Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


   

 

 

Tập san Pháp Luân

PL.2549  - DL.2005
TSPL số 21 - tháng 11 năm Ất dậu
Chuyên đề:
Ta-bà và Cực Lạc
 

Mục Lục

» Thất Giác Chi  

» Ta-bà và Cực-lạc  

» Trợ Niệm Khi Lâm Chung  

» Lý do phải làm Lành lánh Dữ và phải nguyện sanh Tịnh Độ  

» Đại an toàn  

» Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh  

» Đâu là nguồn chân hạnh phúc?  

» Chuyện Người Phụ Nữ Hy sinh vì Đạo Pháp  

» Ngài Thần Tú, một nhân cách vĩ đại.  

» Nhân của Bồ-tát và quả của chúng sanh  

» Chùa Láng - giai thoại và triết học  

» Hội nghị của các lãnh đạo tôn giáo quốc tế  

» kế hoạch tạo “khu vực quý sư”  

» Đại lễ cung nghinh xá-lợi Phật  

» Ngôi sao quần vợt Thái Lan xuất gia trong 7 ngày  

» Tiểu sử đức Đạt-lai-lạt-ma thứ II  

» Thơ:

 ---o0o--- 

Thất Giác Chi
(Saptabodhya
gāni)


(tiếp theo PL 20)

4/ Hỷ giác chi:

Khi Thánh đệ tử đã nỗ lực tinh tấn thực hành những pháp mà mình đã chọn rồi qua chỉ ác hành thiện rồi nhờ lúc cùng nhau niệm Phật như vậy thì tham không trói buộc tâm, sân không trói buộc tâm, si không trói buộc tâm. Đối với Như lai, tâm hành giả ngay thẳng thì sẽ đạt được nghĩa và pháp oai thế; đối với Như lai có khả năng dẫn khởi hân hoan, nhờ hân hoan nên sinh tâm hoan hỉ; khi được hoan hỉ thì thân an; thân an thì sẽ hưởng lạc; được an lạc nên tâm định. Khi tâm hành giả định rồi thì đối với các loài hữu tình không bình đẳng sẽ trụ vào bình đẳng, đối với các loài hữu tình có não hại sẽ trụ vào không não hại và sẽ được dự vào dòng pháp mà tu tập tùy theo niệm đối với chư Phật, cho đến tác chứng cứu cánh Niết-bàn.

Lại nữa hành giả khi cùng nhau niệm Chánh pháp, tức là chỉ cho Chánh pháp của Phật khéo nói hiện tại, mát mẻ đúng thời, hướng dẫn trực quán khiến bậc trí giả nội chứng; hành giả nhờ đó lúc cùng nhau niệm pháp như vậy thì tham không trói buộc tâm, sân không trói buộc tâm, si không trói buộc tâm. Đối với Chánh pháp tâm hành giả ngay thẳng, nhờ tâm ngay thẳng nên được nghĩa và pháp oai lực; đối với Chánh pháp có khả năng dẫn khởi hớn hở, nhờ hớn hở nên sinh tâm hoan hỉ, nhờ hoan hỉ nên thân an, nhờ thân an nên hưởng lạc, nhờ an lạc nên tâm định. Khi tâm hành giả định rồi thì đối với các loài hữu tình không bình đẳng sẽ trụ vào bình đẳng, đối với các loài hữu tình có não hại sẽ trụ vào không não hại và sẽ được dự vào dòng pháp. Đối với Chánh pháp, nhờ tu tập tùy niệm nên cho đến có thể tác chứng cứu cánh Niết-bàn.

Lại nữa, hành giả khi cùng nhau niệm Tăng già, tức là chỉ cho đệ tử của đức Phật đã thọ cụ túc giới, đầy đủ diệu hạnh, hành động chất trực, thực hành như lý, thực hành pháp theo pháp Phật dạy, thực hành hòa kính. Hơn nữa đệ tử của Phật có hướng đến Dự lưu, có quả Dự lưu, có quả Nhất lưu, có hướng đến không trở lại (bất hoàn), có quả Bất hoàn, có hướng đến A-la-hán, có quả A-la-hán. Như vậy gồm có Tứ song, Bát chích, Bổ-đặc-già-la. Cũng vậy Tăng già, đầy đủ giới, đầy đủ định, đủ đầy tuệ, đầy đủ giải thoát, đầy đủ giải thoát tri kiến, đáng thỉnh đáng đê đầu, đáng cung kính ruộng phước vô thượng, nơi đời nên cúng dường. Đệ tử của bậc Thánh nhờ lúc cùng nhau niệm Tăng như vậy thì tham không trói buộc tâm, sân không trói buộc tâm, si không trói buộc tâm. Đối với Tăng già tâm hành giả ngay thẳng, nhờ tâm ngay thẳng nên được nghĩa và pháp oai lực; đối với Chánh pháp có khả năng dẫn khởi hớn hở, nhờ hớn hở nên sinh tâm hoan hỉ; nhờ hoan hỉ nên thân an; nhờ thân an nên hưởng lạc; nhờ an lạc nên tâm định. Khi tâm hành giả định rồi thì đối với các loài hữu tình không bình đẳng sẽ trụ vào bình đẳng, đối với các loài hữu tình có não hại sẽ trụ vào không não hại và sẽ được dự vào dòng pháp. Đối với Tăng già nhờ tu tập tùy niệm, nên cho đến có thể tác chứng cứu cánh Niết-bàn.

Lại nữa, hành giả khi cùng nhau niệm giới, tức là chỉ cho hành giả giữ giới thanh tịnh, không khuyết không thủng, không tạp không nhơ, có thể nhận sự cúng dường không rõ ràng, khéo cứu cánh, khéo thọ trì, được người trí khen ngợi, thường không hủy báng. Đệ tử bậc Thánh nhờ lúc cùng nhau niệm giới như vậy thì tham không trói buộc tâm, sân không trói buộc tâm, si không trói buộc tâm. Đối với giới tâm hành giả ngay thẳng; nhờ tâm ngay thẳng nên được nghĩa và pháp oai lực; đối với Chánh pháp có khả năng dẫn khởi hớn hở, nhờ hớn hở nên sinh tâm hoan hỉ; nhờ hoan hỉ nên thân an; nhờ thân an nên hưởng lạc; nhờ an lạc nên tâm định. Khi tâm hành giả định rồi thì đối với các loài hữu tình không bình đẳng sẽ trụ vào bình đẳng, đối với các loài hữu tình có não hại sẽ trụ vào không não hại và sẽ được dự vào dòng pháp. Đối với giới nhờ tu tập tùy niệm, nên cho đến có thể tác chứng cứu cánh Niết-bàn.

Lại nữa, hành giả khi cùng nhau niệm Bố thí, tức là hiện tại hành giả khéo được thắng lợi, tuy sống vô lượng nơi cấu bẩn triền phược trong chúng sanh, nhưng tâm xa lìa tất cả cấu bẩn, có thể thực hành bố thí. Tuy ở tại gia, nhưng có thể không đắm nhiễm vào của cải châu báu; ra tay bố thí, làm tế tự lớn, cúng dường ruộng phước, ban ân đầy đủ, ban vui khắp cả. Đệ tử bậc Thánh nhờ lúc cùng nhau niệm bố thí như vậy thì tham không trói buộc tâm, sân không trói buộc tâm, si không trói buộc tâm. Đối với giới tâm hành giả ngay thẳng; nhờ tâm ngay thẳng nên được nghĩa và pháp oai lực; đối với bố thí có khả năng dẫn khởi hớn hở, nhờ hớn hở nên sinh tâm hoan hỉ; nhờ hoan hỉ nên thân an; nhờ thân an nên hưởng lạc; nhờ an lạc nên tâm định. Khi tâm hành giả định rồi thì đối với các loài hữu tình không bình đẳng sẽ trụ vào bình đẳng, đối với các loài hữu tình có não hại sẽ trụ vào không não hại và sẽ được dự vào dòng pháp. Đối với bố thí nhờ tu tập tùy niệm, nên cho đến có thể tác chứng cứu cánh Niết-bàn.

Lại nữa, hành giả khi cùng nhau niệm chư Thiên, tức là chỉ cho Tứ đại vương chúng thiên, trời Ba mươi ba, Dạ-ma-thiên, Đổ-sử-đa thiên, Lạc biến hóa thiên, Tha hóa tự tại thiên. Chư thiên như vậy, thành tựu tín, giới, văn, xả, tuệ nên mất từ chỗ này được sinh về những cõi trời kia hưởng mọi sự khoái lạc. Hành giả chúng ta cũng có tín, giới, văn, xả, tuệ, cũng sẽ được sinh về những chỗ kia, cùng các thiên chúng đồng hưởng khoái lạc. Các hành giả đệ tử của bậc Thánh nhờ cùng nhau niệm Thiên như vậy thì tham không trói buộc tâm, sân không trói buộc tâm, si không trói buộc tâm. Đối với giới tâm hành giả ngay thẳng; nhờ tâm ngay thẳng nên được nghĩa và pháp oai lực; đối với chư thiên có khả năng dẫn khởi hớn hở, nhờ hớn hở nên sinh tâm hoan hỉ; nhờ hoan hỉ nên thân an; nhờ thân an nên hưởng lạc; nhờ an lạc nên tâm định. Khi tâm hành giả định rồi thì đối với các loài hữu tình không bình đẳng sẽ trụ vào bình đẳng, đối với các loài hữu tình có não hại sẽ trụ vào không não hại và sẽ được dự vào dòng pháp. Đối với chư thiên nhờ tu tập tùy niệm, nên cho đến có thể tác chứng cứu cánh Niết-bàn. Hành giả lúc tu tập lục tùy niệm như vậy rồi thì sẽ được sở hữu tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm hân hoan tột cùng, hân hoan hiện hữu, tính loại hân hoan, thích ý vui ý; tính loại hoan hỷ vui hòa hợp không còn phân biệt ... tất cả gọi chung đều là hỉ, cũng gọi là hỉ giác chi. Đối với Thánh đệ tử chúng có khả năng diệt hết khổ; đối với các hàng hữu học, các hành như sở kiến của mình mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối trong các hành thấy rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ công đức. Nếu là A-la-hán cùng tâm giải thoát, tư duy quán sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm hoan hỉ tột cùng, cho đến tánh hoan hỉ thì đó gọi là Hỉ giác chi.

