Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thơ Ca Phật Giáo


  .

 

Tuyển tập về
Nhà Thơ Bùi Giáng
Hợp Lưu
---o0o---

Phần 4

 

Truy niệm

Thường Quán

Lá thiên thu đẹp làm thinh bên đường

Bùi Giáng 

 

Trận gió cuối cùng của trưa đã để người nằm im

Nằm im trong, không đi đâu nữa trên vỉa hè kề cà trái đất

ngoài kia, thành phố mái tôn xơ xác cuối Hai Mươi

Trận gió thương hải vân ấy là tất cả

 

Ðể người nằm im

Người đã mang những vòng hoa gai trên đầu

Người đã hát vạn lời triều hải thiên thanh

Người nằm sắp về

Mà trận gió trưa

 

Trận gió trưa mẹ bao la

Ðôi mắt như nhiên yên lặng

Bàn tay xanh từ kêu con ngoài phố

 

Ngoài phố những đứa trẻ bán báo

Những đứa trẻ chát chát rễ cây ngoài phố

Chạy lách giữa những đàn xe Dream

Trong cõi chiêm bao lần cuối của người

Chúng vẫn bay non lảo đảo như là chim

 

Hay là lá? Mà người tận lực không đủ xoay vòng

Một vòm mái hiên

Dù ngực dù hai chân dù hai lá phổi

Sự cẩn trọng bắt đầu giữa tim

Nhưng người không còn nói

 

(những gì người đã thấy thì không ai khứng nỗi)

 

*

 

Bây giờ hồi còi trưa những con tàu đen rống lên ngoài đại hải

Những bằ bò cuối cùng trong lũng núi

Mây trắng từ Mỹ Tho tới Duy Xuyên

Ðội nòn rách để tay lên khóe miệng.

 

*

 

Mặt đất quê hương của người vẫn tiếp tục một buổi trưa

Ðâm xiên vào cổ áo lập lòe và lổ đổ

Ai đó nói nhỏ: Thôi em đừng

Cuộc tận hiến cũng có hồi kết của nó.

 

 

Những đứa trẻ vừa nghe tin

Chúng tay tìm những chùm bông cỏ

Bốn năm người thi sĩ sót lại trong thành phố

Tới bên đèn đặt những nhành lá

Rồi khoảng yên lặn thăm thẵm giữa những hồi gió

Rồi quán sách ở ngã ba

 

*

 

Một thềm hiên chùa một mái cà phê

Một mặt bàn ngó ra trời

Ngó lui vào là cổng ngỏ

Ngoài cổng ngỏ là bát ngát

Những âm vọng của lời

Và những lầu đài ngôn ngữ u tịch của người

những bài ca trưa người từng bước đi, từng hát

Bụi cát, tán cây, nữ sinh, tiếng xe cộ, âm mây về, bát ngát, ho,

 Khao khan phổi, lá ngực, người hát

 

Người thấy ngược (như sấm chớp trời xanh) người hát

mây trắng từ Mỹ Tho tới Duy Xuyên

mây trắng từ Senegal về Ðiện Bàn

mây trời Sài Gòn mây trắng Hy Lạp

mây trắng Hà Tĩnh chiêm bao Uyên nguyên

mây trắng và một chuỗi tiếng cười nghèn nghẹn

 một buổi trưa nào

 

 

Như Dzẫn Dzậy Ðó

 

Khi tất cả đã ngủ trong suốt

người hát và người nói răng rứa mi và

Ðể làm chi

 

Ðể làm chi để làm chi

Những làm thinh bên đường lá thiên thu hẹp

 

*

 

Trong giấc mộng của những mái tôn rỉ đỏ

(và những con người dưới một mái hiên chùa Sài Gòn)

Mây trắng đang kéo hàng

và màu xanh đang sửa lại khuy áo cho người

Ôi! trong suốt xanh, người

người làm thinh

 

THƯỜNG QUÁN  

 

Hiện Tượng Bùi Giáng

 

THỤY KHUÊ 

 

Sinh thời, Bùi Giáng bảo: “Hãy để cho tôi yên, tôi dại. Ðừng ai nói đến tôi. Và nhất là đừng có ai bàn đến thơ tôi” Có lẽ vì tôn trọng nhà thơ, cho nên ít ai bàn đến thơ ông. 

Như ông, Bùi Giáng sống tiêu dao suốt cõi mù sa bên rừng. Thơ ông cả đời lục bát. Tại sao lục bát? Bởi vì, đối với Bùi Giáng : “Lục Bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển, ba bảy sông hồ”.

Về bản thân mình, Bùi Giáng tự họa: “nhe răng cười trong bóng tối...không bao giờ bắt chuồn chuồn mà cứ bảo rằng mình luôn luôn bắt chuồn chuồn... Không thiết chi đọc sách mà vẫn cặm cụi đọc sách hoài... Chán chường thi ca mà cứ làm thơ hoài... Chuốc sầu vạn đại thì bảo rằng mua vui cũng được một vài trống canh.”

Hỏi về tiểu sử Bùi Giáng trả lời:

Hỏi tên? Rằng biển xanh đâu

Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa

Gọi tên là một hai ba

Ðếm là diệu tưởng, đó là nghi tâm

Trên báo Văn, số 26 tháng 8 năm 1984, Mai Thảo kể lại rằng khi hỏi về cái lực viết phi phàm của Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền lắc đầu cười: “chịu, không giải thích được [...] Nói đến mấy ngằn bài thơ Bùi Giáng là đúng. Mà nói thơ Bùi Giáng chỉ có một bài, vô tận, vô cùng là đúng hơn. Ngủ ra thơ. Thở ra thơ. Ði ra thơ. Ðứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ thơ, làm thơ.”

Vẫn theo lời Mai Thảo, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm, thuật lại: “Anh lang thang suốt ngày chẳng thấy lúc nào ngồi viết hết. La cà hết nơi này đến nơi khác, uống rượu say ngất rồi về lầu lăn sàn ngủ, nhiều ngày bỏ cả bữa ăn. Ðêm cũng không thức, chỗ nằm tối thẳm. Tôi in không kịp, nói ảnh tạm ngừng thì ảnh ngừng. Nói có máy, có giấy, có buổi sáng, buổi chiều ảnh đã tới ném bịch xuống cả năm bảy trăm trang. Cứ thế đem sắp chữ thôi, đâu có thì giờ đọc.”

Mai Thảo kể tiếp khi làm số Văn, đặc biệt về Bùi Giáng: “Tôi hỏi xin ông những bài thơ mới nhất. Ông gật. Tưởng lấy ở túi vải ra. Hoặc nói về lấy, hoặc nói hôm sau. Tất cả đều không đúng. Ông hỏi mượn một cây bút, xin một xấp giấy, một chai bia lớn nữa, đoạn ngồi xuống và trước sự kinh ngạc cực điểm của chúng tôi, bắt đầu tại chỗ làm thơ [...] Lần đó, tôi đã thấy, đã hiểu tại sao Bùi Giáng, cứ cánh bướm rong chơi, cứ phiêu bồng lãng du mà vẫn có ngay nghìn câu một buổi.”

