Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


...... ... .

 

Tập san Pháp Luân

PL.2548-No.9/ tháng 11 năm Giáp Thân

Mục Lục

 

Tứ Đế (tt) - TT. Thích Đức Thắng

Cuộc đời và ánh đạo của Tôn giả Sàriputta (tt) - Trí Lộc

Pháp môn Tịnh độ. Nguyên Liên

Lần chuỗi đúng pháp được tiêu tội. Thích Tâm Viên

Đối tượng của thiền quán. Thích Thái Hòa

Hoà thượng tạm trú. TT. Thích Hạnh Thiền

Chiến thắng ham muốn vượt thoát khổ đau. Lam Yên

Trung tâm Phật giáo Luy Lâu, sự hình thành và phát triển. Tâm Phương

Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp tại đồng bằng Bắc Bộ. Trần Lan Chi

Tâm đầy uế nhiễm chớ mặc cà sa. Quang Sơn 

Hoa Hồng Trong Mơ. Thiện Nguyên

Vọng mãi tiếng chuông chùa.  Thông Nhã 

Bồ tát Địa Tạng: Vị Bồ-tát Bảo vệ trẻ em trong Truyền Thống Phật Giáo Nhật Bản Tâm Hà

Bạn có biết. Tâm Minh 

PAKISTAN: Khai quật được di vật Phật giáo tại Taxila 

HAWAII: Hội thi họa hình tượng đức Phật dành cho thanh thiếu niên Phật tử để kỷ niệm ngày đức Phật thành đạo 

Liên Hiệp Quốc: Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc gởi lời chúc mừng đến Hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ II.

Thơ: Niệm Phật-Vĩnh Thi .  Mộ sương. Mộng Yên Sinh. Hương nguyền. Quang Tuệ .Đời ẩn sĩ. Mặc Không Tử

 

 

TỨ ĐẾ ^

(tiếp theo)

TT.Thích Đức Thắng

II . SỰ THẬT VỀ TẬP (samudaya-satya) Còn gọi là nguyên nhân của khổ: Nhận thức đúng về tất cả nghiệp hoặc phiền não, chúng có khả năng nhóm họp tích chứa quả khổ sinh tử ba cõi luân hồi. Sự thật về Tập là sự thật chỉ cho quan hệ duyên khởi cùng căn nguyên nguồn gốc mọi thứ khổ của chúng sanh ở trong thế gian này. Sự thật thứ hai là sự thật tập khởi về sự phát sinh hay nguồn gốc của khổ (Dukkhasamudaya - ariyasacca). Định nghĩa về chân lý thứ hai, được đức Đạo sư giảng dạy cho đồ chúng rải rác trong ba tạng giáo điển; trong giáo lý khởi nguyên cũng như giáo lý phát triển sau này của các bộ phái, trong đó có cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa. Chúng ta tìm thấy sự thật này qua các văn bản được kết tập lại sau này. Trong rất nhiều bản kinh nguyên thủy cũng như phát triển sau này đều ghi nhận ái (Skr. tṛṣṇā, priya; Pāli. Piya, taṇhā) là đầu mối trực tiếp phát sinh ra sự tái sinh của tất cả chúng sanh trong ba cõi, sáu đường. Như trong kinh Tạp A-hàm 49, kinh số 1307, Đ. 2, tr. 259, đức Phật đã định nghĩa về sự thật thứ hai đối với sắc tập khởi: “Thế nào là sắc tập khởi? là tham ái đối với hữu vi vị lai câu hữu với tham, hỷ, mê đắm nơi này hay nơi kia. Đó gọi là sự tập khởi của thế giới.” Qua đó, tùy thuộc vào căn cơ của tất cả chúng sinh trong ba cõi mà ái được đức Đạo sư trình bày giảng dạy:

1 - Đầu tiên ái là một chi trong mười hai chi được đức Phật đề cập trong mười hai nhân duyên, chỉ cho lòng tham luyến chấp trước đối với tất cả mọi sự vật trên đời nói chung; ngay đến vấn đề yêu-ghét cũng đều từ gốc ái mà phát sinh, như Tăng-chi-bộ kinh đức Phật dạy: “Ái có thể sinh ra ái (yêu), cũng có thể sinh ra ghét; và ghét có thể sinh ra yêu, cũng có thể sinh ra ghét.” Do đó ở đây, ái phục vụ cho cả ba độc tham, sân, si, là nguyên nhân trực tiếp gây ra nghiệp nhân, khiến cho tất cả mọi chúng sanh luân hồi tái sinh trong ba cõi sáu đường theo chiều lưu chuyển của mười hai nhân duyên. Vì sự ham muốn, khao khát, thèm thuồng, xuất hiện dưới nhiều hình thức của ái, nên đã phát sinh không biết bao nhiêu hình thái khổ đau của sanh tử. Nhưng đấy chỉ là nguyên nhân trực tiếp chứ chưa phải là nguyên nhân đầu tiên; vì theo Phật, mọi sự vật đều tương quan, tương liên phụ thuộc vào nhau, nên không có bất cứ một nguyên nhân đầu tiên nào. Ngay cả ái được xem như nguyên nhân phát sinh hay nguồn gốc của đau khổ, nhưng nó cũng tùy thuộc vào một cái khác để phát sinh ra nó, đó là “thọ” (vedanā), và “thọ” muốn hiện hữu cũng phải tùy thuộc vào “xúc” (sparśa) và cứ thế nối tiếp nhau trên một vòng tròn mà thuật ngữ Phật học gọi là Duyên sinh (Skt: pratiya-samutpāda; Pāli: Paticca-samuppāda).

Tuy ái, không phải là nguyên nhân đầu hay nguyên nhân duy nhất của sự phát sinh ra khổ đau, nhưng nó là nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất mà chúng ta có thể nhận thấy trong chính cuộc sống của chúng ta, cũng chính là nguyên nhân chính yếu và phổ quát nhất. Trong những nguyên bản Pāli tạng, và Hán tạng của Phạn văn định nghĩa về Tập bao gồm cả những xấu xa bất tịnh, và kể cả những gì tốt đẹp trong sạch cũng được thêm vào “ái” lúc nào cũng được nêu ra trước như trong Tăng-chi-bộ kinh đã dẫn ở trên. Trong giới hạn bài này, ta chỉ cần nhớ rằng trọng tâm của “ái” này là ý niệm chấp thủ sai lầm về ngã và pháp phát sinh vì vô minh nên chúng ta phải chịu lưu chuyển tái sinh trong ba cõi sáu đường.

Và cũng từ ái này chuyển sinh ra thân ái (pema), dục lạc (rati), dục ái (kāma) tùy theo các duyên quan hệ mà ái phát sinh. Nếu quan hệ tình cảm thương yêu theo thân tộc huyết thống đối với cá nhân mỗi người thì gọi là ái; đối với tình cảm bạn bè thân hữu không phải là dòng họ bà con thì gọi là thân ái; đối với một ai đó mà mối quan hệ tình cảm yêu thương đặc biệt dẫn đến khoái lạc đam mê vật chất thì gọi là dục lạc; đối với những khát khao mong muốn về những khoái lạc giác quan nói chung trong tính quan hệ tình cảm thương yêu thì gọi là dục ái. Đó chính là những đầu mối đưa đến sự tái sinh của mọi chúng sanh trong ba cõi.

2 - Thứ hai ái là một trong chín kết (cửu kết) gọi là ái kết. Là kết đầu trong chín kết, hay còn gọi là tùy thuận kết. Theo định nghĩa trong Đại Tỳ-bà-sa luận thì: Ái kết chỉ cho lòng tham của ba cõi; nhưng lòng tham của ba cõi ở trong chín kết gọi chung là ái kết, và trong sáu tùy miên thì tùy miên đầu là tham. Tùy miên được phân ra làm hai: dục tham tùy miên (chỉ cho dục giới) và hữu tham tùy miên (chỉ cho sắc và vô sắc giới), nên còn gọi là bảy tùy miên. Nhưng theo một số kinh khác thì thiết lập tam ái: Dục ái, sắc ái và vô sắc ái. Vì vậy cho nên lòng tham của ba cõi gọi chung là ái kết. Có kinh đức Phật còn dạy có ba ái như dục ái (kāma-tṛṣṇā) chỉ cho lòng khát khao ham muốn, chấp giữ che dấu, tham đắm ái nhiễm trong cõi dục; hữu ái (bhava-tṛṣṇā) chỉ cho lòng khao khát ham muốn, chấp giữ che dấu, tham đắm ái nhiễm các cõi sắc và vô sắc; và vô hữu ái (vibhava-tṛṣṇā) có nơi còn gọi là diệt ái chỉ cho lòng khát khao ham muốn pháp Niết-bàn chân không.

3 - Thứ ba chỉ cho hai ái: không nhiễm ô và nhiễm ô. Tâm không nhiễm ô là chỉ cho yêu thích pháp, yêu mến thầy và các bậc tôn trưởng, nơi mọi người đặt niềm tin vào đó để mong cầu đưa đến an vui hạnh phúc; tâm nhiễm ô là chỉ cho lòng ham thích vợ chồng con cái và các thứ dục lạc trên đời về tinh thần lẫn vật chất, mà chúng có thể kéo chúng ta đi đến khổ đau sau đó.

Đó là ba sự thể hiện trong sự có mặt của ái trong cuộc sống của chúng ta. Như vậy, từ “ái” không những chỉ bao gồm sự ham muốn, đam mê trói buộc nhau qua những khoái lạc giác quan, tài sản và thế lực thuộc về vật chất mà còn là sự ham muốn, ràng buộc về tinh thần với những tư tưởng, ý nghĩ, quan niệm, lý thuyết, khái niệm và sự tin tưởng về những gì mà chúng ta ham muốn được sở hữu. Theo đức Phật, tất cả mọi thứ rắc rối xung đột và tranh chấp trên thế gian đều xuất phát từ những sự va chạm vụn vặt trong gia đình giữa cá nhân với cá nhân, phát sinh từ tự ái cá nhân cho đến tự ái tập thể về màu da, sắc tộc, tôn giáo, ý thức hệ chính trị; theo đó những cuộc khủng bố lẫn nhau về cả hai mặt vật chất và tinh thần cùng những cuộc chiến tranh tàn khốc giữa các quốc gia với nhau, đều phát sinh do lòng tự “ái” vị kỷ này. Tất cả mọi vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội đều bắt nguồn từ cội rễ do lòng tham vị kỷ mà ra. Và những thành tựu của chúng về mặt vật chất có những tiến bộ vượt bực, nhưng bên cạnh đó chúng nảy sanh ra những tệ hại và bất ổn khác về tinh thần càng ngày càng trở nên sâu sắc hơn, trong những mưu đồ bất chính qua những thủ đoạn càng ngày càng tinh vi về mọi mặt, chúng có thể giết người hàng loạt, có thứ tiêu diệt mọi thứ trong nháy mắt. Những tự ái cá nhân trước kia, bây giờ chúng núp dưới những chiêu bài tự ái tập thể, để có thể nhân danh chân lý này, chân lý nọ mà thực hiện những cuộc chiến tranh, những cuộc khủng bố đẫm máu về vật chất, cũng như những khủng bố về tinh thần, làm cho con người không còn tự làm chủ chính mình được nữa mà phải cúi đầu vâng dạ làm theo những dục vọng điên cuồng của bọn ma đầu trục lợi. Chúng nuôi lớn những dục vọng cá nhân của chúng qua dục vọng tập thể. Cho dù có những nhà đại chính khách muốn dàn xếp những tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia với các quốc gia, nhưng họ chỉ đứng trên mặt hiện tượng mà giải quyết và dàn xếp thì những việc làm này cũng chỉ đi phớt bên ngoài, trong lúc những di hại từ gốc rễ của chúng lại không giải quyết. Như đức Phật đã dạy Rattapàla: Thế gian thiếu thốn, khát khao và bị nô lệ cho dục vọng.(sđd, tr. 24)

