Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


   

 

 

Tập san Pháp Luân

No.16

Số 3 - Phật Lịch 2549

 

Mục Lục 

 

Đạo lý Nhân quả. Thích Quảng Trí

Chiếc áo cà-sa. Thích Đồng Trí

Trạng thái nhập thai, trụ thai và xuất thai của bậc Thánh (tt). Nguyên Liên

So sánh về cuộc đời và tính cách của hai bậc Vĩ nhân: Đức Đạt-lai-lạt-ma và Albert Einstein. Biển Xanh

Dòng Thiền học Trúc Lâm - giai đoạn sau đời Trần 1400+. Tâm Phương

Kiến trúc Phật giáo qua các thời kỳ (tt). Trần Lan Chi         

Hiện tại an lành. Chân Hữu

Ẩn sĩ lừa dối . Quang Sơn

Dòng sông không tên. Phước Tâm

Ngày ấy bây giờ. Huỳnh Sa

Tám cái biết. Tâm Minh

Bangkok, Thailand: Tìm thấy ngôi cổ tự nằm dưới mặt đất gần tu viện Samphantawong. Mai Vàng

Tây Tạng: Những chìa khóa mở cửa ngõ giải thích tham thiền trau dồi tâm linh như thế nào.. Thúc Đạt 

Thơ: Huỳnh Khải Thiên,  Ngàn Thương, Liên Thao, Thích Đức Thắng, Ninh Giang Thu Cúc, Vĩnh Thi, Mặc Không Tử.

 

 ---o0o--- 

Không gì ích lợi cho sức khỏe của con người để có cơ hội sống lâu trên quả địa cầu này bằng cách ăn chay.

Albert Einstein

 

Đức Thế tôn dạy các Tỳ-kheo:

“Có ba người, xứng đáng được người đời cúng dường. Ba người ấy là ai? Như lai Chí chơn Đẳng chánh giác, xứng đáng được người đời cúng dường. Đệ tử của đức Như lai, A-la-hán lậu tận, xứng đáng được người đời cúng dường. Chuyển Luân Thánh Vương, xứng đáng được người đời cúng dường.

“Có nhân duyên gì mà Như lai xứng đáng được người đời cúng dường? Như lai điều phục những ai chưa được điều phục, hàng phục những ai chưa được hàng phục, độ những ai chưa được độ, giải thoát những ai chưa được giải thoát, khiến thành Niết-bàn những ai chưa bát-niết-bàn, cứu hộ những ai chưa được cứu hộ, làm con mắt cho những ai mù mắt. Như lai là tối tôn đệ nhất, là ruộng phước tối tôn, đáng kính, đáng quý giữa Ma, hoặc Ma thiên, trời và người, làm đạo sư hướng dẫn loài người biết con đường chánh, thuyết đạo giáo cho những ai chưa biết đạo. Do nhân duyên này, Như lai là xứng đáng được người đời cúng dường.

“Có nhân duyên gì mà đệ tử của Như lai, A-la-hán lậu tận, xứng đáng được người đời cúng dường? Tỳ-kheo nên biết, A-la-hán lậu tận đã vượt qua được dòng sanh tử, không còn tái sinh, đã đắc pháp vô thượng; dâm, nộ, si vĩnh viễn diệt tận không còn, là ruộng phước của đời. Do nhân duyên này, A-la-hán lậu tận xứng đáng được người đời cúng dường.

“Lại nữa, do nhân duyên gì mà Chuyển Luân Thánh Vương xứng đáng được người đời cúng dường? Các Tỳ-kheo nên biết, Chuyển Luân Thánh Vương dùng pháp để trị hóa, trọn không sát sanh, lại dạy dỗ người khiến không sát sanh; tự mình không trộm cắp và cũng dạy người khác không trộm cắp; tự mình không dâm dật và dạy người khác không dâm dật; tự mình không nói vọng ngữ và dạy người khác không vọng ngữ; tự mình không nói hai lưỡi đấu loạn kia-đây, lại cũng dạy người khác khiến không nói hai lưỡi; tự mình không ganh ghét, sân, si, lại dạy người khác cũng không tập pháp này; tự hành theo chánh kiến và dạy người khác không hành theo tà kiến. Do nhân duyên này, Chuyển Luân Thánh Vương xứng đáng được người đời cúng dường.”
 


 

ĐẠO LÝ  NHÂN QUẢ  ^

 

Hêraclite, một triết gia Hy Lạp cổ đại đã bảo rằng: “Không ai có thể tắm hai lần trong một dòng sông”. Điều này nói lên rằng, tất cả các sự vật, hiện tượng từ vật chất đến tinh thần trong kiếp sống nhân sinh, vũ trụ này luôn vận hành không ngừng. Sự vận hành ấy không phải diễn ra một cách ngẫu nhiên, cũng không phải do một đấng siêu nhiên nào làm chủ guồng máy. Sự vận động ấy được diễn ra theo một định luật, một nguyên lý hoàn toàn khách quan và công bằng, đó là định luật nhân quả. Vậy, nhân quả là gì?

Theo quan điểm của đạo Phật, nhân là năng lực phát động, quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân và quả là hai trạng thái tiếp nối nhau, tương quan mật thiết với nhau, nương vào nhau mà có. Nếu không có nhân thì không có quả, không có quả thì cũng không có nhân. Để tạo được kết quả thì thường do nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân chính và nguyên nhân phụ, nguyên nhân chính gọi là nhân còn nguyên nhân phụ gọi là duyên. Vì thế, nhân quả nói một cách đầy đủ là Nhân - Duyên - Quả.

Như vậy, nhân quả là một định luật khách quan chi phối đến tất cả các lĩnh vực trong hiện tượng giới.

1. Các đặc tính của nhân quả

Theo đạo Phật, định luật Nhân Quả có những đặc tính sau:

Nhân quả có cùng chủng loại: Nhân và quả thường có chung một chủng loại, không có sự lẫn lộn chủng loại với nhau. Hay nói cách khác, nhân nào thì sinh ra quả nấy. Con gà thì chỉ sinh ra trứng gà chứ nó không thể sinh ra trứng vịt được, cây cam thì sinh ra quả cam chứ không thể sinh ra quả mít hay quả đu đủ được,... Nhân với quả bao giờ cũng có chung một chủng loại với nhau, nhân thay đổi thì quả cũng thay đổi.

Một nhân không thể sinh ra quả: Tất cả các sự vật trong vũ trụ này đều là sự tổ hợp của nhiều yếu tố mà thành. Vì thế, một nhân không thể sinh ra quả, hay một quả không chỉ có một nhân tạo nên. Để có thể tạo nên kết quả thì cần phải có nhiều nguyên nhân tham gia, trong đó có nguyên nhân chính gọi là Nhân và các nguyên nhân phụ gọi là Duyên. Cho nên, luật nhân quả nói một cách đầy đủ là Nhân - Duyên - Quả. Nói rằng, hạt lúa sinh ra cây lúa, đây là cách nói giản đơn. Thực ra, hạt lúa chỉ là nguyên nhân chính để sinh ra cây lúa. Nếu hạt lúa ấy không được ủ, không được đem gieo trên đất ẩm, không có nước, không được sự chăm sóc của con người, không có ánh nắng mặt trời,... thì hạt lúa ấy khó có thể phát triển thành cây lúa. Các yếu tố đất, nước, nhiệt độ, độ ẩm, sự chăm sóc của con người,... là các duyên cần thiết để hạt lúa phát triển thành cây lúa.

Bởi vì giữa nhân và quả còn có các duyên tham gia, nên quả tuy cùng loại với nhân nhưng vẫn khác với nhân, tùy thuộc vào sự can thiệp mạnh hay yếu, thuận hay nghịch của các duyên đối với nhân mà quả có thể hình thành sớm hay muộn, hoặc có thể là không thể nào kết thành quả. Khi quả đã kết thành rồi thì việc đón nhận nó là tùy thuộc vào điều kiện tâm lý của người đón nhận. Có thể cùng một kết quả nhưng ở mỗi người thì có mỗi sự cảm nhận khác nhau, chẳng hạn: cùng bị giam trong tù nhưng người A thì cảm thấy vô cùng túng quẩn, nhưng với người B, tuy có hơi không được tự do, anh ta vẫn cảm thấy không đến nỗi quá tuyệt vọng vì đấy là cơ hội tốt để anh ta có thể suy ngẫm về cuộc sống của mình, là điều kiện để anh ta có thể tiếp xúc những con người không bình thường trong xã hội để có thể hiểu hơn về họ, cảm thông và chia sẻ với họ,... cũng như một nắm muối, nếu bỏ vào trong một chậu nước thì độ mặn của nước đó sẽ cao hơn khi ta bỏ nắm muối vào trong một hồ nước.

Trong nhân có quả và trong quả có nhân: Nói đến nhân quả là nói đến sự tương quan, sự tương quan này là mối tương quan vòng tròn (hay xoắn ốc), có nghĩa là trong nhân có quả và trong quả có nhân. Chính trong nhân hiện tại đã hàm chứa quả vị lai, và chính trong quả hiện tại đã ẩn chứa hình dáng của nhân quá khứ. Một sự vật mà ta gọi là nhân, là khi nó chưa biến thành cái quả mà ta quan niệm; một sự vật mà ta gọi là quả khi nó đã biến thành trạng thái mà ta quan niệm. Một vật đều có nhân và quả: đối với quá khứ thì nó là quả, nhưng đối với tương lai thì nó là nhân. Nhân và quả đắp đổi cho nhau, tiếp nối nhau không bao giờ dứt. Nhờ sự liên tục ấy mà trong một hoàn cảnh nhất định, người ta có thể đoán biết được tương lai của một sự vật hay của một người. Cũng chính điều này mà con người ta có thể hoạch định kế hoạch cho tương lai của mình, chuẩn bị trước những gì cần thiết cho ngày mai.

2. Phân loại nhân quả

Tùy thuộc vào các tiêu chí để phân loại mà có thể phân nhân quả thành nhiều loại khác nhau. Có hai cách phân loại nhân quả phổ biến như sau:

a. Cách phân loại thứ nhất: Căn cứ vào thời gian, người ta đã phân nhân quả thành các loại là:

- Nhân quả đồng thời: Là loại nhân quả mà từ nhân đi đến quả rất nhanh. Ví dụ: ăn thì liền no, uống nước thì hết khát, nóng giận thì liền sinh buồn phiền,...

- Nhân quả khác thời: Là loại nhân quả mà từ nhân đi đến quả có một khoảng thời gian nhất định. Và khoảng thời gian đó được chia thành ba loại như sau:

+ Hiện báo: Có nghĩa là từ nguyên nhân tạo ra trong đời này thì đưa đến kết quả ngay trong đời này. Ví dụ: Tuổi nhỏ chăm lo học tập, rèn luyện nhân cách nên khi lớn được thành đạt.