Về những cơn điên Bùi Giáng Phạm Xuân Ðài kể trong lời tựa tập thơ Bùi Giáng: ”chỉ có thơ và những cơn điên [..] Bây giờ (năm 1992) anh ít làm thơ lắm, còn các cơn điên thì vẫn viếng thăm anh gần như định kỳ. Những lúc ấy anh đi nhiều nơi, nhưng thường xuất hiện ở vùng chợ Trương Minh Giảng (chỗ đại học Vạn Hạnh, là nơi ngày xưa anh thường trú ngụ) đứng giữa đường vung tay điều khiển xe cộ cử chỉ rất linh động, đặc biệt đôi mắt sáng quắc bừng bừng [...] Có khi anh múa may trong một lớp áo lòe loẹt, động tác mạnh mẽ chính xác gần như múa võ, miệng hò hét như đang nạt nộ với một đối tượng vô hình.”

Ðó là hiện tượng Bùi Giáng, qua lời kể của những người thân trong giới văn học. 

 

Bùi Giáng là ai? Bùi Văn Vịnh, em của Bùi Giáng , cho biết: Bùi giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng Thanh Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Thuở nhỏ, học trường Bảo An tại Ðiện Bàn, Quảng Nam, trung học ở trường Thuận Hóa, Huế, năm 1950, đậu Tú Tài 2 văn chương ở Liên Khu 5. Sau đó ra liên Khu 4 học tiếp đại học. Nhưng sau khi nghe qua bài diễn văn khai giảng của ông viện trưởng Bùi Giáng quay về Quảng Nam và bắt đầu quảng đời được gọi là “Mười lăm năm chăn đê ở núi đồi Trung Việt“.

Tháng năm 1952, Bùi Giáng về Huế thi Tú Tài tương đương và vào Sài Gòn ghi danh Ðại Học Văn Khoa.

Lần này, sau khi nhìn danh sách giáo sư giảng dạy ở Văn Khoa, Bùi Giáng quyết định chấm dứt việc học ở trường và bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục.

Từ năm 1957 đến 1997, Bùi Giáng có khoảng 55 tác phẩm đã in về thơ, dịch và triết. Như lời Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thanh Tuệ, thơ có đến nghìn bài. Và nội trong một ngày, có thể ném bịch một vài trăm trang sách. Ðúng là một kỷ lục có một không hai.

Chúng ta thử tìm hiểu bản chất của kỷ lục ấy qua một vài trang sách của Bùi Giáng trong con đường ngã ba bước đi của tư tưởng, do An Tiêm Xuất bản lần thứ nhất tại Sài Gòn Năm 1972, và tái bản tại hải ngoại.

Có thể nói trong cuốn sách này, cái gọi là điên của Bùi Giáng phát hiện rõ rệt dưới hình thức loạn ngôn, ngộ chữ cao độ. Về Heidegger, Bùi Giáng viết: “Tất cả con đường tư tưởng của Heidergger là mọi mọi lối nhiếp đẫn bước đi về những vùng u kín trong cổ lục uyên nguyên” (trang 13)

Về Nietzsche, ông viết: “Nietzsche không phải là đại hải đại dương, Nietzsche đã đón vào lòng mình một dòng sông dơ bẩn. Và từ đó? Từ đó, Nietzsche biết thành một loại người mạt hậu theo mọi nghĩa thái thậm ly kỳ. Con người mạt hậu và hư vô chữ nghĩa, con người mạt hậu và sa mạt tinh hoa, con người mạt hậu và Mạt Hậu “Tử Sinh Môn” Hoạt Tinh Thể, con người mạt hậu và Siêu Hình Học Lãnh Ðịa, con nguời mật hậu và Ðịnh Mệnh Phối Tiết Sử Lịch Tồn Lưu, ÐỊnh Mệnh Phối Tiết Sử Lịch Tồn Lưu, và Siêu Hình Học theo nghĩa Sử Lịch chân lý của Hiện Thể như là Hiện Thể, Sử Lịch chân lý của Hiện Thể và Ðịnh Mệnh Tồn Lưu thoái tàng ư mật, Tồn Lưu thoái tàng ư mật vàHằng Thể bước vào vòng di vong trầm một, từ di vong trầm một còn chút hậu tình ân ốc nào sẽ “ trột mầm” cho một trận Dịch Chuyển thông hành của Ðịnh Mệnh hay không? Hay Siêu Hình Học vẫn mãi mãi kiên trì tồn lập trong cuộc đú đỡn “ trê lưu ư ngoại” bất khả tư nghị khuyết phạp từ Hoạt Tinh Thể của Hư Vô?...” (trang17)

Và cứ như thế, Bùi Giáng sản xuất 499 trang Con Ðường Ngã Ba, Bước Ði Của Tư Tưởng.

Ðiểm thích thú nhất của người đọc trong cuốn sách này là những trích đoạn thơ Bùi Giáng, phần lớn là những câu thơ hay, tỏa ra những suy tư sâu lắng về bản chất con người.

Nhưng trong 499 trang chữ ấy, người đọc tìm thấy rất ít dòng đứng đắn và chỉ tỉnh táo bàn về những vấn đề triết học như hiện sinh và bản thể, tồn tại và thời gian, mặc dù ông rất ngưỡng mộ Heidegger, người thầy hiện sinh được ông trích, dịch một cách kỳ cục. Ví dụ như câu này, dịch ra từ tiếng Pháp, tiếng Ðức: “Nhưng mà lời thuyết thoại trì ngự, trong (khởi từ) Ðịnh Mệnh Phối Tiết mở phơi, sẽ ra sao nếu như cái Sở Khải Khai trong Song Trùng Tịch Hạp bị Ðịnh Mệnh Phối Tiết (ruồng rẫy) bỏ phó mặc cho cuộc thể hội vất vơ nhân tuần (dung thường nhật kệ ) của con người từ diệt chúng tử chúng sinh?”

(Con Ðường Ngã Ba Bước Ði Của Tư Tưởng, trang 12 – 13)

Dù đặc sệt những tên tuổi triết gia, nặng ký trích dẫn thiên kinh, vạn điển; dù có mộtsố ý trội lên về vấn đề đọc sách, đọc Nguyễn Du, đọc Bùi Giáng, về sự gặp gỡ giữa những nhà tư tưởng lớn, đả kích một số nhà xuất bản không tôn trọng văn bản của tác giả, Con Ðường Ngã Ba vẫn không phải là cuốn sách bàn về triết học, hoặc đưa ra một hệ thống tư tưởng mạch lạc; mà có thể nói đây chỉ là cuốn phiếm luận bí hiểm, ngôn ngữ thần trú, nhại triết học, nhạo người đọc. Cho nên khi TẠ Tỵ viết: “Bùi Giáng đối thoại với Nietzsche, Sophocle, {arénide, Khổng Tử, Lão Tử, Sartre, Camus... “ thì e rằng Tạ Tỵ quá lời. Sự tìm kiếm siêu hình nơi Bùi Giáng, như chỉ dừng ở phần vỏ của ngôn từ: tồn sinh, tồn lưu, hằng thể, hư vô, logos,... mà không đi vào nội tâm của suy tưởng. Hoặc có lẽ Bùi Giáng chỉ muốn rỡn chơi. Nếu ông nhắc tới Như Lai, Bồ Tát, Heidegger, Parménide, Platon, Socrate cũng chỉ như ông nói đến Nam Phương Hoàng Hậu, Dương Quý Phi, MarilynMonroe, đười ươi, chuồn chuồn, châu chấu v.v... vậy thôi, trong một trạng thái “tẩu hỏa nhập ma”, một tinh thần anarchiste toàn diện. Thái độ arachiste của Bùi Giáng, ở đây gần với nghĩa “phức loạn tri năng” của Ðào Duy Anh và rất xa với nghĩa “vô chính phủ” mà người ta thường gán cho arachiste theo nghĩa hẹp.