5/ Khinh an giác chi:

Tiếp tục hành giả nhờ tâm tánh hoan hỉ đang hiện có, hành giả nhập vào sơ thiền, ngôn ngữ lúc bấy giờ dừng nghỉ. Nhờ duyên này mà các pháp khác cũng yên nghỉ, đó gọi là trạng thái thuận khinh an thứ nhất; khi nhập vào đệ nhị thiền, tầm và từ (giác, quán) yên nghỉ, nhờ duyên này mà các pháp khác cũng yên nghỉ, đó gọi là trạng thái thuận khinh an thứ hai; khi hành giả nhập vào đệ tam thiền; các hỉ ở đây bấy giờ cũng yên nghỉ, nhờ duyên này các pháp khác cũng lặng yên, đó là trạng thái thuận khinh an thứ ba; khi nhập vào đệ tứ thiền, hơi thở ra vào lặng yên, nhờ duyên này các pháp khác cũng an nghỉ, đó là trạng thái thuận khinh an thứ tư; tiếp tục lúc nhập vào diệt thọ tưởng định, ở đây tưởng thọ vắng bặt, nhờ duyên này mà các pháp khác cũng không hiện hữu, đó gọi là trạng thái thuận khinh an thứ năm và cũng có khinh an thượng diệu thứ sáu là tối thắng tối thượng. Khinh an này là tối thượng tối diệu không có khinh an nào khác vượt qua nó. Vì sao vậy? Vì tâm từ tham lìa nhiễm mà giải thoát, và từ sân, si lìa khỏi nhiễm mà giải thoát, nên gọi đây là trạng thái thuận khinh an thứ sáu. Hành giả tư duy về trạng thái này thì sẽ sở hữu được mọi sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm nhẹ nhàng, tánh nhẹ nhàng loại nhẹ nhàng, gọi chung là khinh an, cũng gọi là khinh an giác chi. Đối với Thánh đệ tử chúng có khả năng diệt hết khổ; đối với các hàng hữu học, các hành như sở kiến của mình mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối trong các hành thấy rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ công đức. Nếu là A-la-hán cùng tâm giải thoát, tư duy quán sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý; thân, tâm, tính, loại  khinh an, đó gọi là khinh an giác chi.

6/ Định giác chi:

Khi hành giả nhờ vào sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ và Diệt tận định thì sẽ diệt trừ tận gốc rễ của các lậu. Vì khi hành giả an trú vào sơ thiền thì trước hết nhờ vào tướng trạng các hành mà xa lìa pháp dục ác bất thiện, có tầm có từ và nhờ xa lìa này mà hỉ lạc sinh ra. Nếu ở sơ thiền mà hành giả an trụ đầy đủ thì hành giả sẽ không còn tư duy về tướng trạng các hành nữa mà chỉ tư duy về chỗ đạt được, chỗ hướng về sắc, thọ, tưởng, hành và thức mà thôi. Ở đây các pháp này não hại chúng sanh như là bệnh họan, như ung nhọt, như tên độc, chúng là vô thường, khổ, không, phi ngã. Hành giả đối với pháp này tâm vừa ghét vừa lo sâu xa, sợ hãi đình chỉ, sau đó nhiếp tâm đưa về giới vức cam lồ, tư duy cõi này là tịch tĩnh vi diệu, xả bỏ tất cả trên nền tảng ái hết lìa nhiễm, vĩnh viễn tịch diệt Niết-bàn. Giống như xạ sư giỏi, hay học trò của ông, trước hết học bắn người bằng cỏ, đất bùn ở gần; sau đó mới có thể bắn vật kiên cố lớn ở xa được. Hành giả cũng vậy, trước phải nhờ tướng trạng các hành như vậy mà xa lìa pháp dục ác bất thiện, có tầm có từ; nhờ xa lìa nên hỷ lạc sinh. Nếu hành giả an trụ vào sơ thiền đầy đủ thì sẽ không tư duy về các tướng trạng các hành như vậy mà chỉ tư duy về chỗ đạt được, chỗ hướng về sắc, thọ, tưởng, hành và thức mà thôi. Ở đây các pháp này não hại chúng sanh như là bệnh họan, như ung nhọt, như tên độc, chúng là vô thường, khổ, không, phi ngã. Hành giả đối với pháp này tâm vừa ghét vừa lo sâu xa, sợ hãi không tạo tác nhân, sau đó nhiếp tâm đưa về giới vức cam lồ, tư duy cõi này là tịch tĩnh vi diệu, xả bỏ tất cả trên nền tảng ái hết lìa nhiễm, vĩnh viễn tịch diệt Niết-bàn. Khi hành giả biết như vậy, thấy như vậy liền từ tâm dục lậu được giải thoát, cũng từ hữu lậu và vô minh lậu tâm được giải thoát; đã giải thoát rồi thì có thể tự nhận thức rằng: Ta được giải thoát, sự sanh của ta đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc cần đã làm xong, không còn tái sinh đời sau nữa. Ở đây đề cập về an trụ nhị thiền thì trước hết cũng nhờ vào tướng trạng các hành, nhưng tầm tứ trở nên tịch tĩnh, bên trong tâm tịnh một mực hướng về tự tánh, lúc này không còn tầm từ nữa, nhờ định là hỉ lạc sinh ra. Nếu an trụ đầy đủ vào nhị thiền thì bấy giờ hành giả không còn tư duy về tướng trạng các hành nói cũng giống như trên cho đến vô sở hữu xứ. Khi hành giả nhập vào vô sở hữu và an trụ đầy đủ vào vô sở hữu xứ thì lúc này không còn tư duy về tướng trạng các hành, mà chỉ tư duy về chỗ đạt được chỗ hướng về thọ, tưởng, hành và thức mà thôi, cho đến nói đầy đủ như trên và đến tưởng định có thể hoàn thành xong những việc đáng nên làm như vậy. Tiếp đến là Phi tưởng phi phi tưởng xứ cùng Diệt tận định, việc xuất nhập định trong tu tập của hành giả cũng như bảy định trên, lúc này cũng sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, an trụ tâm, an trụ bình đẳng cho đến tâm chỉ còn duy nhất một tánh cảnh, gọi chung là định, cũng gọi là định căn, cũng gọi là định lực, cũng gọi là định giác chi, cũng gọi là chánh định. Đối với Thánh đệ tử chúng có khả năng diệt hết khổ; đối với các hàng hữu học, các hành như sở kiến của mình mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối trong các hành thấy rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ công đức. Nếu là A-la-hán như tâm giải thoát, tư duy quán sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm an trụ bình đẳng, cho đến tâm chỉ còn tánh cảnh duy nhất, thì đó gọi là định giác chi.

7/ Xả giác chi:

Đến đây, hành giả nhờ tư duy về đọan giới, ly giới, diệt giới trong những định trên và cũng nhờ tâm phát khởi tính bình đẳng, tâm trở nên tánh chính trực, tâm không còn kỉnh giác mà an trụ vào tính tịch tĩnh. Lúc bấy giờ hành giả tự nghĩ: “Nay ta nên đối với các pháp thuận tham, thuận sân, thuận si mà xa lìa tham, sân, si, nhờ tâm phát khởi tính bình đẳng, tâm trở nên tính chánh trực, tâm không còn kỉnh giác nữa, mà an trụ vào tính tịch tĩnh.” Lại tự nghĩ: “Nay ta nên đối với các pháp tham, sân, si, tâm không còn nhiếp thọ; do tâm phát khởi tính bình đẳng, tâm trở nên tính chánh trực, tâm không cảnh giác mà an trụ vào tính tịch tĩnh.” Ở đây, hành giả nhờ xem xét tư duy sáu pháp thuận xả mà có được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm trụ vào tính bình đẳng, tâm trụ vào tính chánh trực, tâm không còn cảnh giác mà trụ vào tính tịch tĩnh, ở đây gọi chung là xả, cũng gọi là xả giác chi. Đối với Thánh đệ tử chúng có khả năng diệt hết khổ; đối với các hàng hữu học, các hành như sở kiến của mình mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối trong các hành thấy rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ công đức. Nếu là A-la-hán như tâm giải thoát, tư duy quán sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm trụ vào tính bình đẳng, tâm trụ vào tính chánh trực, tâm không còn kỉnh giác mà trụ vào tính tịch tĩnh thì đó gọi là xả giác chi.

Qua những kinh-luận mà chúng tôi đã trích dẫn trên, chúng cho hành giả chúng ta một cái nhìn duyên khởi hơn trong vấn đề tu tập để đối trị với ba độc tham, sân, si trên cơ bản bằng cách ly tham, sân, si để đưa đến giác nộ giải thoát bằng vào sự tu tập theo thứ tự từ giác chi thứ nhất cho đến giác chi thứ bảy trong liên đới hỗ tương cần thiết cho nhau; nhưng mặt khác mỗi giác chi tự chúng tự hoàn thành riêng cho mỗi thứ trong tu tập chính chúng như chính đức Đạo sư đã dạy trong Tương Ưng V theo Tạng hệ Pàli: “Tu tập một giác chi đã có thể thành tựu mục đích của đời sống phạm hạnh, huống nữa là tu tập cả Thất giác chi”. Vì chính ngay trong mỗi một giác chi chúng đã hiện diện nhân và duyên một cách đầy đủ qua sự cần thiết đủ để pháp đó hiện hữu một cách trọn vẹn bảy chi trong một chi; và ngược lại một chi trong bảy chi, nếu thiếu một trong bảy chi đó thì tự chúng không hiện hữu để hoàn thành kết quả. Ngay trong chánh niệm của Niệm giác chi đã có Trạch pháp giác chi, đã có Tinh tấn giác chi, đã có Hỷ giác chi, đã có Khinh an giác chi, đã có Định giác chi và đã có Xả giác chi rồi; vì nếu thiếu xả thì không thể có được chánh niệm, thiếu Trạch pháp giác chi thì sẽ không có chánh niệm, thiếu tinh Tấn giác chi thì sẽ không có Chánh niệm giác chi, thiếu Hỷ giác chi thì sẽ không có Chánh niệm giác chi, thiếu Khinh an giác chi thì sẽ không có Chánh niệm giác chi rồi, và cứ như thế nếu thiếu đi một trong bảy nhân và duyên của bảy giác chi này thì Chánh niệm giác chi không hiện hữu để đưa đến kết quả thành công. Do đó, sự thành tựu trong tu tập của hành giả qua một giác chi nào đó cũng chính là sự thành tựu của chính bảy giác chi đồng lúc. Đó chính là mặt sâu xa vi tế của bộ mặt duyên khởi hiện quán theo quan điểm đặc thù của Phật giáo theo bản thể luận còn theo mặt hiện tượng luận sai biệt của các pháp thì có bảy chi pháp, để từ đó hành giả cứ theo thứ tự thời gian mà hoàn thành theo thứ lớp tuần tự của chúng. Đây chính là đặc điểm khế cơ khế ký trong phương pháp giáo dục và tu tập của đạo Phật.

 

Ta-bà và Cực-lạc

Tâm Minh

Kính thưa quí Vị và các Bạn,

Xin kính chào tái ngộ với quí vị và các Bạn,

 

Tuổi trẻ hôm nay đến với đạo Phật không còn như tuổi trẻ của những năm 50-60 nữa, hồi đó con người nói chung và tuổi trẻ nói riêng, đức tin mạnh hơn lý luận nên huynh trưởng GÐPT lúc đó dạy Phật Pháp cho các em dễ dàng hơn, nhất là những bài học có chút màu sắc thần thoại, thần thông, những hiện tượng lạ hay những phép tu Mật tông, pháp chuyển di tâm thức (phowa), trì chú, v.v... Mà những điều này, dù không có trong chương trình nhưng các em cũng có thể đọc trên Net và đưa ra thắc mắc nhờ anh chị Trưởng giải đáp!