+ Sinh báo: Nghĩa là tạo nhân trong đời này nhưng đến đời sau mới nhận quả báo. Như trong kinh đức Phật thường dạy, đời này bỏn xẻn thì đời sau gặp cảnh nghèo khó, đời này hay mắng nhiếc người khác thì đời sau sẽ bị người khác làm nhục,...

+ Hậu báo: Nghĩa là tạo nhân trong đời này nhưng đến nhiều đời sau mới nhận quả báo.

Quan niệm ba đời nhân quả này giúp chúng ta có thể hiểu được phần nào sự sai biệt giữa người này và người khác trong xã hội. Tại sao có người sinh ra thì được sống trong giàu sang, phú quý nhưng cũng có người vừa sinh ra thì phải chịu cảnh nghèo cùng, khốn khổ? Tại sao có người làm lành mà lại bất hạnh, có người làm ác mà lại được may mắn?

Tuy nhiên cách phân loại trên đây vẫn chưa đủ khả năng để gói gọn mọi trường hợp nhân quả. Có trường hợp do yếu tố tâm lý và vật lý tác động mạnh vào quá trình biểu hiện của kết quả nên khiến kết quả không hình thành hoặc hình thành nhưng dưới một tính chất khác xa so với nguyên nhân tạo ra nó. Cho nên mới có cách phân loại thứ hai.

­b. Cách phân loại thứ hai: Cách phân loại thứ hai này nói lên sự biểu hiện của kết quả thông qua thái độ tiếp nhận nó, và sự biểu hiện của kết quả ở hai lĩnh vực: thế giới sinh, vật lý và cảnh giới tâm lý. Nhân quả biểu hiện ở mặt sinh, vật lý gọi là nhân quả ngoại giới, nhân quả biểu hiện ở mặt tâm lý gọi là nhân quả nội tâm.

Trong đời sống thực tế chúng ta thường nghe nói: “Nhà giàu đứt tay, ăn mày đổ ruột”. Đối với cái đứt tay nhè nhẹ của người giàu sang, họ cảm thấy đau đớn vô cùng, và sự đau đớn do đứt tay của người giàu ví bằng sự đau đớn khi kẻ ăn mày bị đổ ruột, còn với người ăn mày, đứt tay chẳng là gì cả. Như vậy là, cùng một kết quả như nhau nhưng do có thái độ tâm lý khác nhau nên sự cảm nhận về kết quả đó cũng không giống nhau.

3. Sự vận hành của nhân quả trong thực tế

Như các phần trên đã nói, nhân quả chi phối tất cả các hiện tượng giới trong vũ trụ, không có một sự vật, hiện tượng nào từ thực vật đến động vật, vật chất hay tinh thần nào mà có thể thoát ra ngoài sự vận hành của luật nhân quả.

Nhân quả biểu hiện cả trong những vật vô tri vô giác, nước bị lửa đốt thì nóng, bị lạnh thì đóng băng,... Trong các loài thực vật, luật nhân quả cũng tác động đến, giống ngọt thì sinh ra quả ngọt, giống chua thì sinh ra quả có vị chua, giống đắng thì sinh ra quả có vị đắng,... giống nào thì sinh ra quả ấy. Cho đến các loài động vật cũng chịu sự chi phối của luật nhân quả, loài chim sinh ra trứng, nếu ta gọi trứng là nhân thì khi trứng nở ra thành con non, con non đó là quả của trứng, đến khi con chim non ấy trưởng thành và nó là nhân để sinh ra quả trứng,...

Luật nhân quả chi phối đến cả con người. Ở đây chia làm hai phương diện vật chất và tinh thần để phân tích.

a. Nhân quả trong phương diện vật chất: Hình hài của người con là do bẩm thụ khí

huyết của cha mẹ, do hoàn cảnh nuôi dưỡng, giáo dục. Vậy cha mẹ và hoàn cảnh là nhân, người con trưởng thành là quả, và cứ tiếp nối như vậy mãi, nhân sanh quả, quả trở lại làm nhân rồi sinh ra quả khác không bao giờ dứt.

b. Nhân quả trong phương diện tinh thần: Những tư tưởng và hành vi của bản thân đã tạo trong quá khứ sẽ tác động đến một mức độ nhất định đến nếp sống tinh thần trong hiện tại. Tính tình và nếp sống ngày nay làm nhân để tạo ra những tư tưởng và hành động trong tương lai.

Phương diện tinh thần hay phương diện nội tâm này là một vấn đề quan trọng và cũng từ vấn đề này thường nảy sinh những hoài nghi, thắc mắc cho nhiều người.

- Trước hết chúng ta phân tích nhân quả của tư tưởng và hành vi không tốt: Những hành vi và tư tưởng không tốt, không lành mạnh thường đem đến những kết quả không tốt cho người tạo ra nó.

Tham lam: Thấy tiền bạc của người khác mà sanh lòng tham lam, muốn chiếm đoạt làm của riêng mình, dẫn đến hành vi trộm cắp hoặc giết người cướp của là nhân; bị chủ đánh đập hoặc chém giết, phải mang tật bệnh, hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị bắt giam, bị tra tấn đau khổ là quả.

Sân hận: Người quá nóng giận hay đánh đập vợ con, phá hại nhà cửa, chém giết người khác không ghê tay là nhân; khi hết giận, đau đớn khi nhìn thấy vợ con tàn tật, bệnh hoạn, nhà cửa tiêu tan, bị pháp luật trừng trị, phải chịu nhiều điều khổ cực là quả.

Si mê: Người mê đắm trong sắc dục không biết chán chường, không biết dừng lại, không biết kiềm chế bản thân, bất chấp cả luân thường đạo lý là nhân; làm cho thân thể suy nhược, bệnh tật liên miên, vợ chồng bất hòa, con cái bơ vơ không nơi nương tựa, bà con thân thích ghét bỏ, xóm làng chê cười,... là những khổ quả mà họ phải gánh chịu.

Kiêu mạn: Tự cho mình là hơn cả, khinh chê người khác, chà đạp nhân phẩm của mọi người, tỏ thái độ hách dịch là nhân; bị người xa lánh, ghét bỏ, sống một cuộc sống cô độc, lẻ loi là quả.

Dối trá: Người hay dối trá, lừa gạt người khác thì kết quả là không được mọi người tin tưởng, nói ra điều gì cũng không được sự tán thành của người khác, mọi người luôn đề cao cảnh giác đối với họ và xa lánh họ.

Say mê cờ bạc: Thấy tiền bạc của người khác muốn hốt về cho mình, đắm đuối quanh năm suốt tháng theo các trò may rủi, theo cờ bạc là nhân; đến lúc của hết, nhà tan, nợ nần vây kéo, con cái hư hỏng, thiếu trước hụt sau là quả.

Nghiện rượu trà, các chất kích thích: Chung nhau tiền bạc, ăn nhậu cho thỏa thích, hoặc mua vui, tìm nguồn cảm hứng trong các chất kích thích như: thuốc phiện, ma túy, hồng phiến,... để đến nỗi sa vào nghiện ngập là nhân; kết quả của những việc làm ấy là tan gia bại sản, ẩu đả chém giết lẫn nhau, làm các việc mất hết nhân tính, thân thể suy nhược trầm trọng, lâm vào vòng tù tội.

- Nhân quả của tư tưởng và hành vi tốt

Như trên chúng ta đã thấy, những tư tưởng và hành vi không tốt đem đến cho con người những kết quả đen tối, nhục nhã, xấu xa. Ngược lại, những tư tưởng và hành vi tốt đẹp sẽ tạo ra cho con người những kết quả xán lạn, vinh quang và an vui, hạnh phúc.

Người không có tính tham lam, bỏn xẻn thì tất sẽ không bị tiền của trói buộc, luôn được thảnh thơi. Người ít nóng giận, tất sẽ được sống trong cảnh thuận hòa, gia đình êm ấm. Người không mê đắm theo sắc dục thì sẽ được mọi người kính nể, vợ con quí chuộng, thân thể khỏe mạnh,... Người không nghiện ngập, không say mê cờ bạc thì gia đình được hạnh phúc, không đến nỗi phải túng thiếu, không trở thành người bất nhân, bất nghĩa.

Hằng ngày, chung quanh chúng ta những cảnh tượng nhân và quả ấy diễn ra không phải là ít. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong cuộc sống đời thường, đâu đâu cũng nhan nhản những biểu hiện về kết quả của những nhân bất thiện. Thế nhưng, tình trạng ấy không có sự giảm sút, ngược lại, chúng đang có chiều hướng ngày càng gia tăng và phức tạp hơn. Họ cứ nghĩ rằng, họ luồn lách khỏi sự kiểm soát của pháp luật, che được mắt người khác là coi như không có gì xảy ra. Họ không biết rằng, luật nhân quả không bỏ sót một chi tiết nhỏ nào cả dù cho người đó là ai. Dân gian ta cũng thường nói: “Lưới trời lồng lộng tuy thưa mà chẳng lọt”. Những gì họ đã gây ra thì sẽ có một ngày họ sẽ phải gánh chịu tất cả. Và ngay trong hiện tại, tòa án lương tâm cũng đang hành phạt họ mỗi khi họ làm những điều bất chính.

4. Nghiệp

Trong vấn đề nhân quả của con người, có một vấn đề khác được đặt ra, đó là nghiệp, đây là nói về tính chất thiện ác trong nhân quả. Trong lĩnh vực này thì luật nhân quả được gọi là nghiệp báo (nghiệp nhân và quả báo). Vậy, nghiệp là gì? Nghiệp là sức mạnh do những hành động, lời nói mà cá nhân tạo ra khi có sự tham gia của ý thức. Những hành động, lời nói mà không có sự tham gia của ý thức thì không gọi là nghiệp. Sức mạnh ấy khi đã được tạo ra rồi thì nó trở thành động lực tác động trở lại chủ nhân của nó, cho nên thường gọi là nghiệp lực. Ý thức đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó quyết định tính chất của nghiệp. Trong kinh Pháp cú, đức Phật có dạy: “Chư pháp ý tiên đạo, ý chủ, ý tạo tác, nhược dĩ nhiễm ô ý, hoặc ngôn hoặc hành nghiệp, thị tắc khổ tùy bỉ, như luân tùy thú túc” (Ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ, ý tạo tác. Nếu nói năng và hành động với ý nhiễm ô thì sự khổ não sẽ theo ta như bánh xe lăn theo chân con vật kéo). Và “Chư pháp ý tiên đạo, ý chủ, ý tạo tác, nhược dĩ thanh tịnh ý, hoặc ngữ hoặc hành nghiệp, thị tắc lạc tùy bỉ, như ảnh bất ly hình.” (Ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ, ý tạo tác. Nếu nói năng và hành động với ý thanh tịnh thì sự an lạc sẽ theo ta như bóng không rời hình). Chính vì ý quyết định tính chất của nghiệp, nên nhiều khi cùng một hành động như nhau nhưng kết quả lại khác nhau vì ở mỗi người có sự phát khởi ý nghĩ không giống nhau. Chẳng hạn, cùng đem tài vật cho người khác, nhưng một người thì đem cho với lòng mưu cầu danh lợi, còn một người thì đem cho với lòng thương tưởng đến nỗi khổ của người được cho, muốn cho họ bớt khổ đau, chính vì thế nên kết quả đến với hai người không giống nhau.