Phải chăng Bùi Giáng chỉ muốn “hù dọa” người đọc không chuyên môn? Hay ông muốn nhại, diễu, những hệ thống suy tưởng mà một số trí thức quen dùng như mẫu mực hoạt động tinh thần? Biến chúng thành một thứ charabia, ngôn ngữ vấn đáp chuồn chuồn, châu chấu, nói trẹ, nói xàm, nói bá láp và ông có khả năng sản xuất mỗi ngày vài trăm trang như thế? 

Thái độ anarchiste toàn diện này mở rộng trong đời sống, trở thành một bản năng phản kháng quẫy đời: Cởi quần áo giữa lớp học, tắm nơi công cộng, ngủ vỉa hè, trở thành clochard (hành khất say rượu), mặc áo rằn ri lính ngụy, để chỉ đường...tất cả những “cơn điên” ấy của Bùi Giáng chứng minh sự sáng suốt Bùi Giáng không điên. 

Không điên vì ông chỉ đẩy đến cùng trạng thái hiện sinh, chứng nghiệm ý thức trần trụi về bản thể. Cởi dần năm bảy lớp quần áo chẳng qua chỉ là hiện ảnh “trút gọn hiện tượng”, bóc vỏ các tầng lớp bề ngòi của “hiện tượng” để tìm ra bản chất trong hiện tượng luận Husserl.

Trở thành clochard là một cách thể nghiệm tự do tự hủy. 

Trong những đệ tử hiện sinh thời ấy. Bùi Giáng là người đi xa nhất trong hành động tự hủy và hành xác. Tự hủy để chứng minh Cá nhân con người đã chán ngấy cuộc sống, nó còn quyết định tự do lựa chọn, và sự hủy hoại bản thân là sự lựa chọn tiến gần nhất đến tự do tuyệt đối.

Sau 75, người ta càng yêu Bùi Giáng hơn, vì trong một xã hội được bị lồng vào khuôn phép, một xã hội đã ổn định cơ thể, công chúng yêu mến những gì bất thường, yêu những kẻ ngoại đạo, bất ổn.

Bùi Giáng là người ngoại đạo duy nhất dám làm lũng đoạn môi trường ổn định bằng thái độ tư hủy. Cái điên của Bùi Giáng là cái điên sáng suốt trong một tình thế không có cứu cánh nào khác nếu không tìm về bản thể của con người. 

Thơ Bùi Giáng, hiện sinh trong đoạn trường và định mệnh

Những “dạ thưa”. Những “tồn sinh”, những “phố thị”, những “cố quận”, “đười ươi”, đã trở thành những cốt cách, những địa chỉ rất Bùi Giáng:

Dạ thưa phố Huế bây giờ

Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương

Dạ thưa Vĩ Dạ về gần

Ðã từ xa lắm thiên thần nhớ em 

Thơ Bùi Giáng, ngay từ thuở đầu đã rong chơi, lãng mạng, tinh nghịch, nhẹ nhàng, hóm hỉnh, luôn luôn là những lời vấn đáp lẩn thẩn về ý nghĩa cuộc đời, về lẽ tồn sinh, về những chuyện phù du, dâu bể, ẩn kín một dụng tình khép mở Xuân Hương:

Cá ở ngoài khe có ít nhiều

Cồn lau cỏ lách có hoang liêu

Em về có hỏi răng ri rứa

Nhắm mắt đưa chân có bận liều.

(Bờ trần gian)

hoặc:

Bỏ hai chân xuống một vùng

Nước truông là lá thu rừng xuống khe.

( Bỏ hai chân)

Những dòng thơ trên đây, theo như lời Mai Thảo, Bùi Giáng đã làm một mạch, tại chỗ, xuất bút thành thơ. Huyền thoại Bùi Giáng, thi sĩ bẩm sinh, poète né, trong thập niên 60 – 70, được xác định như một hiện tượng văn học độc đáo. Như thể ông biết trước đường đi nước bước của thơ. Có khả năng thiên bẩm về sự lang thang ngơ ngẩn của nhũ trên đời, và chỉ cần huơ tay, bắt chúng, nhốt vào ngay câu lục bát, như Bình Nguyên Lộc “nhốt gió”, là có ngay thơ Bùi Giáng:

Một hôm đếm một ra ba

Thật là lạ lắm ấy là cái chi

Hay

Người con gái lội qua khe

Bàn chân với nước lạnh đè lên nhau

Nỗi niềm tưởng lại xưa sau

Bàn chân với nước cùng nhau lại đè.

(Lá hoa cồn)

 

 

Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu

Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa

Gọi tên là một hai ba

Ðếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm 

Bốn câu tự họa trên đây dường như gói trọn bản chất thơ ca và tư tưởng Bùi Giáng. Một bản chất đa mang nỗi hiện sinh hoang tưởng trong một “đạo khờ” gắn bó với đoạn trường tái tân thanh (chữ củ Bùi Giáng tiếp nhận Nguyễn Du như một thông đạo, thông thư, thông mệnh văn học).

Thân phận dâu bể của con người, nỗi hoài nghi về số kiếp, ta từ đâu lại? Ta là ai? Những trầm luân biến đổi làm sao đo, đếm, đặt tên được? Ðến bản thân ta, ta còn không biết, nữa là... Nếu trường phái hiện sinh (Sarter) bác bỏ tính chất định mệnh, thì ở Bùi Giáng, định mệnh (Kiều) và hiện sinh giao hưởng với nhau thành một cấu trúc tư tưởng mới, tạo nên những vần thơ đậm dấu Ðạm Tiên, hắt ra những ánh siêu thực:

Em chết bên bờ lúa

Ðẻ lại bên đường mòn

Một dấu chân bước của

Một bàn chân bé con

Anh qua miền cao nguyên

Nhìn chân trời bữa nọ

Ðêm cuồng mưa khóc điên

Trăng cuồng khuya trốn gió

Mười năm sau xuống ruộng

Ðếm lại lúa bờ liền

Máu trong mình mòn ruỗng

Xương trong mình rã riêng

(Mưa nguồn) 

Bùi Giáng có những câu thơ rất cao, rất tĩnh, rất sâu, thanh thản, gợi đến hư vô trong một không gian lãng mạn trữ tình, ít thấy xuất hiện trong thơ Việt.