Vậy, theo đức Phật, muốn giải quyết vấn đề này, là phải giải quyết ngay gốc rễ của chúng đó, chính là lòng khát ái dục vọng. Dầu cho vật chất của thế giới này tiện nghi tiến bộ đến đâu đi nữa, nhưng so với lòng dục vọng tham muốn khát khao, của con người vẫn không sao lấp đầy được, vì lòng tham này là lòng tham không đáy. Cũng do điều này mà mọi vấn đề rắc rối luôn luôn hiện hữu, những giải quyết như vậy lúc nào cũng đi theo sau đuôi chúng. Thật ra vấn đề này, nhìn vào những hiện tượng bên ngoài, ai cũng có thể đánh giá được mọi tệ nạn xấu xa hiện đã và đang tràn lan trên khắp thế giới. Chúng đều phát sinh từ lòng dục vọng ích kỷ mỗi người nói riêng và tập thể nói chung, điều này ai cũng có thể hiểu được không khó. Nhưng ở đây, làm sao lãnh hội được khát ái dục vọng, ham muốn ấy lại có thể phát sinh ra sự tái sinh luân hồi và giải quyết để chấm dứt nguồn gốc phát sinh ra chúng? Đây mới là vấn đề cốt lõi chính để chúng ta bàn về chúng. Ở đây, chúng ta muốn bàn về chúng cần phải đề cập đến khía cạnh triết lý sâu xa của sự thật thứ hai, và chúng phải tương ứng với khía cạnh triết lý của sự thật thứ nhất. Đó là sự quan hệ giữa nhân (sự thật thứ hai) và quả (sự thật thứ nhất) trong thuyết luân hồi nghiệp báo. Vì ở đây, việc tái sinh của khát ái dục vọng được bắt nguồn trực tiếp vào thức ăn nuôi dưỡng chúng, nên trong bốn loại thức ăn này, đoàn thực (kavaikārāhāra) là loại thức ăn vật chất thông thường như chúng ta dùng hằng ngày; xúc thực (sparśākārāhāra), thức ăn có được nhờ sự tiếp xúc giữa các giác quan, kể cả ý thức với ngoại giới; Tư niệm thực (mana-sacetanākārāhāra), và Thức thực (vijñānākārāhāra), ý chí hay ý muốn là thức ăn của tâm thức. Loại thức ăn thứ ba là loại thức ăn trực tiếp, chính là ý chí muốn sống, muốn tồn tại, tái sinh, tương tục, tăng trưởng nuôi lớn kế tục khát ái dục vọng đi vào tương lai của chúng ta, đó là Tư niệm thực.

Từ ý chí muốn sống, muốn hiện hữu, muốn tồn tại, muốn tái sinh tương tục này, mà qua thân khẩu ý, khát ái dục vọng đã tạo ra không biết bao nhiêu nghiệp thiện, ác (kusalàkusalakama). Nó cũng như ý chí (tư - cetàna), là nguyên nhân trực tiếp tạo ra nghiệp nhân khổ trong quá khứ, để trong hiện tại chúng ta nhận quả khổ của nhân quá khứ, và trong hiện tại chúng ta tạo nhân nghiệp cho quả khổ trong tương lai. Như đức Phật đã bảo chính ý chí là nghiệp, như chính đức Phật đã dạy trong Hành uẩn ở trên đã định nghĩa. Nói đến tư niệm thực vừa kể trên, đức Phật đã dạy: “Khi người ta hiểu tư niệm thực, người ta sẽ hiểu được ba thứ ái.” (sđd, tr. 24) Qua đây, chúng ta nhận thấy những từ ngữ ái, ý chí, tư niệm, hay nghiệp, tất cả chúng đều ám chỉ cho cùng một thứ dục vọng, ý muốn hiện hữu, tồn tại, tái sinh, trở thành, tăng trưởng, tích hợp, là nguyên nhân, là nguồn gốc trực tiếp phát sinh ra khổ đau. Chúng luôn hiện diện và được tìm thấy trong hành uẩn, một trong năm uẩn hình thành sự hiện hữu của một hữu tình chúng sinh.

Vậy quả khổ của chúng ta trong hiện tại có được, chúng phát xuất từ nhân khổ đã tập khởi trong quá khứ, do chính chúng ta tạo ra bởi những hành động chấp trước sai lầm. Chính khát ái dẫn dắt mà chúng ta đã tái sinh vào cuộc đời này để thọ quả khổ do nhân sai lầm trước kia mang lại. Vậy việc sinh ra trong hiện tại của chúng ta hay tái sinh trong tương lai, chúng đã và đang mang mầm mống của đau khổ ngay trong bản chất của chính nó (đau khổ), và cũng chính trong mầm mống khổ đau được sinh ra này, chúng cũng đều thuộc về bản chất của diệt, như chính đức Phật đã từng dạy: “Yam kinci samudaya dhammam sabbamtam nirodha dhammam - Bất cứ cái gì thuộc về bản chất của sinh đều cũng thuộc về bản chất của diệt.” (sđd, tr. 25) Vì bản chất của khổ đau là vô thường, vô ngã. Dù chúng có hiện hữu sinh ra đi nữa, thì sự hiện hữu phát sinh của chúng cũng chỉ là một sự hiện hữu do nhân duyên hòa hợp sinh ra. Vì vậy, chúng chỉ là một sự hiện hữu phát sinh giả hợp, không có thật. Chúng được sinh ra nhờ duyên thì chúng diệt đi cũng nhờ duyên để diệt. Bất cứ một vật nào hiện hữu được nhờ sự sinh khởi của các duyên, thì chính ngay trong bản chất của sự sinh khởi này đã có sẵn bản chất, mầm mống của sự chấm dứt và hủy diệt. Như vậy, đau khổ có trong nó, bản chất phát sinh ra nó, và cũng có luôn trong nó bản chất hủy diệt của nó. Theo đức Phật, chính điều này có được nên chúng ta mới có tu đạo, có đoạn trừ để chấm dứt những thứ vô minh sai lầm mang lại khổ đau cho chúng sinh. Và điều này chúng tôi sẽ trình bày lại trong sự thật thứ ba (nirodha-satya).

Như trên chúng ta đã đề cập đến ý chí có thể tạo ra nghiệp thiện hay ác tương đối. Và cũng từ đây phát sinh nghiệp lực thiện thì sẽ tùy theo sức mạnh của nghiệp nhân thiện mạnh hay yếu mà phát sinh thiện quả nhanh hay chậm, và nghiệp lực ác phát sinh quả ác nhanh hay chậm, chúng tùy thuộc vào năng lực này. Lòng tham dục, ý chí, nghiệp dù thiện hay ác đều có một năng lực đưa đến kết quả tùy thuộc vào độ chín mùi của nhân nghiệp đã thuần thục hay chưa mà thôi. Năng lực tiếp tục này chính là sức mạnh của nghiệp - tiếp tục trong chiều hướng thiện hay ác. Dù thiện hay ác, nó đều là tương đối, đều ở trong vòng luân hồi ba cõi sáu đường. Trong khi một vị A-la-hán, mặc dù có hành động như chúng ta, những chúng sanh hữu tình, nhưng vẫn không tạo ra nghiệp nhân, để rồi nhận lấy nghiệp quả như một chúng sanh hữu tình; bởi vì vị ấy đã thoát khỏi ý tưởng sai lầm về ngã, và pháp, thoát khỏi lòng tham muốn tiếp tục tái sinh và hiện hữu, nên thoát khỏi tất cả mọi sự trói buộc bất tịnh nhiễm ô khác. Đối với vị ấy không còn luân hồi tái sinh nữa.

Thuyết luân hồi nghiệp báo lệ thuộc vào luật tắt nhân quả trong hành động và phản ứng có điều kiện. Chúng không dính dáng can hệ gì đến ý tưởng công bằng hay thưởng phạt như quan niệm của một số tôn giáo nhất thần, cùng những giáo điều luân lý của một xã hội nào đó. Ở đây chỉ căn cứ vào hành động do ý muốn tạo ra để đưa đến kết quả hay hậu quả tốt, xấu của nó mà đánh giá. Như vậy, việc nhận lãnh hậu quả này không phải do sự thưởng hay phạt của một bàn tay nào ngoài bàn tay chúng ta quyết định về hậu quả của nó. Bởi vì những hậu quả tất yếu mà mọi người đang gánh chịu là do những hành vi tạo tác trước kia của chúng ta đã tạo ra chúng, chứ không phải là sự công bằng, hay thưởng phạt do một người nào hay một quyền năng nào ngồi phán xét hành vi của chúng ta, mà đó chính là bản chất nhân quả của riêng nó, và là luật lệ của chính nó. Khát ái, ý chí, sự ham muốn, dục vọng, lòng khao khát hiện hữu, tiếp tục tăng trưởng, là một năng lực có khả năng dời đổi toàn thể mọi đời sống cá nhân hay tập thể và ngay cả thế giới vũ trụ. Theo Phật giáo, sức mạnh này liên tục nối tiếp nhau như dòng chảy của thác nước, không dừng nghỉ, cho dù xác thân có bị biến hoại theo duyên diệt qua hình thức chết đi nữa; nhưng chúng lại tiếp tục thể hiện trong một hình thức khác, để tiếp tục phát khởi sự tái sinh mà chúng ta gọi là luân hồi ba cõi sáu đường của dòng sống.

Một đứa trẻ được sinh ra, ban đầu mọi khả năng vật chất, tâm linh đều yếu ớt non kém, nhưng trong chúng đã có sẵn tiềm năng để trở thành một người lớn đầy đủ về vật chất cũng như tinh thần. Vì không có bất cứ một cái gì gọi là bất biến và vĩnh cửu nên một hữu thể hiện hữu, luôn luôn được thay đổi theo thời gian để trưởng thành biến đổi và đưa đến hoại diệt, trong một khoảng thời gian nào đó chúng tự cho phép theo sức mạnh của sức sống của một nghiệp lực. Bởi thế, vì hiển nhiên không có cái gì trường cửu hay bất biến nên tự chúng cũng có thể lưu chuyển trong luân hồi từ đời này đến một đời sau. Chúng là một chuỗi dài nối tiếp không gián đoạn, biến đổi từ sát na này sang sát na khác. Sự chuyển dịch đó giống như một dòng thác tiếp nối nhau liên tục không gián đoạn, do sinh diệt biến đổi tạo ra xuyên suốt từ vô thỉ cho đến vô chung, chuyển động xê dịch một vòng tròn mắt xích. Chúng không phải cùng là một giọt nước, nhưng chúng cũng không phải khác. Cũng vậy, một đứa trẻ lớn lên thành một người già tám, chín mươi tuổi, và hiện tại là một người già chín mươi tuổi, trên mặt hình tướng dĩ nhiên cụ không phải là một đứa trẻ chín mươi năm về trước nhưng cũng không thể bảo cụ là khác được. Cho nên một người chết ở nơi này tái sinh nơi khác vào kiếp kế tiếp đương nhiên chúng ta không thể bảo người chết kia với người tái sinh ra lúc này và nơi đây là người đó được, nhưng ở đây chúng ta cũng không thể bảo là khác được.