 

Tuổi trẻ thường hay đòi được “mắt thấy tai nghe” mặc dù hơn ai hết, họ đã được khoa học cho biết rằng khả năng thấy, nghe của mắt tai của con người rất hạn chế: những màu sắc mắt ghi nhận được không ngoài dãi 7 màu: đỏ, cam, vàng, xanh (green), lam (blue), chàm (indigo), tím; ngoài 7 màu đó, mắt không thể thấy được rất nhiều những màu sắc khác gọi chung là tử ngoại (ultraviolet, ngoài màu tím) hay hồng ngoại (infra-red, ngoài màu đỏ). Còn tai cũng vậy, những âm thanh quá nhỏ - gọi chung là những hạ âm - lỗ tai con người không ghi nhận được nhưng loài chó có thể nghe được; còn những âm thanh quá lớn cũng có thể làm lỗ tai bị đau nhức hay thậm chí có thể bị điếc luôn! J J !! Như vậy mà còn đòi mắt thấy tai nghe gì nữa!! Tuy nhiên, không vì thế mà người huynh trưởng không dám dạy cho đoàn sinh của mình những bài có trong chương trình tu học và chủ yếu là dạy cho các em áp dụng những bài học ấy vào cuộc sống như thế nào.

 

Vì thế các huynh trưởng trẻ , thường trao đổi với nhau về những vấn đề liên quan đến tu học của mình và dạy lại cho các em đoàn sinh của mình. Hôm nay, chúng tôi kính mời quí vị nghe cuộc hội thoại bỏ túi về vấn đề “Ta-bà và Cực lạc” lan rộng đến những từ ngữ Tha lực, Tự lực, Tịnh Ðộ, Tu Thiền, Tu Tịnh độ, Thiền Tịnh song tu, Tu Mật tông, v.v… giữa 3 huynh trưởng A, B, C mà chúng ta đã từng làm quen trong mục này.

 

A: Chào các Bạn, hôm nay chúng ta nói về đề tài gì hả?

B: Trước hết là về một câu hỏi của một em: “Tịnh Ðộ là gì? Cõi Cực lạc có hay không có?” và câu hỏi này được nhiều em hưởng ứng, các em rất thích nghe câu trả lời của mình.

C: Vậy bạn đã trả lời như thế nào?

B: Tôi trả lời rằng: “Trong kinh A-di-đà, đức Phật Thích-ca có giới thiệu về cõi nước của đức Phật A-di-đà ở Tây phương, đó là cõi Tịnh Ðộ hay Cực lạc.” Và tôi có đọc những đoạn cho các em biết về cõi nước đó, cũng có nói sơ về 48 lời nguyện của đức Phật Di-đà.

A: Rồi các em có hỏi tiếp không? 

B: Có chứ! Các em bảo rằng mình là Phật tử thì mình tin, còn những người khác làm sao để cho họ tin?

C: Rồi bạn trả lời như thế nào?

B: Tôi đem câu chuyện ngụ ngôn “Rùa và Cá” kể cho các em nghe và kết luận rằng: Rùa sống được cả trong nước lẫn trên cạn nên có thể biết những chuyện ở trong nước và có khả năng đi lên trên mặt đất để thấy những cảnh tượng trên mặt đất; còn Cá chỉ biết sống dưới nước, không có phổi, thở bằng mang, v.v... nên không thể hiểu được những gì có trên mặt đất mà Rùa thì không thể diễn tả cho Cá biết những gì ở trên mặt đất vì những thứ đó dưới nước không có, làm sao nói cho Cá hiểu được? Cũng vậy, cõi Cực lạc chỉ có trí Phật mới hiểu được vì Phật biết cả 2 cảnh giới – Ta-bà và Tịnh độ; còn chúng ta chỉ biết Ta-bà thôi, làm sao đức Phật giảng cho ta nghe hiểu được, chúng ta là Phật tử nên tin Phật là được rồi.

C: Phải rồi, bạn có thể nói rằng người đã ăn xoài mới biết mùi vị của nó, còn người chưa bao giờ ăn làm sao biết? Vả lại, làm sao bảo người ta tả ra cho mình hiểu được?

A: Đúng vậy, đừng nói là Cực lạc, chỉ nói Paris, London, New York, Sydney, v.v… nếu bạn là một người suốt đời chưa ra khỏi nơi mình sống là miền thượng du Bắc Việt hay miền đầm lầy Cà Mau, chưa bao giờ nghe ai nói đến thì cũng không thể nào biết được.

B: Phải, phải! Mình còn nói với các em là trong vũ trụ (universe) có hàng triệu ngân hà (galaxies), mỗi ngân hà có hàng tỷ ngôi sao, mỗi ngôi sao lại có những vệ tinh quay quanh nó, tạo nên một hệ thống hành tinh của nó. Quả đất của chúng ta cũng chỉ là một vệ tinh của một ngôi sao lớn là mặt Trời tạo nên thái dương hệ - tức là hệ thống hành tinh của thái dương (thái dương=mặt trời). Ðiều đó khoa học mới phát biểu sau này nhưng trong Kinh đức Phật đã nói (cách đây mấy ngàn năm) đến “tam thiên đại thiên thế giới” rồi!

C: Như vậy là tốt rồi, chuyện các em đã giải quyết xong, hãy nói chuyện của mình đi!

A: Bạn lại có chuyện gì? 

C: Mình không còn thắc mắc Tịnh Ðộ có hay không như các em nữa nhưng nghe nói người tu Tịnh Ðộ chỉ cần niệm Phật và dựa vào tha lực của đức Phật A-di-đà là được vãng sanh, vì đức Phật A-di-đà có lời nguyện là ai niệm danh hiệu Ngài đều được vãng sanh Cực lạc; mình thấy vô lý quá! Các Bạn có thể nói rõ điểm này không?

B: Đâu có ai nói “hồ đồ” như vậy được !J J!! Người tu Tịnh Ðộ nương vào tha lực của đức Phật A-di-đà là đúng, nhưng nếu không tự lực tích cực làm lành tránh ác, giữ tâm niệm thanh tịnh, không tạo thói quen nhất tâm niệm Phật… thì làm sao khi chết có thể sáng suốt niệm Phật cầu vãng sanh được? Làm sao giữ tâm đừng tán loạn để niệm Phật được?

A: Đúng vậy, thí dụ như mình có đủ hết các địa chỉ, số điện thoại cần thiết như bệnh viện, cấp cứu, bác sĩ gia đình, v.v... nhưng đến khi bệnh nặng nổi lên làm mình đau đớn, thần trí không tỉnh táo, không tìm ra được những địa chỉ đó đã ghi ở đâu thì làm sao mà kêu cứu được hở bạn C? Đó là chưa nói có còn đủ sức để bấm (dial) những số phone đó không nữa!J J!!

C: Mình hiểu rồi, như vậy dựa vào tha lực chỉ là một phần, còn phải nỗ lực tinh tấn niệm Phật, và một khi đã nhất tâm niệm Phật tức là phải có định tâm rồi, đâu khác gì Thiền nữa, phải không?

B: Đúng vậy! Chúng ta phải biết kết hợp tự lực và tha lực chứ không nên quá khích cho rằng mình chỉ cần tự lực không cần tha lực hay ngược lại, chỉ cần 6 chữ Di-đà là tốc vãng Tịnh Ðộ!

A: Bạn nói đúng lắm, ai nói rằng tu Thiền không cần tha lực? Tu Thiền mới chính là cần tha lực đó, không phải sao? Các bạn có nghe nói không, tu Thiền mà không có Thầy hướng dẫn thì nhiều người đã đi đến điên loạn, tẩu hỏa nhập ma, v.v... cho nên cái tha lực lớn nhất đó là ông Thầy của mình, người hướng dẫn cho mình tu Thiền đó các Bạn ạ! Ði tham dự các khóa tu, đi nghe giảng ở Chùa, hay nghe những bài giảng trên Net, v.v... không phải là tha lực sao?

C: Phải rồi, mình đồng ý, tha lực còn làm mình vững tin hơn, có thể nói là nhờ có tha lực mà tự lực sẽ tăng trưởng; nhưng có người nói rằng vừa tu Thiền vừa tu Tịnh độ giống như người đi qua sông bằng cách đứng 2 chân lên trên 2 chiếc thuyền; như vậy thì nguy hiểm quá !

B: Với giả thuyết như vậy thì thấy rõ người ấy sẽ bị té nhưng nếu dựa vào thực tế, trong những cuộc đua thuyền vòng quanh thế giới, người ta thấy rằng phần lớn những loại thuyền đôi (catamaran) hay thuyền 3 (trimaran) là những loại thuyền buồm gồm 2 hay 3 chiếc thuyền nhỏ ghép lại, đều thắng giải vì nó chắc chắn không bị hư giữa đường (gảy cột buồm, lủng đáy, v.v...) và đi nhanh hơn nhiều.

A: Ðúng thế, với 37 Phẩm Trợ Ðạo mà chúng ta đã học, ta có thể tu theo một hay nhiều phẩm vì mỗi phẩm hỗ trợ cho những phẩm kia, đâu có thể nói rằng “tu Bố thí thì chỉ nên lo chuyện bố thí đi, đừng vừa tu Bố thí vừa Trì giới” được, có phải không?

C: Bạn muốn nói rằng Bồ-tát tu Lục Ðộ (Ba-la-mật) cũng như đi trên chiếc thuyền có sáu máy hay thuyền buồm gồm sáu thuyền nhỏ ghép lại? Như vậy tốc độ sẽ nhanh lắm?

A: Phải! Vì vậy điều phải cần biết là người lái có đủ khả năng điều khiển thuyền máy không; cũng như đi xe hơi nhanh hơn đi bộ nhưng phải biết lái xe, đi máy bay phản lực nhanh hơn xe hơi nhưng phải biết lái máy bay phản lực vì nếu không đủ khả năng hay sơ sót về kỷ thuật thì không những không đến nơi mà còn mất mạng, tan xác nữa !J J !!

B: Như vậy là chúng ta đã nắm vững về tha lực, tự lực. Bây giờ xin hỏi các Bạn, ta có thể tu hai, ba pháp môn cùng lúc hay không? Ví dụ như ta thường nghe “Thiền Giáo đồng hành”, hay “Thiền Tịnh song tu”, hay “Thiền Tịnh Mật đồng hành” đó!

C: Tôi có nghe một vị Thầy giảng rằng có thể tu hai, ba pháp môn cùng một lúc, ta có thể chọn một cái làm pháp môn chính (chánh tu) và những cái kia là phụ (trợ tu, trợ đạo).

A: Phải rồi, có lý lắm, như vậy nếu bạn tu Thiền mà muốn tu thêm Tịnh Ðộ thì chỉ cần khi xả thiền, bạn phát nguyện và hồi hướng cầu về Cực lạc để được tiếp tục tu học với Tăng thân Thanh Tịnh của cõi đó.

B: Tổ Vĩnh Minh, vị tổ thứ 6 của Tịnh Ðộ tông, có nói: “Có Thiền có Tịnh Ðộ giống như cọp thêm sừng” (Hữu Thiền, hữu Tịnh độ dụ như đới giác hổ).

C: Nhưng hiện giờ chúng ta đang ở cõi Ta-bà, hằng ngày phải đối diện với nhiều phiền não khổ đau, làm sao để đối phó và vượt qua những chướng ngại đó, hay chỉ cần niệm Phật A-di-đà là đủ?