Thưa em buổi trưa đi vào giữa lòng lá nhỏ

Tiếng kêu kia còn một chút mong manh

Dòng nức nở như tia hồng đốm đỏ

Lạc trời cao kết tụ bóng không thành

(hư vô và vĩnh viễn – Mưa nguồn)

 

Không gian Bùi Giáng, một cõi hư không đầy dấu hỏi, bồng bế nhau đi, năm này qua tháng kác, một cõi trùng sinh, di động luân hồi.

Những nhịp bước trên đường còn dội mãi

Vang về đâu không vọng lại hồi âm

Của réo rắt riên một lần mãi mãi

Gió phương trời ủ mộng giữa hoa tâm

Em hỏi mãi tuy biết lời đáp lại

Chảng bao giờ thỏa đáng giữa đời câm

Em ngó mãi những chiều về trở lại

Manh những gì về trong cõi trăm năm....

(Chiều – Mưa nguồn) 

Từ Nguyễn Du, Bùi Giáng trích tạo nên một mô-típ bạc mệnh hiện đại, mầu sắc siêu thực, tài tử và tài hoa, môt chất thơ giao thoa Nguyễn Du Bùi Giáng

Lớp phiêu bồng mọc trăng ngàn

Thành xưa phố cũ muôn vàn phía sau

Ðạp thanh vẽ bóng lộn mầu

Góp dâng cữ gió nghiêng đầu sương mây

Ngõ ban sơ hạnh ngân đài

Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua

Xin chào giữa bước chân ra

Chết từ sơ ngộ mầu hoa trên ngàn

(Mầu hoa trên ngàn) 

Nơi Bùi Giáng còn một mô-típ bạc mệnh, cuồng khất, tổng hợp tính chất đoạn trường, tồn sinh, ngông ngôn, rất liều và rất loạn, mà cũng là vọng âm của niềm hoang mang tuyệt đối:

Hồng quần rất mực bước ra

Trường quần duệ địa phong hoa lá cồn

Phải rằng nắng quáng dập dồn?

Hay là đèn trút linh hồn oái oăm?

Phải là nguyệt giữa đêm rằm?

Nguyên tiêu lãng đãng lá nẳm ngẩn ngơ?

Kể từ hằng thủy ban sơ?

Kể từ sơ thủy về tờ vẽ trang?

Kể từ thu tạ lên đàng?

Rừng phong thu đã quan san nhuộm mầu?

Phải rằng đó trước kia sau?

Hay là sau trước còn tao ngộ gì?

(Con đường ngã ba)

 

*

 

Nhưng bi kịch của Bùi Giáng là ông lập lại mình.

Trong gần nửa thế kỷ làm thơ, Bùi Giáng để lại hàng ngàn bài, có những câu thơ tuyệt hay, nhưng chính sự lập lại những khám phá ngôn ngữ buổi đầu khiến thơ ông trở thành khuôn sáo, về mặt từ ngữ cũng như tư tưởng. Những dạ thưa, tồn sinh, trùng lai, phố thị của Bùi Giáng, tà huy của Nguyễn Gia Thiều, mù sa, trăm năm của Nguyễn Du... ban đầu làm xuyến xao người đọc: Em về rũ áo mù sa, Trút quần phong nhụy cho tà huy bay. Nhưng vì lập lại nhiều lần chúng bị phá giá. Hiện tượng phá giá này có mặt ngay ở những tác phẩm đầu và chủ yếu của Bùi Giáng.

Từ Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, năm 62, 63 đã thấy xuất hiện tính chất đoạn trường, tồn sinh nhu tinh thần chínhtrong tư tưởng của Bùi Giáng: Nguyễn Du, Tản Ðà gặp gỡ Heidegger, Breton phóng sinh một tạng chán đời mới lạ. Bài Rượu Uống trong Lá Hoa Cồn, một thứ đoạn trường ngông rất lãng mạng siêu thực, tiêu biểu cho tính chất lang thang trong cấu trúc thơ Bùi Giáng:

Thưa em rượu uống bây giờ

Là trăm năm gục hai bờ tử sinh

Ðộng hờ hững chúa điêu linh

Em làm Hoàng Hậu mọc tình cỏ phơi

Nhà ma cửa quỷ đi đời

Chìm hơi thở đục trong lời xuân xanh

Càn khôn xiêm mỏng che mành

Về trong thiên hạ em thành thiên thân.

 

Thưa em rượu uống bây giờ

Là thiên cổ lụy còn trơ bên mình

Tài hoa tiếng vọng điêu linh

Phạm Ðan Phượng chết theo Quỳnh Như sao.

Thưa em từ bữa nghiêng chào

Chớm trang đầu chợt sóng trào trường giang

Em đi rắc lá trên đàng

Cỏ xanh rì mọc suốt càn khôn kia

Mùa xuân mưa rưới mộng lìa

Về trong nắng hạ mép bìa sai bâu

Thưa em rượu uống bây giờ

Là trong lát nữa lên bờ đuổi ma

Chạy quang cồn cụm lá già

Rách như bươm suốt ruộng sa mạc đồng

Càn khôn gió đổ chất chồng

Rú như beo rống như hùm đổi hang

Trên rừng dưới lũng tan hoang

Vẫ sừng sững bóng chắn ngang quỷ sầu

 

Thưa em rượu uống bây giờ

 Là trong lát nữa trăng mờ hỏi ma

Hỗn mang về giữa hiên nhà

Bây giờ cố quận tên là chiêm bao

Nhìn nhau trong lũy ngoài hào

Lời phôi dựng một điệu chào dị sai

Trên đầu thế kỷ chia hai

Nguồn man mác lạnh tìm ai bây giờ

 

Thưa em rượu uống bây giờ

Là thiên thu lại còn trơ hận trường

Chung cầm dâu biển khôn lường

Chân trời mộng lý con đường chia ba

Nam đình doanh trại dàn qua

Trống chầu trùng ngộ thưa là không mong

Hoạt tồn phát tiết sầu đong

Tràng giang thế kỷ xô dòng xuống lên. 

Thưa em rượu uống bây giờ là điệp khúc mấu chốt dẫn đến câu thơ thứ nhì: Là trăm năm gục hai bờ tử sinh. Cả hai nằm trong cầu trúc song song, tổng hợp quan niệm ngông, đoàn trường và hiện sinh toàn bài. Câu ba, câu bốn: Ðộng hờ hững chúa điêu linh, Em làm Hoàng Hậu mọc tình cỏ phơi, đệm thêm chất lẵng lơ dục tính, nhưng được loãng đi vì loại hình này được Bùi Giáng dùng nhiều. Rồi chìm hơi thở đục trong lời sương xanh, một câu rất hay bị đặt bên một câu lãng xẹt: Nhà ma quỷ đi đời. Nếu chúng ta đọc đến nhịp thơ thứ nhì:

Thưa em rượu uống bây giờ

Là thiên cổ luỵ còn trơ bên mình

Cũng vẫn thấy nguyên những nhược điểm như nhịp thơ đầu, tức là trong phần thơ đệm có những vội vàng, dễ dãi, ghép chữ, ghép ý rất sáo: Tài hoa tiếng vọng điêu linh, Phạm Ðan Phượng chết theo Quỳnh Như sao.