Tóm lại, qua những trình bày trên, Tập chính là ý chí muốn sống, tái sinh của một sinh mệnh như là một dòng chảy liên tục, lúc nhanh lúc chậm tùy theo sự chi phối sức mạnh của nghiệp, là hiện tượng sinh khởi: Niệm này có thì niệm kia có, niệm này diệt đi thì nọ cũng diệt đi, và cứ như thế niệm niệm sinh diệt biến đổi liên tục không dừng như một vòng tròn lửa. Ban đầu là một đốm lửa và sau đốm lửa đầu khởi lên làm tiền đề quyết định cho đốm lửa kế tiếp và cứ như thế trở thành một vòng tròn lửa liên tục không có sự gián đoạn. Mỗi ý nghĩ của chúng ta cũng vậy, niệm này khởi lên để quyết định cho niệm kế tiếp và như thế, sự sống đang hiện hữu như một dòng sống liên tục. Do đó, trong giáo lý của đức Đạo sư, vấn đề đời trước, đời sau không phải là một chuyện thần thoại huyền bí gì cả. Đối với người Phật tử hiểu biết chân chánh, họ sẽ không bao giờ băn khoăn vấn đề này. Khi mà chúng sinh còn sự khát khao hiện hữu trở thành, còn khát ái, muốn tái sinh thì vòng luân hồi vẫn tiếp tục. Chúng chỉ dừng lại khi nào sức mạnh dẫn dắt đó, sự khát ái, bị đoạn trừ nhờ vào trí huệ thấy rõ bộ mặt như thật của chính mình, thì sự chi phối và bị lệ thuộc vào vòng sinh tử luân hồi sẽ không còn trói buộc được nữa.

(Còn tiếp)

 


 

CUỘC ĐỜI và ÁNH ĐẠO của TÔN GIẢ SÀRIPUTTA (Xá-lợi-phất)  ^

Trí Lộc

(Tiếp theo)

 

10. Độ thân quyến:

Tìm trong kinh tạng hay trong các sử liệu viết về Tôn giả Sàriputta, chúng ta biết được Tôn giả có tất cả sáu người em: ba người em trai và ba người em gái. Ba người em trai tên là: Cunda, Upasena, Revata. Và ba người em gái tên là: Càlà, Upacàla và Sìsupacàlà. Đọc qua sử liệu về Ngài, chúng ta vô cùng khâm phục, kính ngưỡng và đồng thời cũng chúc mừng cho thân mẫu của Tôn giả là bà Sàri có được phước đức vô lượng. Bà sanh được bảy người con, dưới sự hướng dẫn của vị huynh trưởng tài đức vẹn toàn, tất cả đều được xuất gia trong giáo pháp của đức Phật và đồng chứng được thánh quả A-la-hán.

Sau khi xuất gia trong giáo pháp của đức Phật, đức hạnh và tài năng của Tôn giả Sàriputta ngày càng vang xa mãi. Tôn giả đã độ rất nhiều người, trong mọi thành phần từ vương tử, quý tộc, trưởng giả… cho đến những hàng ngoại đạo và những người nghèo khổ có địa vị thấp hèn nhất trong xã hội. Đặc biệt, Tôn giả đã độ được những người thân yêu nhất của mình, từ người cậu theo đạo lõa thể, người cháu thờ lửa tế thần, độ tất cả các người em mình xuất gia, chứng được Thánh quả cho đến người mẹ thân yêu nhất của mình: “Ta có một ông cậu có duyên với Chánh pháp. Ông cậu này thường cúng dường đến các đạo sĩ lõa thể, và ông ta nghĩ rằng làm như vậy là thực hành con đường cộng trú với Phạm thể. Ông cậu này ta đã dẫn đến đức Thế Tôn, và đức Thế Tôn đã đặt ông vào đức tin Tam bảo. Ta cũng có một đứa cháu trai, tháng ngày chuyên giết thú và chăm sóc ngọn lửa tế thần. Y làm như vậy và tin tưởng rằng đấy là con đường dẫn đến cõi Phạm thiên. Ta đã dẫn cháu ta đến bên chân đức Thế Tôn, và đức Thế Tôn đã đặt ông ta vào đức tin Tam bảo từ ấy”.

Trong sáu người em của mình, đầu tiên là hai người em trai Cunda và Upasena, Tôn giả đã khuyên dạy và hướng dẫn hai vị này xuất gia trong Chánh pháp, hai vị đã theo gương vị huynh trưởng của mình nỗ lực tinh tấn tu tập và đã đạt được phẩm hạnh cao quý nhất của một vị Sa môn. Đó là chứng đắc Thánh quả A-la-hán.

Đến ba người em gái: Càlà, Upacàlà, Sìsupacàlà, tuy Tôn giả không trực tiếp hướng dẫn họ xuất gia tu tập nhưng khi nghe danh tiếng tài năng, đức hạnh cũng như sự an lạc, giải thoát của vị huynh trưởng, cả ba người em gái của Tôn giả thấy được sự giả tạm vô thường, đau khổ, ràng buộc của cuộc đời. Họ cũng noi theo gương vị huynh trưởng của mình, lần lượt xuất gia trong Chánh pháp giải thoát, nổ lực tu tập và thành tựu được quả vị Vô sanh (A-la-hán). Như vậy, tuy Tôn giả không trực tiếp hướng dẫn họ nhưng bằng con đường gián tiếp, Ngài cũng độ họ được giải thoát.

Trong sáu người em của Tôn giả Sàriputta, câu chuyện về nhân duyên xuất gia của cậu em út đã làm cho chúng ta thích thú nhất. Khi hay thân phụ của mình qua đời, Tôn giả Sàriputta đã xin đức Thế Tôn về quê hương để thăm viếng gia tộc và để tụng kinh siêu độ cho thân phụ. Được sự cho phép của đức Thế Tôn, Tôn giả đã dẫn theo năm trăm vị Tỳ-kheo để hoằng hóa độ sinh trên quê hương mình, đồng thời cũng tụng kinh hồi hướng công đức để siêu độ cho cha mình. Khi gặp lại được người anh khả kính mà xưa nay mình chỉ nghe danh mà chưa hề thấy được bóng hình, người em út Revata đã nhìn Tôn giả một cách sững sờ: “Đây là anh trai cả tôn quý của ta! Đâu đâu người ta cũng thán phục ca tụng ông anh vĩ đại này. Ồ! Mà sao anh trai ta đẹp quá, uy nghiêm quá, lại dễ mến nữa!”

Tôn giả Sàriputta đã quan sát và biết trước người em út, Revata bảy tuổi bé bỏng của mình cũng sẽ được xuất gia, chứng Thánh quả, nên đã dặn Revata khi nào muốn xuất gia thì hãy đến ngôi làng của khu rừng phía Tây, nơi có mấy mươi vị Tỳ-kheo đang tu hạnh Đầu-đà, nói là em trai của Tôn giả Sàriputta xin phát nguyện xuất gia thì họ sẽ nhận lời để em được xuất gia trong Chánh pháp.

Mẹ của Tôn giả Sàriputta là người rất ghét đạo Phật cũng như ghét cả đức Phật và chư Tỳ-kheo. Bà cho rằng, đức Phật đã dùng chú thuật cướp đi sáu người con thân yêu của bà. Lại nữa, gia đình bà là trưởng giáo Bà-la-môn có truyền thống tín ngưỡng thần linh sâu sắc. Giờ đây chồng bà đã mất, gia tài thì đồ sộ, giàu có nhất làng mà chỉ còn lại người con trai út mới bảy tuổi. Nhìn ánh mắt kính ngưỡng vào vị huynh trưởng sâu sắc của nó trong lúc đưa tiễn Tôn giả Sàriputta về lại tinh xá Kỳ Hoàn, bà sợ cậu út này sẽ xuất gia như các anh chị của nó thì kể như gia tài đồ sộ kia sẽ trở thành hoang phế, và nhất là bà sợ dòng dõi cao quý của gia đình này kể như không có người nối truyền tông hệ, không ai kế thừa huyết thống. Thế là bà quyết định theo chế độ tảo hôn, lo lập gia đình cho cậu con trai út Reveta. Nghĩ là làm, bà đã mời những vị Bà-la-môn trưởng thượng trong quyến thuộc đến để trình bày lý do, nguyện vọng của bà và nhờ họ mai mối tìm vợ cho người con cuối cùng ấy. Sau một thời gian tìm kiếm, họ đã tìm được một người con gái mười bốn tuổi xinh đẹp, môn đăng hộ đối và tiến hành làm đám cưới cho cậu con trai út. Lúc này, Reveta mới bảy tuổi tuy còn bé nhưng cũng rất khôn ngoan và có căn cơ xuất thế. Đám cưới diễn ra rất linh đình. Trong lúc về nhà gái để rước dâu với nhiều nghi thức trọng thể, trong ấy có tiết mục bà ngoại cô dâu là người giàu sang, cao tuổi (120 tuổi), có danh vọng trong gia tộc đứng ra chúc phúc cho hai trẻ được sống hạnh phúc đến ngày răng long, đầu bạc như bà. Nhìn cô dâu thì xinh đẹp, nhưng lại thấy bà ngoại cô thì già nua, tóc bạc, da dẻ nhăn nheo, lưng còng, đi đứng phải nương gậy... Cậu hiểu rằng rồi cô bé xinh đẹp, gọi là cô dâu, vợ mình cũng già và xấu như thế. Nhân duyên xuất trần đã đến, nhớ lại lời dạy của vị huynh trưởng của mình, cậu nghĩ cách thoát thân. Trên đường rước dâu về nhà, Reveta giả vờ đau bụng xin dừng xe để xuống, vào các lùm cây bên đường để đại tiện, xong rồi lên xe đi tiếp, đến ba lần như vậy. Lần thứ tư, khi còn cách nhà không bao xa, Reveta lại nói rất tự nhiên: “Rõ là cái bụng nó đang hành hạ tôi, nhà cũng sắp đến, vậy quý vị cứ chầm chậm cho xe đi trước, tôi sẽ theo kịp ngay tức khắc”.

Đám rước đang diễn ra linh đình, vì thế họ cũng không nghi ngờ gì nữa. Họ đánh xe chầm chậm đi, Reveta tìm vào một lùm cây kín, khuất tầm mắt mọi người và cố gắng chạy một mạch về hướng ngôi làng khu rừng phía Tây gặp các vị Tỳ-kheo đang tu hạnh Đầu-đà để xin xuất gia. Các vị Tỳ-kheo ban đầu không dám nhận Revata vào Tăng đoàn, vì nhìn thấy Revata ăn mặc sang trọng, con nhà quyền quí, và cũng chưa có sự đồng ý của cha mẹ, hay của huynh trưởng… sợ rằng cậu sẽ không kham nổi đời sống xuất thế. Nhưng sau khi biết Reveta là em của Tôn giả Sàriputta, đồng thời đã có sự dặn trước của Tôn giả Sàriputta, các vị Tỳ-kheo đã đồng ý thu nhận Reveta vào tu tập cùng Tăng đoàn. Sau một thời gian nỗ lực tiến tu, cậu bé Reveta đã chứng đắc Thánh quả A-la-hán trước sự kính phục của mọi người.