A: Tu Tịnh độ mà nếu chúng ta không xa lìa ham muốn, không buông bỏ yêu-ghét, thị phi, không thoát ra khỏi lưới ái dục, còn luyến tiếc hư danh, tài sản, v.v... thì cho dù đức Phật A-di-đà có đến rước, e rằng chúng ta cũng không đi nổi, vì nghiệp ái quá nặng, không phải sao? ! J J !!

B: Hay! Bạn nói làm tôi nhớ đến câu chuyện của Thangtong Gyelpo, vị Thầy Mật tông Tây Tạng nổi tiếng về phép “chuyển di tâm thức” (Phowa); nghĩa là có khả năng tống thần thức của người hấp hối về thẳng cõi Cực lạc. Người nào vừa chết hay đang hấp hối mà có duyên lành gặp được hay thỉnh được Ngài thì coi như chắc chắn vãng sanh.

C: Thật là kỳ diệu, câu chuyện như thế nào?

B: Một hôm, Ngài đến một làng kia, tập họp dân làng lại và tuyên bố rằng: hôm nay là ngày lành tháng tốt, ai muốn về Cực lạc ta sẽ giúp cho. Nói xong, Ngài nhìn khắp mọi người nhưng không ai trả lời ngài cả, trong khi ngày thường, họ băng ngàn lội suối để thỉnh Ngài về nhà làm phép phowa hay cầu siêu cho thân nhân. Thấy lạ, Ngài hỏi từng người. Chỉ vào một thanh niên, Ngài hỏi: Chú không muốn về Cực lạc à? Người thanh niên trả lời: Dạ, thưa Ngài con muốn lắm chứ nhưng còn mẹ già nên không thể bỏ đi; chỉ vào một người trung niên, Ngài hỏi: Anh có muốn về Cực lạc không? - Thưa Ngài, con muốn lắm nhưng bây giờ còn vợ con nên chưa đi được, v.v… Cứ như thế Ngài hỏi hết mọi người trong làng, cả người trẻ lẫn người già, người nào cũng từ chối chưa muốn về Cực lạc bây giờ với đủ mọi lý do: còn cha mẹ, vợ con, ruộng đất, nhà cửa, nợ nần, v.v... và v.v... Cuối cùng có một em bé 10 tuổi bằng lòng về cõi Cực lạc ngay hôm nay - em mồ côi cha mẹ và không có họ hàng bà con gì hết!

C: Hèn gì đức Phật ngày xưa khi về kinh thành Ca-tỳ-la-vệ chỉ cho phép những người xuất gia mới được đi theo Ngài thôi!

A: Tôi nghĩ rằng ngay cả những vị xuất gia nếu có mặt trong làng trên đây cũng chưa chắc đã sẵn sàng để về Cực lạc ngay bây giờ vì quí Ngài còn nhiều việc phải làm như việc Chùa, những Phật sự quan trọng còn dang dở, v.v…

B: Đúng vậy, như bạn A đã nói hồi nãy, tu Tịnh độ cũng phải trau giồi phước huệ, làm chủ tâm ý, có định lực để xa lìa ái dục, xa lìa ham muốn… thì khi lâm chung, đức Phật A-di-đà đến rước mới đủ dũng cảm cắt đứt những hệ lụy tình cảm thế gian thường tình đi theo Ngài về Cực lạc được chứ!

C: Đúng rồi, chỉ có Thần Chết, xuất hiện bất cứ lúc nào mới đem một người đi khi thọ mạng đã hết, không ai lấy hẹn trước, cũng không ai từ chối được mà thôi. Vì vậy, ta phải chuẩn bị để khi Thần Chết hiện ra ta vẫn còn sáng suốt để nhất tâm niệm Phật A-di-đà, cầu Ngài đến rước chúng ta về Cực lạc, phải không?

A: Phải, phải! Những ai đang tu Tịnh Ðộ có nghĩa là họ đã biết và đã gieo duyên với đức Phật A-di-đà từ nhiều đời nhiều kiếp trước nhưng nghiệp ái quá nặng, định tâm còn yếu nên chưa xả được, vì vậy mới kẹt lại Ta-bà đó thôi. Chư Tổ có câu: “Ái bất trọng bất sinh Ta-bà, niệm bất nhất bất sinh Tịnh Ðộ” đã rõ ràng quá rồi!

C: Câu đó nghĩa là gì vậy?

B: Nghĩa là “nghiệp ái không nặng thì đã không sinh ra ở cõi Ta-bà này, niệm Phật không nhất tâm thì không thể sinh về Tịnh Ðộ Cực lạc được”.

C: Như vậy, tu Tịnh thêm Thiền để tăng định lực như thế nào hở các bạn?

A: Bạn chia thời khóa biểu ngồi Thiền, niệm Phật... hay thực hành chuyên niệm là tốt nhất.

B: Ngồi Thiền giúp thân trụ vững vàng thì tâm mới định. Trong lúc ngồi niệm Phật, bạn phải nhiếp tâm chăm chú không để những ý tưởng khác chen vào; nếu có một tạp niệm thì phải nhận ra ngay, trở về với chánh niệm, để biết rằng niệm Phật là nhớ nghĩ đến Phật; chứ niệm Phật mà nhớ nghĩ chuyện đời, vui buồn giận hờn, v.v... thì làm sao tương ưng với Phật và cảnh giới Tịnh Ðộ của Phật được?

C: Cảm ơn các bạn nhiều, tôi đã hiểu vì sao niệm Phật không chuyên nhất thì không thể sinh về thế giới Tây phương Cực lạc được.

A: Dù tu Thiền, tu Tịnh hay Thiền Tịnh song tu nhưng đang còn sống ở thế gian này, chúng ta vẫn phải thực hành những công hạnh khác như Lễ Phật, Sám hối, Bố thí, Cúng dường… để tạo phước, mới mong nghiệp chướng (hay ma chướng của ngoại cảnh hay ở ngay trong tâm chúng ta) không phá hoại đường tu của chúng ta.

B: Đúng vậy, mục đích chính của Tu hành là để cầu giải thoát sinh tử luân hồi. Tu Thiền, tu Tịnh độ, tu Mật tông… hay bất cứ tu pháp môn nào mà vẫn còn tham đắm thế gian, không xa lìa ái dục, thì cũng giống như muốn chèo thuyền qua sông mà dây neo buộc vào bờ vẫn chưa chịu tháo ra! J J !!

C: Các bạn có nghe nói Ta-bà với Tịnh Ðộ là một hay không? Và có nghe bài kệ này chưa?

Trang nghiêm Tịnh độ

Nơi cõi Ta-bà

Ðất Tâm thanh tịnh

Hiển lộ ngàn hoa.

 

A: Có nghe rồi! Đó là quan niệm của Thiền “bây-giờ và ở-đây” (now and here); theo đó, chánh niệm là Tịnh Ðộ, là An Lạc rồi. Lúc đó dù ta đang uống trà, đang đánh răng súc miệng, đang mở máy TV hay máy vi tính (computer), đang lặt rau, đang đổ rác, v.v… Nghĩa là bất cứ đang làm việc gì bình thường nhất, giản dị nhất, ta cũng cảm nhận được thực tại nhiệm mầu, cảm nhận được cái tịnh trong cái bất tịnh (cái sạch trong cái ), cái thường trong vô thường, vì lúc đó tâm ta đang ở trạng thái thật thanh tịnh, vườn tâm đang nở hoa .

B: Có phải bạn nói những thi kệ phỏng theo “Tỳ-ni thiết yếu nhật dụng” mà chúng ta đã dạy cho các em học thuộc và áp dụng trong đời sống hằng ngày không?

A: Phải đó!

C: Tôi cũng đã nhớ ra rồi, để tôi đọc các bạn nghe nha!

Chén trà trong hai tay

Chánh niệm nâng tròn đầy

Thân và tâm an trú

Bây giờ và ở đây.

 

Ðánh răng và súc miệng

Cho sạch nghiệp nói năng

Miệng thơm lời chánh ngữ

Hoa nở tự vườn tâm.

 

Một thùng rác bẩn

Một bông hồng thơm

Muôn vật chuyển hóa

Thường trong vô thường.

 

Mặt trời xanh rờn

Một rổ rau tươi

Vạn pháp nương nhau

Làm nên cuộc đời.

 

C: Tôi quên mất 2 bài về máy vi tính và xem TV rồi!

B: Đó là :

Tâm là máy truyền hình

Với muôn ngàn nút bấm

Chọn thế giới an lành

Cho tươi vui cuộc sống.

 

Thắp lên máy vi tính

Ý tiếp xúc với tàng

Tuệ giác càng tăng trưởng

Nuôi lớn “hiểu” và “thương”.

 

A: Nói tóm lại, Ta-bà hay Cực lạc đều xuất phát từ tâm, khi tâm ta thanh tịnh, ta thấy thế giới thanh tịnh; khi tâm ta lăng xăng, ngoại cảnh đều lăng xăng tán loạn theo… Trong cuộc sống, vì vậy nhiều khi trong một vài sát-na nào đó, một vài giây phút nào đó, ta quả thật đã nếm được mùi vị an lạc của thế giới thanh tịnh ở cõi Tây phương Cực lạc của đức Phật A-di-đà, chỉ là không lâu, ta lại bị cuốn hút vào những ham muốn, vui buồn, đấu tranh… của cuộc đời, nên đời đời cứ trôi lăn trong sinh tử.

B: Như vậy hôm nay chúng ta đã giải quyết được nhiều nghi vấn về tu hành, về Nhân gian Tịnh Ðộ, Tự lực, Tha lực… Thật vui và lợi ích, xin tạm biệt các bạn, chúng ta hẹn gặp lại lần sau nha!

A và C: Tạm biệt, tạm biệt!

 

Trợ Niệm Khi Lâm Chung
Nguyên Liên

                                     
(Tiếp theo pl20)

Như bài trước chúng tôi đã nói, việc vãng sanh hay không tùy thuộc một phần lớn vào sự trợ duyên niệm Phật khi người bịnh sắp lâm chung. Vì thế, việc phát tâm đến trợ niệm cho người khác, có công đức bất khả tư nghì. Tất nhiên muốn thành tựu trọn vẹn công đức, đòi hỏi người trợ niệm phải làm đúng pháp. Việc làm của người trợ niệm, khi đến trợ niệm cho người sắp lâm chung bao gồm một số công việc cụ thể sau:

A. Việc làm của người trợ niệm:

1. Phải có tâm nguyện Bồ-tát:

Điều kiện cần thiết của người trợ niệm khi cử hành pháp trợ niệm là phải có tâm nguyện của Bồ-tát. Tâm nguyện Bồ-tát là tâm trên cầu Phật đạo, dưới cứu độ vạn loại chúng sanh. Nói chung, Bồ-tát là những vị khi làm một công việc gì đều không nghĩ đến quyền lợi bản thân, mà luôn nghĩ việc làm đó có lợi ích cho chúng sanh hay không. Nếu việc làm đó có lợi ích chúng sanh thì dù tan thân nát mạng, thậm chí phải đọa vào địa ngục, Bồ-tát vẫn hoan hỷ làm. 

Vì thế, người trợ niệm khi đến trợ niệm cho người khác, nên đem tâm từ bi, tâm chân thật mà làm, không được ngại khó ngại khổ, không được phô diễn hình thức, không được cầu danh lợi. Đối người bịnh phải có lòng thương yêu trìu mến, xem họ như là người bà con thân thuộc của mình.

