| ......
... |
. |
Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Ðại Lợi-Tân Tây Lan
Kỷ Yếu
Trường Hạ Quảng Ðức
|
Lời ngỏ
Theo truyền thống Tăng Già, hằng năm chư
Tăng Ni khắp nơi đều nhóm họp một nơi để kiết giới an cư, hầu thúc liễm
thân tâm,trau dồi Giới, Ðịnh, Tuệ, ba môn vô lậu học, tăng trưởng đạo lực
sau những tháng ngày bận rộn hoằng pháp lợi sanh.
Tại quê nhà, chư Tăng Ni thường tác pháp
an cư kiết hạ từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 16 tháng 7 âm lịch, đúng theo
truyền thống “ tam nguyệt an cư, cửu tuần tu học” (ba tháng cấm túc an cư,
chín mươi ngày chuyên tinh hành trì tụ học). Tuy nhiên khi PGVN truyền ra
hải ngoại, vì hoàn cảnh, địa dư, thời tiết khác biệt đối với quê hương nên
khóa an cư cũng theo đó mà thay đổi để phù hợp với thời đại.
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải
Ngoại tại Úc Ðại Lợi – Tân Tây Lan được thành lập năm 1999, quy tụ hầu hết
các tự viện trên toàn liên bang Úc, mỗi năm đều qui tụ lại một trú xứ được
chọn trước để an cư tu tập trong mười ngày.
Bốn kỳ an cư trước đây được tổ chức tại
Chùa Pháp Hoa, South Australia (2000), Chùa Pháp Bảo, New South Wales
(2001), Chùa Linh Sơn, Victoria (2002), Tu Viện Vạn Hạnh, thủ đô Canberra
(2003) và năm nay, khóa An Cư Kiết Ðông được tổ chức tại Tu Viện Quảng
Ðức, thành phố Melbourne, Victoria.
Tập Kỷ Yếu này ghi nhận hình ảnh sinh hoạt
của Trường Hạ Quảng Ðức 2004 như một món quà tinh thần kỷ niệm cuối khóa
cho mọi hành giả tham dự khóa tu và thân tặng các pháp hữu gần xa.
Dù hết sức cố gắng trong khả năng, tuy
nhiên những thiếu sót chắc chắn không sao tránh khỏi. Kính mong Chư Tôn
Ðức và quý Phật tử hoan hỷ góp ý và bổ chính.
Trân trọng,
Ban Thực Hiện Kỷ Yếu Trường Hạ
^
|
Phật Lịch 2548 |
|
|
Số 03/VTT/TT |
|
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT
NAM THỐNG NHẤT
VIỆN TĂNG THỐNG
HUẤN TỪ CỦA ĐỨC TĂNG THỐNG
NHÂN MÙA AN CƯ PL. 2548
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU
NI PHẬT
Kính Thưa chư Đại Đức Tăng, cùng Bốn Chúng
đệ tử.
2548 năm trôi qua kể từ khi hình ảnh của
đấng Chí tôn khuất dấu vô thường giữa rừng Câu-thi-na u tịch. Từ đó
cỗ xe chuyển dịch tuần hoàn vẫn tiếp tục lăn bánh, để lại sau nó
những vết tích của phú cường và huỷ diệt, bạo lực và nhân ái; rải
rác đó đây, trên những sa mạc khô cằn, trong những đô thị trù phú,
loài người đã góp nhặt từng giọt máu đào, từng giọt nước mắt để tích
luỹ thành kiến thức, tạo dựng thành văn minh; từ những giá trị cá
biệt là căn nguyên xung đột giữa các cộng đồng tôn giáo, dân tộc,
dần tiến tới những giá trị phổ quát phản ánh khát vọng và tâm nguyện
muôn thuở của con người. Những giá trị phổ quát, những quyền cơ bản
làm nên giá trị hiện hữu của con người càng lúc càng được thừa nhận
trong các cộng đồng dị biệt của nhân loại, coi đó như là điều kiện
thiết yếu tạo dựng một xã hội hoà bình, an lạc, hoá giải hận thù,
xoá bỏ bất công, áp bức gây nên bởi tham vọng quyền lực, cuồng tín
giáo điều. Thông điệp bao dung, hỷ xả mà đức Thích Tôn trao truyền
cho các chúng Thanh văn và Bồ tát, tỏa sáng bằng các phẩm tính từ bi
và trí tuệ của tuệ giác vô thượng, ngày nay dần dần được nhân loại
đón nhận như là dấu hiệu chỉ đường cho một thế giới nội tâm an lạc
trong một thế giới đầy sợ hãi vì bạo lực điên cuồng.
