời

Ðể mong siêu độ cho người

Ðưa phần hồn họ lên nơi Niết Bàn

Mong họ giải thoát dễ dàng

Chẳng hay tác dụng có mang lại gì?"

*

Phật cười, dáng điệu từ bi

Dắt đoàn đệ tử cùng đi băng đồng

Tới ven bờ giếng nước trong

Ngài cầm hòn sỏi ném lòng giếng sâu

Sỏi kia chìm xuống thật mau

Ngài truyền đệ tử cùng nhau quây quần

Ðứng quanh miệng giếng thật gần

Phật bèn hỏi: "Nếu thành tâm nguyện cầu

Kinh vãng sinh đọc dài lâu

Sỏi kia có nổi lên mau không nào?"

Cả đoàn đệ tử xôn xao

Ngạc nhiên tự hỏi chuyện sao lạ kỳ

Cùng thưa: "Kính đức Từ Bi

Trên đời đâu có kinh gì giúp ta

Dù tâm thành, dù thiết tha

Dạt dào chú nguyện, chan hòa lòng tin

Ðem kinh kệ tụng liên miên

Chẳng làm cho sỏi nổi lên được nào!"

*

Nghiêm trang Phật dạy: "Ðúng sao!

Ai khi sống chẳng hướng vào cõi trên

Nơi cực lạc, chốn bình yên

Nơi vùng thanh tịnh, nơi miền sạch trong

Thì khi chết thật khó lòng

Dùng lời kinh kệ mà mong giúp mình

Ðưa về 'tịnh thổ' an bình,

Phải nên nhắc nhở chúng sinh xa gần

Kệ kinh chỉ giúp một phần

Chính mình phải giúp bản thân của mình

Khi còn sống phải tu hành

Trái tim hướng nẻo đất lành đừng quên,

Bản thân mình chớ nhận chìm

Xuống lòng nước thẳm, xuống miền giếng sâu

Gắng công tu tập đạo mầu

Giữ tâm cho kỹ trước sau nhiệt tình

Mới mong có phước vãng sinh

Vào miền 'tịnh thổ' đất lành cực vui!"

 

(phỏng theo tập truyện văn xuôi

Những Hạt Ðậu Biết Nhảy

của Lâm Thanh Huyền, Phạm Huê dịch)

 

* 5 * ^

Sợi tơ

oan nghiệp

 

Ngày xưa có một anh chàng

Nổi danh độc ác hung tàn gần xa

Hắn tên là Kiện Ðà La

Hồi còn đi học chẳng tha bạn nào

Khắp trường ăn hiếp trước sau

Bạn bè yếu thế buồn rầu khôn nguôi,

Lớn lên hắn phá khắp nơi

Phá trong trường lớp, phá ngoài làng thôn.

Lại thêm háo sát luôn luôn

Các loài gia súc khôn hồn tránh xa

Hắn mà tóm được chẳng tha

Thẳng tay hành hạ thật là thương đau,

Côn trùng, bò sát như nhau

Dù cho nhỏ bé cũng đâu an toàn

Dùng chân hắn dẫm bạo tàn

Con ong, cái kiến nát tan đọa đày.

Kiện Ðà La tới một ngày

Giết người mà chẳng gớm tay nữa rồi

Trở thành tên cướp khắp nơi

Bà con thấy hắn tức thời trốn ngay

Kêu nhau tránh nạn khổ này:

"Kìa hung thần đến gieo đầy tai ương!"

Thấy thiên hạ khắp xóm làng

Tỏ ra hãi sợ, hắn càng vui thêm

Toàn thân hắn toát ra liền

Một luồng sát khí triền miên lạnh lùng

Chẳng riêng người mới hãi hùng

Cả ma lẫn quỷ đều cùng hoảng kinh.

*

Một ngày dạo cạnh rừng xanh

Nhìn quanh kiếm vật hy sinh bữa này

Kiện Ðà La chợt thấy ngay

Nhện kia bò chậm loay hoay bên lề,

Nhện mang bầu nên nặng nề

Chẳng bò nhanh được, dễ gì thoát thân

Khó mà thoát gót tử thần,

Kìa tên hung ác nhanh chân tới rồi

Ðịnh tâm dẫm nát Nhện thôi

Nhện kia run rẩy, rúm người, lăn quay.