11. Độ thân mẫu hay hạnh hiếu của Tôn giả Sàriputta:

Khi so sánh về hai Tôn giả Sàriputta và Moggallàna, chúng ta thấy hai Tôn giả có rất nhiều điểm giống nhau một cách lạ kỳ: Giống nhau từ sự xuất thế, dòng họ, chủng tộc, về tài năng, về sự xuất gia và đồng trở thành hai vị Đại đệ tử của đức Thế Tôn. Đặc biệt là, hai Ngài đều thể hiện hạnh hiếu cao cả nhất trong hàng đệ tử của đức Phật, độ được thân mẫu của mình ra khỏi ngoại đạo tà kiến, an trụ vào Phật pháp, thoát khỏi khổ đau.

Cũng giống như của Tôn giả Moggallàna, thân mẫu của Tôn giả Sàriputta cũng ghét cay, ghét đắng đức Phật và chư Tăng. Càng về già bà càng ghét hơn, nhất là lúc này, ngay cả đứa con út bé bỏng của mình, niềm hy vọng nhỏ bé ấy cũng bị cuốn hút vào Tăng đoàn, làm đệ tử của Sa-môn Cù-đàm: “Và vì thế, dù rằng bà có bảy người con đều chứng Thánh quả nhưng bà Sàri vẫn không tin Tam bảo, vẫn xem thường đức Phật và Tăng chúng, vẫn đặt niềm tin mù quáng theo ngoại đạo cổ hủ của mình. Chính vì thế, bà luôn chửi mắng Tăng đoàn và Sa-môn Cù-đàm”.

Chúng ta dễ dàng thông cảm với nỗi khổ đau cũng như tâm tình của người mẹ già này, cả bảy đứa con thông minh, đẹp đẽ… biết bao ước mơ, tự hào, kỳ vọng về đàn con của mình đều dần dần tan theo mây khói. Giờ đây, bà đã gần một trăm tuổi, nhưng không còn một người con nào bên cạnh. Bà nhìn mọi vật vô cùng ảm đạm, cả gia tài “tiền rừng bạc biển” đều chẳng có nghĩa gì, chỉ đồng với cát bụi mà thôi. Nhìn ngôi nhà to lớn cổ kính, ruộng vườn mênh mông, càng làm cho bà thêm cô quạnh. Cả đám gia nhân kẻ hầu người hạ hay hàng thân quyến đông đảo và danh vọng, cũng đồng với nghĩa trống rỗng và khổ đau… làm sao sánh bằng những đứa con thân yêu dứt ra từ khúc ruột của mình.

Đã từ lâu, Tôn giả Sàriputta muốn độ thân mẫu của mình vào niềm tin với Chánh pháp an lạc, nhưng nhân duyên chưa đến nên không độ được. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta đã tám mươi tuổi, Tôn giả quán sát thấy nhân duyên trụ thế của mình sắp mãn, và nhân duyên độ thân mẫu đã đến. Ngài liền đi đến đảnh lễ xin đức Phật cho về nhập Niết-bàn ở quê nhà và để độ mẫu thân của mình.

Đức Thế Tôn đã chấp thuận, Tôn giả từ giã đại chúng và dẫn theo 500 Tỳ-kheo về quê hương mình. Trên đường về gần đến ngôi làng thuở xưa của mình, Tôn giả gặp đứa cháu trai và bảo người cháu về thông báo với bà (mẹ Ngài) rằng: Tôn giả Sàriputta đã trở về và xin ở lại căn phòng thuở xưa lúc Ngài chào đời. Người cháu vô cùng mừng rỡ, vội vàng chạy về báo tin. Dù rằng bà Sàri rất ghét Tăng đoàn, rất giận người con cả, nhưng lòng yêu thương con không bao giờ vơi cạn, bà đổi giận làm vui để tiếp đón Tăng đoàn. Tối đêm ấy, ở ngay căn phòng thuở xưa lúc chào đời, Tôn giả đã thị hiện bệnh tả lỵ, để nhập Niết-bàn và độ thân mẫu mình.

Lúc bấy giờ, có thị giả Ngài là Sa-di Quân Đầu đang hầu hạ, cứ vào ra với những cái bô trên tay. Bà Sàri rất quan tâm đến người con cả, nhưng vẫn còn đứng ở bên ngoài phòng của Tôn giả quan sát. Lúc ấy, Tứ đại thiên vương, Đế Thích (Thiên chủ cõi trời Đao Lợi), Đại phạm thiên vương và hàng thiên chúng, bằng thần lực, họ biết được Tôn giả đang bị bệnh và sắp nhập Niết-bàn. Với oai nghi, thần lực và hào quang rực rỡ, họ lần lượt hiện vào phòng để kính lễ và xin hầu hạ Tôn giả, bậc A-la-hán, Đại đệ tử của đức Thế Tôn lần cuối… làm cho cả căn phòng và khu vườn nơi Tôn giả Sàriputta đang ở sáng rực hào quang. Nhưng Ngài đã từ chối tất cả và họ đảnh lễ Tôn giả lần lượt trở về bổn quốc.

Bằng thần lực của mình, Tôn giả Sàriputta đã cho mẹ mình thấy được toàn bộ cuộc thăm viếng kỳ diệu ấy. Sau khi các vị Thiên chủ đã ra đi, bà Sàri vội vàng vào phòng của Tôn giả để hỏi thăm về những vị trời ấy. Tôn giả đã từ tốn giải thích đó là những vị trời nào, sự hộ pháp của họ ra sao, đã hầu hạ đức Phật trong lúc đản sanh, sự thưa thỉnh đức Thế Tôn chuyển pháp luân lúc mới thành đạo như thế nào, v.v… Nghe xong, vô cùng kính phục, bà không ngờ người con của mình cao cả đến độ các vị trời cao quí, ngay cả đến Đại phạm thiên, Brahma (vị trời cao cả nhất, tối thượng nhất mà cả dòng tộc bà cũng như bản thân bà luôn kính ngưỡng phụng thờ, cầu nguyện hàng trăm năm nay) lại chỉ là người hầu của con mình, là đệ tử của đức Thế Tôn. Trong tâm bà Sàri phát khởi tín tâm, suy nghĩ: “Nếu oai lực của người con trai mình như thế thì oai lực vô biên của đấng Bổn sư của con mình còn to lớn biết chừng nào!”

Bằng sự kính ngưỡng cao cả chưa từng có, đồng thời nghe xong bài pháp ngắn về công đức Phật, Pháp, Tăng của Tôn giả Sàriputta, toàn thể châu thân bà Sàri rúng động, niềm tin tối thượng về đức Phật, về người con vĩ đại của mình, cũng như về Tam bảo. Niềm hoan hỷ, an lạc bất tận phát sinh đến từng chân tơ kẻ tóc, bà đã chứng đắc được quả vị Tu-đà-hoàn, chính thức bước vào dòng Thánh, chắc chắn sẽ đạt đến giải thoát, an lạc. Quá xúc động, bà Sàri đã thốt lên với Tôn giả: “Này người con đáng kính của mẹ! Này ngài Upatissa, tại sao trong suốt những năm qua con không ban bố cho mẹ một sự hiểu biết bất tử này?”.

 Bằng sự thành tâm tột bậc, bà Sàri đã xin qui y Phật, Pháp, Tăng trở thành một trong những đệ tử tại gia thuần thành nhất. Tôn giả Sàriputta đã độ được mẫu thân của mình trong hoàn cảnh kỳ diệu như thế.

(còn nữa)


 

Pháp môn Tịnh độ ^

Nguyên Liên

 

Trong kinh Pháp hoa phẩm Phương tiện, đức Phật có dạy: “Chư Phật vị nhất đại sự nhân duyên, xuất hiện ư thế, dục linh chúng sanh khai thị ngộ nhập Phật chi tri kiến”, có nghĩa là: Các đức Phật vì một nhân duyên lớn xuất hiện ở thế gian, đó là khai thị tri kiến Phật cho tất cả chúng sanh, để chúng sanh ngộ nhập vào tri kiến Phật ấy. Câu nói đó đã xác định bản hoài của chư Phật thị hiện trong cuộc đời, là đưa tất cả chúng sanh đạt đến quả vị giải thoát và giác ngộ, thể nhập vào bản thể uyên nguyên, cái mà trong Thiền gọi là “Bản lai diện mục”, trong Tịnh độ gọi là “Tự tánh Di-đà”. Bản tánh ấy vốn không hình không tướng, vượt ra ngoài mọi ngôn ngữ và sự nhận thức của phàm phu, nhưng khi vọng tưởng lắng đọng thì bản thể hiện tiền.

Cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ, tại vương quốc Ấn Độ, nước Ca-tỳ-la-vệ, dưới cội cây Tất-bát-la, bên dòng sông Ni-liên-thiền, thái tử Sĩ-đạt-ta sau bốn mươi chín ngày ngồi tư duy thiền quán, đã ca lên khúc hát khải hoàn, xác nhận Ngài là bậc đã thành tựu quả vị, bậc hoàn toàn chứng được thể tánh, bậc tối thắng trong cõi đời. Nương nơi thể tánh thanh tịnh ấy, trải qua bốn mươi chín năm hoằng hóa, thuyết pháp độ sanh, với hơn ba trăm hội đàm kinh, những lời dạy của Ngài đã được các hàng Thánh đệ tử kết tập thành ba tạng kinh điển, trong đó triển khai tám vạn bốn ngàn môn tu tập, khai mở cho chúng sanh con đường dứt vọng tưởng, thể nhập chân như. Một trong vô số pháp môn tu tập, với sự hành trì rất đơn giản nhưng thành tựu nhiệm mầu, đó là pháp môn Tịnh độ.

Tịnh độ là một trong mười tông phái của Phật giáo Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản… là tông phái siêu việt, được các bậc cao đức liệt vào tông phái Đại thừa viên đốn. Nói “đại thừa”, bởi tông này lấy tâm Bồ-đề làm nhân, lấy quả vị cứu cánh Phật làm quả. Nói “viên”, bởi tông này lý sự vẹn toàn, tóm thâu bốn giáo trước (Tiểu thừa giáo, Đại thừa thể giáo, Đại thừa chung giáo, Đại thừa đốn giáo). Nói “đốn”, bởi tông này không luận bàn về pháp tướng, mà chỉ chuyên ròng về chân tánh, không cần trải qua nhiều thứ lớp, mà tu tập trong một đời có thể chứng lên quả vị Bất thoái chuyển (A-bệ-bạt-trí). Đây quả thật là điểm siêu xuất của tông Tịnh độ.

Hệ tư tưởng của tông Tịnh độ được y cứ và xiển dương trên ba bộ kinh, một bộ luận, làm cơ sở nồng cốt để phát huy, đó là Phật thuyết A-di-đà kinh, Vô lượng thọ kinh, Quán Vô lượng thọ kinh (còn gọi Thập lục quán kinh) và bộ Tịnh độ vãng sanh luận của Bồ-tát Thế Thân.