Thông điệp ấy được truyền vào đất nước
Việt nam cũng đã 2000 năm. Đức tính bao dung và những giá trị phổ
quát của phẩm giá con người được hàm chứa trong đó đã từng là nguồn
lực sinh tồn tác động, hình thành ý thức dân tộc. Mỗi dân tộc, trong
điều kiện địa lý và lịch sử cá biệt, bằng vô vàn đau thương và khổ
luỵ của nhiều thế hệ tiếp nối, đã tạo dựng nên những giá trị truyền
thống, có đủ sức mạnh ý chí để tự khẳng định sự tồn tại của mình
bình đẳng với mọi dân tộc khác, dù lớn hay nhỏ. Đó là bài học lịch
sử được viết bằng tâm nguyện hy sinh vô uý của lịch đại Tổ Sư, của
nhiều thế hệ Phật tử anh hùng, mà ngày nay hết thảy chúng đệ tử
Phật, xuất gia cũng như tại gia, cần phải tư duy chiêm nghiệm, tự
trang bị cho mình nhận thức chân chính, để nhờ đó mà tăng trưởng tâm
nguyện bồ đề, sức mạnh dũng cảm vô uý. Nếu không được như thế, cộng
đồng Phật tử Việt nam sẽ chỉ hiện diện như những hội đoàn ô hợp đấu
tranh theo quyền lợi thế tục, mà công phu hành trì, công việc Phật
sự lại chỉ tập trung vào những hình thức bên ngoài và nghi lễ cúng
bái.
2548 năm, giáo pháp của đức Thích Tôn được
truyền bá lan dần từ Đông sang Tây, từ cận vùng Nam cực cho tới vành
đai Bắc cực, bằng phương tiện duy nhất là thuyết giáo mà không bạo
lực hận thù, chỉ thấm nhuần hương vị duy nhất là giác ngộ và giải
thoát. 2000 năm lịch sử truyền thừa trên đất Việt, cũng thuần một
hương vị duy nhất được hòa quyện bất khả phân bởi tinh hoa dân tộc
và đạo pháp. Đó là ý nghĩa tồn tại, mà cũng là sứ mạng, của các cộng
đồng Phật tử Việt nam trong đại khối cộng đồng dân tộc.
Năm nay, cũng như hằng nghìn năm trước,
Tăng già và Phật tử Việt nam cúng dường ngày đản sinh của đức Từ
phụ, đấng Đạo sư của chư thiên và nhân loại, bằng tín tâm thanh
tịnh, bằng công hạnh tu trì được tích lũy, đốt nén tâm hương giới
định huệ, cầu nguyện an lạc cho mình và cho nhiều người, ích lợi
trong đời này và đời sau.
Kính thưa Chư liệt vị, Ngay sau ngày Phật
đản, là ngày Tăng già Việt nam, gồm cả hai bộ Tỳ kheo và Tỳ kheo ni,
kiết giới an cư theo truyền thống Bắc phương. Mặc dù do sự sai biệt
phong thổ, lịch pháp và tập quán xã hội nên ngày tháng an cư của hai
hệ truyền thừa Nam Bắc không đồng, nhưng tất cả đều dựa trên một nền
tảng Tỳ-ni tạng, với những học xứ tương đồng của giới bổn Biệt giải
thoát. Nhân dịp này, tôi kính gởi đến toàn thể Tăng già Viêt nam,
chư Đại đức tỳ kheo và tỳ kheo ni; gởi đến toàn thể bốn chúng đệ tử
Phật, lời thăm hỏi và chào mừng ngày mới của Mùa an cư 2548 như là
lời chúc tụng đầu năm trong đời sống đạo hạnh.