Thái độ đối với bịnh nhân nên thương yêu nhẹ nhàng, lời nói từ tốn nhu nhuyến, sao cho người bịnh nghe rõ. Vận dụng hết tâm lực để niệm Phật, cầu nguyện cho người bịnh vãng sanh. Đồng thời khuyên nhủ gia đình làm đúng với tinh thần chánh pháp. Nên biết, phát tâm trợ niệm người khác chính là thay thế đức Như Lai, đảm nhận trách nhiệm cứu độ chúng sanh thoát ly sanh tử. Công việc này vô cùng hệ trọng và có công đức rất lớn.

2. Dặn dò người nhà:

Phần nhiều những gia đình không biết Phật pháp, trước cảnh sanh ly tử biệt khó ai có thể ngăn cản những nỗi đau thương luyến tiếc, và không làm sao tránh khỏi cảnh rối bời. Nếu người trợ niệm không có đôi lời dặn dò chỉ bảo, thì khó có thể thành tựu pháp trợ niệm, người chết khó đạt được sự lợi ích chân thật.

Trước khi trợ niệm, người trợ niệm nên đả thông tư tưởng cho gia đình, đại để gọi gia đình lại dặn dò: “Cuộc đời là vô thường, có sanh tức có tử, có hội họp tất có biệt ly. Giờ phút này các vị nếu có tình thương yêu người bịnh, không được khóc lóc, chỉ nên nhất tâm niệm Phật, cầu nguyện cho người bịnh vãng sanh. Việc vãng sanh hay đọa lạc, trách nhiệm phần lớn tùy thuộc vào các vị. Các vị muốn người thân vãng sanh, từ giờ này nên làm theo sự chỉ đạo của tôi”.

Đồng thời, nhắc nhở gia đình phát tâm ăn chay, không sát hại chúng sanh, không nghe theo những tà thuyết sai lầm của thế gian, khuyến khích gia đình nên vì người bịnh làm các công đức, tuyệt đối không được khóc lóc, mà chỉ hướng tâm theo tiếng niệm Phật, để cầu nguyện cho người chết được vãng sanh.

3. Có tâm thương yêu người bịnh:

Người trợ niệm phải có tâm thương yêu người bịnh, nên quán sát bản thân họ, xem như là người bà con thân thuộc của mình. Bởi vì người bịnh mặc dầu không phải bà con thân tộc trong hiện đời, nhưng hoặc một đời, hai đời, ba đời trước cũng là bà con với nhau, không thể cho rằng chúng ta với họ không có liên quan tình huyết thống. Người trợ niệm nếu xem người bịnh như là người bà con, thì tâm trợ niệm niệm Phật, lúc đó mới thật sự chí thành khẩn thiết.

Khi vào phòng người bịnh, thái độ của người trợ niệm phải hết sức thương yêu thành khẩn, lời nói từ tốn nhẹ nhàng, sao cho người bịnh nghe hiểu rõ ràng, để trong tâm họ không có chút hoài nghi. Trước hết, người trợ niệm nên tán thán những công đức trong đời người bịnh tạo được, khiến bịnh nhân sanh tâm hoan hỷ; kế đến, nói những sự thù thắng vi diệu của thế giới Cực lạc, khiến họ sanh tâm an ổn và khởi lòng chánh tín cầu sanh Tây phương. Đồng thời khuyến khích người bịnh nên buông bỏ mọi duyên, một lòng tưởng Phật niệm Phật cầu nguyện vãng sanh.

4. Ngăn không cho bà con khóc lóc, thăm hỏi:

Trong phòng bịnh, trừ người khai thị, tất cả mọi người không được phép, đến bên người bịnh hỏi han, trò chuyện, cũng không được ở trong phòng bịnh nói chuyện tạp, nếu bịnh nhân nghe được, sẽ phân tâm, mất chánh niệm. Nếu có bà con, hàng xóm muốn đến thăm hỏi, người trợ niệm nên ngăn lại: “Ông đến đây là để trợ niệm cho người bịnh phải không? Nếu vậy ông hãy nên nghe theo tôi, hầu tránh  chướng ngại cho người bịnh”.

Còn họ không phải đến trợ giúp người bịnh niệm Phật, lúc đó người trợ niệm nên bảo gia đình, mời những người này sang phòng bên tiếp đãi, để tránh cho người bịnh gặp mặt khiến phát sanh tình ái dục niệm, chướng ngại sự vãng sanh.

Gặp tình huống này, người trợ niệm không nên ngại khó hoặc vị tình mà không làm. Có điều gia đình nên tìm cách giải thích cho họ hiểu, hầu tránh sự mất lòng. Nếu để họ gặp người bịnh rồi khóc lóc hỏi han, thì làm cho người bịnh không được chánh niệm và hoàn toàn không phù hợp với tông chỉ trợ niệm.

5. Khai thị trước khi trợ niệm:

Người trợ niệm đến, trước khi cử hành pháp trợ niệm cần có đôi lời khai thị cho người bịnh. Nội dung khai thị đại để như sau.

“Ông nên biết, phàm làm người không một ai có thể tránh khỏi cảnh sanh, già, bịnh, chết. Nay thân ông đang bịnh, nhưng tâm ông không nên sầu khổ, mà hãy chuyên trì danh hiệu Phật A-di-dà, niệm niệm duyên theo câu Phật hiệu, mong cầu vãng sanh Tây phương, như thế ngay đây bịnh khổ sẽ không gây tác hại.

Chúng ta là người tu niệm Phật, không luận sự tình như thế nào, đến lúc lâm chung mọi việc đều nên buông bỏ, trong tâm chỉ có một câu Phật hiệu. Không nên nghe theo những lời chỉ dạy của hạng người không có tri thức, có chút bịnh khổ rồi cầu trời thần, ma quỷ bảo hộ. Giờ phút này trong tâm ông, chỉ duy trì một ý niệm, là mong cầu chư Phật, Bồ-tát đến tiếp độ vãng sanh. Nếu ông nghe theo lời tôi buông hết duyên trần, một lòng tưởng Phật niệm Phật, thì quyết được vãng sanh. Chúng tôi sẽ niệm Phật trợ niệm cho ông, ông hãy duyên theo tiếng niệm Phật mà niệm”.

6. Tiếng niệm Phật cần rõ ràng:

Người bịnh nếu còn tỉnh, trước khi niệm Phật, người trợ niệm nên hỏi qua ý kiến, không được tùy theo ý mình mà niệm, khiến người bịnh khó đạt được sự lợi ích. Hỏi thăm họ thích niệm nhanh hay chậm, cao hay thấp… bốn chữ hay sáu chữ, rồi tùy theo ý người bịnh mà niệm Phật trợ niệm.
Còn như người bịnh mệt không trả lời được, thì tiếng niệm Phật không được quá nhanh, nếu nhanh quá nghe không rõ ràng; cũng không nên quá chậm, nếu chậm quá tiếng niệm Phật sẽ rời rạc; cũng không nên quá cao, nếu cao quá người trợ niệm khó niệm lâu dài; cũng không nên quá thấp, nếu thấp quá người bịnh nghe không rõ. Vì thế tiếng niệm Phật không nhanh không chậm, không cao không thấp, mỗi câu mỗi chữ trong trẻo rõ ràng, khiến mỗi câu hồng danh Phật đều lọt vào tai, làm cho người bịnh sanh tâm hoan hỷ khoái lạc.

Nên nhớ lúc trợ niệm, là thời điểm người bịnh khí lực rất yếu, bản thân họ niệm Phật không nổi, hoàn toàn nương vào câu Phật hiệu của người khác. Nếu tiếng niệm Phật rõ ràng, trong trẻo, câu chữ phân minh, như thế tâm người bịnh sẽ rất dễ đi vào chánh định.

7. Theo dõi thái độ người bịnh:

Trong thời gian niệm Phật, người trợ niệm nên theo dõi thái độ người bịnh. Nếu đang trợ niệm, người bịnh có những biểu hiện như khuôn mặt sầu khổ, người toát mồ hôi, hoặc đầu thân, tay chân cử động, hoặc không hoan hỷ khi nghe tiếng niệm Phật, hoặc có những điều nghi ngờ, hoặc rơi vào trạng thái hôn mê không hay biết... đây là hiện tướng của nghiệp chướng phát khởi, do công phu niệm Phật của người bịnh chưa vững chải.

Gặp các trường hợp đó, người trợ niệm nên đến bên người bịnh răn nhắc: “Cảnh giới Tây phương cực lạc hiện đang ở trước mặt ông, ông nên cố gắng trì niệm danh hiệu Phật A-di-dà để được vãng sanh”. Lại tiếp tục để ý thần sắc người bịnh, nếu vẫn tương tự như trước, người trợ niệm nên nhắc lại lời đó lần nữa, tối đa không quá ba lần, sau đó chỉ niệm Phật lớn tiếng mà thôi.

Trợ niệm một thời gian, đột nhiên người bịnh tinh thần có sự phân minh, sảng khoái, nói chuyện, hoặc thở dài cho đến tay chân cử động… Lúc đó, người trợ niệm đặc biệt chú ý, tiếp tục khẩn thiết niệm Phật, không để một ai khóc lóc, thăm hỏi, rờ rẫm. Nên biết kể từ thời điểm người bịnh xảy ra tình huống này, không quá hai tiếng đồng hồ sau bịnh nhân sẽ tắt thở. Tất cả mọi người khi sắp chết, phần nhiều đều rơi vào trạng huống này.

Tóm lại, đối với một số tình huống như thế xảy ra, người trợ niệm phải theo dõi để kịp thời xử lý, như thế người chết mới có được sự lợi ích.

8. Ngăn không cho gia đình làm những việc sai quấy:

Những gia đình rơi vào cảnh có người thân mất, trừ những người có niềm tin Tam bảo, họ sẽ rối bời và hay nghe theo những tà thuyết sai lầm. Người trợ niệm phải có trách nhiệm, chỉ vẽ họ làm những việc phù hợp với chánh pháp, khiến kẻ còn người mất đều được lợi ích.

Người trợ niệm khuyên gia đình, nếu có lòng thương yêu người chết, thì chỉ một lòng niệm Phật trợ niệm cho người chết được vãng sanh, không nên khóc lóc, rờ rẫm người chết. Trong thời gian cử hành tang lễ cho đến 49 ngày, gia đình nên phát tâm cúng chay, ăn chay, không nên sát hại chúng sanh cúng tế quỷ thần, không được đốt giấy tiền vàng mã...
Đồng thời mời chư tăng, Phật tử cũng như gia quyến tụng kinh niệm Phật, xuất tài vật làm các việc phước thiện, như cúng dường, bố thí để hồi hướng công đức cho người quá cố, khiến họ nương nhờ phước nghiệp, mà được siêu thăng cõi Phật.