Ở những nhịp sau, thì ngay chính điệp khúc mấu chốt:

Thưa em rượu uống bây giờ

Là trong lát nữa lên bờ đuổi ma

Thưa em rượu uống bây giờ

 Là trong lát nữa trăng mờ hỏi ma

Thưa em rượu uống bây giờ

Là thiên thu lại còn trơ hận trường 

Ðã có sự lập lại chính mình như thế, như thể nhà thơ tiện tay bắt được chữ nào vội bỏ ngay vào lục bát, không màng nhìn lại những câu thơ đầu nữa.

 

* 

Tất nhiên láy là một quy ước rất thường trong thi ca. Nhưng láy chỉ làm tăng giá trị thơ khi nó dưa đến những dồn dập hoặc trong cảm xúc, hoặc trong nhịp điệu, hoặc trong sinh động... Tức là láy phải đưa tới một trạng thái căng thẳng, tới một vận tốc khác trong tiến trình âm và ý.

Ví dụ:

Này chồng , này vợ, này cha

Này là em ruột này là em dâu 

Là một trong cách láy của Nguyễn Du, vừa tăng vận tốc miêu tả, vừa gia tốc sức ép của hiện thực, rành rành, chính xác, chỉ mặt, chỉ tên.

Hoặc:

Làm cho cho mệt cho mê

Làm cho đau đớn ê chề cho coi 

Láy ở đây lũy thừa mật độ ác liệt của Tú Bà, hoặc:

Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh bưồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Mỗi lần láy là một lần Nguyễn Du chuyển cảnh, chuyển tình.

Sự láy lại, nơi Bùi Giáng, rất thường khi chỉ là láy dập dình tại chỗ, láy lười, thấy hợp vần, tiện thể thì láy. Láy hồ đồ ít khi mang tới trạng thái mới, cảm xúc mới, hoặc một sức ép gia tăng, mà chỉ cho ta một cảm tưởng dằng dai, lai tạp:

Hãy mang tôi tới giữa đời

Giết tôi chết giữa cõi đời mốc meo

Hãy mang tôi tới nắng chiều

Giết tôi chết giữa một chiều khe mương

Hãy mang tôi tới dặm trường

Giết tôi chết giữa con đường bơ vơ

Hãy mang tôi tới bất ngờ

Giết tôi ngẫu nhĩ trong giờ ngẫu nhiên

Hãy mang tôi tới diện tiền

Giết tôi chết giữa người thuyền quyên kia

(Sa mạc trường ca, Cầu nguyện Ca)

Jacques Brel, năm 1966, khi tuyên bố ngừng hát ở tột đỉnh danh vọng, trả lời câu hỏi: “Tại sao ông ngừng hát lúc này?” Brel bảo: “Tôi ngừng vì muốn giữ lòng ngay thẳng với thính giả và với chính mình. Bởi vì khi người nghệ sĩ như tôi, đã nắm vững được tất cả những yếu tố kỹ thuật làm lay động lòng người, thì đó sẽ có khuynh hướng ăn gian (tricher), phong tỏa người nghe bằng tất cả những kỷ sảo của mình, và khi tôi biết mình sắp đi đến chỗ bước vào kỷ sảo, tôi ngừng” Tất nhiên, Brel chỉ ngừng hát hai năm và năm 68, khi ông trở lại với âm nhạc, đã với một tinh thần khác, hẳn Brel biết mình đã đoạn tuyệt được với ý định dùng kỷ sảo để thu phục lòng người. Và Brel ở lại với âm nhạc thêm sáu năm nữa.

Ở Bùi Giáng hình như không có sự tự giới ấy. Cho nên, biết bao lần người đọc tiếc, giá Bùi Giáng đừng ham chơi, chịu khó dừng lại ở chỗ đáng dừng để những câu thơ sáng giá hơn như:

Bụi thu mờ ai phủi với hai tay

Hoặc:

Em về mấy thế kỷ sau

Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không

Ta đi còn giữ đôi giòng

Lá rơi có dội ở nơi sương mù

Khỏi bị lọt vào khu rừng hoang, ôm đồm những lời thơ vội vàng, mọc lên như cỏ dại.

 

 *

 

Ám ảnh đoạn trường, tư tưởng và ngôn ngữ Nguyễn Du theo đuổi Bùi Giáng suốt đời. Những tập thơ mới nhất, in ở hải ngoại những năm gần đây càng lộ rõ. Trong những cuốn thơ Bùi Giáng (sđd), Bùi Giáng 94 (in tại California năm 95), và một phần tập Chớp Biển (sđd), Bùi Giáng tìm về người thầy Nguyễn Du như một cứu cánh. Hầu như mỗi bài thơ của ông đều có ít nhất một chữ hoặc một câu của Nguyễn Du. Và cấu trúc toàn bài thường dựa vào ý một câu Kiều:

Rằng xưa ký ức đàn bà

Tên là phụ nữ, tuổi là dấn thân.

....  Trước đèn một tập mở ra

....

Biển dâu lục địa cõi mièn

....

Cảo thơm lần giở gió giăng dậy thì

Ám ảnh “mù sa”, ám ảnh “chỉn e” ám ảnh “vân mòng”, mai sau”, “trăm năm”, ngẫu nhĩ”, “phong tình”, “cổ lục”, “dặm về”, “tử sinh”... trở thành lớp da thứ nhì của Bùi Giáng:

Rừng phong thu đã nhuốm màu

Quan san ngần ấy tư trào ngần kia

....

Chốn nào mộng mị chiêm bao

Chốn này tỉnh táo tiêu tao vân mồng

Từ cảnh sang tình, từ mơ sang thực, ám ảnh ngông ngữ trở thành ám ảnh tư tưởng. Bùi Giáng đã cạn dần hồn mình và sống hồn Nguyễn Du trong đoạn cuối đời:

Em đi từ tỉnh mộng đầu

Một mình anh ở mang sầu trăm năm

 

Em từ vô tận xa xăm

Trùng lai chất vấn: Từ trăm năm nào? 

Những câu hỏi mà Bùi Giáng trải suốt đời thơ, thắc mắc, tìm kiếm, đặt nghi vấn về cỏi đi cõi ở, cõi có, cõi không, biết đâu hôm nay Bùi Giáng chẳng đã tìm được Nguyễn Du ở một cõi trùng lai nào đó, và ông đang chất vấn người thầy về nỗi đoạn trường ấy, từ trăm năm nào?