Kiện Ðà La thấy hay hay

Niềm vui trong dạ hôm nay chợt về

Hắn tha cho Nhện bò đi,

Nhện mừng thoát chết thảm thê chốn này

Thật là may mắn lắm  thay,

Nhện từ khi đó ngày ngày gắng công

Tu hành tinh tấn một lòng

Mong đừng vương kiếp côn trùng mãi thêm

Tu nhiều kiếp! Vững lòng tin!

Một ngày Phật độ Nhện lên Niết Bàn

Nghe kinh thơm, tắm đạo vàng

Thần thông Nhện luyện giỏi giang sau này.

*

Thời gian lần lượt vần xoay

Kiện Ðà La đến một ngày tàn hơi

Già người, yếu sức, trọn đời

Chết xong bị quỷ kéo lôi đi liền

Ðày địa ngục, cột xích xiềng

Một bên móc sắt, một bên vạc dầu

Nhục hình khổ cực đớn đau

Dưới tầng mười tám thẳm sâu hãi hùng,

Ðây tầng địa ngục cuối cùng

Dành  riêng cho kẻ dữ hung nhất đời.

*

Một hôm địa ngục tơi bời

Thảm thê vang vọng tiếng người kêu la

Phật Ðà nhìn xuống nhận ra

Tội nhân là Kiện Ðà La đọa đày

Thấu soi tiền kiếp trước đây

Hắn tuy hung dữ, có ngày từ tâm

Ðã tha cho Nhện một lần

Dù sao cũng đã gieo mầm nhân duyên,

Phật quay sang Nhện kề bên

Dạy nên giúp hắn một phen trọn tình.

Vâng lời Nhện vận sức mình

Nhả tơ thành sợi phun nhanh ra ngoài

Phun từ cao tít cõi trời

Xuống tầng địa ngục dưới nơi tận cùng.

*

Ðang trong cảnh khổ não nùng

Kiện Ðà La bỗng thấy buông trước mình

Dây tơ ngũ sắc lung linh

Từ trời thòng xuống rung rinh đón mời,

Hắn ta mừng rỡ nghẹn lời

Vội vàng chụp lấy đu người leo lên,

Leo lưng chừng tới phía trên

Hắn nghe có tiếng vang rền dưới chân

Cúi nhìn thấy đám tội nhân

Tranh nhau ráo riết leo dần lên dây

Hắn suy nghĩ: "Thật nguy thay!

Sợi tơ mỏng mảnh này đây chẳng bền

Nhiều người bám nặng đứt liền

Sẽ rơi trở lại xuống miền khổ đau!"

Mối lo vừa thoáng trong đầu

Ôm dây hắn vội tụt mau xuống rồi

Tính co chân đạp đám người

Ðang đeo phía dưới cho rơi xuống dần,

Nào ngờ vừa mới giơ chân

Sợi tơ ngũ sắc bất thần đứt ngang.

Kiền Ðà La vội kêu vang

Kéo theo cả đám kinh hoàng thét la

Cùng rơi xuống chốn thẳm xa

Xuống miền địa ngục, lối ra khó tìm.

Phật Ðà và Nhện phía trên

Thở dài buông tiếng khi nhìn chúng sinh

Nổi chìm địa ngục điêu linh

Nghiệp xưa chót lỡ, cực hình khó qua.

Tiếc thay cho Kiện Ðà La

Bao nhiêu nghiệp dữ nếu mà chẳng mang,

Lòng sân phút chót đừng vương

Mọi người chắc đã có đường thoát ra.

 

(phỏng theo tập truyện văn xuôi

Những Hạt Ðậu Biết Nhảy

của Lâm Thanh Huyền, Phạm Huê dịch)

 

* 6 * ^

Nước mắt

người tu hành

 

Vị cao tăng đắc đạo rồi

Tính ra thấm thoắt nửa đời xuất gia

Tu nơi thiền viện phương xa

Dứt tình quyến luyến quê nhà từ lâu,

Nơi thanh tịnh, chốn thẳm sâu

Nhà sư nghiên cứu đạo mầu chuyên tâm

Giờ đây học vấn uyên thâm

Lại thêm phẩm hạnh sáng ngần treo gương

Bao nhiêu đệ tử bốn phương

Tìm sư học đạo, xin nương cửa thiền.