Nghiệp do ta tạo ra, ta là chủ nhân của nghiệp và chính ta phải lãnh phần trách nhiệm về những nghiệp nhân mà ta đã tạo ra và nhận lấy những quả báo an vui hay đau khổ trong hiện tại. Chính ta tạo thiên đường cho ta và cũng chính ta tạo địa ngục cho ta chứ không ai khác. Con người hoàn toàn tự chủ, con người nắm quyền quyết định trong việc tạo lập cuộc sống hiện tại cũng như trong việc xây dựng tương lai của mình. Điều này thể hiện tính nhân bản của đạo Phật.

Nói như thế không có nghĩa là nghiệp đã tạo ra là hoàn toàn không thể nào thay đổi được. Như ở trước đã nói, giữa nhân và quả còn có yếu tố duyên xen vào nữa. Ở đây cũng vậy, tùy những gì chúng ta tạo ra trong hiện tại mà những nghiệp nhân trong quá khứ có thể thay đổi tính chất về quả báo của nó từ xấu trở nên tốt, nặng thành nhẹ, hoặc là tốt trở thành không tốt, hoặc là quả báo đến chậm hơn hay nhanh hơn... Nghiệp đã tạo ra

vẫn có khả năng chuyển nghiệp chứ không phải là bất di bất dịch.

Hơn nữa, nghiệp không phải tác động một cách riêng lẽ mà có sự pha lẫn giữa thiện nghiệp và ác nghiệp dẫn đến thiện quả và ác quả cũng có sự pha trộn lẫn nhau. Điều này được thể hiện rõ trong đời sống của con người, đời sống của con người không phải chỉ thuần khổ, thuần vui, hoặc thuần không khổ không vui, mà cuộc sống của con người luôn có buồn vui lẫn lộn. Và tất cả những gì đang diễn ra với con người trong hiện tại không phải là hoàn toàn do nghiệp nhân trong quá khứ mà còn do những nghiệp nhân mà con người đã tạo ra trong kiếp sống hiện tại nữa, nghiệp nhân trong quá khứ chỉ tác động ở một phạm vi nhất định mà thôi. Nghiệp là do ta tạo ra và ta vẫn có thể biến chuyển tính chất của nghiệp đã tạo ra trong quá khứ bằng chính đời sống hiện tại của ta. Đây là mấu chốt của giáo lý nhân quả trong đạo Phật để con người có thể đi tìm hạnh phúc và an vui, để con người có thể tu tập, hoàn thiện bản thân mình.

Từ đó cho chúng ta thấy rằng, luật nghiệp nhân - quả báo trong đạo Phật khác xa thuyết định mệnh hay thuyết về đấng tạo hóa chứ không giống nhau như một vài người lầm tưởng. Theo thuyết định mệnh hay thuyết về đấng tạo hóa thì con người hoàn toàn thụ động, hoàn toàn không có tự do để có thể cải thiện đời sống của mình, không còn tự do để suy nghĩ hay hành động nữa, tất cả đã được định sẵn rồi, đã được an bài rồi, có cố gắng cũng chỉ vô ích mà thôi, không thể nào thay đổi được.

Hơn nữa, đạo Phật không cho rằng, tất cả đều do nơi nhân quả, nhân quả không phải là nguyên do duy nhất tạo nên sự khác biệt, chênh lệch, vận hành của hiện tượng giới. Nhân quả chỉ là một trong năm định luật tham gia vào lịch trình vận hành của hiện tượng. Năm định luật đó là:

Thứ nhất là định luật liên quan đến sự tiến triển của vật lý thuộc loại không cơ thể như hiện tượng thay đổi thời tiết, khí hậu, mưa gió,...

Thứ hai là định luật liên quan đến sự tiến triển của sinh, vật lý thuộc loại hữu cơ. Hiện tượng âm dương hòa hợp, thụ phấn, thụ thai, di truyền, sinh trưởng,... đều do qui luật này chi phối.

Thứ ba là luật nhân quả, tức là sự tiến triển từ nguyên nhân đến kết quả. Đã tạo ra nghiệp nhân và các duyên thì tất yếu là sẽ có nghiệp quả tương xứng.

Thứ tư là định luật của hiện tượng giới, như lực vạn vật hấp dẫn, lực hút của trái đất,... và những định luật khác trong vũ trụ đều thuộc vào loại này.

Thứ năm là định luật tâm lý như lịch diễn tiến của tâm thức, những yếu tố cấu tạo nên tâm thức, những năng lực của tâm như thần giao cách cảm, trực giác, thôi miên, năng lực tiên tri, và những hiện tượng tương tự mà khoa học hiện đại chưa giải thích được.

Năm định luật này chi phối sự vận hành của vật chất cũng như tinh thần.

Có người lại cho rằng, thuyết nhân quả trong đạo Phật là một loại nha phiến để xoa dịu và ru ngủ người xấu số bằng những luận điệu như sau: “Bây giờ anh phải chịu nghèo hèn vì anh đã tạo nghiệp xấu trong quá khứ, anh hãy cam tâm chịu lấy số phận của mình và cố gắng tạo nghiệp tốt để được hạnh phúc trong đời sau”. Đức Phật không hề dạy như thế. Thuyết nhân quả trong đạo Phật không bao giờ chấp nhận một cuộc phán xử sau kiếp sống, không hứa hẹn hạnh phúc hão huyền trong tương lai. Theo luật nhân quả, chúng ta không nhất định bị trói buộc trong một hoàn cảnh nào cả, chúng ta luôn có khả năng chuyển nghiệp và loại bỏ những nghiệp nhân đã tạo ra bằng chính hành động, lời nói và ý nghĩ của bản thân ngay trong đời sống hiện tại.

5. Ý nghĩa của đạo lý nhân quả

Đạo lý nhân quả là một nội dung giáo lý thuộc vào lĩnh vực luân lý, đạo đức trong hệ thống giáo lý của đạo Phật, giáo lý này có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống của cá nhân và xã hội.

Trước hết, đạo lý nhân quả cho chúng ta thấy được thực trạng của sự vật, hiện tượng không có gì là mơ hồ, bí hiểm. Nó vén lên tất cả những bức màn đen tối, phỉnh phờ của mê tín, dị đoan đang bao trùm lên cuộc sống. Nó cũng phủ nhận luôn cái thuyết chủ trương vạn vật do một đấng siêu nhiên sinh ra và có quyền thưởng phạt muôn loài. Do đó, người hiểu đúng luật nhân quả sẽ không đặt sai lòng tin của mình, không cầu xin một cách vô ích, không ỷ lại nơi thần quyền, không lo sợ, hoang mang, cũng không đổ lỗi, không trốn tránh.

Luật nhân quả nghiêm chỉnh đặt ra vấn đề trách nhiệm cá nhân của con người, bởi con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ nhận lãnh những nghiệp quả do chính mình tạo ra, chứ không ai khác. Cũng vậy, không có trách nhiệm cá nhân thì luật pháp xã hội cũng không được thành lập, hoặc giả có được thành lập thì cũng không có cơ sở để thi hành. Xã hội không có pháp luật thì xã hội sẽ bị đại loạn! Ở lãnh vực đạo đức, con người được đánh giá là con người trưởng thành khi con người đó có trách nhiệm cao đối với tự thân và xã hội. Như vậy, giáo lý nhân quả vừa nâng cao ý thức trách nhiệm nơi mỗi người, vừa chỉ rõ con đường đau khổ để con người tránh xa, khích lệ con người biết sống thiện, tránh xa lối sống không lành mạnh, vô bổ. Chính ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với đời sống tâm thức của mình làm cho con người tự nguyện lánh xa mọi điều xấu xa, chứ không phải vì sợ hình phạt, sợ chỉ trích, hoặc vì khen chê,... Con người mưu mô có thể trốn tránh hoặc qua mặt được lưới pháp luật, và đánh lừa dư luận nhưng không thể chạy trốn lương tâm và nghiệp quả được.

Đạo lý nhân quả còn đem lại cho con người lòng tin tưởng vào chính mình. Khi biết cuộc sống của mình là do chính mình tạo ra, mình là người thợ tự xây dựng đời mình, mình là kẻ sáng tạo thì con người trở nên tự tin ở chính mình hơn. Lòng tự tin ấy là một sức mạnh vô cùng quý báu, làm cho con người dám hành động, dám hy sinh, sẵn sàng tiếp nhận tất cả và hăng hái làm điều tốt.

Đạo lý nhân quả còn làm cho con người ta không bị chán nản, không trách móc. Người hay chán nản, trách móc là người không tin tưởng vào chính mình, có thói quen ỷ lại vào người khác, luôn luôn hướng ngoại. Ngược lại, người hiểu và tin nhân quả sẽ luôn phấn đấu vươn lên, không chịu khuất phục trước nghịch cảnh.

Không những thế, đạo lý nhân quả còn giúp con người biết hoạch định tương lai cho mình, chuẩn bị những gì cần thiết cho cuộc sống ngày mai. Và khi làm việc gì con người đều nghĩ đến hậu quả của nó, do vậy mà họ không dám làm càn, không dám làm ẩu.

Đạo lý nhân quả nâng cao ý thức trách nhiệm nơi mỗi cá nhân, dạy con người biết sống thiện, sống hữu ích, tích cực vươn lên trong cuộc sống. Cho nên, nếu hiểu và tin nhân quả thì con người sẽ tự giác thực hiện pháp luật của nhà nước, chấp hành nghiêm chỉnh những chuẩn mực đạo đức trong xã hội, thực hiện tốt các nội quy mà tập thể đặt ra, hoàn thành tốt nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, sống một đời sống đạo đức. Nhờ vậy mà trật tự xã hội được giữ vững, các giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống được giữ gìn và phát huy, đời sống của xã hội ngày được nâng cao, gia đình được hạnh phúc, ấm no.

 

 

Chiếc Áo Cà-sa ^

 

 Thích Đồng Trí

 

LTS. Thầy Đồng Trí là đệ tử của Cố Hòa thượng Thích Đồng Thiện, Vị Đệ Nhất Trụ Trì Tu Viện Nguyên Thiều – Bình Định, nguyên là tăng sinh khóa III của Học Viện Vạn Hạnh. Thầy đã du học Ấn độ hơn 7 năm (1997 – 2004) và đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Phật học năm 2003. Đến năm 2004 Thầy được học bổng du học tại Hòa Kỳ. Thầy đang ở tại Chùa Lục Hòa, Boston, Massachusetts. Do vì Chùa cách trường Hạ quá xa mà Phật sự nơi đây lại nhiều, nên Thầy không được dự khóa an cư hàng năm, cũng không tùng Hạ, và ngay cả Bố-tát vào nửa tháng cũng không đi được, chỉ biết “tâm niệm” mà thôi!