Mùa an cư, các chúng Tỳ kheo và Tỳ kheo
ni, trong từng trú xứ riêng biệt, cùng hòa hiệp và thanh tịnh trong
đồng nhất trú xứ, và đồng nhất thuyết giới; là nền tảng phước điền
cho các chúng đệ tử xuất gia cũng như tại gia, lấy đó làm y chỉ để
tăng trưởng đạo lực, vun bồi gốc rễ phước lạc nhân thiên và đạo quả
Niết bàn.
Cũng nhân đây, tôi xin nhắc lại bảy pháp
bất thối mà đức Phật đã chỉ dạy mà chúng Tỳ kheo và tỳ kheo ni cần
phải học tập, chấp hành; y chỉ trên đó mà tu trì để tăng trưởng đạo
lực cho mình và đồng thời củng cố bản thể thanh tịnh và hòa hiệp của
Tăng già, không bị lôi cuốn vào các sự nghiệp thế gian, không bị chi
phối và sử dịch bởi các cộng đồng thế tục. Nguyên lai pháp bất thối
được Phật công bố do bởi Đại thần Vũ Xá theo lệnh vua A-xà-thế thỉnh
ý đức Phật về ý đồ xâm lược và trấn áp bộ tộc Bạt-kỳ, ỷ thị sức mạnh
của Vương quốc Ma-kiệt-đà hùng cường. Nhân đó, Phật khiến A-nan tập
họp tất cả chúng tỳ kheo trong phạm vi thành Vương xá để nghe đức
Phật công bố bảy pháp bất thối. Cũng như một dân tộc không bị đánh
bại và khuất phục, nếu dân tộc ấy có đầy đủ bảy pháp bất thối; cũng
vậy, chúng Tỳ kheo sẽ không thể bị khống chế bởi bất cứ sức mạnh dẫu
hung tàn như thế nào của thế lực cường quyền, nếu chúng Tỳ kheo sống
hòa hiệp bằng bảy pháp bất thối. Bằng vào ý thức tự giác, chứ không
bằng vào sự cưỡng chế pháp luật, đức Phật công bố bảy pháp bất thối,
mà Tăng trong một trú xứ nếu không y giáo phụng hành, chúng tỳ kheo
ở đó chỉ là một tập thể ô hợp, nghĩa là như bầy quạ khi có lợi thì
cùng tụ nhau lại kêu la inh ỏi, khi hết lợi thì tan tác bay đi. Bảy
pháp bất thối như sau:
-
Các
tỳ kheo thường xuyên tập họp đúng theo các qui định bởi Luật tạng,
để giảng luận Chánh pháp, chứ không phải tập họp để tuyên dương
tán tụng sức mạnh quyền lực thế gian, khiến cho các tỳ kheo trong
trú xứ cùng sinh hoạt hòa thuận.
-
Các
tỳ kheo phải tụ họp trong tinh thần hòa hiệp không tranh chấp,
giải tán trong tinh thần hòa hiệp không tị hiềm, nghi kỵ, và chấp
hành các Tăng sự trong tình cảm nhiệt thành.
-
Chúng tỳ kheo không tùy tiện quy định và ban hành những luật lệ
không đáng được ban hành, không thích hợp; cũng không được tự tiện
sửa đổi, bải bỏ những luật lệ đã được ban hành từ trước; sống đúng
theo giáo huấn của Phật, và tùy thuận những gì mà Tăng già đã quy
định, được truyền thừa qua lịch đại Tổ Sư.
