Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Trường Hạ Phổ Quang - Tây Úc


...... ... .

 

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Ðại Lợi-Tân Tây Lan

Trường Hạ Phổ Quang - Tây Úc
(5-15/7/2005)

Cảm niệm ân sư

Nam mô Lịch Đại Tổ Sư Bồ tát

Ngưỡng bạch Giác linh Đại lão Hòa Thượng thượng Đỗng hạ Minh tân viên tịch.

Kính bạch Thầy,

Từ nơi đất khách xa xôi, nhân hôm nay Giáo Hội tại Úc thành kính thiết lễ tưởng niệm công đức hoằng hóa của Thầy, con và các Tăng, Ni sinh trong mấy chục năm qua được thừa ân giáo dưỡng của thầy nay đang tu học hành đạo ở Uùc, xin đến trước Linh Đài của Thầy phủ phục dâng lên chút lòng thương cảm, tiếc nuối và tâm thành bất tiếu, ngưỡng nguyện Giác linh Thầy từ bi chứng giám.

Gần 80 năm trong trần thế, 70 năm trong cửa đạo, 60 năm trong chiếc tăng bào, Thầy đã để lại ơn đức cho hậu thế chúng con với ít nhất 5 thế hệ Tăng Ni từ Huế vào tới miền Nam, đặc biệt là từ mái chùa Phật học viện Hải Đức Nha Trang, nhiều ngàn Tăng Ni sinh đã được Thầy chăm sóc, dưỡng nuôi và góp phần giảng dạy, đào tạo.  Công đức cao vời vô lượng ấy, chúng con chỉ biết tâm thành ghi nhận, không sao diễn đạt hết được. Thậm chí đến ngày nghe tin Thầy sắp lâm chung, nhưng nghiệp chướng sâu dày và thế tình nghiệt ngã, chúng con tuy thiết tha muốn được về bên Thầy để quỳ bên giường bệnh nắm đôi tay gầỵ của Thầy và xin được nghe Thầy trao gửi, ký thác những di huấn cuối cùng, nhưng cũng không được.

Kính bạch Thầy, phần con 32 năm trươc đây, khi vừa mới tốt nghiệp Trung Đẳng Chuyên Khoa ở tỉnh nhà Bình Định, được Hòa Thượng tôn sư cho phép, hành trang với chiếc y Sa Di và vài chục quyển kinh trong tay nải, con về Nha Trang lên tịnh thất đảnh lễ Thầy trình thư gởi gấm. Lần đầu tiên con được bái yết, đảnh lễ Thầy. Tuy là đồng hương, nhưng gần 10 năm trong đạo trước đó, con chưa được may mắn diện kiến Thầy, dù hình bóng và công đức của Thầy tại quê nhà Bình Định chư Tôn đức ai cũng biết, ai cũng ngợi khen, ai cũng tán thán.

Trong buổi sơ kiến mùa thu 1973 năm ấy, Thầy nở nụ cười dặn dò “Chú ở quê nhà tới đây phải cố gắng học hành, tu tập, đừng để tôi mất mặt xấu hổ với các bậc tôn túc ở ngoài quê….”. Gần 3 năm làm sinh viên của trường Trung đẳng rồi Cao Đẳng Phật học Hải Đức Nha Trang, vì Thầy là Phó Viện Trưởng điều hành, con cảm nghiệm và học hỏi được từ nơi Thầy rất nhiều. Để tô bồi tri kiến cho Sinh viên Tăng Ni chúng con, Thầy đặc biệt lưu tâm mời thỉnh những Giáo sư tài giỏi uyên thâm từ thủ đô Sài Gòn đến dạy cho chúng con. Vì con được xếp ở sát bên phòng TT Tuệ Sỹ là Giám Đốc Học Vụ của Viện, nên con thường xuyên được góp mặt và lắng nghe những buổi chiều Thầy qua đồi Trại Thủy thăm hỏi và bàn thảo việc cải tiến nội dung chương trình đào tạo giảng dạy cho sinh viên chúng con với thầy Tuệ Sỹ. Con nhờ đó tâm lãnh được tất cả các hoài bão, cõi lòng bát ngát yêu thương của Thầy đối với chúng con. Tuy đôi lúc cũng có những lời gắt gỏng, những lúc nghiêm trách rầy rà, cả những lúc vì tình lân mẫn mà Thầy quở tụi con vì ham ganh đua đèn sách mà lười biếng thể dục, thể thao, rèn luyện thân chất. Thầy không những chăm chút đời sống, để ý đến cả thức ăn thức uống, bài học, chương trình giảng dạy cho chúng con, mà còn để ý sức khỏe chúng con và tình hình vệ sinh phòng xá, tiện nghi của Viện. Con thiết nghĩ chỉ bậc thầy với tâm bồ tát rộng lớn mới có được cái nhìn quán triệt như vậy. Thầy lo ngại cho chúng con đến khi ra trường không đủ sức lực để lao nhọc hành đạo khắp nơi, nên cứ mãi nhắc Tăng Ni sinh viên không nên vì say mê dùi mài kinh sách mà quên sức khỏe và giải trí .