Mùa An cư năm nay (PL.2549), Thầy nhìn chiếc y vàng, nhớ về quê hương, về Thầy Tổ… trầm tư về nguồn gốc, cách thức may và ý nghĩa mặc chiếc y… đã cảm xúc viết lên bài Tăng sĩ và chiếc áo Cà-sa để nhắc mình phải giữ bổn phận tu học không chỉ trong mùa An cư này mà cả cuộc đời xuất gia.

Vì dòng cảm xúc tuôn tràn, nên bài viết “Tăng sĩ và chiếc áo cà-sa” khá dài, không thể đăng hết trong khuôn khổ của Tập san có giới hạn. Vì vậy, BBT chỉ xin trích phần bài viết nói về ý nghĩa của Tăng phục giới thiệu đến độc giả. Đồng thời, chúng ta hãy chia sẻ cùng tác giả đang ở trong hoàn cảnh “nhất tăng nhất tự” tại đất khách quê người.  

Nay đang mùa An Cư Kiết Hạ, mùa mà chư Tăng Ni thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức và kinh nghiệm nơi giới trường Tu Viện Nguyên Thiều và những giới trường miền Trung tôi đã thấy thì trong mùa hạ chư Tăng Ni chuyên lo hành trì miên mật, tụng kinh bái sám liên tục đến nỗi “y áo không kịp khô”. Đây cũng là mùa để cho cư sĩ Phật tử có nhiều cơ duyên thân cận học hỏi, cúng dường chư Tăng và gieo nhiều giống lành cho ruộng phước điền. Trong phẩm vật cúng dường cư sĩ dâng cúng chư Tăng trong giờ Quá Đường thường có kèm theo những xấp vải vàng để chư Tăng may y áo. Vậy Y áo Cà sa có nguồn gốc và liên hệ với đời sống tu học và hành Đạo của người Tăng sĩ như thế nào? Nhân dịp này, chúng ta hãy thử tìm hiểu Ý Nghĩa Y Phục của Tăng sĩ phật Giáo.

Cách đây hơn 2600 năm, Thái Tử Tất- đạt-đa nửa đêm lặng lẽ giã từ cha già, mẹ yếu, vợ đẹp, con xinh, kinh thành Ca-tỳ-la-vệ và thần dân trăm họ để xuất gia tầm Đạo. Sau khi vượt khỏi dòng sông Anoma rì rào sóng vỗ, Thái Tử tự cắt bỏ râu tóc và mặc y phục sa-môn. Đó là chiếc Cà-sa đầu tiên trong Phật Giáo. Bồ-tát Tất- đạt-đa trong giai đoạn xuất gia tu tập đã lượm vải bô chằm vá để tạo thành áo Cà-sa mặc che nắng che mưa:

Áo đã mặc nhiều năm rách rã

Lượm vải bố chằm, vá, khiếu, khâu

Khẽ khầm từng miếng kế đâu

Thành Y bá nạp ngõ hầu che thân.(1)

Chiếc cà-sa đó đánh dấu một sự thoát ly vĩ đại: Một Thái Tử tột bực cao sang có tất cả lại giã từ tất cả để đi tìm chơn lý. Đó là một sự thoát xác tận gốc rễ làm lay chuyển ý thức phân biệt giai cấp nặng nề của Ấn Độ - Một Thái Tử đã cởi bỏ hoàng bào của giai cấp Sát-đế-lợi khoác lên mình một mảnh Cà-sa không giai cấp. Rồi từ đó, chiếc Cà-sa ấy gắn liền với đời sống tu học của Bồ-tát trong 6 năm, chịu đựng bao nhiêu cào xước bởi gai góc của núi rừng khe lạch trên đoạn đường dài tầm thầy học Đạo, nhuốm đượm phong sương bởi thời tiết khắc nghiệt của Ấn Độ nơi đỉnh Tuyết Sơn qua bao ngày đêm miệt mài tu niệm. Chiếc cà-sa ấy đơn sơ nhưng cao quý vì nó che chở cho một hành giả quên thân vì Đạo Pháp, chứa đựng một tâm hồn cao thượng, một ý chí không thối chuyển, một trái tim trải yêu thương đến vạn loài, hun đúc cho Trí Tuệ rạng ngời. Rồi một đêm, đêm thứ 49 dưới gốc cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng, chiếc Cà-sa ấy đã trở thành huỳnh y rạng rỡ chói sáng bởi Ánh Đạo Vàng giác ngộ vừa phát minh, lung linh ngàn sắc hoa tươi thắm do chư Thiên cúng dường, Cà-sa thay sắc màu và Bồ-tát Tất-đạt-đa lên ngôi: Quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thành Phật Thích Ca Mâu Ni.

Theo Luật Tứ Phần, sau khi Ðức Phật chuyển Pháp luân tại Lộc Uyển (Isipatana – Sarnath), độ năm anh em ông Kiều Trần Như trở thành năm vị đệ tử Tỳ-kheo đầu tiên. Bấy giờ năm Tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân rồi đứng lui qua một bên, bạch Phật: “Chúng con nên thọ trì loại y nào?” Đức Phật dạy: “Nên thọ trì y phấn tảo và mười loại y như: câu-xá, kiếp-bối, khâm-bạt-la, sô-ma, xoa-ma, xá-nâu, ma, sí-di-la, câu-nhiếp-la, thẩn-la-bát. Mười loại y như trên nhuộm thành màu sắc Ca-sa để thọ trì.”(2)

Phấn tảo y (Pamsukùla) là y được chấp nối bằng những mảnh giẻ rách chủ yếu là do lượm được từ các đống rác, đống phân (midden) hoặc bãi tha ma, là loại “y thuộc một trong những loại sau: vải lấy từ nghĩa địa, từ cửa hàng, từ đường cái, từ hố phân, từ giường trẻ, vải tẩy uế, vải từ chỗ tắm, vải đi về nghĩa địa, vải bị cháy, bị gia súc ăn, bị kiến ăn, bị chuột ăn, vải rách ở biên, rách ở đầu, vải làm cờ, vải bỏ từ điện thờ, y của nhà khổ hạnh, vải từ cuộc lễ, vải do thần thông biến hoá, vải trên xa lộ, vải gió bay, vải do thiên thần bố thí, vải trôi giữa biển, lấy một trong những thứ vải này vị ấy nên xé bỏ những mảnh rách nát, giặt sạch những mảnh lành lặn để làm thành một cái y.”(3)

Nhuộm y thành màu Ca-sa là như thế nào? Cà-sa (kàsàya) là những loại vải đã không còn giữ được màu sắc chính, đã được nhuộm bằng nước do các vỏ cây giã ra, đặc biệt là từ gỗ và vỏ cây mít băm vụn và đun trong nồi. Những tấm vải này có màu vàng nâu nên được gọi là hạt sắc y hay hoại sắc y.

Câu chuyện về những kỳ tích của vị danh y Kỳ-bà (Jivaka), ngự y của vua Bình Sa Vương (Bimbisara) và sau này là bác sĩ riêng để chăm sóc đức Thế Tôn, đã cho chúng ta biết ai là người đầu tiên cúng dường Y đến Thế Tôn và Ngài bắt đầu cho phép Tỳ-kheo nhận vải và Y cúng dường từ lúc nào:

Khi vua Ba-la-thù-đề (Pajjota) của xứ Úy-thiền (Ujjeni) được danh y Kỳ-bà chữa khỏi một cơn bệnh ngặt nghèo, vua đền ơn vị danh y này với một tặng phẩm là một chiếc y vô cùng quý giá, trị giá bằng phân nửa nước Úy Thiền.

“Một hôm, Kỳ-bà Đồng tử mang chiếc y quý giá đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi đứng lui qua một bên, bạch đức Thế Tôn:

“Con trị bệnh cho Quốc vương, trị bệnh cho Đại thần, hoặc được một quốc độ, hoặc được một tụ lạc. Cúi xin đức Thế Tôn cho một ước nguyện.”

Đức Phật dạy:

“Ta không hề cho ai ước nguyện mà vượt quá điều nguyện.”

Kỳ-bà Đồng tử lại thưa:

“Con xin một ước nguyện thanh tịnh.”

Đức Phật dạy:

“Nguyện thanh tịnh ấy là gì?”

Kỳ-bà Đồng tử thưa:

“Chiếc y quý giá này, con nhận được từ Vua Ba-la-thù-đề, giá trị bằng phân nửa nước. Cúi xin đức Thế Tôn ai mẫn, vì con nạp thọ. Từ nay về sau, nguyện đức Thế Tôn cho phép các Tỳ-kheo nào muốn khoác y của đàn-việt cúng, hay y phấn tảo, thì tùy ý được mặc.”

Bấy giờ, đức Thế Tôn chấp thuận bằng cách im lặng. Kỳ-bà Đồng tử được đức Thế Tôn chấp thuận, liền đem bình nước rửa bằng vàng rửa tay đức Phật, rồi đem chiếc y rất quý giá dâng lên Ngài. Đức Phật vì lòng từ mẫn nên vì ông mà nhận. Kỳ-bà Đồng tử đảnh lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một bên. Đức Phật vì Kỳ-bà Đồng tử nói các bài pháp, khiến sanh hoan hỷ, rồi Kỳ-bà Đồng tử lễ Phật cáo lui.

Bấy giờ, đức Thế Tôn vì nhơn duyên này tập hợp các Tăng Tỳ-kheo, vì các Tỳ-kheo, mà tùy thuận nói pháp, ngài dùng vô số phương tiện khen ngợi hạnh đầu đà, nhiếp trì oai nghi, thiểu dục tri túc, có trí tuệ, ưa nếp sống xuất ly. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:

“Tất cả các loại y quý giá, y nầy là bậc nhất. Như bò cho ra sữa, trong sữa cho ra lạc, trong lạc cho ra tô, trong tô cho ra thục tô, trong thục tô cho ra đề hồ là tinh chất đệ nhất. Y nầy cũng như vậy, trong tất cả các loại y nó là đệ nhất. Từ nay về sau, cho phép các tỳ-kheo tùy ý khoác y của đàn-việt dâng cúng, hay y phấn tảo.”(4)

Sau này, mặc Phấn tảo y (pamsukùla) là hạnh đầu tiên trong 13 hạnh Đầu Đà (Dhutanga-niddesa) được tôn trọng gìn giữ một cách tự nguyện bởi một số vị Đại Đệ Tử của Đức Phật, đặc biệt là Tôn giả Ma-ha Ca-diếp (Mahà Kassapa), người duy nhất trong Pháp Hội Linh Sơn thấu đạt ý nghĩa “niêm hoa vi tiếu” và được Phật truyền tâm ấn, vị chủ xướng triệu tập và chủ tọa Kỳ Kiết Tập Kinh Điển lần thứ nhất tại hang Thất Diệp (Saptaparna), trong núi Tỳ-bà-la (Vebhara) gần thành Vương xá (Ràjagaha) ba tháng sau khi Thế Tôn nhập diệt, và là Tổ Sư đầu tiên trong số 28 vị Tổ Tây Thiên (Ấn Độ).