-
Các
tỳ kheo phải luôn tôn trọng, kính lễ các tỳ kheo trưởng thượng, mà
phẩm hạnh và trí tuệ do công phu tu tập và học hỏi, xứng đáng là
hàng Trưởng lão trong Tăng; luôn luôn nhiệt thành nghe những lời
khuyến giáo của các tỳ kheo trưởng thượng như thế.
-
Các
tỳ kheo sống không bị lôi cuốn vào những tham ái, những bận rộn
thế tục.
-
Trú
xứ của chúng tỳ kheo là những nơi nhàn tĩnh, không phải là trú xứ
tập họp để phục vụ các quyền lợi thế tục.
-
Các
tỳ kheo sống an trú chánh niệm, tỉnh thức, tạo thành một cộng đồng
thanh tịnh hòa hiệp, để cho các đồng phạm hạnh từ những nơi khác
chưa đến thì muốn đến, đã đến thì muốn an trú lâu dài để tu tập,
cùng sống hòa thuận và an lạc.
Tư duy chiêm nghiệm bảy pháp bất thối mà
đức Thích Tôn đã trao truyền cho chúng đệ tử, những người Phật tử
Việt nam không khỏi ngậm ngùi vì những mâu thuẫn bất hoà, tranh
chấp, chia rẽ trong hàng đệ tử Phật. Sinh vào thời Pháp nhược Ma
cường, hàng Thánh Tăng vắng bóng, Phật tử Việt nam cùng chung kết
quả cộng nghiệp của dân tộc Việt nam, mà những dòng thác hung bạo
của tranh chấp quyền lực quốc tế, của hận thù giai cấp, của đấu
tranh ý thức hệ, đã ghi lại vô vàn vết
tích đau thương trên đại khối dân tộc.
Đức Phật đã dạy, chúng sinh là kẻ thừa tự của những nghiệp mà nó đã
làm. Vậy, mỗi người trong chúng ta, Tăng cũng như tục, cần có thời
gian lắng đọng tâm tư để thấy rõ trách nhiệm của từng cá nhân mình,
vì đã không có đủ năng lực trí tuệ, không có đủ ý chí dũng mãnh, để
cho ngọn đèn Chánh pháp được lịch đại Tổ Sư truyền trao qua 2000
nghìn năm lịch sử bỗng chốc bị lu mờ, khiến cho hầu hết những người
con Phật không thấy rõ đường nào phải đi, không thể phân biệt đâu
chánh đâu tà, đâu là sứ mạng của người tu học Phật và đâu là sử dịch
nô lệ của thế gian.
Kính thưa Chư liệt vị,
Ngày Phật đản, Phật tử chúng ta dâng nén
tâm hương cúng dường mười phương chư Phật. Hương thơm giới định huệ
dâng lên, nhưng khói bụi trần lao ô trược cũng đồng thời rơi vãi
xuống. Vì vậy, chúng ta không nên chỉ nhìn lên làn khói cuộn như mây
lành năm sắc trong hư không mà quên không nhìn thấy bụi bẩn rơi vãi
trên bàn thờ. Mỗi khi dâng hương cúng Phật, hãy nhớ đừng quên
quét dọn bàn thờ Phật cho thanh tịnh trang nghiêm; cũng đừng tự trói
tay mình lại, hay để cho người khác trói tay mình lại, mà nhìn bụi
bám đài sen càng lúc càng dày.