*

Sư truyền: "Thế tục tình riêng

Chớ nên lưu luyến, chớ nên buộc ràng

Mới mong giác ngộ đạo vàng

Giải trừ cố chấp tiềm tàng bản thân

Chỉ khi vượt được nguy nan

Vượt rào tình, dục vô vàn thương đau

Mới mong giải thoát được mau,

Trần gian vạn vật trước sau vô thường!"

*

Một ngày từ chốn cố hương

Có người lặn lội tìm đường ghé ra

Báo tin sư rõ chuyện nhà:

"Con trai độc nhất vừa qua đời rồi

Sau cơn bệnh mấy năm trời!"

Nghe xong tin dữ mọi người xôn xao

Vội vàng đệ tử họp nhau

Bàn xem nên báo tin vào hay không

Ngại sư đau đớn cõi lòng

Vì tình máu mủ dễ hòng buông trôi.

Sau khi bàn thảo hết lời

Cho rằng sư đã xa nơi gia đình

Chẳng còn vương vấn thường tình

Ba mươi năm mãi lánh mình ẩn tu

Chưa hề ra khỏi cổng chùa

Quanh năm thiền định, suốt mùa kệ kinh:

"Tin nhà cứ báo thật tình

Há đâu mà sợ thầy mình bi thương!"

*

Vừa nghe tin dữ cố hương

Nào ngờ thầy lại lệ vương tràn trề

Ðau lòng bật khóc não nề

Chẳng e đệ tử cười chê chút nào,

Mọi người kinh ngạc biết bao

Ðâu dè phản ứng thầy sao thường tình

Tưởng thầy hết lụy gia đình

Coi thường câu chuyện tử sinh lâu rồi.

Vây quanh đệ tử im hơi

Thời gian lặng lẽ dần trôi nặng nề,

Chợt đâu có kẻ vội quỳ

Và nêu ra thắc mắc kia hỏi thầy.

*

Thở dài sư khẽ giãi bày:

"Những điều ta dạy hàng ngày sai đâu!

Các con phải nhớ trước sau

Tự lo giác ngộ cho mau thân mình,

Tuy nhiên lợi ích chúng sinh

Các con cũng chớ vô tình mà quên

Bản thân ích kỷ chớ nên

Lo phần mình, cũng lo thêm cho người.

Con người ở khắp mọi nơi

Nếu chưa giác ngộ mà rồi chết đi

Nào đâu giải thoát được chi

Mãi còn quanh quẩn thảm thê luân hồi

Trong vòng sinh tử nổi trôi

Xa bờ giác ngộ, xa nơi Niết Bàn.

Ta đang nhỏ lệ khóc than

Không vì thương tiếc thế nhân thường tình

Mà vì chính đứa con mình

Cũng như muôn vạn chúng sinh xa gần

Chưa hề giác ngộ bản thân

Giờ đây đã vội lìa trần. Thảm thay!

Chính là vì lý do này

Khiến ta thật sự hôm nay đau lòng!"

*

Vây quanh đệ tử nghe xong

Cùng nhau chợt hiểu nỗi lòng nhà sư

Từ bi, cao cả vô bờ

Tình riêng thế tục bây giờ còn đâu

Thầy là gương sáng nhiệm mầu

"Cái ta nhỏ bé" từ lâu sá gì

Bản thân mình có đáng chi

Nên luôn tâm niệm hướng về chúng sinh.

 

(phỏng theo tập truyện văn xuôi

Những Hạt Ðậu Biết Nhảy

của Lâm Thanh Huyền, Phạm Huê dịch)

 

* 7 * ^

Nắng Mưa

Là Bệnh Của Trời

 

Bà già nghèo khổ quá trời

Cùng hai con gái sống đời khó khăn

Hai cô buôn bán kiếm ăn

Suốt ngày vất vả, quanh năm muộn phiền.