Nơi tinh xá Kỳ Viên thuộc nước Xá-vệ, đức Thế Tôn tuyên thuyết kinh A-di-đà, Ngài tóm lược giới thiệu về vị giáo chủ và y báo trang nghiêm của thế giới Cực Lạc, khuyên chúng sanh phát nguyện sanh về thế giới ấy, bằng phương pháp chuyên trì danh hiệu Phật, đồng thời dẫn lời tán dương và ấn chứng của mười phương chư Phật, để làm tăng tiến niềm tin của người niệm Phật. Ở núi Kỳ-xà-quật thuộc thành Vương-xá, Ngài tuyên thuyến kinh Vô lượng thọ, diễn tả quá trình hành Bồ-tát đạo của Tỳ-kheo Pháp Tạng (tiền thân đức Phật A-di-đà) trong khi tu nhân, đã đối trước đức Thế Tự Tại Vương Như Lai, phát bốn mươi tám đại nguyện thù thắng cao cả, để trang nghiêm Phật độ, nhiếp hóa quần sanh, và trình bày công đức tu hành, trí tuệ thần biến của Thánh chúng cõi ấy, khiến chúng sanh sanh tâm khát ngưỡng phát nguyện sanh về. Tại vương cung của Tần-bà-sa-la thành Vương-xá, Ngài tuyên thuyết kinh Quán vô lượng thọ, đáp ứng sự khẩn cầu của hoàng hậu Vi-đề-hy, đức Phật chỉ dạy mười sáu pháp quán, làm nhân tố để cầu sanh về thế giới Cực Lạc, đây là những phép quán rất tinh vi và sâu thẳm. Sau này, Bồ-tát Thế Thân y cứ vào Vô lượng thọ kinh tạo bộ Tịnh độ vãng sanh luận, tán dương cảnh giới trang nghiêm thù thắng của cõi Cực Lạc, xiển dương pháp tu Ngũ niệm môn (lễ bái, tán thán, phát nguyện, quán sát, hồi hướng) làm nhân tố để cầu sanh Cực Lạc. Ngoài ba kinh và một bộ luận trên, còn có rất nhiều bộ kinh luận Đại thừa khác như Pháp hoa, Hoa nghiêm… Đại trí độ, Đại Tỳ-bà-sa… đều tán thán và đề cao tư tưởng Tịnh độ.

Khi Phật giáo mới truyền sang Trung Hoa, pháp môn Tịnh độ đã sớm hòa nhập vào dòng tư tưởng của người bản xứ. Trung Hoa quả thật là một mảnh đất màu mở, để tông Tịnh độ đâm chồi nảy lá. Sau Ca-diếp-ma-đằng và Trúc-pháp-lan đem Phật giáo truyền vào Trung Hoa, kế tiếp có các Đại sư từ Ấn Độ sang, phụng sắc chỉ dịch các bộ kinh từ chữ Phạn sang Hán, kinh sách Tịnh độ cũng được theo đó mà truyền vào.

Thời Đông Tấn (317-419), pháp sư Đạo An (312-385) đã làm sách luận về Tịnh độ, mở trường pháp phái nêu rõ chánh tông, phát huy những điểm đặc sắc của Tịnh độ. Dưới thời Tào Ngụy (220-280), ngài Khang Tăng Khải (đến Trung Hoa năm 252) dịch kinh Vô lượng thọ. Đời Dao Tần (còn gọi Hậu Tần năm 354-417), bậc dịch kinh nổi tiếng Cưu-ma-la-thập (344-413) phụng dịch Phật thuyết A-di-đà kinh. Thời Lưu Tống (năm 420), ngài Cương-lương-da-xá (383-442) dịch Quán vô lượng thọ kinh. Từ đó, giáo nghĩa tông Tịnh độ đã hoàn bị. Vào đầu thế kỷ thứ V, hệ tư tưởng hình thành tông phái, tín ngưỡng Di-đà giáo đã chính thức khai nguyên. Bậc cao Tăng được đăng quang lên ngôi vị khai tổ là Huệ Viễn đại sư (344-416) ở chùa Đông Lâm Lô Sơn, lừng danh với hội “Bạch liên xã”, mà âm hưởng còn vang vọng đến ngày hôm nay.

Sau đó vào thời Tuyên Đế Bắc Ngụy (năm 508), Bồ-đề-lưu-chi (sang Tàu năm 508) dịch bộ Tịnh độ vãng sanh luận của Bồ-tát Thế Thân, đây là bộ luận căn bản, hoàn chỉnh hệ thống giáo nghĩa của tông Tịnh độ.

Pháp môn Tịnh độ còn gọi là pháp môn niệm Phật. Chữ “niệm” ở đây có nghĩa là đem tâm thanh tịnh mà tưởng nhớ đến Phật. Thông thường tất cả chúng sanh luôn đem tâm buông lung theo năm món dục lạc, nhận vọng tâm điên đảo duyên theo sáu trần làm tâm, luôn nhớ nghĩ về quá khứ, mơ mộng ở tương lai mà đánh mất thực tại, cho nên tâm thường xáo trộn. Còn chữ “niệm” ở đây là một tâm sở trong năm biệt cảnh tâm sở, ý nghĩa của nó là nhớ nghĩ vào hiện tại, buộc tâm vào một đối tượng, không rong ruỗi theo niệm trần, nhưng niệm này không hệ lụy vào một cảnh giới nào, mà thông suốt cả ba đời, thường hiện rõ trước mặt. Về chữ Phật là chỉ cho bản tánh bất sanh bất diệt, cái bản thể chân thật bình đẳng ở nơi Phật và chúng sanh. Hành giả niệm Phật là niệm danh hiệu Phật, danh này bao trùm tất cả công đức, trí tuệ, từ bi… của các đức Phật. Do đức lập danh, nhờ danh chiêu cảm đức. Lấy danh hiệu Phật làm cảnh sở niệm, tâm thanh tịnh làm năng niệm, thường trú vào bản tánh bất sanh bất diệt ấy, tất đạt đến cảnh giới an vui chân thật. Thường trụ vào câu Phật hiệu, hay quán tưởng thân tướng trang nghiêm của đức Phật, với tâm thanh tịnh sẽ tạo một năng lực tuyệt đối, khơi dậy tự tánh Di-đà bên trong của mỗi chúng sanh. Vọng tưởng quyết dứt trừ, cảnh giới nhiệm mầu sẽ hiển lộ, như trong Quán kinh có dạy: “Chư Phật Như Lai là thân pháp giới, vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh, cho nên tâm của các người tưởng Phật, thì tâm ấy là ba mươi hai tương tốt, tám mươi vẻ đẹp, tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật. Biển chánh biến tri của Phật từ nơi tâm tưởng mà sanh, vì thế các người phải nhớ nghĩ và quán tưởng kỹ thân của đức Phật kia”.

Lập trường của tông Tịnh độ được kiến tạo trên nền tảng của nhân quả, tức có gây nhân mới mong hưởng quả. Điều này xác định rằng hành giả nếu muốn mai hậu làm Thánh chúng ở cảnh giới Cực Lạc, thì ngày hôm nay phải có tư cách của bậc Thánh. Vì vậy trong cuộc sống hiện tại, hành giả cần phải thường xuyên cải hóa thân, khẩu, ý, hướng đến chiều hướng thanh tịnh. Ví như học trò, trong việc học tập phải có sự tiến bộ, từ lớp nhỏ tiến lần đến lớp lớn, có như vậy mới mong đỗ đạt. Người niệm Phật cũng thế, nếu ngày hôm nay cứ sống trong sự buông thả, không chịu nỗ lực tinh tấn tu hành, mà cứ van xin và tin rằng mai kia Phật sẽ cứu độ, nếu tin như thế thì thật là trái lý nhân quả, chẳng khác nào luận thuyết của ngoại đạo, và hoàn toàn không phù hợp với giáo lý nhà Phật.

Vẫn biết, pháp môn niệm Phật là pháp môn phương tiện siêu thắng, cho dù đến bậc Đẳng giác còn chưa thấu triệt rốt táo, và nguyện lực tối thâm của đức A-di-đà thật là vô tận, hàm nhiếp tất cả mọi nguyện lực của mười phương ba đời các đức Phật. Đối với nghiệp lực của phàm phu, ngay cả đến các bậc Sơ địa Bồ-tát, nếu không nương vào oai lực tiếp độ của Phật, chỉ nương nơi sức tự lực tu hành của mình cũng không thể vãng sanh. Nhưng tha lực ấy chỉ thành tựu trên cơ sở hành giả phải có sức tự lực. Ví như người mẹ luôn luôn nghĩ đến con, nếu con không nghĩ đến mẹ, thì mẹ dầu thương con cũng đành cam chịu. Tha lực của đức Phật cũng thế, mặc dầu là vô song, nhưng điều quan trọng ở điểm là hành giả có hội đủ tư cách tu trì, có chân thành chịu nhận sự tiếp độ ấy hay không. Có rất nhiều người tu Tịnh độ, không nhận ra được lý này, rồi quan niệm đức Phật như một đấng thần linh luôn ban ân cứu rỗi, và cảnh giới Cực Lạc chẳng khác nào thiên quốc của thần giáo. Để rồi từ đó có lắm kẻ thiển cận cho rằng pháp tu Tịnh độ là pháp ngoại đạo mê tín dị đoan, hoặc là hành môn của hạng hạ căn. Đây quả thật là những ngộ nhận sai lầm đáng tiếc đã xảy ra.

Tóm lại, người niệm Phật muốn vãng sanh Tịnh độ, ngoài lực hộ trì tiếp dẫn của Phật, cần phải có chánh nhân Tịnh độ. Theo kinh Quán vô lượng thọ hành giả phải hội đủ ba điều sau:

“Một là hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng thờ sư trưởng, giữ lòng từ không sát hại, tu tập mười nghiệp lành. Hai là thọ trì ba pháp quy y, đầy đủ các giới, không phạm oai nghi. Ba là phát Bồ-đề tâm, tin sâu lý nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người khác cùng tu…”

Trên đây là chánh nhân Tịnh độ, là điều kiện của người phát nguyện vãng sanh Tây phương. Ba điều này có thể tóm thâu vào hai việc, một là phát Bồ-đề tâm, hai là nghiêm trì giới luật.

Điều kiện cần thiết thứ nhất của người niệm Phật, là phải phát Bồ-đề tâm. Thế nào là phát Bồ-đề tâm? Là phát tâm trên mong cầu quả vị Phật, dưới mong hóa độ các loài chúng sanh. Người tu Phật nếu không phát Bồ-đề tâm, dẫu có tinh tấn tu trì, thực hành các hạnh lành, cũng chỉ là nhọc công vô ích mà thôi. Trong kinh Hoa nghiêm có dạy: “Vong thất Bồ-đề tâm, tu chư thiện pháp, thị danh ma nghiệp” (Quên mất tâm Bồ đề, dẫu tu các hạnh lành, cũng đều là nghiệp ma). Vì vậy, người tu Tịnh độ muốn thành tựu ước nguyện giải thoát, thì trước hết phải phát tâm Bồ-đề mà niệm. Đây là điểm vô cùng quan trọng, không thể thiếu đối với người tu Tịnh độ nói riêng và người tu Phật nói chung.

Điều kiện cần thiết thứ hai của người niệm Phật, là phải nghiêm trì giới luật tùy theo giới luật mình đã phát nguyện thọ. Bởi vì bất cứ tông phái nào trong đạo Phật, cũng đều không thể ly khai tinh thần giới luật. Vì giới luật là nền tảng của đạo, là thọ mạng của Phật pháp. Nếu không có giới thì định huệ không thể phát sanh, giới định huệ đã không thể phát sanh, thì Pháp thân biết nương vào đâu để thành tựu. Lại đối với tông Tịnh độ giới luật càng thiết yếu, chúng ta có thể nói Luật tông và Tịnh độ là hai tông phái hổ tương nhau và không thể tách rời nhau, hai tông này bao trùm toàn bộ tám tông phái khác của Đại thừa, như đại sư Thái Hư có nói: “Luật là nền tảng của Tam thừa, Tịnh độ là mái che chung của Tam thừa”. Hành giả giữ giới luật, trên nền tảng đó câu niệm Phật mới hiển lộ hết công năng mầu nhiệm, như trong kinh Quán vô lượng thọ có dạy: “Một câu niệm Phật, có thể tiêu trừ tám mươi ức kiếp sanh tử trọng tội”.