B. Phương thức trợ niệm:

Phương pháp trợ niệm khi lâm chung, qua việc tham khảo kinh nghiệm các bậc cổ đức, chúng tôi xin nêu ra năm điểm sau:

1. Khai thị trước khi trợ niệm:

Trước khi trợ niệm, người chủ lễ ngoài việc có đôi lời dặn dò gia đình, cần phải có lời khai thị cho người bịnh. Chúng ta trợ niệm cho người khác, không được bỏ qua phần khai thị, nếu không, người bịnh không biết mục đích trợ niệm và duyên tâm vào đâu để cầu nguyện vãng sanh.
Vì thế, người chủ lễ trước khi trợ niệm, nhất định đối trước bệnh nhân khai thị: “ Ông nên biết, giờ phút này mọi người đang niệm Phật trợ niệm cho ông, ông nên cùng mọi người đồng niệm. Nếu như sức khỏe suy nhược không thể niệm theo, ông nên lưu tâm lắng nghe mọi người niệm Phật, thì cũng như ông đang niệm. Có điều tai ông nghe câu Phật hiệu phải rõ, một câu nghe rõ một câu, một chữ nghe rõ một chữ, trong tâm nên ghi nhớ rõ ràng. Ông nên toàn tâm toàn ý hướng về âm thanh danh hiệu Phật A-di-dà”. Sau khi nói lời khai thị, mới cử hành nghi thức trợ niệm.

2. Phân ban trợ niệm:

Người trợ niệm ban ngày chia thành hai ban, ban đêm chia thành ba ban, số người mỗi ban tối thiểu hai người, hạn định một giờ đồng hồ đổi ban. Phương pháp trợ niệm, ban ngày ban thứ nhất niệm Phật lớn tiếng, ban thứ hai mặc niệm, qua một giờ đồng hồ rồi đổi ban. Ban đêm, ban thứ nhất niệm lớn tiếng ban thứ hai và ban thứ ba mặc niệm hoặc có thể nghỉ ngơi, niệm một giờ đồng hồ rồi lại đổi ban.

Như thế cứ luân phiên thay ban, không luận là ba ngày, năm ngày, bảy ngày, nửa tháng, một tháng đều có thể trợ niệm lâu dài. Các ban trợ niệm luân phiên theo thứ tự, khiến cho ngày đêm, âm thanh Phật hiệu tương tục. Mỗi ngày ba bữa cơm ăn, nước uống đều phân chia người khác phục vụ. Người trợ niệm sau khi dùng cơm xong, thời gian tiếp ban chưa đến, có thể thay nhau nghỉ ngơi đôi chút, để phục hồi tinh thần.

3. Nghi thức trợ niệm:

Đối với việc trợ niệm, trước hết người chủ lễ phải nên quán sát bệnh tình người bệnh. Đại để người trợ niệm đến, gặp lúc bịnh tình hệ trọng (chuẩn bị lâm chung), thì khởi đầu niệm bài kệ tán Phật (A-di-dà Phật thân kim sắc...), tiếp theo niệm câu Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới đại từ đại bi A-di-đà Phật, rồi niệm bốn chữ hồng danh A-di-dà Phật. Pháp khí sử dụng trợ niệm chỉ dùng khánh, âm thanh mõ quá trầm không nên dùng.

Nếu bệnh đang nhẹ, lúc đó khởi đầu tán bài Liên trì hải hội, tụng một biến kinh Di đà, ba biến Vãng sanh thần chú (tốt nhất 21 biến); kệ tán Phật, tiếp theo niệm câu Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới đại từ đại bi A-di-dà Phật, niệm sáu chữ hồng danh Nam mô A-di-dà Phật khoảng mười câu, rồi chuyển sang niệm bốn chữ hồng danh A-di-dà Phật.

4. Thời điểm hôn mê đến khi sắp chết:

Nếu đang trợ niệm, người bệnh rơi vào trạng thái hôn mê không còn hay biết, bấy giờ người trợ niệm đến bên người bịnh nói lời khai thị, đồng thời dùng khánh kê sát tai đánh một vài tiếng. Sau đó niệm lớn Phật hiệu, khiến cho người bệnh thoát lần khỏi sự hôn mê.
Khi người bệnh sắp đến lúc chấm dứt hơi thở, tất cả người trợ niệm nên nhóm lại trỡ niệm, tốt nhất cùng bà con đối trước Tam bảo, hoặc quỳ niệm hoặc lễ niệm, đồng thời trong tâm mỗi người đều quán tưởng đức Phật A-di-dà hiện phóng ánh sáng lớn tiếp độ, người chết đang ở trong hào quang của Phật chắp tay trang nghiêm, vãng sanh tịnh độ. Sau khi đã chấm dứt hơi thở độ mười phút, người trợ niệm chia thành hai ban, mỗi ban luân phiên niệm Phật khoảng nửa giờ đồng hồ, bắt đầu từ thời điểm này trở đi cần phải niệm Phật lớn tiếng, rồi cứ tuần tự đổi ban niệm Phật như trước.

5. Thời điểm tắt thở cho đến khi toàn thân lạnh hẳn:

Người bệnh sau khi đã chấm dứt hơi thở, trước khi thân thể chưa lạnh hẳn, trong giai đoạn này những vị trong ban trợ niệm cần hết sức chú ý, tuyệt đối không được thăm dò hơi nóng và bà con không được khóc lóc, chỉ nên phát tâm niệm Phật trợ niệm. Cần trải qua tám hoặc mười giờ đồng hồ, mới có thể mời một vị có sức tu hành tương đương, dùng tay nhẹ thăm dò hơi nóng, cho đến khi toàn thân người chết lạnh hẳn, việc trợ niệm mới tạm dừng. Lúc đó người trợ niệm hướng về trước Phật, thay mặt người chết hồi hướng công đức, cầu nguyện người chết vãng sanh tịnh độ.
Nếu toàn thân người chết vẫn chưa lạnh hẳn, thì không luận một ngày, hai ngày, ba ngày mọi người đều phát tâm niệm Phật lớn tiếng. Cá nhân mỗi người trợ niệm đều nên nghĩ, đây là lúc chúng ta thay thế đức Như lai, cứu độ chúng sanh thoát ly sanh tử. Mọi người không nên vì chút thời gian này, mà sanh tâm nhọc nhằn biếng nhác, khiến người chết lạc lối không được vãng sanh. Chúng ta trợ niệm với tâm như thế, mới chân chánh phát Bồ-đề tâm, hành Bồ-tát đạo, biểu hiện sự tu hành một cách thực tế.

Tóm lại: Có nhân tức có quả, có quả tức có nhân. Chúng ta phát tâm trợ niệm người khác, tương lai đến lúc lâm chung tự nhiên sẽ có người phát tâm đến trợ niệm chúng ta. Người khác nhờ chúng ta trợ niệm được vãng sanh, tương lai họ sẽ theo hầu đức Phật A-di-dà, đồng đến tiếp dẫn, dùng thần lực gia hộ, khiến chúng ta lúc lâm chung chánh niệm hiện tiền vãng sanh Cực lạc. Do vậy, thường trợ niệm người khác vãng sanh, đối với vấn đề lợi hại lúc lâm chung thật rất rõ ràng. Sau này đến thời điểm lâm chung, chúng ta cũng vận dụng kinh nghiệm quá khứ, khiến tất cả đều như pháp. Do đó sẽ không có các sự tình phát sanh ngoài ý muốn, và quyết định sẽ được vãng sanh.

 

Lý do phải làm Lành lánh Dữ và phải nguyện sanh Tịnh Độ
Tâm Tịnh

 

Có nhiều người nói rằng: “Phật dạy hết thảy Pháp là như huyễn, chơn tánh của các Pháp vốn là không. Vậy thì cần gì phải làm lành lánh dữ, việc gì phải nguyện sanh Tịnh độ.” Lời nói này mới nghe qua thì có vẻ như đúng nhưng thật ra vẫn còn nhiều điểm cần phải bàn lại.

Chúng ta đã biết rằng, phàm đức Phật có dạy điều gì thì cũng tùy theo căn cơ mà dạy. Lâu nay, chúng ta chấp mình và mọi thứ trên đời là thật có nên chúng ta mặc tình làm ác, hại người hại vật; vì vậy, đức Phật đã dạy cho chúng ta biết rõ các pháp đều giả có, không thật, để chúng ta không còn chạy theo trần cảnh mà khởi tham, sân, si, tạo biết bao ác nghiệp nữa. Có người sẽ hỏi tiếp rằng: “Nếu Phật dạy các pháp là không thật để mọi người bỏ ác làm lành, vậy sau khi họ đã làm lành rồi Phật lại dạy họ tiếp tục quán các pháp là như huyễn.” Điều này cũng rất đơn giản. Đó là vì chúng ta tuy làm lành nhưng vẫn còn chấp có mình là người tốt nên dễ sanh ngã mạn và nhiều phiền não vi tế khác đoanh vây. Vì vậy, Phật dạy chúng ta tiếp tục quán các Pháp là như huyễn để dứt sạch những phiền não còn sót lại nhờ đó trí tuệ mới phát sanh. Tâm chúng ta giống như mặt trời lúc nào cũng chiếu sáng; tùy theo mây mù nhiều hay ít mà độ sáng của mặt trời mạnh hay yếu mà thôi. Tâm ta cũng vậy, tùy theo mức độ phiền não nhiều hay ít mà tâm ta phát sanh trí huệ cạn hay sâu. Chỉ khi nào sạch hết phiền não thì tâm chúng ta mới hoàn toàn giác ngộ. Vì vậy, muốn giác ngộ rốt ráo, chúng ta cần phải thường quán các pháp là như huyễn để diệt sạch vô minh phiền não.

Mặt khác, tuy các Pháp là như huyễn nhưng vì chúng ta chưa hoàn toàn giác ngộ, bằng chứng là khi đói cần phải có cơm ăn, khi khát cần phải có nước uống nếu không chúng ta sẽ không chịu đựng nỗi, vì vậy chúng ta bắt buộc cần phải làm lành lánh dữ để gặt hái quả báo tốt đẹp và tránh quả báo xấu.

Hơn nữa, khi chúng ta làm ác thì tâm chúng ta sẽ phải chịu nhiều phiền não, khổ đau nên khó phát sanh trí tuệ giải thoát, còn khi chúng ta làm lành thì tâm chúng ta sẽ an vui, thơ thới nên rất dễ phát sanh trí tuệ.

Chính vì vậy, tuy các pháp là như huyễn, không thật nhưng chúng ta vẫn phải luôn luôn làm lành lánh dữ. Có điều cần chú ý là khi làm lành lánh dữ, chúng ta phải thường tập quán các pháp là như huyễn, không thật để mau đạt đến quả vị Giác ngộ giải thoát.

Có người lại nói: “Các pháp vốn như huyễn không thật thì việc gì chúng ta phải cầu vãng sanh Tịnh độ.”

Như trên đã nói: mặc dù các pháp là như huyễn nhưng chúng ta chưa giác ngộ rốt ráo nên khi đối duyên xúc cảnh chúng ta rất dễ phát sanh phiền não. Những phiền não này che lấp tâm ta làm cho trí huệ không thể phát sanh. Sao bằng chúng ta sanh về Tịnh độ là Thắng cảnh do các vị Phật, Bồ-tát tạo ra, ở nơi ấy không có các điều kiện làm phát sanh phiền não nhờ thế tâm ta không bị phiền não che lấp nên dễ dàng bừng sáng; vì thế, tuy biết rằng các pháp là như huyễn nhưng chúng ta vẫn cầu sanh Tịnh độ.