Thầy chọn dạy môn Tứ Phần Trùng Trị và nghiêm khắc buộc con phải đi thọ Cụ túc giới, dù con chưa đủ tuổi, vì nếu không sẽ không được học môn Luật nay và do đó sẽ không được chính thức là sinh viên của Viện.

Tất cả những tâm tư đó, tình cảm đó, không riêng con, mà Thầy đã trang trải cho hàng ngàn Tăng Ni sinh chúng con từ các trường viện ở Báo Quốc Huế, Phổ Đà Đà Nẵng, Hải Đức Nha Trang, Nguyên Thiều Bình Định, Linh Sơn Đà Lạt, Già Lam Gia Định, Giác Sanh Saigon và bao nhiêu Phật học viện khác khắp nơi trong nước.

Khi bàn cờ thế cuộc sắp đổi thay, Thầy với kinh nghiệm sống trong 9 năm kháng chiến, đã lo sợ cuộc tấn công vào Nha Trang sắp xảy ra cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1975 của đội quân Bắc cộng sẽ tạo cảnh đạn lạc bom rơi sát hại những đứa con sinh viên thương mến của Thầy, nên Thầy ra lệnh mua sắm thực phẩm khô phân ra mỗi túi 10 kg và chia cho chúng con mỗi đứa một ít tiền của Viện, để lỡ Trại Thủy bị rơi vào vòng chiến như trận Mậu Thân, Thầy dặn chúng con mỗi người phải tự tìm đường mà chạy, tìm chỗ mà lánh, tìm nơi mà sống, đến khi ổn định nhớ tìm về với Thầy để cuốc đất trồng sắn khoai mà giữ chùa giữ đạo. Thầy biết trước với chính thể mới, thầy trò chúng ta dễ gì được cho học đạo,  và truyền bá đạo pháp. Hải Đức với một tay Thầy gầy dựng cơ sở vật chất, đến nay 2005 vẫn còn dậu đổ bìm leo, hoang vu trơ trọi, mấy năm trước đây pháp đệ Quảng Trừ con về thăm lại Thầy và Viện có quay phim cảnh hoang tàn đổ nát của Viện cũ trường xưa và những nét ưu thời mẫn thế hằn sâu trên tôn nhan Thầy.

Thầy ơi, người ta chỉ muốn ép đặt sao cho Tăng Ni thời nay chỉ là công cụ của thế quyền, họ cố tình cắt lìa với các vị Chúng Trung Tôn thời nay khỏi bản thể thanh tịnh hòa hợp mà Như Lai chế chỉ, liệt Tổ thừa đương, mà vị Thầy Vụ Trưởng Vụ Phật Học tôn kính của chúng con đã bao năm chỉ đạo, bảo tồn.

Dù cẩn trọng dè dặt đến đâu, nhưng rồi thế quyền thời mới cũng xô đẩy vị Thầy cả đời chỉ lo dạy Luật tạo Tăng vào lao tù gần 2 năm. Cuối 1979, thầy vừa ra khỏi tù, chỉ 1 tháng sau, nghe tin đứa Tăng sinh cũ của thầy vì nhận nhiệm vụ Chánh Đại Diện Phú Bổn mà bị tù 3 năm cũng mới vừa ra khỏi nông trường lao cải, Thầy liền vội nhắn tin để ôn Giám Viện Hải Đức gọi con vào Già Lam Sài Gòn để cùng tham gia biên soạn Bách Khoa Phật Học Đại Tự Điển do hai Giáo Thọ của con là Thầy Tuệ Sỹ (cũng vừa ra tù đợt 1), Trí Siêu Lê Mạnh Thát, cùng các vị NS Trí Hải, GS Nguyên Hồng, ..… chủ trương và biên tập. Thầy mãi nhớ từng đứa Tăng sinh dù trong chúng con có người rời Viện đã lâu, thậm chí có đứa đã hoàn tục mà Thầy vẫn mến thương, han hỏi, trợ giúp cho cuộc sống cơ cực. Ôi, tấm lòng bao la của Thầy đã trải dài bao nhiêu thế hệ, biết bao nhiêu tăng ni sinh chúng con. Nếu thiếu bà tâm, đảm lược, đôi vai gánh vác, bàn tay từ ái của Thầy thì đạo pháp Việt biết đã được thừa đương trong cách thế ra sao trong 50 năm sóng gió gần đây của vận hội Việt Nam.

Bạch Thầy, mấy tuần trước khi Thầy viên tịch, hay tin trễ Thầy đang bệnh nặng nằm bệnh viện Chợ Rẫy, bác sĩ đã từ chối không chữa trị và khuyên đưa Thầy về chờ ngày ra đi, con mãi tìm kiếm điện thoại của thị giả để hầu Thầy mà không được, phải đợi khi Thầy về tới tịnh thất cũ ở Nha Trang con mới được hầu Thầy, nghe con tỏ ý cho mệnh hệ của Thầy, Thầy có ý trách con “các vị ở Hải Ngoại cứ lo hành đạo, lo làm việc Phật sự hoằng pháp như bấy lâu, Quảng Ba đừng lo lắng gì cho Thầy, Thầy biết đường đi, không sao cả đâu. Nhớ tiếp tục yểm trợ việc phiên dịch Pháp tạng như bấy lâu nay. Thôi Thầy không được khỏe, cho Thầy kính lời thăm tất cả quý thầy bên Úc”. Tuy mấy lời ấy đơn sơ ngắn ngủi, nhưng nhất định sẽ nguyện giữ mãi trong tâm khảm con cho đến trọn đời.