THỤY KHUÊ

 Tháng 10/1998


 

 Bùi Giáng,

Càng điên... càng tỉnh;

Càng già... càng lãng mạng

 

NGUYỄN HƯNG QUỐC

Trong bài “Chép thơ” in trong tập Bùi Giáng 1994 do thân nhân của Bùi Giáng Xuất bản tại California năm 1995, có hai câu mở đầu như sau: 

Chép bài thơ cũ tặng em

Những bài thơ mới tèm nhem tâm hồn 

Ðó là nhận định của Bùi Giáng về chính thơ của ông: những bài thơ ông mới viết sau này “tèm nhem tâm hồn”, hay nói cách khác, sướt mướt đầu y những cảm xúc dễ dãi, một điều hình như ông không thể tránh được nhưng ông lại không thích mấy, nên ông không muốn chép tặng người thân.

Trong một bài thơ khác, “Từ bấy tới nay” in trong tập Thơ Bùi Giáng do Thế Kỷ 21 xuất bản năm 1994, Bùi Giáng, một lần nữa, lại ghi nhận sự thay đổi trong thơ của mình:

Chợt mùa thơ vội đổi giòng

Cỗi nguồn cũng bởi tự lòng mà ra 

Nhớ, trong bài “Xuân xanh người Tàu” in trong tập mùa thu trong thi ca, năm 1969, nhân nhắc đến Nam Phương Hoàng Hậu Nguyễn Thị Lan, Bùi Giáng làm hai câu thơ, trong đó, câu đầu tiên hao hao như câu trên: 

Chợt mùa thơ vội đăm chiêu

Bên mình phố thị Lan đìu hiu đi 

Câu thơ sáu chữ, chỉ khác nhau hai chữ sau cùng. Nhưng đó là sự khác biệt quyết định. Sự thay đổi, ngày xưa, chỉ là một sự thay đổi nhỏ nhoi: hơi thở tự dưng chùng lắng xuống, trầm ngâm hẳn đi khi nhớ tới người phụ nữ mình ái mộ. Sự thay đổi hiện nay không những đột ngột mà còn quyết liệt, toàn diện. Là một sự “đổi giòng”. Từ sông Thương hay sông Mã hay ngược lại. Biến thơ Bùi Giáng, giai đoạn trước, giai đoạn sau, có những khác biệt căn bản trong phong cách. Trong bài “Thuở chưa điên” in trong tập thơ Bùi Giáng do Việt Thường xuất bản tại Canada năm 1990, Bùi Giáng nói về hai đoạn thơ ấy:

Ấy là thơ thuở chưa điên

Ở trong dấu ngoặc quang xiên reo cười

Bây giờ xoang điệu đười ươi

Ðiệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn thân 

Bài thơ cấu trúc trên trục đối lập: lúc người chưa điên thì thơ lại như điên; lúc người đã bị xem là điên thì thơ, đằng sau cái vẻ ngớ ngẩn và nhảm nhí lại rất hiền triết, chứa đựng thật nhiều tâm sự hắt hiu về cuộc đời.

Trước năm 1975, Bùi Giáng đã có một số những cơn điên ngắn. Trong lời giới thiệu Bùi Giáng in trong cuốn Thơ điên... thứ thiệt do Thái Bình Thiên Quốc xuất bản tại Sài Gòn năm 1970, các bác sĩ làm việc trong dưỡng trí viện Nguyễn Văn Hoài đồng thời cũng là những người đứng ra biên tập tập thơ, cho biết, lúc đầu Bùi Giáng bị xếp vào loại điên nhẹ, nhưng từ tháng 5 năm 1969 thì ông bị chuyển sang hạng điên nặng. Tuy nhiên trước năm 1975, ông chỉ bị điên từng cơn. Sau 1975, bệnh tình của ông trở nên nặng hơn; những cơn điên đến với ông thường xuyên hơn và cũng kéo dài hơn. Nhưng có điều lạ là, nếu so sánh các tập thơ của Bùi Giáng xuất bản trước năm 1975, sau tập Mưa nguồn, với các tập thơ của ông sau năm 1975, cả ở hải ngoại lẫn ở trong nước, chúng ta sẽ thấy ngay là những tập thơ sau này tỉnh táo hơn hẳn.

Thơ Bùi Giáng trước năm 1975, trừ tập Mưa Nguồn và phần nào, tập ngàn thu rớt hột, là một cuộc tra vấn đầy khắc khoải về khả năng của ngôn ngữ. Ðó là những bài thơ viết về ngôn ngữ của một kẻ mà số phận bắt buộc phải sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện diễn đạt và hơn nữa, như một cách thế duy nhất để tồn tại. Ông làm thơ như một kẻ say mê chơi trò chơi chữ nghĩa:

Một hôm gầu guốc gầm ghì

Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm

Bôm ha? đạn hả? Bao gồm

Gồm bao gạo đỏ bỏ gồm gạo đen 

Dạo ấy Bùi Giáng có lẽ chưa đọc Jacques Derrda, triết gia hàng đầu trong trào lưu hậu cấu trúc luận (post-structuralism) và hủy cơ luận (desconstruction), người bắt đầu nổi tiếng tại Âu và Mỹ trong khoảng thời gian từ 1967 đến 1972, nhưng mãi đến năm 1975, tôi chưa thấy có dấu hiệu gì chứng tỏ là được biết đến nhiều tại Việt Nam. Trong lý thuyết của Derrida, có một luận điểm quan trọng: nếu ngôn ngữ, nói theo Ferdinand de Saussure là một hệ thống bao gồm một chuỗi những khác biệt về âm kết hợp với một chuỗi những sự khác biệt về khái niệm thì, theo Derrida, mối quan hệ giữa âm và khái niệm, hay nói theo thuật ngữ ngôn ngữ học, giữa cái biểu đại (signifier) và cái biểu đạt (signified) không phải là một thứ quan hệ ổn định. Derrida đặt ra từ “différer” trong tiếng Pháp vừa có nghĩa là hoãn vừa có nghĩa là khác. “Khác” là một ý niệm về không gian: ký hiệu này được phân biệt với các ký hiệu khác. “Hoãn”, ngược lại, là một ý niệm về thời gian: một cái biểu đạt để ám chỉ một cái được biểu đạt khác, rồi đến lược nó nữa, cái được biểu đạt ấy lại trở thành cái biểu đạt. Các mối quan hệ, cứ thế, lan rộng ra mãi. Minh chứng rõ nhất cho điều này có thể được nhìn thấy trong từ điển. Chẳng hạn, chúng ta thử tra chữ “viết”. Ý nghĩa của chữõ “viết”, tức cái được biểu đạt của ký hiệu “viết” được ghi là “vạch những đường nét để tạo chữ”. Trong định nghĩa này, yếu tố quan trọng nhất là “vạch”, “vạch” là gì? Với câu hỏi ấy, cái được biểu đạt (“vạch”) tức khắc biến thành cái biểu đạt. Từ điển giải thích ý nghĩa của chữ “ vạch” là: “Tạo thành đường thành nét”. Nhưng “tạo “là gì? Từ Ðiển ghi: “Làm cho từ không có trở thành có”. Nhưng “làm” là gì? v.v... Cứ thế, liên tục. Ðiều này một mặt làm cho mỗi từ không những chỉ có quan hệ với từ khác trong quan cảnh của nó mà còn có những quan hệ vô tận với những từ khác ở ngoài văn cảnh, và mặc khác, quan trọng hơn, làm cho cái gọi là ý nghĩa cứ triễn hạn mãi mãi (2) 