Vật có tụ thì phải có tán. Tâm người có
khi hiệp thì cũng có khi lìa. Tăng chúng nay hiệp mai lìa, một phần
cũng là quy luật của tồn tại. Nhưng bản thể thanh tịnh và hòa hiệp
tạo thành tồn tại của Tăng mà đức Phật thiết lập thì không hề dao
động, không hề biến đổi. Khi duyên hội, các pháp tự thành. Nhưng
duyên hội không hoàn toàn ngẫu nhiên mà không có cộng đồng giao
hưởng bởi tâm tư hay ước vọng của chúng sinh. Cho nên, trong mùa an
cư năm nay, tôi thành tâm cầu nguyện uy lực Tam bảo gia trì hộ niệm
cho bốn chúng đệ tử hội đủ thiện duyên, bỏ bớt dần những vọng tưởng
trần lao, xa dần những bôn ba thế tục, chuyên tu giới định huệ,
hướng tâm nguyện đến sự tồn tại chói sáng của Tăng già từ bản thể
thanh tịnh và hòa hiệp. Có như thế, Phật pháp mới là nguồn suối an
lạc, Tăng-già là tiêu chí cho một xã hội đạo đức và trật tự. Bốn
chúng đệ tử Phật như thế cùng góp công đức kiến tạo thế giới hòa
bình, cho dân tộc an lạc và tăng tiến.
Cầu nguyện cho tất cả chúng đệ tử Phật
cùng học cùng tu, cùng tôn thờ một đấng Đạo Sư, cùng sống hòa hiệp
như nước với sữa, như thế mới tìm thấy sự an lạc trong Chánh pháp.
Nam Mô Trung Thiên Giáo Chủ Điều Ngự Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Tu Viện Nguyên Thiều. Phật Đản Năm Giáp
Thân
ĐỆ TỨ TĂNG THỐNG GHPGVNTN
(đã ấn ký)
Tyø Kheo
Thích Huyền Quang
^
|
Lời khai thị của HT
Thiền Chủ Thích Như Huệ
Mỗi mùa An Cư, sau thời kinh buổi sáng, chư
Tôn Ðức có đôi lời sách tấn đại chúng. Năm nay ngày đầu của thời kinh Lăng
Nghiêm, chúng tôi được mời có đôi lời nhắc nhở khuyến tấn đại chúng,
cùng nhau tu tập dưới mái chùa Quảng Ðức ở Trường hạ năm 2004 này.
Kính thưa Chư Tôn Ðức Tăng Ni, người
Việt chúng ta có mặt trên đất nước này
(Úc Ðại Lợi) là một phước duyên lớn, đó là sống nơi tự do giàu có.
Riêng đối với hàng Phật tử xuất gia phải nói là một đại duyên, dù hoàn
cảnh phương tiện mỗi người đến được đất tự do có khác biệt, nhưng nói
chung lại chúng ta đã may mắn hơn rất nhiều người. Nghĩa là chúng ta có
được tự do tu tập sinh hoạt như ý muốn. Tuy thế, ngược lại, chúng ta cũng
tự thấy rằng sống nơi đất nước dư đầy vật chất này, mà người Tăng sĩ vẫn
luôn giữ được phong cách phẩm hạnh người tu quả là một việc đáng ca ngợi.
Chúng tôi thật sự xin tán thán việc tu hành phạm hạnh của quý vị, nhất là
quý vị tu sĩ trẻ.
Tu sĩ trẻ là thế hệ nối truyền truyền thống
Phật giáo lâu dài ngàn năm sau. Dù rằng trong quý vị có người xuất gia tại
quê nhà và xuất gia tại đây (Úc), nhưng thế nào, quý vị vẫn là hình ảnh
sống động cho Phật giáo trong tương lai. Nhắc đến đây chúng tôi xin được
nhắc đến pháp ngữ của Ngài Quy Sơn như sau: “...viễn hành yếu giả lương
bằng, sát sát thanh ư nhĩ mục, trụ chỉ tất tu trạch bạn, thời thời văn ư
vị văn...” (Ði xa thì phải nhờ bạn tốt để luôn luôn lọc sạch tai
mắt, trú ở thì cần chọn bạn hiền để thường thường nghe điều chưa nghe. –
HT Trí Quang dịch ). Ở nơi xứ người như thế này, lại là nơi xa hoa vật
chất, người tu sĩ nếu không giữ vững bồ đề tâm, và không gần thiện hữu tri
thức ắt dễ lung lạc ý nguyện xuất trần thượng sĩ. Cho nên mong rằng quý vị
luôn nỗ lực phấn đấu nhiếp tâm tu học để Phật pháp tương lai sẽ mong nhờ
vào quý vị.