Hạnh phấn tảo y: được thọ trì bằng cách thốt lên một trong hai lời nguyện này: “Tôi từ chối những y do gia chủ cúng” hoặc “tôi nguyện giữ khổ hạnh phẩn tảo y”.

Quần chúng hay tin Đức Thế Tôn cho phép Tỳ-kheo được mặc y áo cúng dường rất đỗi vui mừng mang vải và y đến cúng dường rất nhiều đến nỗi có nhiều vị Tỳ-kheo mang y không xuể.

“Bấy giờ, đức Thế Tôn ở nơi tịnh xứ tư duy, tâm tự nghĩ: “Các tỳ-kheo trên đường đi quảy theo nhiều y. Có vị đội y trên đầu. Có vị vắt nơi vai. Hoặc có vị quấn nơi thắt lưng.” Sau khi thấy, suy nghĩ như vầy: “Ta hãy chế định cho các tỳ-kheo số lượng y nhiều ít thế nào, chứ không được chứa nhiều quá.”

Hôm đó, đức Thế Tôn ngồi nơi đất trống. Đầu đêm khoác một chiếc y, đến nửa đêm cảm thấy lạnh. Khoác chiếc y thứ hai, đến cuối đêm vẫn cảm thấy lạnh, mặc chiếc y thứ ba. Bấy giờ, đức Thế Tôn mới nghĩ như vầy: “Đời sau, người thiện nam không chịu đựng được sức lạnh, thì nên cho phép chứa đầy đủ ba y. Ta nên cho phép các tỳ-kheo chứa ba y, không được quá.”

Sáng hôm sau, đức Thế Tôn tập hợp Tăng tỳ-kheo ra giới luật: “Từ nay về sau, cho phép các tỳ-kheo chứa ba y, nếu quá, không được chứa.”(5)

Nhưng một khi Tỳ-kheo được nhận vải hoặc y từ các đàn việt cúng dường thì cần phải có một kiểu mẫu thống nhất cho Y Phục Tỳ-kheo vì Tăng chúng là thanh tịnh hòa hợp. Câu chuyện sau đây giới thiệu Tôn giả Anan là “nhà tạo mẫu” áo Cà-sa theo sự hướng dẫn của đức Thế Tôn:

“Một lần nọ đức Phật cùng tôn giả Anan đang đi trên đồi ngó xuống dưới chân đồi thấy có nhiều thửa ruộng, đức Phật hỏi Tôn giả Anan rằng: “Này Anan, con có thể làm Cà-sa hình như những thửa ruộng này không?”. Tôn giả Anan bạch Phật rằng: “Dạ, để con làm thử xem sao”. Cách vài hôm sau, Tôn giả Anan lấy vải cắt nối miếng vuông miếng dài may.

Nói đến Ðại đức Ananđa, chúng ta không thể bỏ qua đức tính thông minh và óc thẩm mỹ. Chính nhờ những nét độc đáo này mà Ðại đức đã trở thành một cộng sự viên đắc lực của đức Phật. Ðiển hình là việc sáng chế giáo phục. Câu chuyện như vầy:

Một lần nọ, Ðại đức theo đức Phật qua tỉnh Ðắc-khi-na-ghi-ri. Ðức Phật nhìn thấy thửa ruộng của nông dân xứ Magatha vuông dài, bốn cạnh bằng nhau, lại thêm có những đường nhỏ thông ngang dọc trông thật đẹp mắt, bèn hỏi Ðại đức Ananđa:

- Này Ananđa, ngươi có thể chế biến giáo phục cho chư Tăng theo hình thức thửa ruộng này được không?

- Bạch đức Thế Tôn, đệ tử sẽ cố gắng.

Sau đó, Ðại đức Ananđa đã cắt may được một mẫu y có hình thức như thửa ruộng đệ trình đức Phật. Ðức Từ Phụ hoan hỉ chấp thuận và chính thức ban hành giáo phục cho Tăng già.

Nhơn tiện, đức Phật khen ngợi Ðại đức Ananđa giữa Tăng chúng:

Này các tỳ kheo, Ananđa là người thông minh, có óc thẩm mỹ, trí lực bén nhạy, có khả năng hiểu biết toàn diện những điều Như Lai chỉ nói vắn tắt.”(6)

Từ đó mỗi vị Tăng sĩ có Tam Y: một là An Đà Hội, hai là Uất Đa La Tăng, ba là Tăng Già Lê.

Y An Đà Hội: Antarivāsaka (Pàli), Antaravāsaka (Sanskrit): Nội y, y mặc bên trong. Y An Đà Hội chỉ có 5 điều, cả tấm y gồm mười miếng ráp, cứ một miếng dài, một miếng ngắn theo chiều ngang, đếm theo chiều dọc là năm miếng, theo chiều ngang là hai miếng.

Y Uất Đa La Tăng: Uttarāsaṇgha (Pàli), Uttarasaṃgha (Sanskrit): còn gọi là Tăng Y, y mặc ở giữa. Y này gồm 7 điều, chỉ mặc khi thực hành các việc như thọ trai, giảng kinh, lễ bái, tụng niệm... nên còn gọi là Nhập Chúng Y, hay Phú Tả Kiên Y (y che vai trái). Y này dùng vải cắt thành 21 miếng (2 miếng dài thì 1 miếng ngắn), ráp sao cho đếm theo chiều dọc của tấm y thì có bảy miếng, nên gọi là y bảy điều.

Y Tăng Già Lê: Saṅghāti (Pàli), Saṃghāti (Sanskrit): còn gọi là Đại y, áo cửu điều, y cửu điều, áo Tăng già lê, y Tăng già tri, y già chi. Đây là y đắp ngoài của chư Tăng, là Cà-sa 9 đến 25 điều, được may bởi 9 mảnh vải hàng dài, mỗi hàng hai miếng dài một miếng ngắn. Y này chỉ được đắp khi đi đến chốn đông người, đi trì bình, nhập chúng thọ trai, khi lễ tháp, khi nghe kinh, khi lễ cao Tăng.

Nạp y chỉ chung bộ gồm 3 Y, Y đắp ngoài là Y Tăng Già Lê, Y đắp gìữa là Y Uất Đa La Tăng và Y mặc trong là Y An Đà Hội.

Tùy theo công việc đang làm mà mỗi vị Tỳ-kheo đều phải mặc Y thích hợp, không nên lơ là sơ sót. Tỳ-kheo nên luôn tự ý thức để giữ gìn cho trọn vẹn cả đời. Điều này cũng không phải dễ dàng vì ngay một người có trí nhớ siêu tuyệt như Ngài Anan mà có lúc cũng đã quên mặc Y thích hợp. Chuyện kể rằng một hôm A-nan-đa đi khất thực quên mặc Y Tăng Già Lê, được một đồng đạo nhắc khéo: “Phật đã phê chuẩn bậc xuất gia phải luôn luôn mặc đủ tam Y, khi đi vào làng xóm!” A-nan-đa liền vui vẻ cảm ơn vị đạo hữu ấy, và phân trần rằng: “Bần Tăng chỉ quên thôi, chứ không cố ý bất tuân phép Phật”. Rồi ông đi mặc Y Tăng Già Lê. Kể từ đó, những phép tắc về cách vận y phục cho trang nghiêm của một Tỳ kheo khi ra khỏi tịnh xá, do đức Phật phê chuẩn, đã được ông thi hành từng chi tiết.(7)

Vị “tạo mẫu” có óc thẩm mỹ ấy cũng là người thực hiện thiết kế tài tình. Một lần nọ, đức Bổn Sư ra lệnh cho A-nan-đa trông nom phân phối vải, và may y phục cho các hàng Tăng chúng, A-nan-đa đã thực hiện công việc này một cách tốt đẹp, nên được đức Phật khen ngợi trước Tăng chúng rằng: “A-nan-đa là người khéo léo, ngay cả trong lĩnh vực khâu vá! Một Sa môn đủ đức hạnh là người biết tự khâu vá mảnh y của mình, không để chỉ viềng bung ra, và không bao giờ bị chỉ trích là phí phạm vật dâng cúng của các hàng thiện nam tín nữ.”(8)

Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu tại sao đức Phật chọn mẫu y Phục cho hàng Tu Sĩ xuất gia Phật Giáo có hình thức như thửa ruộng? Thiển nghĩ, sự lựa chọn này có những ý nghĩa nổi bật sau đây:

Thứ nhất, theo cách này sẽ tận dụng và tiết kiệm vải rất nhiều vì có thể gộp các miếng nhỏ lắp ráp lại để thành Y và khi hư miếng nào có thể thay miếng nấy được. Mỗi Phật tử có thể tùy khả năng mà cúng dường những mảnh vải lớn nhỏ đều được lợi ích. Đó cũng là sự đúc kết kinh nghiệm của các hành giả tu lâu năm trong rừng sâu thanh tịnh và tự lo lượm vải chằm khâu may mặc cho mình.

Thứ hai, Tăng là những người xuất gia tu hành thanh tịnh, là Trưởng Tử của Như Lai, là Chúng Trung Tôn. Tăng thừa hành chánh pháp của Như Lai. Hầu hết các Phật tử biết đến Phật, biết đến Pháp cũng nhờ Tăng. Giả sử có những vị thiện tín Phật tử biết đến Pháp trước khi biết đến chùa và gặp Tăng tức là do đọc Kinh sách mà tỏ ngộ những lẽ mầu trong Đạo Pháp thì những sách ấy cũng do bao đời chư Tăng biên soạn, trước tác, gìn giữ, lưu truyền. Phật nhập diệt đã lâu bây giờ chỉ còn hình tượng, thời mạt pháp căn cơ chúng sanh phần nhiều bị lu mờ, nghiệp chướng buộc ràng mà giáo pháp lại cao siêu, huyền diệu, khó hiểu, khó ngộ, nếu không nhờ Tăng biết nương lối nào vào Đạo?