Nhưng muốn cho tâm Bồ-đề khỏi bị thối thất và tư cách thánh hạnh được vẹn toàn, tròn đầy chánh nhân vãnh sanh Tịnh độ, người niệm Phật phải hội đủ ba đức tính quyết định, ấy là tín sâu, nguyện thiết và trì chuyên.

Tín là đức tin, là yếu môn để nhập đạo, là cội nguồn của mọi công đức, người tu Phật nếu thiếu mất yếu tố này, thì sẽ không thể thoát ly sanh tử, đạt thành kết quả an vui giải thoát. Bởi vì tất cả mọi công đức vô lậu, đều nương vào tín mà lập, và do tín mà thành. Trong kinh có dạy: “Phật pháp như bể cả, do tín mà vào”. Hành giả ngoài việc có đức tin trong sạch tuyệt đối với Tam bảo, với sự tìm hiểu bằng kiến chiếu của trí tuệ Bát-nhã, kiên định không ngờ vực, trên nền tảng đó, gia thêm lòng tin kiên cố vào pháp môn Tịnh độ. Đức tin này được dựng lập trên ba điểm. Thứ nhất tin rằng đức Phật Thích-ca là bậc đã thân chứng Tịnh độ, những lời dạy của Ngài về cảnh giới Cực Lạc và khuyên chúng sanh vãng sanh là hoàn toàn thật có. Điểm thứ hai, hành giả tin rằng đức A-di-đà với bốn mươi tám đại nguyện độ sanh vĩ đại, nếu ai mong cầu sanh về thế giới của Ngài, thì người ấy sẽ được tiếp độ. Điểm thứ ba là hành giả tin vào tự tánh thanh tịnh, vào khả năng sẵn có của mình, nếu quyết tâm niệm Phật, thì quyết định vãng sanh.

Trên nền tảng của tín, hành giả cầu sanh Tịnh độ cần phải có đủ yếu tố thứ hai là khẩn thiết phát nguyện. Trong Phát Bồ-đề tâm văn của đại sư Tĩnh Am có dạy: “Nhập đạo yếu môn, phát tâm vi thủ, tu hành cấp vụ lập nguyên cư tiên, nguyện lập tắc chúng sanh khả độ, tâm phát tắc Phật đạo kham thành” (Cửa yếu vào đạo lấy sự phát tâm đứng hàng đầu, việc cấp thiết tu hành lấy sự lập nguyện làm bước trước, nguyện có lập thì chúng sanh mới độ nỗi, tâm có phát thì Phật đạo mới tựu thành). Lời dạy ấy cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của sự phát nguyện.

 Tâm nguyện cầu sanh Tây phương, theo Thiên Thai - Trí Giả đại sư phải hội đủ hai yếu tố là yểm ly và hạnh nguyện. Tâm yểm ly là tâm chán lìa, hành giả phải ý niệm rằng sắc thân năm ấm là hư tưởng, chỉ là sự tổ hợp của năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành thức và thế giới hiện tượng luôn nhuốm màu khổ đau và bất tịnh. Thân phận con người, so với chư thiên cũng chẳng khác nào bầy giòi chen chúc trong hầm phẩn. Mọi phiền não của cuộc đời luôn cấu xé tâm can, chẳng khác nào những mũi tên độc đâm vào da thịt, như những trận tra tấn cực hình. Nhờ thường xuyên quan sát như thế, hành giả sẽ nhàm chán, đối với mọi thú vui của dục lạc ở thế giới này sẽ không sanh tâm đắm nhiễm.

Tâm chán bỏ thế giới Ta-bà càng lớn, thì ý nguyện mong cầu vãng sanh về Cực Lạc càng mạnh, bởi người niệm Phật chỉ có một ước nguyện duy nhất là mong thoát khỏi lao tù Ta-bà hiện tại, nguyện thát sanh về thế giới Cực Lạc trong ngày mai. Tâm nguyện tha thiết đó ngàn trâu kéo không lại. Chẳng khác nào như kẻ tha phương trông ngóng cố hương, như kẻ xa cha mẹ mong ngày đoàn tụ. Trong Di-đà sớ có câu “Trông về Cực Lạc như nhớ cố hương, ngưỡng mến đức Từ tôn như cha mẹ”.

Tín nguyện đã đầy đủ nhưng thiếu phần hạnh, người tu Tịnh độ cũng khó thành tựu, vì vậy cần phải chú trọng về vấn đề hành trì. Đại sư Ngẫu Ích đã từng dạy: “Được vãng sanh cùng không đều do ở tín và nguyện, phẩm vị cao hay thấp là bởi chỗ hành trì có cạn hoặc sâu”. Tín và nguyện đã có tức đã chuẩn bị tư lương, nhưng muốn đạt mục đích, hành giả cần phải thực hành các sự nghiệp phước đức, trí tuệ, ấy là phải có hạnh. Đây là món tư lương thứ ba của người tu niệm Phật.

Ngoài việc tu tạo phước đức, trí tuệ và giữ gìn giới luật làm trợ hạnh để cầu sanh, hành giả cần phải thực hành chánh hạnh. Chánh hạnh ở đây là phát tâm thanh tịnh thường trì Phật hiệu. Theo tông chỉ của Tịnh độ thì pháp niệm Phật bao gồm bốn môn.

Một là Thật tướng niệm Phật, đây chính là nhập đệ nhất nghĩa đế, niệm tánh Phật bản lai của mình. Bản thể ấy xưa nay vốn thanh tịnh vắng lặng, không bị cấu nhiễm bụi trần, hành giả trụ tâm vào tánh Phật bản lai ấy, khiến tâm không vọng động, không chạy theo niệm trần, tâm lần hồi trong sáng, thể nhập vào cảnh giới nhất chân.

 Hai là Quán tưởng niệm Phật, hành giả quán tưởng chánh báo, y báo trang nghiêm của thế giới Cực Lạc, cho đến khi nhắm mắt hay mở mắt, cũng đều thấy cảnh giới Cực Lạc rõ ràng.

Thứ ba là Quán tượng niệm Phật, là người tu luôn nhiếp tâm vào hình tượng của đức Phật A-di-đà, đến khi có đối trước hay không đối trước tượng, hình tướng trang nghiêm của Phật vẫn hiện ra trước mắt.

Thứ tư là Trì danh niệm Phật, ấy là niệm thầm hay niệm ra tiếng sáu hay bốn chữ A-di-đà Phật, niệm với tâm tha thiết chí thành không xen lẫn tạp niệm, chỉ chú tâm vào danh hiệu Phật, hành giả lần hồi sẽ đi đến cảnh giới nhất tâm.

So với ba môn trước thì pháp Trì danh có phần giản dị và dễ thành tựu. Đây quả là phương tiện thù thắng trong các phương tiện, là đường tắt đứng đầu trong các đường tắt, kinh A-di-đà sớ có câu: “Ví như chim hạt tung mình, đâu bằng đại bàng cất cánh, ngựa ký ruỗi vó, đâu bằng rồng chúa tung bay”.

Bởi do căn tánh của chúng sanh có sự sai biệt, nên pháp niệm Phật được các bậc Cổ đức chia thành nhiều cách khác nhau, như Ký thập trì danh, Phản văn trì danh, Sổ châu trì danh, Tùy tức trì danh, Truy đảnh trì danh, Giác chiếu trì danh, Lễ bái trì danh, Liên hoa trì danh, Quang trung trì danh và Quán Phật trì danh. Trong ấy có thể nói pháp Ký thập trì danh là pháp tu rất dễ thành tựu, dễ đưa hành giả đi đến nhất tâm.

Sanh tiền đại sư Ấn Quang thường khuyên các liên hữu áp dụng cách thức này, đó là cách niệm ký số, cứ lấy mười câu làm một đơn vị, người hơi dài có thể niệm thành hai lượt, một lượt năm câu, người hơi ngắn có thể chia thành ba lượt, hai lượt đầu ba câu và lượt sau bốn câu. Sau khi niệm đủ mười câu, đều lần qua một hạt chuỗi. Niệm theo lối này, tâm đã niệm Phật, lại còn ghi nhớ số. Như thế dù không chuyên cũng bắt buộc phải chuyên, nếu không chuyên thì bị sai lạc số mục. Cho nên pháp này là một phương tiện cưỡng bức làm cho hành giả phải chuyên tâm, rất có công hiệu và đưa đến thành tựu cho người niệm Phật một cách nhiệm mầu.

Ngoài ra vấn đề quan trọng của pháp niệm Phật là trong khi niệm phải giữ tâm thanh tịnh, bởi tâm thanh tịnh là nhân tố quyết định cho sự thành tựu cảnh giới nhất tâm. Muốn đạt được điều này, cũng theo đại sư Ấn Quang thì: “Khi hành giả đề khởi câu Phật hiệu, tai phải nghe rõ ràng từng chữ, tâm phải trụ vào câu Phật hiệu, không chạy theo vọng trần, cứ niệm xoay vần và nhiếp tâm liên tục, hành giả sẽ tiến sâu vào chánh định”. Theo đại sư Liễu Nhất “khi tâm chuyên nhất vào câu niệm Phật, quên hết cả thâm tâm ngoại cảnh, tuyệt cả không gian, thời gian, đến lúc sức lực công thuần, ngay nơi niệm trần mà vọng hoặc tiêu tan, tâm thể bừng sáng, hành giả có thể chứng được niệm Phật tam muội”.

Trên đây là những điểm trình bày sơ lược về ba yếu tố Tín, Hạnh, Nguyện, quan trọng của pháp môn Tịnh độ, cho chúng ta thấy Tịnh độ có phần đơn giản, dễ thực hành mà kết quả lại cao tuyệt. Môn này quả là pháp môn phương tiện siêu thắng, là thuyền từ ra khỏi Ta-bà, là cửa mầu để vào Phật đạo: “Xuất Ta-bà chi bảo phiệt, thành Phật đạo chi huyền môn”. Sự thành tựu nhiệm mầu ấy được các bậc Cổ đức đánh giá rằng: “Tu các pháp môn khác, chẳng khác gì con kiến bò dọc theo ống tre, hành trì môn Tịnh độ, như con kiến đục thủng ống tre bò ra ngoài”.

Phải chăng, pháp môn Tịnh độ là pháp môn duy nhất trong thời Mạt pháp để cho chúng sanh y cứ tu tập, thoát ly sanh tử luân hồi. Như trong kinh Đại tập nguyệt tạng đức Phật có dạy: “Mạt pháp ức ức nhân tu hành, hãn nhứt đắc đạo, duy y niệm Phật đắc độ sanh tử” (thời Mạt pháp ức ức kẻ tu hành, song ít có người đắc đạo, chỉ nương vào pháp môn niệm Phật, mà thoát khỏi luân hồi). Đó có phải là mật ý vi diệu, là tình thương bao la của bậc trí tuệ bất tận, đối với chúng sanh căn cơ hèn kém, như trong kinh Vô lượng thọ, Phật dạy: “Đương lai chi thế, kinh đạo diệt tận, ngã dữ từ bi ai mẫn, đặc lưu thử kinh chỉ trụ bách tuế. Kỳ hữu chúng sanh trị tư kinh giả, tùy ý sở nguyện, giai khả đắc độ” (trong đời tương lai, khi kinh đạo diệt hết, ta dùng sức từ bi thương xót, riêng lưu trụ kinh này một trăm năm. Chúng sanh nào gặp kinh này, tùy theo sở nguyện, đều có thể đắc độ).