Cô con lớn bán nhang đèn

Cho người đi lễ, ở trên cửa chùa,

Cô kia lại bán ô dù

Trước trường học nọ, khách mua không nhiều,

Mẹ con quả thật gieo neo

Long đong kiếp sống, buồn thiu cõi lòng.

Lão bà lo ngại vô cùng

Rõi theo thời tiết xoay vòng đổi thay

Luôn gây ảnh hưởng không hay

Khiến bà nghĩ ngợi, lo ngày lo đêm.

Những hôm mưa gió liên miên

Cô con gái lớn nhang đèn ế ngay

Người đi lễ Phật vắng thay

Bà già rầu rĩ héo đầy ruột gan.

Những hôm nắng đẹp hanh vàng

Cô con gái nhỏ cửa hàng vắng teo

Dù kia ế ẩm. Thêm nghèo!

Bà già lo lắng đủ điều mãi thôi

Trong tâm bà lão rối bời

Não phiền theo với chuyện trời nắng mưa.

*

Một ngày nọ gặp nhà sư

Bà bèn trút hết tâm tư muộn sầu

Nỗi lòng u uẩn bấy lâu,

Sư bèn khuyên nhủ đôi câu chân thành:

"Ðổi thay suy nghĩ của mình

Chuyện trời mưa nắng thường tình sá chi

Cuộc đời sẽ hết sầu bi

Sẽ vui hơn nếu nghĩ suy đúng đường!

Hôm nào nắng đẹp phố phường

Trên chùa nhiều khách thập phương ra vào

Bà nên vui sướng biết bao

Nhang đèn bán hết, dạt dào niềm vui!

Hôm nào mưa gió dập vùi

Bà con ngoài phố tới lui ướt người

Hàng dù đắt tựa tôm tươi

Thì bà cũng lại sướng vui vô cùng!

Thế là nếu cứ nhìn chung

Bà còn may mắn đáng mừng hơn ai

Vì rằng mưa nắng mặc trời

Hai cô con gái kiếm lời luân phiên!"

*

Sư nói phải, bà lặng yên

Ngẫm ra có lý bà liền theo ngay

Kể từ khi đó hàng ngày

Nghĩ suy theo cách chỉ bày của sư

Niềm vui về ngập tâm tư

Gia đình thoải mái hơn xưa bội phần

Ấm êm, hoan hỷ vô ngần

Mặc cho mưa nắng xoay vần trêu ngươi,

Nắng mưa là bệnh của trời

Mặc trời! Bà cứ thảnh thơi! Lo gì!

Nội tâm khi chuyển hóa đi

Nhìn đời tốt đẹp, sầu bi chẳng còn!

 

(phỏng theo tập truyện văn xuôi

Những Hạt Ðậu Biết Nhảy

của Lâm Thanh Huyền, Phạm Huê dịch)

 

* 8 * ^

Trái tim bình yên

 

Tiều phu vác búa hàng ngày

Leo lên trên núi đốn cây, chặt cành

Về làm củi, bán loanh quanh

Sống đời chất phác, hiền lành, đơn sơ

Cho nên bình thản tâm tư

Chẳng hề lo nghĩ xa như mọi người.

Một hôm kiếm củi đẹp trời

Chàng ta gặp kẻ lạ nơi rừng già

Chặn chàng, trò chuyện gần xa

Tự xưng yêu quái tài ba nhất đời

Tài về "cảm ứng" tuyệt vời

Ðoán ra suy nghĩ của người xung quanh,

Con yêu tự mãn khoe mình:

"Lâu nay ta ở rừng xanh thấy buồn

Lần này định xuống làng thôn

Phá cho thiên hạ kinh hồn một phen!"

*

Chàng tiều phu sợ vô biên

Sợ loài người sẽ cuồng điên chuyến này

Nếu như mình nghĩ gì đây

Mà rồi có kẻ biết ngay lòng mình

Ðem ra kể hết sự tình

Bà con lối xóm xung quanh hay liền

Sẽ gây rắc rối, muộn phiền

Tương quan xã hội đảo điên quay cuồng,

Giữa họ hàng, giữa vợ chồng

Ðừng mong tơ tưởng, đừng hòng suy tư

Chẳng còn một chút tự do

Chao ơi trần thế loạn to mất rồi,

Nếu con yêu xuống tới nơi

Sống chung chạ với loài người. Nguy thay!