Thứ ba, Y có nhiều điều (nhiều mảnh) cũng như con đường tu tập hướng đến Đạo Quả Vô Thượng Bồ Đề có nhiều thứ lớp giai đoạn. Đức Phật đã trải qua vô lượng A tăng kỳ kiếp hành Bồ-tát hạnh như chúng ta đã thấy trong Túc Sanh Truyện (Jataka). Mỗi hành giả phải liên tục tích lũy Phước đức, Công Đức, tương tục nhiếp niệm trong chánh pháp. Từ vô thỉ đến nay đã bao nhiêu kiếp rồi ai chẳng gây nhiều lỡ lầm tội lỗi cũng như mảnh đất tâm của chúng ta bỏ hoang vu đã lâu và ngập tràn cỏ dại thì mỗi người hãy liên tục nhổ cỏ và chăm sóc mảnh vườn tâm của mình và phải chờ đợi đủ thời tiết nhân duyên, đúng thời kỳ mới có thể thu hoạch được chứ không thể nôn nóng vội vàng đòi hỏi hưởng hoa thơm quả ngọt ngay được. Cũng vì thế các vị Thượng Tọa, Hòa Thượng thì mặc Đại Y đến 25 điều vì quý Ngài đã tích lũy được nhiều công đức còn những vị Tăng mới thọ giới thì mặc Đại Y 9 điều thôi. Nhìn vào Đại Y mặc trong lúc hành Lễ nơi chánh điện cũng có thể nhận biết được phẩm trật thứ lớp trong Phật Giáo.

Thứ tư, bậc xuất gia tu hành mặc áo nâu sồng hoại sắc cốt để che thân chứ không phải nghiêm sức và thường xuyên quán niệm nơi thân và y áo đã cắt ái ly gia thoát tục của mình. Tỳ-kheo hoặc là mặc y chắp vá được từ các mảnh vải rách ở đống rác, đống phân, bãi tha ma, hoặc là thọ nhận mọi loại vải dù là thô xấu cúng dường từ thiện tín rồi nhuộm đi để may mặc cốt sao có y mặc mà thôi chứ không bận lòng phân biệt tốt xấu. Mỗi lần sờ lên đầu hay nhìn lại y của mình mỗi vị Tỳ-kheo đều nhớ biết mình là người xuất gia mà lo tinh tấn với Đạo nghiệp nếu giãi đãi là uổng phí đời sống xuất gia, uổng phí của đàn na tín thí.

Thứ năm, mang bộ Y nhiều điều để nhớ nghĩ ơn sâu dày của đàn na tín thí, trong cuộc sống này ai cũng bận rộn lo toan xoay vần với cái ăn cái mặc. Tỳ-kheo được tứ sự cúng dường để thanh thản an tâm lo tu học đó là nhờ công lao khó nhọc biết bao người. Vậy mỗi Tỳ-kheo phải luôn niệm tưởng và làm sao cho xứng đáng với công ơn đó:

“Thân phi nhứt lũ, thường tư chức nữ chi lao, nhựt thực tam xan, mỗi niệm nông phu chi khổ”

(Thân mặc một chiếc áo thường nghĩ về sự cực nhọc của người đan sợi vải, ngày ăn ba bữa luôn nhớ đến nỗi khổ sở của người nông dân).

Y áo Cà-sa có nhiều ý nghĩa cao quý như thế. Người mặc Y áo phải làm sao xứng đáng là một vị Tăng tiếp nối gia phong ba đời mười phương chư Phật. Y Bát là bảo vật truyền thừa trong thiền môn. Hình ảnh chư Tổ Sư, chư Tăng phụng hành chánh pháp Như Lai ba Y một bát đơn sơ nhưng thanh thoát vân du tự tại hóa độ chúng sanh được mô tả bằng những vần thơ tuyệt đẹp:

“Nhứt bát thiên gia phạn,
Cô thân vạn lý du.
Kỳ vị sanh tử sự,
Thuyết pháp độ xuân thu.”

“Một bát cơm ngàn nhà,
Một thân vạn dặm xa.
Chỉ vì chuyện sanh tử,
Nói Pháp độ người qua.”

Thật là dung dị và cũng thật là tuyệt diệu! Một bình bát nhờ cơm ngàn nhà để sống, ba bộ Y che thân qua bao độ Xuân Thu, bước chân xuất thế đi qua khắp hang cùng ngõ hẻm cuộc sống, chỉ vì “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi sự nghiệp”, độ mọi người ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.

Vẻ đẹp bên ngoài phù du giả tạo như hoa sớm nở chiều tàn có gì bền chắc, hương thơm phấn sáp sẽ nhanh chóng tàn phai, chỉ có vẻ đẹp bên trong mới đáng quý, hương thơm đạo hạnh mới lan tỏa rộng xa và có sức ảnh hưởng tốt đẹp để mọi người hướng đến Chân, Thiện, Mỹ “Hương các loại hoa thơm, Không ngược bay chiều gió, Nhưng hương người đức hạnh, Ngược gió khắp tung bay.”(9)

Ngày nay, các vị Tỳ-kheo Nam Tông vẫn duy trì việc mặc Y tương thích trong mọi thời, mọi sinh hoạt, các Tỳ-kheo Bắc Tông thì tùy theo điều kiện thời tiết và để thuận tiện cho việc di chuyển đi lại sinh hoạt nên lúc ở trong chùa chủ yếu là mặc bồ đồ vạt hò, lúc đi ra đường hoặc đi sinh hoạt thì mặc áo nhật bình, áo thông y, chỉ đặc biệt những lúc tụng kinh, bố tát, thuyết Pháp, đảnh lễ chư Tôn Túc, Trưởng Lão, thọ Quá Đường, tác pháp Yết Ma,…nơi chánh điện tôn nghiêm, đàn tràng thì mới mặc áo tràng và Y mà thôi. Tất cả các loại Y phục Tăng sĩ nêu trên đều là hoại sắc, có màu vàng, đà, xám hay nâu, đều là đơn giản, trang nghiêm, thanh tịnh.

Riêng bản thân tôi Y áo Cà-sa lại gắn liền với kỷ niệm ân tình với Sư Phụ. Thuở sanh tiền Người thường lo may Y Phục cho tôi. Tôi còn nhớ trước khi tôi thọ giới tại Đại giới đàn Ấn Quang tôi đến đảnh lễ xin phép Người khi ấy Người đang đau dưỡng bệnh ở Chùa Giác Uyển chờ nhập vào Bệnh Viện Chợ Rẫy, Người tặng cho tôi mấy xấp vải vàng Người đã thọ nhận những lúc Trai Tăng ở Quá Đường để may y áo với lon sữa và dạy:

“Còn mấy ngày nữa là con sẽ thành Tỳ-kheo, thành Ông Thầy. Hãy làm một Ông Thầy nên thân nên thể. Luôn nhớ giới luật mà hành trì theo. Tui già yếu sống nay chết mai không biết thế nào. Con là người đầu tiên trong chúng điệu lớp sau này thọ giới, hãy tu học làm sao làm gương cho đàn em noi theo và không phụ của đàn na tín thí. Làm một Ông Thầy không nên dáng là hổ thẹn Tông Môn”

Khi tôi đảnh lễ xin ý kiến của Người về nguyện vọng đi du học Ấn Độ của tôi, Người dạy: “Học Tàu, học Ấn, học Tây học gì cũng tốt, ở Việt Nam ở Nga, ở Mỹ cũng được, miễn làm sao còn giữ chiếc áo đó là được rồi.”

Khi tôi ở Ấn Độ, Người vẫn tiếp tục gửi áo qua cho tôi mặc.

Thưa Sư Phụ ! Người đã về cõi Phật nhưng áo Cà-sa may từ mảnh vải Người cho, những chiếc áo Thầy chùa do Người may nay con vẫn còn giữ với tất cả tâm tình Người nhắn gửi. Lời dạy bảo ân cần của Người vẫn còn văng vẳng bên tai: “Hãy làm một Ông Thầy nên thân nên thể. Luôn nhớ giới luật mà hành trì theo”, “… ở Việt Nam ở Nga, ở Mỹ cũng được, miễn làm sao còn giữ chiếc áo đó là được rồi” là sự bảo hộ của Người tiếp cho con thêm định lực vững bước trong dòng đời dù có nhiều biến thiên nghịch cảnh, con xin nối tiếp bước đi Phật Tổ, chư Tôn Đức nối chí Tông Phong và trong hành trang vượt qua dòng sanh tử con luôn mang theo chiếc áo Cà-sa bên mình với tâm niệm:

“Thiện tai giải thoát phục, vô thượng phước điền y, phụng trì Như Lai mạng, quảng độ chư chúng sanh” (Lành thay áo giải thoát, áo ruộng phước tối thượng, phụng hành lịnh Như lai, hóa độ cho tất cả).

 

Chú thích:

1. Nhớ ơn Phật, Nghi thức thọ trì, Hệ Phái Khất Sĩ.

2. Tứ Phần Luật, Phần III, Chương VI, Hán dịch: Tam tạng Phật-đà Da-xá và Trúc-phật-niệm, Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng, Hiệu chính và chú thích: Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng.

3. Thanh Tịnh Đạo Luận, Chương II, Bhadantacariya Buddhaghosa, Việt dịch: Thích Nữ Trí Hải.

4. Tứ Phần Luật, sđd, có thể tham chiếu Buddha the Gospel, The Regulations, By Paul Carus, Chicago, The Open Court Publishing Company tại địa chỉ:

http://www.buddhistinformation.com/buddha_the_gospel.htm.

5. Tứ Phần Luật, Sđd.

6. Tình đời, Ý đạo (Cuộc đời Thánh tăng Ananda), Hòa thượng Hộ Giác.

7. Theo Mahàvagga 8, 23, Ðại Phẩm Tạng Luật số 8, 23.

8. Theo Mahàvagga 8,12, Ðại Phẩm Tạng Luật 8, 12.

9. Kinh Pháp Cú, Phẩm Hoa, Thi Kệ số 54.


 

Trạng thái Nhập thai, Trụ thai, &

Xuất thai của  Bậc Thánh^

 (tt và hết)

 

Nguyên Liên

 

c. Ý nghĩa sanh ở hông bên hữu.

Tất cả chúng sanh đều do ái dục mà sanh, do ái dục mà tồn tại và cũng do ái dục mà phải luân hồi trong các thú. Chính ái dục mới là động lực duy nhất có đủ sức mạnh để lôi kéo chúng sanh qua lại trong tam giới, chứ không một ai khác có đủ sức mạnh dù trời, rồng, quỷ thần... có thể lôi kéo chúng sanh được. Vì chúng sanh do ái dục mà sanh, nên cũng phải sanh ra từ nơi ái dục, sanh ra từ nơi nữ căn người mẹ (chỗ biểu thị tột cùng của ái dục), điều này cũng dễ hiểu mà thôi.

Còn chư Phật, Bồ-tát thì khác, các Ngài đã đoạn sạch vô minh và ái dục, do đó các Ngài không còn bị sự sanh tử luân hồi chi phối. Do vì tình thương và đại nguyện cứu độ chúng sanh mà các Ngài thị hiện vào cõi ngũ trược ác thế này. Vì thế các Ngài không sanh ra từ nơi nữ căn của người mẹ, mà sanh ra từ hông bên hữu, là nơi sạch sẽ thanh tịnh, không vướng chút bợn nhơ ái dục. Sanh ra từ hông bên hữu, sanh không có vết sanh nói lên ý nghĩa Bồ-tát sanh ra từ chỗ vô sanh, Bồ-tát không còn bị sanh tử luân hồi chi phối nữa, Ngài là bậc đã thực chứng vô sanh.