Vì tính cách khế cơ ấy, mà từ trước đến nay, không biết bao nhiêu người niệm Phật, được kết quả vãng sanh. Sự mầu nhiệm ấy, như rồng bay phượng múa, ngọc chạm vàng khua, mà trong Tịnh độ thánh hiền lục đã thuật lại rõ ràng. Pháp môn này lại bao quát cả ba căn, trên từ các bậc Đẳng giác Bồ-tát, các bậc đại đức cao Tăng, dưới cho đến những kẻ cùng hung cực ác, nhẫn đến các loài súc sanh, như nhồng, sáo, uyên ương, se sẻ… nhờ niệm danh hiệu Phật A-di-đà đều được vãng sanh về Tịnh độ.

Trải qua bao thế hệ thăng trầm, dòng thời gian biến đổi, tất cả một số tông phái khác có nguy cơ bị hoại diệt, hoặc trở thành một triết lý hỗ tương. Riêng tông Tịnh độ có tính cách thiết thực, đã đứng vững và phổ cập, trở thành một trong hai tông phái tu tập căn bản của Phật giáo đại thừa là Thiền tông và Tịnh độ tông. Đây có thể nói là hai tông phái bao trùm toàn bộ tinh hoa, đường lối tu tập của Phật giáo Đại thừa.

Với sự tán dương và truyền thừa tông Tịnh độ, từ trước đến nay có biết bao vị cao Tăng thạc đức, các bậc văn nhân chí sĩ… đã làm các sớ giải, các luận văn, làm truyện, làm kệ, làm phú, làm thơ… để khen ngợi và cùng xiển dương tông phái này.

Ngoài ra, các bậc cao đức, chuyên tu tịnh nghiệp, cầu sanh Tây phương không sao xiết kể, như ngài Bách Trượng-Hoài Hải với bản Bách trượng thanh quy làm quy củ cho Thiền tông, cũng không ra ngoài ý nghĩa quy túc Tịnh độ. Các tổ bên Thiền tông như Vĩnh Minh-Diên Thọ, Thiên Như-Duy Tắc, Thiên Thai-Hoài Ngọc… bên Luật tông như các ngài Nguyên Chiếu, Hoài Tổ… bên Tam luận tông như các ngài Cát Tạng, Đạo Lăng… bên Duy thức tông như các ngài Khuy Cơ, Hoài Cảm… bên Mật tông như các ngài Bất Không, Hồ Đồ-Khắc Đồ… bên Hoa nghiêm tông như các ngài Đỗ Thuận, Trừng Quán… bên Pháp hoa tông như các ngài Trí Giả, Quán Đảnh... các bậc cao Tăng xướng lãnh các tông trên đây và vô số danh Tăng khác, cũng đều phát nguyện cầu sanh cảnh giới Cực Lạc.

Tại nước Việt Nam, tư tưởng Tịnh độ đã sớm hòa nhập và phát huy mạnh mẽ. Trong thế kỷ XI, có ngài Tĩnh Lực (thuộc phái Vô ngôn thông), là vị đã chứng được niệm Phật tam muội. Thảo Đường quốc sư, vị khai tổ dòng thiền thứ ba của Phật giáo Việt Nam (thế kỷ XIII ) đã khuyên đồ chúng nên tu Tịnh độ, với bài Pháp ngữ thị chúng tuyệt vời. Tôn giả Pháp Loa nhị tổ của phái thiền Trúc Lâm-Việt Nam cũng đã lập tháp Cửu phẩm liên đài để khích lệ tứ chúng cầu nguyện vãng sanh. Thời cận đại có các bậc cao Tăng như Hòa thượng Tâm Tịnh, Hòa thượng Phước Huệ, Hòa thượng Khánh Anh, Hòa thượng Hải Tràng, Hòa thượng Thiền Tâm… các Ngài đã tự tu và truyền bá pháp môn này, làm cho Phật pháp được bảo tồn và lan rộng, thịnh hành đến ngày nay.

Thiết nghĩ, trên bước đường tu tập người xuất gia lẫn tại gia ai cũng mong muốn đạt đến quả vị giải thoát, nhưng thành tựu sở nguyện đó là điều không phải dễ dàng. Khi trong tự thân chúng ta luôn tràn đầy những nghiệp lực chi phối, cộng thêm hoàn cảnh xã hội bên ngoài, luôn có năng lực tác động đưa con người đi vào trong quỹ đạo của dục vọng đê hèn. Chỉ một tập quán xấu nhỏ nhưng diệt trừ nó không phải đơn giản, hoặc một chút điều lành nhưng thực hiện không phải là một sớm một chiều. Để rồi trong âm thầm, cuộc sống của chúng ta cứ trôi lăn trong vòng sanh tử, trong sự chỉ đạo của phiền não, tồn tại với bao ước vọng ảo huyền, rồi một mai khi tấm thân tứ đại này tan rã, biết hướng về đâu mà nương tựa.

Chi bằng, đặt trọn tấm lòng thành hướng về với Tam bảo, mỗi niệm xả ly Ta-bà, mỗi niệm mỗi niệm cầu về Cực Lạc. Quyết chí nương nhờ Phật lực phát nguyện cầu sanh Tây phương, đến khi thành tựu quả vị Bồ-đề, trở lại Ta-bà tiếp độ chúng sanh. Có như vậy mới hợp với bản hoài thị hiện của đức Phật Thích-ca, đúng với hạnh nguyện tiếp dẫn của đức Phật A-di-đà và khỏi cô phụ tánh linh của mình.
 

 

LẦN CHUỖI ĐÚNG PHÁP ĐƯỢC TIÊU TỘI  ^

Thích Tâm Viên

 

Theo quan niệm thông thường của Phật giáo, lần chuỗi niệm Phật sẽ giúp hành giả đoạn trừ tiêu sạch tội chướng, và đạt được giải thoát. Cho nên trong kinh Niệm Châu có dạy: “Hành giả nếu muốn niệm Phật hãy để trên đảnh mà niệm thì tiêu sạch được tội vô gián địa ngục. Còn như thường đeo nơi cổ thì tiêu sạch được tội tứ trọng (sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối). Như cầm trong tay thì tiêu sạch các tội chướng.”

Như vậy, chúng ta đã biết công đức và sự lợi ích của xâu chuỗi rất lớn, có năng lực khiến cho người tu hành đặng mau phản vọng quy chơn, mau đạt đến cảnh giới thanh tịnh. Sự cầm chuỗi, đeo chuỗi còn được lợi ích như vậy, huống gì chúng ta trong khi niệm Phật hay trì chú mà biết ứng dụng tay trái kiết ấn để ngang ngực còn tay mặt cầm chuỗi ghi nhớ số lần niệm thì công đức vô lượng vô biên.

Vừa rồi, quý vị đã thấy lợi ích của xâu chuỗi. Kế đây, chúng tôi xin hướng dẫn quý vị thực tập hành trì. Khi vào chánh điện, hay ở trước bàn Phật, quý vị nên tưởng bài niệm chuỗi như sau:

Thăng trầm tam giới thật khả thương

Luân hồi lục đạo khổ nan đương

Lục tự Di Đà thường quán tưởng

Duy tâm tịnh độ mạc tư lương.

Kế đó, quý vị nhìn vào tượng Phật Di Đà mà xưng tán. Xưng tán ở đây có nghĩa là tán dương công đức, khen ngợi ánh hào quang và y báo, chánh báo vô biên, vô lượng của Ngài. Vì vậy, bất cứ người  nào tu pháp môn Tịnh độ cũng đều phải tán thán.

A-di-đà Phật đức Y vương

Thọ mạng thân vàng sống không lường

Nguyện độ chúng sanh qua khổ ải

Dắt dìu vạn loại đến Tây phương.

Chín phẩm sen vàng làm Tịnh độ

Rước người niệm Phật hóa Lạc bang

Độ chúng Ta-bà quy An dưỡng

Đồng về cực lạc cõi Tịch Quang.

Thật vậy, quý vị đã từng đọc tụng kinh Di Đà, chắc còn nhớ rõ câu “thâm tín chi pháp” và bốn mươi tám lời nguyện của Ngài, nhất là lời nguyện thứ mười tám: “Nếu tôi thành Phật, chúng sanh mười phương hết lòng tin ưa, muốn vào nước tôi, cho đến niệm chừng mười niệm, nếu không được như thế thì tôi nguyện không thành Chánh giác, chỉ trừ những người nào tạo tội ngũ nghịch, bài báng Chánh pháp.” (kinh Vô Lượng Thọ, Đại 12268 thượng ghi). Vì thệ nguyện của đức Phật A-di-đà cao cả như thế, nên người nào xưng danh hiệu Phật có đủ tâm chí thành và phát nguyện hồi hướng thì người đó nhất định sẽ được Phật tiếp dẫn. Vì thế, chúng sanh nào nếu muốn không còn luân hồi sanh tử, thì phải nên nhất tâm niệm Phật.

Vì vậy, trong tiến trình tu học Phật, xâu chuỗi một trăm lẻ tám hạt hay mười tám hạt là những phương tiện không thể thiếu đối với người tu đạo giải thoát. Vì sao vậy? Bởi vì thân tâm phàm phu của chúng ta hiện nay duyên trần bận buộc, nghiệp chướng sâu dày, trong cuộc đời thường bị các trần cảnh làm nhiễm ô, vọng tưởng điên đảo chi phối, nên sự niệm Phật khó đạt được sự nhất tâm bất loạn, do đó cần phải nhờ đến xâu chuỗi làm phương tiện để nhắc chúng ta tấn tu đạo nghiệp.

Sau đây, chúng tôi xin trình bày về nguyên nhân có xâu chuỗi 108 và ý nghĩa của nó.

Nguyên nhân có xâu chuỗi 108 hạt:

Thuở xưa, khi đức Phật còn tại thế, có một vị quốc vương tên là Ba Lưu Ly, lãnh thổ nhà vua cai trị là một tiểu quốc thuộc nước Ấn Độ. Nhưng không may, gặp năm mất mùa, lúa gạo đắt đỏ, giặc cướp nổi lên, bệnh tật lan tràn cả nước; trước cơn thiên tai loạn lạc như thế, nhà vua vô cùng lo âu, không biết tìm cách nào để cứu vãng tình thế? Bỗng nhà vua nhớ đến đức Phật và thầm nghĩ: “Đức Phật là đấng Từ bi, Ngài có thể hiện thân cứu hộ tất cả chúng sanh, vậy chắc chắn Ngài có thể cứu khổ được nhân dân ta lúc này”. Vua liền cho sứ giả đến chỗ Phật ngự và trình bày tất cả những việc đã xảy ra trong nước đồng thời nhờ đức Phật tìm phương cứu độ.