*

Trong lòng thầm nghĩ đến đây

Chàng tiều phu bỗng quyết ngay một điều:

"Ngăn loài quỷ, chặn giống yêu

Không cho xuống núi gây nhiều loạn ly!"

Anh chàng đang mải nghĩ suy

Chợt nghe thấy quỷ yêu kia bật cười:

"Cái anh này thật dở hơi

Giờ đang tính kế chặn người nữa sao?

Ðừng mong làm chuyện tào lao

Khi ta đã quyết, ai nào cản ngăn!"

Tiều phu kinh hãi nghĩ thầm:

"Quỷ yêu đọc hết ruột gan ta rồi

Thật là nguy hiểm quá trời

Chắc là phải giết nó thôi kẻo phiền!"

Chàng vừa loé ý tưởng lên

Thì con yêu quái kia liền hét la:

"Giờ mi lại định giết ta

Sôi gan, cáu tiết nữa à! Ghê thay!

Làm sao chém trúng ta đây

Phía nào định chém ta hay biết rồi

Ta liền né tránh dễ thôi

Làm sao hại nổi người tài như ta!"

Tuy tiều phu nhận rõ ra

Giết tên yêu quái thật là khó khăn

Những gì mình định tâm làm

Quỷ yêu biết trước. Chẳng ăn thua gì!

Nhưng chàng cứ chém bừa đi

Búa này mong chém quỷ kia bay đầu.

Nào ngờ có dễ dàng đâu

Quỷ kia nhảy nhót thật mau lạ kỳ

Né bên này, tránh bên kia

Dường như biết trước búa đi hướng nào.

Loay hoay chẳng biết làm sao

Tiêu ma sức lực, tổn hao tâm thần

Tiều phu mệt mỏi nhủ thầm:

"Giết yêu quái khó bội phần vậy thay

Dù ta gắng hết sức này

Nhờ trời chẳng được! Bó tay mất rồi!

Búa kia chém chỉ tốn hơi

Quỷ yêu đành kệ nó thôi. Sá gì!

Tốt hơn đừng nghĩ ngợi chi

Hãy lo việc kiếm củi kia thường ngày."

Nghĩ xong chàng chợt vui ngay

Tâm nhiều thanh thản! Lòng đầy thảnh thơi!

Kệ yêu quái! Mặc chuyện đời!

Quỷ yêu có mặt chàng thời lờ đi

Búa mang chặt củi lia chia

Chẳng thèm để ý làm chi thêm phiền.

*

Con yêu đâu để chàng yên

Mở lời trêu chọc huyên thuyên ồn ào:

"Chém ta khó trúng làm sao,

Giết ta cũng chẳng dễ nào phải không?

Giờ làm bộ chẳng thèm trông

Gục đầu đốn củi để hòng lừa ta!"

Mặc cho yêu quái ba hoa

Tiều phu bình tĩnh, tỏ ra phớt lờ

Chú tâm đốn củi hàng giờ

Búa kia từng nhát vung ra rầm rầm

Bổ cây cổ thụ ở gần

Chàng làm chăm chỉ, chuyên cần mãi thôi,

Bổ nhiều, lưỡi búa lỏng rồi

Sút dần khỏi cán chàng thời chẳng hay

Ðột nhiên lưỡi búa tung bay

Vèo qua yêu quái, trúng ngay vào đầu.

Con yêu nào có ngờ đâu

Ðang cười ha hả tìm câu trêu người

Ai dè lưỡi búa tày trời

Bay qua chấm dứt cuộc đời tinh ma

Ðập vào đầu, sọ bể ra

Con yêu bỏ mạng, khó mà tránh đi!

Khi thiên hạ nghĩ điều chi

Ruột gan thiên hạ yêu kia biết liền,

Nhưng điều bất trắc chẳng quen

Yêu không phòng bị cho nên tàn đời!

Yêu không đoán được tâm người

Khi tâm người đã thảnh thơi mọi đường

Không chộn rộn, lại kiên cường

Lại luôn thanh thoát, lại thường bình yên.

 

(phỏng theo tập truyện văn xuôi

Những Hạt Ðậu Biết Nhảy