Bài thơ ở trên của Bùi Giáng là một đoạn trong chuỗi liên hệ vô tận trong ngôn ngữ: chữõ “một hôm” làm ông tưởng đến “hai hôm” rồi “ba hôm”, rồi chữ “ba hôm” lảm ông liên tưởng đến cách nói lái “bôm ha”; rồi trong “bôm ha”, từ tố “bôm” khiến ông liên tưởng đến “đạn”, từ âm tố “gao”, ông liên tưởng đến “gạo”, v.v...thành ra, chữ “một hôm” không phải chỉ gợi ra ý nghĩa là một đơn vị thời gian, mà còn gợi ra ý nghĩa là súng đạn, là cơm gạo. Xin mở một dấu ngoặc: bài thơ này được Bùi Giáng sáng tác trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam đang hồi khốc liệt. Thời ấy, với nhiều người, với rất nhiều người, sống một ngày đồng nghĩa với sự chịu đựng những đe dọa từ chiến tranh và từ sinh kế.

Tuy nhiên, nếu ngôn ngữ chỉ là một chuỗi những liên hệ bất tận như vậy thì, như các nhà hậu cấu trúc luận sau này đã chỉ rõ, ngôn ngữ không còn khả năng quy chiếu vế hiện thực và do đó, cũng không còn khả năng phát hiện chân lý được nữa. Bùi Giáng hoàn toàn về điều đó. Trong bài “Phố phường cỏ mọc” in trong tập Mùa thu trong thi ca, ông mỉa mai: “người ta tưởng chừng ngôn ngữ có thể nói ra được sự thật”(3). Ai tưởng thì cứ tưởng, riêng ông, ông rất bi quan:

Tôi gọi Mỹ Tho là Mỹ Thỏ

Mỹ Thọ muôn đời là Lục Tỉnh hôm nay

Tôi gọi Sóc Trăng là Sóc Trắng

Gọi người sương phụ gái thơ ngây.

(Lẫn lộn lung tung) (4) 

Hoài nhi khả năng “tái hiện hiện thực” của ngôn ngữ, có khi Bùi Giáng bỏ cuộc chơi trong lãnh vực ngữ nghĩa để đuổi bắt một trò chơi ở ngữ âm, với nhịp điệu trầm bổng của các thanh, các âm. Ðó là những lúc Bùi Giáng làm những câu thơ toàn bằng chữ Hán hoặc những câu thơ hoàn toàn vô nghĩa, trong đó, chỉ có những tiếng động lanh canh lách cách của các âm, các vần, các thanh điệu va chạm vào nhau mà thôi. (5)

Những trò tra vấn ngôn ngữ ấy, dù sao, cũng là những trò chơi của một người trí thức. Tôi nghĩ, đó là ý nghĩa của cụm từø “ở trong dấu ngoặc” trong đoạn thơ trên của Bùi Giáng. Sau này, chủ yếu là sau năm 1975, ông thoát được những ám ảnh thuần túy trí thức ấy. Thơ của ông, đằng sau cái vẻ ngớ ngẩn điên khùng, lại chứa đựng nhiều nhân tình hơn:

Bây giờ xoang điệu đười ươi

Ðiệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn thân 

Nói đến “xoang điệu đười ươi” là nói đến những yếu tố quậy phá bên ngoài. Ở đây nên chú ý là Bùi Giáng, cả trước và sau năm 1975, đều nói đến cái điên của mình; tuy nhiên, sau năm 1975, tần số xuất hiện của những bài viết về cái điên ấy tăng lên rất cao. Hơn nữa, trong những bài thơ ấy, Bùi Giáng nhắc đến cái điên của ông một cách cực kỳ tỉnh táo, như là cái điên của một ai khác:

Chớm vừa tỉnh táo hôm qua

Mà hôm nay đã hét la vội vàng

Oàn ào quậy phá xóm làng

(Cho hay là giống) (6)

Ðôi khi với chút hài hước:

Ðiên cuồng mà tưởng nên thơ

Cuồng điên mà tưởng làm thơ như thần

(Tặng bạn điên) 

Có khi vừa hài hước vừa nhuốm chút tự hào: 

-Ủa, phải anh sáu Giáng đó không?

-Và cô có phải cô Bông năm nào?

-Anh còn nhớ rõ, ôi chao

-Vợ chồng tôi cũng lúc nào nhớ anh

-Anh điên mà dzui dzẻ thập thành

-Còn chúng tôi tỉnh táo mà đành buồn hiu! (7)

Ðiên, mà ý thức về cái điên của mình một cách sáng suốt như vậy, kể cũng rất lạ lùng. Nhưng điều đáng lạ lùng hơn nữa là, càng điên thơ của Bùi Giáng càng chất chứa nhân tình, hay nói theo ngôn ngữ của ông là “điệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn thân”. Thơ không còn là một trò chơi chữ nghĩa nữa mà là một sự bộc bạch, một sự thố lộ tâm tình:  

Lời tỉnh táo lời mê man

Ðiệu thê thiết rống điệu bàng hoàng ca

(Y ư mộng du ư mê) 

Một tiếng đoạn trường: 

Câu thơ viết ngắn viết dài

Ghép làm một mảnh miệt mài cho nhau

Ghép thật chậm ghép thật mau

Ghép lui ghép tới ghép gào rống tru

(Câu thơ viết ngắn) 

Ngay cả khi may mắn, được hạnh phúc, Bùi Giáng cũng dùng thơ để gửi gắm niềm vui: 

Những tờ thơ mỏng tạc ghi

Niềm vui vô tận từ khi dì về 

Chính vì đem hết tâm tình, cả vui lẫn buồn, cả hãnh phúc lẫn thống khổ, gửi gắm vào thơ như vậy, cho nêm Bùi giáng mới khắc khoải trông đợi sự cảm thông của người đọc, điều, trước năm 1975, có lẽ ông ít khi nghĩ tới: 

Tôi cười tôi khóc bâng quơ

Người nghe người khóc có ngờ chi không

(Bao giờ)

Hay: 

Xổ bầu tâm sự điêu linh

Ai người chia sẽ với mình với ta

(Một giờ) 

Khát khao được thông cảm, có lúc ông năn nỉ:

Tặng nhau từ ngữ lạc lầm

Cũng xin hồng lệ hãy đầm đìa tuôn

(Y ư mộng du ư mê) 

Nói đến “từ ngữ lạc lầm” là nói đến sự bất lực của người sử dụng ngôn ngữ chứ không phải là sự bất lực của chính bản thân ngôn ngữ. Ðó là sự thất vọng rất thực tế chứ không còn là một sự thất vọng mang tính siêu hình. 