Bồ-tát sanh ra từ hông bên hữu còn nói lên một ý nghĩa nữa, là Bồ-tát tùy thuận tâm mong cầu của thế gian mà sanh. Bên hữu là chiều thuận, phù hợp với vòng quay của trái đất. Bồ-tát sanh từ hông bên hữu người mẹ, ý nói chúng sanh hiện đang khao khát có một vị đạo sư toàn năng toàn trí xuất hiện để làm hướng đạo cho mọi người. Ứng theo tâm nguyện mong cầu của chúng sanh, đức Phật đã xuất hiện để tuyên thuyết giáo lý vô ngã, đáp ứng nhu cầu thăng hoa chính đáng cho con người.

d. Ý nghĩa Đế Thích rãi hoa sen trên lối đi của Bồ-tát.

Khi Bồ-tát mới đản sanh, trời Đế Thích liền đem hoa sen rãi trên lối đi của Ngài. Đế Thích đem hoa sen rãi trên lối đi không ngoài hai nguyên do sau:

Thứ nhất, sở dĩ Đế Thích đem hoa sen rãi trên lối đi của Bồ-tát lúc Ngài đản sanh, là do lời phát nguyện trong tiền kiếp quá khứ của Đế Thích đối với Bồ-tát. Trong kiếp quá khứ Đế Thích đã từng có lời thệ nguyện: “Bất cứ vị Bồ-tát Nhất sanh bổ xứ nào lúc mới đản sanh, tôi nguyện sẽ đem hoa sen rãi trên lối đi của các Ngài”.

Lý do thứ hai, là Bồ-tát muốn hàng phục tâm kiêu ngạo của các vị trời, rồng, quỷ thần, A tu la... bởi xưa nay các chúng sanh này đều tôn sùng Đế Thích. Nhân sự kiện Đế Thích cung kính đem hoa sen rãi trên lối đi của Bồ-tát, họ sẽ tự nghĩ rằng: “Ngay cả trời Đế Thích, vị chúa tể mà chúng ta hằng tôn sùng, còn sanh tâm cung kính đem hoa sen rãi trên lối đi của Bồ-tát, hà huống gì là bọn đệ tử chúng ta”. Do tâm suy nghĩ như vậy, lòng kiêu ngạo, tự đắc tự mãn của họ sẽ tiêu trừ, phát tâm quy hướng với Phật. 

e. Ý nghĩa Bồ-tát chân đi trên hoa sen.

Sau khi Đế Thích đem hoa sen rãi trên lối đi, Bồ-tát chân đi trên hoa sen bảy bước. Bồ-tát chân đi trên hoa sen nói lên ý nghĩa gì? Như chúng ta biết, hoa sen là một loài hoa rất tôn quý tại Ấn Độ. Hoa sen có các đặc tính mà các loài hoa khác không thể có, như hương tinh khiết, cánh hoa mềm mại, ai thấy cũng yêu thích... nhưng điểm quý hơn cả, hoa sen là loài hoa mọc giữa bùn nhơ nước đục nhưng không bị vấy nhiễm, hôi tanh mùi bùn.

Bồ-tát khi mới sanh ra chân đi trên hoa sen, nói lên ý nghĩa Bồ-tát thị hiện vào cuộc đời đầy đen tối nhưng không bị ngũ dục lạc cuộc đời làm vấy nhiễm. Sự trong sáng của Bồ-tát ví như hoa sen, tuy mọc từ bùn nhơ nước đục nhưng không vướng chút bợn nhơ.

Bồ-tát tuy sống giữa đám người ác độc, thù hằn, hãm hại... nhưng Ngài đã vươn lên trên tất cả với tâm hồn ngập tràn thánh thiện, làm cho những tâm hồn cấu uế của chúng sanh được hoán chuyển, chẳng khác nào hoa sen mọc giữa bùn nhơ nước đục, tỏa ngát hương thơm khắp hồ. Sự hiện hữu của các Ngài giữa cuộc đời là sự hiện hữu của hương và sắc làm thăng hoa sự sống. Hương ấy là hương đạo đức và sắc ấy là sắc trí tuệ, khiến Bồ-tát tỏa ngát và rực rỡ giữa vũng bùn lầy tội lỗi của vạn loại chúng sanh. 

f. Ý nghĩa Bồ-tát chân đi bảy bước.

Bồ-tát khi mới sanh ra, chân đi bảy bước. Hình ảnh Bồ-tát đi bảy bước không phải là vô nhân hay tự nhiên, mà đều có mật ý trong việc đi bảy bước. Bồ-tát chân đi bảy bước không ngoài ba ý nghĩa sau:

- Bồ-tát chân đi bảy bước nói lên ý nghĩa thứ nhất, Ngài là chúng sanh duy nhất trong tam giới, đã thoát ly sáu đạo luân hồi.

Số bảy nói lên ý nghĩa, Ngài là bậc đã vượt thoát sáu cảnh giới luân hồi. Sáu cảnh giới luân hồi là thiên, nhân, A tu la, địa ngục, ngạ quỷ và bàng sanh.

- Bồ-tát chân đi bảy bước nói lên ý nghĩa thứ hai, Ngài là vị Phật thứ bảy xuất hiện ở thế gian.

Bảy vị Phật gồm ba vị thuộc Quá khứ trang nghiêm kiếp là Tỳ-bà-thi Phật, Thi-khí Phật và Tỳ-xá-phù Phật; bốn vị thuộc Hiện tại hiền kiếp là Câu-lưu-tôn Phật, Câu-na-hàm mâu-ni Phật, Ca-diếp Phật và Ngài Thích-ca mâu-ni Phật.

- Bồ-tát đi bảy bước nói lên ý nghĩa thứ ba, giáo pháp của Ngài trong mai hậu sẽ lan tràn khắp năm châu và bốn bể.

Số bảy là số bao quát cả không gian lẫn thời gian. Không gian không ra ngoài bốn hướng là Đông, Tây, Nam, Bắc; thời gian không ra ngoài ba thì quá khứ, hiện tại và vị lai. 

g. Ý nghĩa mỗi bước chân.

Theo kinh Ưu bà di tịnh hạnh, Bồ-tát khi mới sanh ra đã đi bảy bước và nhìn về sáu phương. Ý nghĩa của mỗi bước chân của Ngài nhìn về một phương nhằm nói lên ý nghĩa gì?

- Bồ-tát đi bước thứ nhất và nhìn về phương Đông, để chỉ cho tất cả chúng sanh biết rằng, Ngài là bậc đạo sư tối thượng xuất hiện trong đời này.

- Bồ-tát đi bước thứ hai nhìn về phương Nam, để chỉ cho tất cả chúng sanh biết rằng, sự xuất hiện của Ngài như đám ruộng phước mát mẻ đến với tất cả chúng sanh.

- Bồ-tát đi bước thứ ba nhìn về phương Tây, để chỉ cho tất cả chúng sanh biết rằng, đây là thân cuối cùng của Ngài trong vòng sanh tử luân hồi.

- Bồ-tát đi bước thứ tư nhìn về phương Bắc, để chỉ cho tất cả chúng sanh biết rằng, Ngài sẽ đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề trong đời này.

- Bồ-tát đi bước thứ năm nhìn xuống phương dưới, để chỉ cho tất cả chúng sanh biết rằng, sự xuất hiện của Ngài trong cuộc đời là để hàng phục tất cả các loài ma.

- Bồ-tát đi bước thứ sáu và nhìn lên phương trên, để chỉ cho tất cả chúng sanh biết rằng, sự xuất hiện của Ngài trong cuộc đời này là để làm chỗ quy y cho tất cả trời người.

- Bồ-tát đi bước thứ bảy, một tay chỉ lên trời một tay chỉ xuống đất và nói lời rằng: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” (Trên trời dưới đất, chỉ có một mình ta là tôn quý nhất). 

h. Ý nghĩa câu kệ đản sanh.

Trong câu kệ Bồ-tát tuyên thuyết lúc Ngài đản sanh, ý Ngài muốn khẳng định cho tất cả chúng sanh khắp trong tam giới biết rằng, Ngài là bậc thù thắng nhất, bậc siêu tuyệt nhất, bậc tôn quý nhất ở thế gian, không có bất cứ một chúng sanh nào trong thế gian, dù phạm thiên, ma vương... có thể sánh phước đức và trí tuệ bằng Ngài.

Lại theo quan điểm kinh Đại Bảo Tích, Bồ-tát Hộ Minh khi mới đản sanh, tuyên bố lời này, ngoài việc Ngài tuyên cáo cho tất cả chúng sanh biết rằng Ngài là bậc tôn quý nhất của thế gian, còn là lời biểu lộ tâm đại từ bi, thương tưởng các vị như Phạm thiên, Chư thiên, Ma vương, Quỷ thần, A tu la… tức các vị giáo chủ đương thời. Bồ-tát muốn họ dứt trừ tâm kiêu căng, ngã mạn để thoát ly cảnh giới khổ đau đọa lạc. Đồng thời cũng là lời báo hiệu cho tất cả chúng sanh ở tam giới biết rằng Ngài, bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đã xuất hiện ở thế gian. 

k. Ý nghĩa Long vương đem hai giòng nước ấm và mát đến tắm cho Bồ-tát.

Hình ảnh Long vương từ trên hư không phun hai làn nước ấm và mát, đến tắm cho Bồ-tát lúc đản sanh nhằm nói lên ý nghĩa gì? Hai luồng nước ấm và mát biểu trưng cho mọi nghịch duyên và thuận duyên mà trong cuộc đời hoằng hóa sau này Ngài gặp phải. Và trước mọi sóng gió của cuộc đời, Ngài đều hoàn toàn bất động, không bị hoàn cảnh chi phối, không bị nghịch duyên tác động.

Nhìn lại cuộc đời tám mươi năm trụ thế của đức Phật, chúng ta sẽ thấy rõ được điều đó. Đức Phật đã được mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội từ vua chí dân hết lòng sùng kính ngưỡng mộ… Tuy nhiên, bên cạnh những người cung kính ngưỡng mộ, vẫn còn không biết bao nhiêu người thù hằn, chống đối, chửi mắng, dùng đủ mọi hình thức mưu toan phá hại Ngài.