Khi liễu tri được điều này, chúng ta không nên thụ động đợi chết rồi mới sanh về Tịnh độ mà chúng ta phải tập an trú vào Tịnh độ ngay trong cuộc sống hằng ngày bằng cách thực tập chánh niệm. Hằng ngày, khi thân tâm ta có khổ thọ hay lạc thọ thì chúng ta đều vui vẻ đón nhận chúng. Chúng ta đừng nên níu giữ những cảm thọ vui và xua đuổi những cảm thọ khổ vì thật sự thì dù ta có níu giữ mấy đi nữa, những cảm thọ vui vẫn ra đi làm chúng ta đau khổ vì nuối tiếc, còn những cảm thọ khổ thì chúng ta càng xua đuổi, nó càng mãnh liệt và bám chặt hơn. Cách tốt nhất là chúng ta lặng lẽ ghi nhận chúng, thấy rõ chúng kể từ lúc chúng xuất hiện cho đến khi chúng ra đi để phát hiện ra bản chất vô thường của vạn vật. Khi đã thấy một cách như thật là vạn vật vô thường, thì chúng ta sẽ không còn khởi tâm tham, sân, si... đối với chúng nữa; nhờ thế tâm của chúng ta sẽ được an lạc, trí tuệ phát sanh.

Nếu chúng ta thực hành được như vậy thì chắc chắn chúng ta sẽ sống được an lành, đến khi mạng chung sẽ về cõi Phật như chúng ta thường mong cầu.

 

Đại an toàn


Thích Thái Hòa

 

Bạn muốn có đại an toàn của thân, bạn phải cẩn trọng từng động tác đi, đứng, nằm, ngồi và làm việc của thân.

Bạn muốn có đại an toàn của lời nói, bạn phải cẩn trọng từng lời nói của mình, khi phát ra đối với bất cứ ai, dù đó là người nhỏ hơn mình, hay dù đó là một trẻ thơ.
Và bạn muốn có đại an toàn của tâm ý, thì bạn phải cẩn trọng từ những cách nhìn, cách nghe và cách suy nghĩ của bạn.

Bạn nhìn và nghe không chính xác, khiến cho bạn suy nghĩ và hiểu biết vấn đề lệch lạc.
Do nhìn, nghe và hiểu không chính xác, nên lời nói và hành động của bạn tạo nên nhiều lầm lỗi, gây ra khổ đau cho người khác và làm thiệt hại phước đức của chính bạn.

Vậy, muốn đạt tới đại an toàn trong đời sống, bạn không phải chỉ cẩn trọng từng bước chân đi, mà bạn phải cẩn trọng ở nơi cách nghe, cách nhìn, cách suy nghĩ và cách hành xử của bạn.
Nếu bạn nghĩ nhiều về cái của bạn và những thành quả của bạn, thì một mảy may an toàn nơi bạn còn không có, huống gì là đại an toàn. Cẩn trọng từng bước chân đi chưa là gì của sự an toàn đâu bạn nhé, đại an toàn chính là tâm ý của bạn lắng trong, điều đó bạn tự ngẫm nghĩ mà xem!  

 

Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh
Phước Liên
 

Sau bốn mươi chín ngày tham thiền nhập định dưới cội tất-bát-la, đức Thế Tôn chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, bừng khai tuệ nhãn, thấy rõ chúng sanh hiện hữu khắp trong tứ sanh lục đạo đều có chung một thể tánh viên minh, thanh tịnh vắng lặng mà bất cứ một ai nếu hồi tâm phản chiếu, thực tâm tu tập đều có thể thành tựu thánh quả an lạc giải thoát. Qua đó chứng tỏ: đạo không ở đâu xa mà đạo ở trong tự thân của mỗi người. Mỗi con người là một vị Phật nhưng vì chơn tâm bị vô minh che lấp nên việc thành Phật, tác Tổ không thể chứng nhập; vì vậy chúng ta có thể biết rằng lục phàm tứ Thánh không ngoài cái tâm. Điều đó đã được chứng minh rất rõ ràng trong tam tạng thánh điển mà cụ thể là trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy rằng: “Ta ra đời vì một đại sự nhân duyên là khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật”. Tri kiến Phật ở đây là khi ở chúng sanh chính là Phật tánh còn khi ở loài vô tình gọi là pháp tánh. Rõ ràng hơn nữa,  qua một số trích dẫn sau, chúng ta sẽ thấy rõ người xưa hiểu Phật tánh là thế nào ở loài hữu tình hay vô tình.
Sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, vào thời Đông Tấn ở Trung Quốc, có vị Cao Tăng hiệu là Đạo Sanh (người ta thường gọi là Sanh Công), người ở Cư Lộc, là một học giả kinh Niết-bàn. Thuở nhỏ, Ngài thông minh trí tuệ hơn người. Ngài cùng với Tăng Duệ, Đạo Dung, Tăng Triệu là những vị đệ tử tài ba xuất chúng trong hàng đệ tử của ngài La Thập, bốn vị này được gọi là Quan Nội Tứ Thánh. Ngài là người tinh thông học thuyết của các vị Long Thọ, Đề-bà, cảm thương cho các học giả đương thời bị trệ nơi kinh văn, hiểu cạn cợt nghĩa lý viên dung của Phật đà nên Ngài nghiên cứu sâu lý Hữu, Không, Nhân, Quả, sáng lập thuyết: “Thiện bất thọ báo và đốn ngộ thành Phật” giải thích cho mọi người liễu tri. Nhân khi xem kinh Niết-bàn, Ngài cho rằng: Nhất-xiển-đề đều được thành Phật, khiến cho đại chúng tăng sĩ bấy giờ hoang mang. Do lúc ấy, kinh Niết-bàn chưa truyền đến Trung Hoa nên người nghe khó tin, vì thế đả phá tẩn xuất Ngài ra khỏi chùa. Về sau, khi kinh Đại Bát-niết-bàn do ngài Đàm Vô Sấm dịch truyền đến phương Nam thì lời Ngài nói trước đây mới ứng thực và mọi người mới khen thực lời Ngài có kiến thức cao vời. Theo truyền thuyết, một hôm, nhân cuộc đàm đạo giữa hội chúng, ngài Đạo Sanh nói rằng: “Ai bảo đá không có Phật tánh là người ấy phản lại lời dạy của đức Thế Tôn”. Trong hội chúng ngạc nhiên và yêu cầu Ngài chứng minh lời nói của mình để cho họ hiểu. Thế là Ngài đến núi Hổ Khâu ở Giang Tô để tịnh tu. Ngài gom đá sắp thành hàng làm đồ chúng. Lúc bấy giờ, Ngài đứng trước những viên đá kia nghiêm trang dõng dạc thuyết một thời pháp. Khi Ngài thuyết đến đoạn: “Hôm nay, ta y theo kim khẩu của đức Thế Tôn mà tuyên thuyết lại rằng: tất cả xiển đề  đều có Phật tánh. Nếu lời ấy sai thì các ngươi vẫn nằm tự nhiên, bằng nếu các ngươi nhận đúng lời ta nói là y như lời Phật dạy thì các ngươi hãy gục đầu nhận lãnh.” Câu nói của Ngài vừa dứt thì tất cả những viên đá kia gục đầu và lăn xuống triền núi. Những vị Tăng sĩ chứng kiến cảnh tượng kia liền quỳ xuống đảnh lễ và xin Ngài truyền trao tâm pháp. Sau này, ngài Đại sư Thái Hư đi viếng núi Hổ Khâu đã làm bài thơ tán thán. Có câu liên quan đến việc đá nghe pháp gật đầu như sau:

“Tiên nữ rưới hoa hà xứ xứ
Sanh Công điểm thạch vị gian đài”.

Vậy nên: “Trăng sao có thể rơi, núi đá có thể lở, biển đại dương có thể cạn nhưng những lời đức Thế Tôn dạy vẫn không bao giờ sai trật”.

Để minh chứng thêm những lời đức Phật dạy là chân thật ngữ, trong chuyện thiền có kể đến câu chuyện khế hợp với căn cơ của hội chúng mà chỉ bày pháp thoại khác nhau: Có người đến hỏi ngài Triệu Châu Tùng Thẩm: Con chó có Phật tánh không? Ngài đáp: Không. Người kia thắc mắc: Sao trong kinh Phật dạy: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh?” Ngài giải thích: vì bị nghiệp thức che đậy nên con chó không thấy, không biết, nên có cũng như không.

Một lần khác có người đến hỏi Ngài: Con chó có Phật tánh không? Ngài đáp: Có. Người kia gạn hỏi: Đã có Phật tánh vì sao lại chui vô đãy da nhơ nhớp lông lá lùi xùi như vậy? Ngài giải thích: Vì biết mà cố phạm. Biết là tánh sáng suốt, là Phật tánh nhưng không tránh khỏi nên phải chui vào đãy da nhơ nhớp.

Chúng ta cũng vậy, bấy lâu nay lang thang trong bể khổ trầm luân sanh tử, cũng bởi vì si mê lầm chấp, bỏ giác hiệp trần, không nhận chân ra được bộ mặt thật của chính ta, không thấy chủ nhân ông của chính ta trong từng sát na nên cứ chạy theo ảo giác vọng tưởng bên ngoài, rồi xa dần tánh giác. Tưởng giả là thật, thấy thật tưởng giả, thấy chơn tưởng vọng, tưởng vọng là chơn, cứ xoay vòng đảo điên như vậy nên không tìm cho mình được lối ra. Thật, giả khó phân thì đạo pháp làm sao khế hợp. Cho nên, đức Phật mới đưa ra nhiều pháp môn, trong đó bốn phương pháp mầu nhiệm đánh mạnh vào cái mê tham chấp của chúng sanh, chỉ cho chúng sanh thấy rõ cuộc đời là một biển khổ, có khổ thì có nguyên nhân đưa đến đau khổ, mà nguyên nhân đó lại chính là vô minh, tham ái, chấp thủ của chúng ta. Sau khi thấy khổ thì chúng ta mới liễu ngộ được có khổ thì phải có không khổ và cố gắng tu tập để đạt được hạnh phúc. Chính do vì chúng ta vẫn thấy rõ tập đế là nguyên nhân dẫn dắt chúng sanh loanh quanh trong lục đạo, là sai trái và đem lại đau khổ, dù thấy thì thấy, biết thì biết, học thì học nhưng đâu có ai thực hành, dứt bỏ. Thấy là một lẽ, học là một lẽ, vẫn biết vẫn quán nhưng hành là một việc khác, đến khi gặp sự việc thì tất cả sự thấy biết với cái tâm chấp ngã của mình thì càng rõ ràng hơn, mới thấy rằng bản ngã của con người rất lớn. Vậy nguyên nhân chính của sự đau khổ là do đâu? Có phải là do cái tâm vô minh chấp ngã đã hằng hữu lâu đời lâu kiếp của chúng ta không? Hay là cái tâm chấp thủ sanh khởi trong hiện tại? Nên biết rằng, cái tâm của hôm nay là cái tâm của tất cả sự huân tập những sự vật thật hay giả trong quá khứ tạo thành. Cái tâm đó song hành với chúng sanh từ khởi nguyên cho đến lúc thành Chánh giác. Khi còn chúng sanh thì nó hiện hữu, còn khi thành Phật thì nó liền chuyển mê thành ngộ, chuyển thức thành trí, và lúc này cái tâm ấy không còn hiện hữu mà là một thể thanh tịnh hoàn toàn. Trong cuộc sống chúng ta cũng vậy, bị đoanh vây bởi lưới nghiệp phiền não vô minh nên không lúc nào nhận chân ra được sự thật của vạn pháp để phản quang tự kỷ, dẫu có biết điều đó là sai trái nhưng rồi chúng ta cũng không thể tránh khỏi những sai phạm.