Một đời Thầy không làm Viện chủ, không trụ trì chùa nào, thậm chí cũng không xuống tóc cho mấy ai, nhưng cả ngàn và nhiều ngàn Tăng Ni sinh chúng con dù lưu lạc phương trời nào cũng mãi mãi sẽ là môn đệ, tử đệ của Thầy, sẽ hướng về Hải Đức và tịnh that Thầy như là một cõi quê hương đạo tình thắm thiết.

55 năm sống tại Nha Trang, từ bàn tay, khối óc và tài nghệ của Thầy đã tạo ra kinh tế nuôi dưỡng cả ngàn tăng ni sinh khắp các Phật học viện toàn quốc. Từ ngôi tịnh thất nhỏ bé đơn sơ, bậc Thầy tinh thông tam tạng giáo điển của con gần 20 năm qua đã chủ trì một Ban Phiên Dịch Pháp Tạng và Thầy chỉ đạo huynh đệ đồng môn của con như pháp hữu Minh Thông, Trí Viên và những huynh đệ khác đã hết lòng theo sự chỉ bảo của Thầy đã phiên dịch gần xong một nửa Đại Tạng Kinh chờ ngày xuất bản, đem lại vô vàn ích lợi cho hậu thế chúng con.

Công đức của Thầy vĩ đại quá, sâu thẳm quá, làm sao người học trò nhỏ bé tầm thường như con có thể biết hết được và có thể xưng dương tán thán hết được.

Suốt đời Thầy không những tận tụy lo phụng sự đạo pháp, mà còn luôn kính lễ các bậc sư trưởng, luôn thương xót dìu dắt nâng đỡ đàn hậu tấn Tăng Ni như chúng con. Ôn Từ Đàm thế tuế chỉ hơn Thầy 7 năm, thọ Đại giới trước Thầy chỉ vài năm, nhưng vì Thầy đã từng ngồi học Câu xá, Thành thật với Oân (trước chúng con hơn 20 năm), chúng con thấy mãi mãi Thầy vẫn tôn kính Oân là bậc thầy của Thầy, là Thầy của Thầy. Không những với Ôn Từ Đàm là ngài Viện Trưởng tôn kính của chúng con, trong đại khối Tăng già Việt Nam, chúng con còn thân thấy Thầy luôn giữ lòng tôn kính các bậc tôn sư khác của Thầy, từ cố Hoà thượng Giám viện Trí Thủ, ngài Trí Nghiêm Giám Luật tôn kính, đến chư Hoà thượng Thiện Hoa, Thiện Hoa, vv..vv, Thầy luôn luôn xử phậân là học trò hết sức cung kính, hết sức khiêm nhường và luôn luôn vâng lời chỉ bảo.

Điều ấy làm cho chúng con hổ thẹn vô cùng vì công đức, trí huệ, tài năng, đức khiêm nhường ấy, dễ mấy ai có thể học được. Học tăng của Thầy từ thời thập niên 60, 70 như chúng con đang ở hải ngoại khá nhiều, luôn cả mấy thế hệ Tăng Ni sinh đã thọ giáo, thọ giới, thọ pháp với Thầy trong mấy chục năm gần đây đang tu học hành đạo khắp Nam Trung Bắc, luôn đến ngàn trùng công đức Thầy để lại cho đạo pháp, cho đời, ôi, thật là vô lượng vô biên.

Hôm nay quỳ dưới chân dung thầy, con chỉ có mấy lời thô thiển, sơ bạc, cùng với Giáo Hội tại Uùc ngưỡng mong Giác Linh thầy chứng giám, xin  thương xót chúng con mà sớm trở lại cõi Ta Bà để trí tuệ và đức hạnh Thầy lại một lần nữa trải dài lên hình hài lên dân tộc Việt và chia xẻ cho Tăng Ni Phật tử Việt, đều đang còn chịu nhiều u minh khổ lụy, và để chung hòa vào tăng đoàn nước Việt trong đại nguyện hoằng pháp lợi sanh.

Nam mô tự Lâm Tế chánh tôn đời thứ 42, Vụ Trưởng Vụ Phật Học Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Phó Viện Trưởng Viện Phật Học Hải Đức Nha Trang, tân viên tịch Đại lão Hòa thượng húy thượng Đổng hạ Minh tôn sư Giác linh liên tọa.

Nay kính bái vọng,

 Thích Quảng Ba

 

 

 

 

 

---o0o---

Nhiếp ảnh: Thích Giác Tín - Tịnh Tuệ - Chúc Khâm - Minh Tánh

Cập nhật: 05-07-2005

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Trường Hạ Phổ Quang

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544