Giữa hai hoàn cảnh thuận duyên nghịch duyên, hay sự vinh quang tuyệt vời cùng những sự khinh chê tột cùng mà xã hội ban tặng cho Ngài, ám chỉ qua hai làn nước nóng và mát mà Long Vương đem tắm cho Bồ-tát lúc mới đản sanh. Giữa hai hoàn cảnh ấy, đức Phật vẫn bình thản, không bị hoàn cảnh lay động, chi phối… Ngài không vì sự cung kính, ngưỡng mộ, lễ bái mà sanh tâm kiêu căng, ngã mạn, hống hách. Cũng như không vì sự khinh chê, chửi mắng mà sanh tâm thối thất, phẫn chí, đúng như Thánh hiệu của Ngài được thế gian xưng tụng “Năng Nhân Tịch Mặc”.

l. Ý nghĩa hoàng hậu sau khi hạ sanh Bồ-tát bảy ngày rồi băng hà.

Theo lịch sử ghi lại, sau khi hạ sanh Bồ-tát bảy ngày, hoàng hậu Ma-gia băng hà và sanh lên cung trời Đao-lợi? Với sự kiện, người mẹ sau khi sanh con một thời gian quá ngắn ngủi đã mất, thông thường theo quan niệm của thế gian cho đó là điềm dữ. Và có đôi người còn nghĩ rằng Bồ-tát sanh ra đã đem điềm họa tới cho hoàng hậu.

Vấn đề này, chúng ta đừng nên đem tâm niệm kiết hung theo thế gian để phán xét. Sự kiện hoàng hậu băng hà sau khi hạ sanh Bồ-tát bảy ngày, không phải do điềm họa bởi hoàng hậu sanh Bồ-tát, mà vì nhân duyên thọ mạng của hoàng hậu chỉ có thời gian từng ấy mà thôi.

Trong kinh Đại Bảo Tích, có ghi lại nguyên nhân hoàng hậu sau khi hạ sanh Bồ-tát bảy ngày, băng hà sanh lên cung trời Đao-lợi. Nguyên nhân không phải lỗi của Bồ-tát, mà do thọ mạng của hoàng hậu đến giai đoạn này đã chấm dứt… Lúc bấy giờ, Bồ-tát ở cung trời Đâu-suất, dùng Phật nhãn quan sát, thấy thọ mạng hoàng hậu Ma-gia chỉ còn mười tháng bảy ngày, Bồ-tát dùng phương tiện biết thọ mạng của hoàng hậu sắp hết nên Ngài đến thọ sanh. Vì thế hoàng hậu sau khi hạ sanh Bồ-tát bảy ngày thì băng hà.

C. KẾT LUẬN.

Với thần lực bất khả tư nghì, nhưng Bồ-tát không thẳng xuống nhân gian thành Phật, mà thị hiện vào thai mẹ trước khi thành Phật, là vì Bồ-tát muốn khích lệ hàng phàm phu tiến tu đạo nghiệp ngõ hầu thoát ly sanh già bệnh chết, vì muốn ngăn ngừa tà thuyết của ngoại đạo sau này dựng lên có hại cho Phật giáo, vì muốn dẫn dắt hàng Thích chủng thân thuộc đi vào chánh pháp, vì muốn lưu thân giới cho chúng sanh cúng dường, để tô bồi cho chúng sanh phước điền… Phải chăng những sự thị hiện vi diệu đó của Ngài, cũng không ngoài trí tuệ vô biên và tình thương vô hạn của một vị Bồ-tát Nhất sanh bổ xứ đầy lòng lân mẫn chúng hữu tình; tình thương không phân biệt đối tượng, như trong Di đà sớ sao nói “Phật ái chúng sanh, như phụ mẫu ái tử” (Phật thương chúng sanh, chẳng khác nào như cha mẹ thương con). ❑

 

So sánh về cuộc đời & Tính cách của hai Bậc Vĩ Nhân:  

 Đức Đạt Lai Lạt Ma &Albert Einstein^

 

Bảy mươi năm về trước, một bé trai với cái tên Lhama Dhondrub đã chào đời trong một gia đình nông dân nghèo thuộc miền Đông Bắc Tây Tạng. Khi được phát hiện ra là hiện thân của ngài Avalokitesvara (Quán Thế Âm Bồ-tát), cậu được đặt tên lại là: Jetsun Jamphel Ngawang Lobsang Yeshe Tenzin Gyatso, và được xem như một “viên ngọc thỏa mãn mọi ước nguyện”. Đó chính là vị Thánh Tăng Đạt Lai Lạt Ma thứ XIV, bậc Thầy lãnh đạo tinh thần của nhân dân Tây Tạng cũng như của Phật giáo thế giới.

Ngày 06 tháng 07 năm nay (2005) sẽ là lần kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Ngài. Nhân dịp này, giáo sư Rasoul Sokhabi, chuyên gia nghiên cứu tại viện “Năng lượng và khoa học địa chất” của trường đại học Utah, thành phố Salt Lake đã viết một bài so sánh về cuộc đời và tính cách của hai bậc vĩ nhân của nhân loại: Đức Đạt Lai Lạt Ma - nhà lãnh đạo Phật Giáo và Albert Einstein - khoa học gia nổi tiếng của thế giới.

Tổ chức Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố năm 2005 này là năm “Vật lý thế giới” để tưởng nhớ những cống hiến của Albert Einstein, người đã đưa ra học thuyết “Tương đối” vào năm 1905 (đúng 100 năm trước), và ông đã qua đời vào năm 1955 (cách nay đúng 50 năm). Năm nay cũng là năm đánh dấu kỷ niệm lần thứ bảy mươi ngày sinh nhật của đức Đạt Lai Lạt Ma. Đây chính là thời điểm và cơ hội thích hợp nhất cho chúng ta suy ngẫm về vị trí tương xứng của hai nhân vật kiệt xuất này trong thời đại của chúng ta để tìm ra một sự hợp nhất giữa tôn giáo và khoa học.

Cuộc đời của Einstein và đức Đạt Lai Lạt Ma đã từng cuốn hút rất nhiều người trong thế hệ chúng ta từ nhiều năm qua. Khi đọc tiểu sử hay những tác phẩm, những công trình nghiên cứu của họ, ta có thể nhận ra được nhiều nét nổi bật tương đương về bối cảnh cũng như cá tính của hai nhân vật này. Điều đó đã lóe lên những tia sáng trong mối quan hệ giữa lý trí và tâm linh, cả hai lĩnh vực này đều hết sức cần thiết cho cuộc sống con người và xã hội.

Nguyên lý chung của cả Phật giáo lẫn khoa học: dù là một nhà nghiên cứu tâm linh hay một nhà khoa học đều phải dựa trên tâm thức và kinh nghiệm của chính mình. Không hề có một đấng Thượng đế nào đầy quyền năng để cho họ phải tin theo một cách mù quáng. Mọi sự việc sẽ trở nên rất có ý nghĩa nếu như chúng được cảm nhận bằng những kinh nghiệm tâm linh hay được tái tạo bằng những thực nghiệm khoa học. Đặc tính nổi bật của các tác phẩm và những bài thuyết trình của Einstein và đức Đạt Lai Lạt Ma là những ngôn ngữ ấy đều được chắt lọc từ tâm hồn và kinh nghiệm của chính họ. Các học giả rất dễ dàng nhận ra được những nét đặc trưng này, bởi lẽ họ đã từng viết, đã từng đọc không ít những tham khảo, chú thích, dẫn chứng… về những tác phẩm của hai tác giả trên. Mặc dù các tác phẩm ấy đòi hỏi những kiến thức chuyên môn khác nhau nhưng cả hai tác giả đều có lối viết giống nhau: sử dụng ngôn ngữ giản dị, văn phong rõ ràng, có căn cứ xác thực. Thậm chí, còn có sự ăn khớp giữa hai tâm hồn tác giả ở chỗ họ cùng mượn những khái niệm, những thuật ngữ mà các bậc tiền bối đã từng sử dụng, đã từng biết đến để viết cho tác phẩm của mình. Bất chấp những mâu thuẫn trong lịch sử về mối quan hệ giữa khoa học và tôn giáo, cả Einstein và đức Đạt Lai Lạt Ma đều giữ chung một lập trường rằng khoa học và tôn giáo có thể cùng nhau tồn tại và cùng đóng góp cho sự phát triển của nhân loại. Khoa học và tôn giáo là những phương diện khác nhau của kiến thức và thực hành, sự nỗ lực của cả hai lĩnh vực đều rất cần thiết cho sự cân bằng của cuộc sống. Đức Đạt Lai Lạt Ma không phải là một người theo trào lưu chính thống tôn giáo. Ngài trân trọng sự thành tựu của khoa học hiện đại và cũng tin tưởng rằng tất cả các truyền thống tôn giáo khác đều có sự hữu ích của nó. Einstein cũng không phải là một khoa học gia chỉ có đầu óc toán học vô tình thiếu nhạy cảm với chiều sâu tâm linh. Trong cuốn: “Out of My Later Years” (1950), ông đã viết: “Tất cả các tôn giáo, nghệ thuật và khoa học là những cành khác nhau của cùng một thân cây, mọi khát vọng đều hướng đến mục đích cao quý của cuộc sống con người và nâng nó lên từ phạm vi chỉ có sự tồn tại của vật chất đến sự tự do, giải thoát về tinh thần cho từng cá nhân”. Và ông đã nói: “Mỗi ngày, tôi đã tự nhắc nhở mình hàng trăm lần rằng: đời sống vật chất lẫn tinh thần của tôi đều dựa trên sức lao động của người khác. Do vậy, tôi phải nỗ lực để đền đáp lại những khoảng mà tôi đã thọ nhận và vẫn còn đang tiếp tục thọ nhận”. Đây là lời của Einstein nhưng chúng ta rất dễ nhầm lẫn là lời của đức Đạt Lai Lạt Ma. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa vật chất, loài hữu tình và sự kiện là những khái niệm cơ bản của khoa học hiện đại lẫn tư tưởng Phật giáo. Trong buổi lễ nhận giải thưởng Nobel hòa bình, đức Đạt Lai Lạt Ma đã phát biểu: “Tất cả chúng ta đều phụ thuộc lẫn nhau trên rất nhiều phương diện, đến nỗi chúng ta không thể nào sống biệt lập với các cộng đồng và phớt lờ đi những gì đang xảy ra bên ngoài những cộng đồng ấy. Chúng ta cần sự giúp đỡ của người khác khi chúng ta gặp khó khăn và chúng ta cũng phải chia sẻ với người những may mắn mà chúng ta đang tận hưởng”. Về phương diện triết học, những lời này của đức Đạt Lai Lạt Ma xuất phát từ khái niệm thuyết “Duyên sinh” phát sinh từ tư tưởng Trung đạo của Phật giáo.

Các tu sĩ Phật giáo không hề bị cám dỗ bởi những sở hữu vật chất cá nhân. Đức Đạt Lai Lạt Ma luôn lặp lại câu nói: “Tôi là một Tăng sĩ rất giản đơn”. Howard Culter, một cộng tác của Ngài trong cuốn “Nghệ thuật của Hạnh phúc”, cũng đã nói rằng: “Đức Đạt Lai Lạt