Câu nói của ngài Triệu Châu như một lằn roi đánh thật đau vào tâm thức của tất cả chúng ta. Khiến chúng ta phải giật mình tỉnh mộng rằng, mình đang là người học Phật tu Phật, vậy mình đang sống như thế nào? Sống có thực sự làm trong sáng được cái tâm mình chưa, làm cho Phật tánh ngày càng sanh khởi chưa? Hay là đang còn trong trạng thái mê mờ cố chấp? Nhờ câu nói đó mà chúng ta mới thấy mình có tuệ giác, có khả năng thành Phật mà không lãng quên đi thệ nguyện của mình. Trong kinh, đức Phật dạy: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”. Điều đó một lần nữa khẳng định, mỗi chúng ta đều có một viên minh châu giấu sẵn trong chéo áo nhưng vì mãi u mê làm tên cùng tử lang thang khắp nẻo đường lục đạo mà không thấy rõ mà thôi. Nếu được ai chỉ bày hay hướng dẫn và chúng ta thực tâm tu học thì viên minh châu đó sẽ được trả về cho chủ nhân của nó. Cũng bởi vì “biết mà cố phạm”, biết tham dục, biết sân giận, biết si mê là gốc của khổ đau luân hồi nhưng mà mấy ai chịu chấm dứt được. Thậm chí chúng ta biết rằng, rượu là giới cấm, người tu tập không được uống, nhưng khi đi chung với nhóm bạn bốn người, ba người kia rũ ngồi xuống uống rượu, chúng ta, vì thói thường của thế sự, vì sợ quê, vì tự ái, vì bản ngã mà đã mặc nhiên đi trái lại lời thệ nguyện của chính mình đã tuyên thệ trước Phật tổ. Điều này rõ ràng biết mà vẫn cố phạm. Ngoài ra, có những lãnh vực cũng khó phân biệt được trong phạm vi này, tùy theo từng cấp độ mà thẩm định giá trị có tư cách cá nhân hay phẩm hạnh tròn đầy hay không mà thôi. Đứng ở phương diện thực sự độ sanh của các vị Bồ-tát, tùy phương tiện muốn độ một ai đó hay vì lợi ích chung mà quý ngài đã ứng hiện phạm giới, còn chúng ta không nên bắt chước quý Ngài trong khi công hạnh của mình chưa đầy đủ, hay nói đúng hơn chưa thể nhập được một phần thể tánh viên minh, tự tại vô ngại.

Chúng ta hôm nay may mắn được làm thân người, có đủ trí tuệ, gặp được cơ duyên học hỏi Phật pháp kết thiện duyên với đạo lộ giải thoát đúng là một điều thật sự khó khăn. Vì thế, chúng ta cần phải nỗ lực tiến tu, đừng để một khi mất thân người rồi thì muôn kiếp không thể gặp lại. Trong bài phục nguyện hồi hướng buổi chiều, các Tổ chế ra bài cảnh tỉnh rằng: “Ngày nay đã qua, mạng cũng theo đó mà giảm dần, như cá bị rút nước nào có gì là an vui, vì thế các ngươi hãy siêng năng tinh tấn như cứu lửa cháy đầu, hãy luôn nhớ nghĩ đến cảnh vô thường, cẩn thận không nên buông lung”. Lời cảnh tỉnh chứa đựng một lời răn thống thiết khuyên dạy hàng đệ tử, cảnh tỉnh mọi người đang sống hiện hữu ở đời hãy cố gắng sống sao cho lợi ích đừng luống qua thời gian rồi không biết mình sống chết ra sao?. Một hơi thở ra  mà không thở vào là sang một đời sống khác. Thế nên phải luôn siêng năng tinh tấn không nên biếng trễ, bởi thân người khó gặp, Phật pháp khó nghe nên phải cảnh tỉnh trong từng giây từng phút. Đừng để khi tấm thân này mất đi, hối tiếc nào có lợi ích gì? Chúng ta hãy suy gẫm lời Phật tổ dạy, gần gũi bậc thiện tri thức cùng sách tấn để dìu dắt nhau tiến lên bờ giải thoát.

Giải thoát không dành cho những con người biếng nhác, giải đãi, do đó trong từng sát na tâm niệm, trong từng giây phút hiện tại, chúng ta hãy luôn trân trọng những giây phút sống sao cho tâm được an tịnh, trong sáng, huân tập và sống với chánh tâm chánh niệm, có như vậy thì chúng ta sẽ không xa con đường thể nhập Thánh trí. Còn nếu không thì chúng ta mãi làm kẻ lữ hành lạc loài trên sa mạc không biết đâu là ngõ để quay về. Đức Phật chỉ là bậc Đạo sư làm người hướng dẫn cho chúng ta đi qua sa mạc, đã có người dẫn đường chỉ cần trong mỗi chúng ta hãy nỗ lực để đi hay không mà thôi. Nếu chúng ta cứ chấp chặt và không tin vào lời Đạo sư hướng dẫn thì mãi mãi chúng ta sẽ loanh quanh và chết gầy chết mòn trên sa mạc, còn nghe lời thì chúng ta sẽ vượt thoát ra khỏi sa mạc và đến được nơi an ổn. Vì thế, trong tu tập có những pháp hay, chúng ta hãy chia sẻ cùng dẫn dắt tu tập để cùng nhau vượt qua những chặng đường cam go thử thách, phía trước chắc còn nhiều chông gai đang chờ đợi, mỗi bước đi của chúng ta là mỗi bước đi lượm lặt những chông gai để biến con đường đi của chúng ta trở thành một con đường bằng phẳng trong sạch. Làm được như vậy thì đó chính là lợi ích chung của một vị hành giả đang dần tiến đến Phật đạo. Cảm hóa hữu tình hay vô tình, con đường đó chính là con đường để đi vào đạo lộ Phật tánh của mỗi chúng sanh. Chỉ khi chúng ta thể nhập được Phật tánh thì lúc đó tâm tánh của chúng sanh và ta hoàn toàn không khác, tất cả muôn vật cây cỏ đá hoa… cho đến con người không cái gì không là pháp, là Phật. Vì thế mới gọi là: “Phật pháp bất ly thế gian giác” có nghĩa là Phật pháp không ngoài các pháp thế gian mà giác ngộ. Cũng như ngài Huệ Năng khi nghe pháp ngộ đạo, Ngài thốt lời than rằng: “ai dè tánh mình vốn sẵn thanh tịnh, ai dè tánh mình vốn chẳng sanh diệt, ai dè tánh mình vốn sẳn có đủ, ai dè tánh mình không lay động” để một lần nữa cho biết tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, Phật tánh ấy chính là tự tánh thanh tịnh tâm của mình.

Bụt là vầng trăng sáng
Đi ngang trời thái không
Hồ tâm chúng sanh lặn
Trăng hiện bóng trong ngần.

 

Đâu là nguồn chân hạnh phúc?


Lam Yên
 

Ngay từ khi Thế Tôn còn hiện hữu giữa cuộc đời, những vị Tỳ-kheo đã từng được diện kiến đức Thế Tôn trong những buổi pháp thoại tại tinh xá Kỳ Hoàn, hay tinh xá Trúc Lâm. Hai nơi này là nơi hội tụ Tăng đoàn rất đông và chính nơi đây, Ngài đã khai thị cho khá nhiều những vị Tỳ-kheo xuất gia từ hàng vương giả cho đến giới bình dân. Thế nhưng, không phải mọi người đều lãnh hội chân lý thậm thâm vi diệu trong cùng một thời điểm mà mỗi người lãnh hội tùy theo khả năng nhận thức và suy nghĩ của riêng mình; cũng như một trận mưa xuống cây cỏ đều được hấp thụ. Song tùy theo từng loại thảo mộc mà thấm nhuần có nhiều ít. Suốt cuộc đời hành đạo và hóa đạo, Ngài tùy căn cơ đồ chúng mà giảng dạy, không phải ai cũng tuệ tri tánh tướng của sự vật một cách triệt để mà sự nhận thức có sai biệt theo quan kiến của từng người. Đây là câu chuyện của bốn vị Tỳ-kheo đàm luận trong một buổi chiều êm ả bên cạnh Kỳ Viên tinh xá với nội dung “đâu là nguồn chân hạnh phúc?”.

Bóng tà dương đang xuống dần sau dãy núi Malaya (Hi-mã-lạp-sơn). Gió muôn phương thổi lại, mang hương hoa về ướp thơm cảnh vật nơi tinh xá Kỳ Hoàn vào một chiều xuân. Cỏ cây làng mạc đượm vẻ thái bình, thanh tĩnh trong buổi hoàng hôn ấy.

Giữa thiên nhiên êm đềm, vừa ẩn vẻ hùng tráng, bốn vị Sa-môn cùng ngồi bàn luận dưới gốc cây cổ thụ trong tinh xá. Mỗi người đều có cảm giác rất riêng trong không gian thanh vắng như thế. Bỗng một vị lên tiếng bảo: “Này, các đạo huynh! Chúng ta hãy nghiệm xem trong đời có điều chi đáng yêu và thích thú nhất?”. Nghe vị ấy nói, cả ba đều tỏ vẻ tán thành nói tiếp: “Hay lắm, chúng ta mỗi người nên suy nghĩ, rồi đưa ra quan niệm của mình để giải đáp xem ai đưa ra điều thích thú có lý nhất?”

Sau một hồi suy nghĩ, hình dung trong tâm tưởng, vị thứ nhất lên tiếng: “Theo tôi, vào tiết trong xuân, cỏ cây khoe sắc, muôn hoa hàm tiếu, chim hót líu lo, cảnh sắc như thắm đượm sự hiền hòa, phong cảnh thật là đẹp! Trong lúc ấy, ví ta được thả chiếc thuyền nhẹ theo dòng nước, hay mang bầu rượu đến sườn non thưởng ngoạn cảnh vật của đất trời, chắc trong đời không chi thích thú bằng!”

Vị thứ hai đáp: “Theo ý tôi, cảnh gia đình sum họp sau bao năm xa cách vẫn là vui nhất. Thế nhưng, cảnh sum họp ấy nếu có thêm vào đấy những sơn hào hải vị cùng rượu quý bên cạnh những điệu nhạc khoan nhặt, tiết tấu êm tai, với bao kĩ nữ tuyệt sắc cận kề, thì tôi thiết tưởng hạnh phúc trong đời chỉ trong ngần ấy!”

Vị thứ ba nói: “Tôi nghĩ, nếu ta được sanh ra trong dòng tôn quí giàu sang, ở cung vàng điện ngọc, châu báu đầy kho, ta muốn tận hưởng điều chi tùy thích. Khi ra đi, có xe ngựa, tôi tớ nâng chân sửa áo phục tùng. Về đến nhà, ta gọi đến l