Người điên ngôn ngữ điệp trùng

Dở chừng như mộng dở chừng như mê

Thưa em ngôn ngữ quặt què

Làm sao nói được nghiệp nghề người điên

(Người điên) 

Bùi Giáng , sau 1975, rõ ràng là một nhà thơ “ngậm ngùi dấn thân”. Ông sống ngoài đường phố nhiều hơn trong nhà; thơ của ông cũng nhuốm nhiều chất bụi của nhân sinh. Rời bỏ những trang sách triết học hiểm hóc của Nietszche, của Heidegger, ông lắng nghe những tiếng nói âm thầm của đời sống chung quanh:

Anh đi đứng phố ngồi hè

Thiu thiu nằm ngủ lắng nghe chuyện gì.

(Cảm ơn) 

Cũng ý tương tự, ông có một câu thơ khác không chừng ý vị hơn, mênh mang hơn:

Chiêm bao đứng phố ngồi hè

Nghìn phương mây gói còn nghe ví dù

(Ví dù) 

Nhà thơ đường phố ấy viết về mình một cách rất đỗi hiền hòa:

Ðường quanh ngõ quẹo lang thang

Niềm vui tao ngộ muôn vàn lạ thay

Trái tim mỗi mới mỗi ngày

Mỗi giờ phút động mây trời rung rinh

Ðường đi mất hút thình lình

Những khuôn mặt lạ những hình ảnh quen

Tạm nhờ men rượu nguôi quên

Niềm vui nỗi nhớ chênh vênh lạ lùng

(Ðường quanh ngõ quẹo) 

Có thể nói, sau 1975, thơ của Bùi Giáng giảm chất siêu hình và tăng rất nhiều cảm xúc. Thơ ông không còn là những cuộc tra vấn, “lời nghi vấn lời”, mà chủ yếu là một sự bộc bạch tâm sự, “lời lời vô tận tự lòng mà ra”. Ông viết nhiều về những buồn vui trong đời thường. 

Tôi ngồi chép mãi bài thơ

Quẩn quanh vần điệu bao giờ cho xong

Ðôi phen lệ chảy ròng ròng

Tâm tình kín đáo giòng giòng tuôn ra

Tiếng cười tiếng khóc tiếng ca

Tưởng chừng khép mở màu hoa mấy mùa

(Chuyện bữa trước bữa sau) 

Hình như Bùi Giáng cũng ngạc nhiên về điều ấy: 

Rong chơi râu tóc bạc phơ

Còn nghe đắm đuối vần thơ yêu người

(Râu tóc bạc phơ) 

Ngạc nhiên, nhưng chưa chắc ông đã hài lòng khi ông tự biết: 

Mỗi ngày thân thể mỗi gầy

Mỗi năm tim máu mỗi nhầy nhụa ra

(Mỗi ngày) 

Có lẽ, Bùi Giáng xem những bài thơ xuất phát từ tim máu “nhầy nhụa” ấy là những bài thơ “tèm nhem tâm hồn” chăng? 

Ðiều rất thú vị là sau 1975, không phải chỉ có Bùi Giáng là trở thành nhà thơ lãng mạn chủ nghĩa theo nghĩa là kẻ xem thơ chủ yếu như một sự bộc lộ cảm xúc và nhắm tới, trước hết, mục dích giao cảm với tha nhân. Một sự “ đổi giòng” tương tự cũng diễn ra trong sáng tác của rất nhiều người khác, kể cả Mai Thảo lẫn Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên, tuy ở mỗi người, mức độ và thời điểm “đổi giòng” khác nhau. Hình như khi bị đẩy xuống tận cùng thảm họa, không còn lại gì cả, người ta bắt đầu nghiêng xuống lắng nghe tâm tình của mình một cách chăm chú và thành khẩn hơn, từ đó, người ta cũng đâm ra thèm khát được thông cảm, được chia sẽ hơn chăng? Nếu đúng thế thì hiện tượng ít nhiều chuyển sang xu hướng lãng mạng chủ nghĩa là một trong những đặc điểm lớn của văn học miền Nam thời kỳ hậu 1975.

NGUYỄN HƯNG QUỐC

 

 

 

Chú thích:

1.Trích trong tập thơ điên... thứ thiệt do Thái Bình Thiên quốc xuất bản tại Sài Gòn năm 1970.

2.Quan điểm về ngôn ngữ và văn học cũa Jacques derrida chủ yếu được trình bày trong hai cuốn: De la grammatologie (Minuit, Paris, 1967), Gayatri Chakravorty Spivak dịch ra tiếng Anh, of Grammatology, Johns Hopkins University Press xuất bản năm 1976, và cuốn L’écriture et la différence (Seuil, Paris, 1967), Alan Bass dịch sang tiếng Anh, Writing and Difference, Routledge xuất bản tại London năm 1978. Cuốn sách giới thiệu Derrida một cách vắn tắt và dễ đọc nhất có lẽ là cuốn Derrida của Christipher Johnson, Phoenix xuất bản tại London năm 1997.

3. Bùi Giáng (1969), Mùa thu trong thi ca, Sống mới in lại tại Hoa kỳ, không ghi năm, tr.223

4. Bài thơ này in trong tập Ngàn thu rớt hột; (tôi bị mất tập thơ này và không nhớ số trang)

5. Về vấn đề ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng, xin xem thêm chương “Cuộc hòa giải vô tận: trường hợp Bùi Giáng” trong cuốn thơ, v.v... Của Nguyễn Hưng Quốc, văn nghệ xuất bản, 1996, tr.181-216.

6. Tất cả những câu thơ của Bùi Giáng dẫn trong bài này nếu không có chú thích riêng đều trích từ các tập thơ Bùi Giáng do Việt Thường xuất bản tại Canada năm 1990; Thế Kỷ 21 xuất bản tại California năm 1994 và Bùi Văn Vịnh xuất bản tại California năm 1995.

7. Ghi theo trí nhớ, không nhớ trong bài nào và tập nào.

 

Bùi Giáng, nhà thơ của ngày tháng ngao du

CUNG TÍCH BIỀN 

Thi sĩ Bùi Giáng đã ra đi. Cuộc rong chơi rất đỗi tài tình của ông rồi cũng tạm ngưng. Ngưng phần hình. Phần hồn hãy tiếp tục tồn sinh cùng sử lịch qua tác phẩm của ông và chính cái sống rất mực Bùi Giáng nơi ông. Bùi Giáng giờ đây đã thong dong bỏ chân xuống tháng ngày một cuộc lữ tao nhã khác, cho riêng một đời thiêng Hoàng hạc.

Bùi Giáng đã trải một cánh bay dài mênh mông chiếc bóng trong bầu trời Thi ca Việt Nam nửa thế kỷ qua. Có thể mai kia, khi thần thái xã hội bình an hơn, việc thẩm định những giá trị được công bằng, trường hợp Bùi Giáng sẽ lại được lật qua lộn về tự do, nghiêm túc hơn.

Tôi viết bài này như một tri ân đối với những gì Bùi Giáng lưu dấu nơi tôi. 

*Ðôi điều phân vân thưa trước 

Hiểu về Bùi Giáng là khó; viết về ông t