Đức Phật dạy: “Nếu muốn thoát khỏi cơn hoạn nạn này cũng như để diệt trừ ba chướng thì phải tìm cho được 108 hột cây trai rồi xâu lại thành chuỗi để niệm cho hết một ngày một đêm như vậy, cứ niệm danh hiệu Tam bảo: Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng và một lần niệm thời lần qua một hạt, dần dần cho đến 108 hạt, nếu như niệm được 108 lần thì trừ được 108 kiết sử phiền não, khi được định tâm rồi sẽ chứng được bốn Thánh quả (Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán) và cuối cùng sẽ thành Phật.” Sau khi nghe đức Phật dạy xong, sứ giả trở về thuật lại cho nhà vua nghe những gì đức Phật đã chỉ dạy. Nhà vua vô cùng mừng rỡ nên lập tức ra lệnh cho dân chúng trong nước tìm cho được hạt cây trai và xâu lại thành chuỗi để niệm Phật.

Thế rồi chính nhà vua, mặc dù quốc sự đa đoan nhưng Ngài vẫn rất siêng năng trì niệm trong những giờ rảnh việc. Bỗng một hôm, đức Phật hiện ra trước mặt và nói: “Nhờ nhà vua siêng năng niệm chuỗi cho nên trong nước được thoát nạn, dân chúng được an cư lạc nghiệp.”

Về sau, nhà vua phát tâm xuất gia học đạo, tu hành phạm hạnh cuối cùng được làm một vị Bích Chi Phật ở thế giới Phổ Hương.

Qua sự việc trên, chúng ta thấy được nguyên nhân xuất hiện xâu chuỗi 108 hạt và hiệu quả của sự lần chuỗi thật là to lớn.

Ý nghĩa của xâu chuỗi 108 hạt:

 Trong khi nhãn căn tiếp xúc với lục trần dễ khởi đắm say, từ chỗ đắm say nên sáu tên giặc phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến) có cơ hội phát sanh; nhĩ căn và các căn sau (tỷ, thiệt, thân, ý) cũng thế. Mỗi căn tiếp xúc với trần cảnh đều tạo ra sáu tên giặc nên sáu căn tạo ra cả thảy 6 x 6 = 36 tên giặc phiền não. Nếu cộng chung ba thời kỳ quá khứ, hiện tại, vị lai thì có ra một trăm lẻ tám giặc phiền não. Như vậy, một trăm lẻ tám hạt châu Bồ-đề ở đây nếu được ta dùng vào việc niệm Phật thì có công năng tiêu mòn hết các tội chướng, hay nói khác hơn là chuyển hóa một trăm lẻ tám giặc phiền não kiết sử, nhờ đó hành giả được an vui, giải thoát hoàn toàn. Khi cầm xâu chuỗi 108 hột chúng ta nên đọc câu kệ:

Thủ trì nhất bá bát

Diệt tội đẳng hà sa

Viễn ly tam đồ khổ

Xích sắc biến liên hoa.

Dịch nghĩa:

Tay cầm trăm tám Bồ-đề

Tiêu mòn các tội đặng về Tây phương

Khỏi nơi chốn khổ ba đường

Lửa hồng liền biến liên hương nhiệm mầu.

Nam mô Định Tâm Vương Bồ-tát

Tóm lại, mỗi chúng ta đều nên có một xâu chuỗi 108 hoặc 18 hạt để nhắc nhở chúng ta luôn luôn nhớ niệm Phật. Nhờ nương vào xâu chuỗi mà niệm Phật dần dần ta đạt được nhất tâm tức là niệm niệm liên tục không có niệm khác. Đó chính là vào chánh định và từ đó trí huệ sẽ phát sanh. Nhưng có một điều cần chú ý là muốn niệm Phật mau được định thì chúng ta cần phải nghiêm trì giới luật, chớ một mặt thì niệm Phật, một mặt thì buông lung phóng túng, phá trai phạm giới thì không biết đến bao giờ mới có kết quả. Việc này cũng giống như trong một gia đình, người vợ thì lo buôn tảo bán tần để tích lũy của cải gia đình, còn người chồng thì chỉ lo cờ bạc hút sách gây nợ nần chồng chất thì gia đình đó chỉ có tan nát mà thôi.
 

 

 ĐỐI TƯỢNG CỦA THIỀN QUÁN  ^

Thích Thái Hòa

 

Đối tượng của thiền quán là Sắc pháp và Tâm pháp hay thân thể và tâm thức.

Sắc pháp là những pháp thuộc về vật lý, bao gồm các thể tính không biểu hiện cụ thể, cho đến các hình sắc, âm thanh, mùi vị,… mà các quan năng có thể nhận thức được. Tất cả những Sắc pháp như thế, đều có thể là đối tượng của thiền quán.

Tâm pháp là những pháp thuộc về tâm lý hay tâm thức. Cảm giác, tri giác, ý chí, tư niệm; hiểu biết, phân biệt… đều là những thành phần của tâm pháp, hay tâm thức. Tất cả những yếu tố của Tâm pháp như thế, đều có thể là đối tượng của thiền quán.

Thiền là phương pháp làm cho tâm ngưng lắng hết thảy mọi thứ phiền não. Và Quán là nhìn sâu vào trong lòng của đối tượng để nhận rõ tác nhân, tác duyên, bản chất cũng như tác dụng của chúng.

Ở kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm này, đức Phật dạy bốn phương pháp thiền tập:

Phương pháp thứ nhất: Quán niệm về thân thể.

Thực tập theo phương pháp này, hành giả phải thấy rõ và làm chủ mọi động tác của thân thể. Phải biết một cách đích thực những gì đang diễn ra ở nội và ngoại cơ thể qua các hình thái đi, đứng, nằm, ngồi, co, duỗi, các yếu tố hình thành và các trạng thái hủy diệt của cơ thể.

Phương pháp thứ hai: Quán niệm về các cảm giác.

Thực tập theo phương pháp này, hành giả sử dụng mọi cảm giác làm đối tượng quán niệm. Tức là hành giả không đồng tình theo cảm giác dễ chịu, và cũng không đối kháng lại với cảm giác khó chịu, hoặc không để ý thức quán niệm bị quên lãng giữa những cảm giác không phải dễ chịu mà cũng không khó chịu. Trái lại, hành giả chỉ đưa ý thức tỉnh giác đi kèm và có mặt một cách đích thực trong các cảm giác ấy, để nhận rõ tính chất như thật của chúng.

Cảm giác có thể có mặt từ nơi tâm, hoặc từ nơi thân, nhưng dù nó có mặt từ đâu đi nữa, thì hành giả thực tập theo phương pháp này, phải đưa ý thức tỉnh giác đi kèm và có mặt một cách đích thực trong các cảm giác ấy, để mọi hạt giống tham ái, sân hận và si mê trong tâm thức của hành giả không có cơ hội tùy sinh và biểu hiện lên trên mặt ý thức.

Phương pháp thứ ba: Quán niệm về tâm ý.

Thực tập phương pháp này, hành giả sử dụng các yếu tố tạo nên tâm ý, làm đối tượng quán niệm. Khi các yếu tố như tham, sân, si… có mặt nơi tâm ý, thì hành giả đưa ý thức tỉnh giác, ý thức chánh niệm đi kèm và có mặt một cách đích thực ở trong các yếu tố tạo nên tâm ý xấu ấy, để nhận rõ sự có mặt và tính chất nguy hại của chúng. Do hành giả có ý thức chánh niệm như vậy, nên các yếu tố tạo nên tâm ý xấu ấy, không thể nào tiếp tục hiện hữu và phát triển một cách tự do trên mặt ý thức, và đương nhiên, chúng sẽ bị hạn chế, bị dừng lại và tự khử diệt.

Khi các yếu tố tốt đẹp như vô tham, vô sân, vô si, tàm, quý… có mặt nơi tâm ý, thì hành giả đưa ý thức tỉnh giác, ý thức chánh niệm đi kèm và có mặt một cách đích thực trong các yếu tố tạo nên tâm ý cao thượng, tốt đẹp ấy, để nhận rõ sự có mặt và tính chất an toàn của chúng, nhằm nuôi dưỡng và thăng tiến chúng trên mọi hoạt động của ý thức, và lẽ đương nhiên, chúng sẽ được biểu hiện ra trong mọi sinh hoạt hằng ngày, tạo nên những chất liệu tươi mát và an ổn trong cuộc sống.

Phương pháp thứ bốn: Quán niệm về pháp.

Thực tập phương pháp này, hành giả có thể sử dụng các pháp thuộc về nhân duyên như năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới làm đối tượng để quán niệm.

Hoặc có thể sử dụng các pháp thuộc về năm sự che khuất ở nơi tâm thức làm đối tượng quán niệm. Hoặc có thể sử dụng các pháp thuộc về giác ngộ hoặc giải thoát đang có mặt nơi tâm thức, như Bảy yếu tố giác ngộ, hay Bốn thánh đế làm đối tượng quán niệm.

Nhờ thực tập quán niệm các pháp thuộc về nhân duyên hoặc các pháp thuộc về vô lậu, mà các tham dục, sân hận, si mê, chấp ngã… đều bị đoạn tận, các thiện pháp vô lậu phát sinh và lớn mạnh, biểu lộ trọn vẹn trong mọi hình thái sinh hoạt hằng ngày.

Bốn phương pháp thực tập này, là căn bản của hết thảy mọi pháp môn thuộc về thiền quán. Không có hành giả Thiền tông nào mà không khởi hành đầu tiên bằng bốn phương pháp này.

Thực tập bốn phương pháp này trong đời sống hằng ngày, qua mọi động tác của thân thể, qua các cảm thọ, các tri giác, các tư niệm, qua sự tiếp xúc của các căn, trần và thức từ nội pháp, đến ngoại pháp, từ tục đế đến chân đế, là hành giả đang đi trên Thánh đạo, đang tiến dần đến đời sống giải thoát, an lạc và có thể đạt được Niết-bàn ngay trong đời sống hiện tại. Bởi vậy, đức Phật dạy: “Có một con đường đưa chúng sanh đến thanh tịnh, vượt qua sự lo lắng, sợ hãi, diệt trừ khổ não, chấm dứt khóc than, thành đạt Chánh pháp, đó là Bốn lãnh vực quán niệm.”

Đức Phật còn dạy: “Nếu thực tập bốn phương pháp này với tâm ý tha thiết, thuần nhất, thì buổi sáng thực tập, buổi chiều đã đạt được sự thăng tiến, hoặc buổi chiều bắt đầu thực tập, thì sáng mai đã đạt được sự thăng tiến.”

Đức Phật còn dạy: “Các đức Như Lai ở thời quá khứ, ở thời hiện tại, hay ở thời tương lai, các Ngài đạt được Bậc chánh giác, Bậc không còn bị mắc kẹt bởi điều gì, Bậc chặt đứt năm sự ngăn che, Bậc dứt sạch hết mọi cấu uế nơi tâm, Bậc loại trừ hết mọi yếu ốm của Tuệ, Bậc đạt được sự hiểu biết chơn chánh, Bậc đạt được địa vị giác ngộ cao nhất, chính là do các Ngài đã, đang và sẽ thiết lập tâm an trú vững chãi vào Bốn lãnh vực quán niệm này.”

Như vậy, qua lời dạy của đức Phật, chúng ta cần phải tinh chuyên thực tập bốn phương pháp quán niệm này hằng ngày, hàng giờ, hàng phút, hàng giây và do công năng thực tập như vậy, khiến cho các chi phần của thân và ngữ càng lúc càng trở nên thanh tịnh, khiến c