Với hàng Phật tử tại gia, lại nên ý thức kiếp
sống mạng người ngắn ngũi mà gia công tu tập, như Tổ Quy Sơn đã dạy: Vô
thường lão bệnh bất dữ nhân kỳ. Triêu tồn tịch vong sát na dị thế, Thí như
xuân sương, hiểu lộ, thúc hốt tức vô; ngạn thọ, tỉnh đằng, khởi năng
trường cửu...” (Vô thường già bệnh không hẹn với ai cả. Sớm còn tối mắt,
trong một sát na là qua đời khác. Khác nào sương mùa xuân, móc sáng sớm,
chốc lát đã không; cây bên bờ, dây miệng giếng).
Ít lời xin được chia xẻ đến quý Chư Tôn cùng
đại chúng. Kính chúc quý vị thân tâm an lạc, giữ vững niềm tin để trọn mùa
an cư được pháp lạc sung mãn.
Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát.
^
Lời Khai
Mạc Khóa An Cư 2004 Tại Tu Viện Quảng Ðức
Nam
Mô BỔn Sư Thích Ca Mâu Ni PhẬt
Ngưỡng Bạch Lên Hòa Thượng Chứng Minh Hội
Ðồng Giáo Phẩm Trung Ương GHPGVNTN Hải Ngoại Úc Ðại Lợi Tân
Tây Lan.
Ngưỡng Bạch Lên Hòa Thượng Hội Chủ, Hội
Ðồng Ðiều Hành GHPGVNTN Hải Ngoại tại Úc Ðại Lợi Tân Tây Lan.
Kính Bạch hiện tiền Chư Tôn Ðức Tăng Ni,
Kính thưa quí thiện Nam Tín Nữ, quí Tịnh
Nhơn, Học Viên về tham dự Khóa Tu , Tùng Hạ An Cư , công quả, cùng quí
đồng hương , Phật Tử xa gần thân mến.
Trước đây hơn 2500 năm , khi Ðức Thế Tôn
còn tại thế , Ngài Lảnh Ðạo một một Giáo Ðoàn Tỳ Kheo hơn 1200 Vị , để
đi lại trên khắp mọi nẻo đường của đất nước Ấn Ðộ , để hóa duyên
và truyền trao Giáo Pháp Giác Ngộ An Lạc, cũng như phương pháp diệt trừ
khổ đau , và chấm dứt con đường sanh tử luân hồi của mọi chúng sanh.
Rồi từ đó cũng từ trong Giáo Ðơàn này, Mùa
An Cư Kiết Giới Tịnh Tu ï đầu tiên được tổ chức tại Kỳ Hoàn Tịnh
Xá lúc bấy giờ, nhằm mục đích để thúc liểm thân tâm Tấùn Tu Ðạo
Nghiệp, đồng thời cũng tránh được sự đi lại quá nhiều của Giáo Ðơàn 1200
vị , trong mùa mưa ẩm ước , có thể dẩm lên những vi trùng sâu bọ, mà
lòng từ của Ðức thế tôn gọi đớ là mỗi mỗi chúng sanh bị mất mạng sống ,
dưới bàn chân của chúng ta.
Ngưỡng bạch lên chư tôn đức, Kính thưa liệt
quí vị, trải qua suốt chiều dài lịch sử đã hơn 2500 sau khi Ðức Phật
Nhập Diệt, Phật Giáo đã truyền đi khắp năm châu bốn biển nói chung , nói
riêng cho Phật Giáo Việt Nam, và tuỳ theo từng quốc độ , hoàn cảnh nhân
duyên để xiển dương giáo pháp của Ngài được trường tồn , hưng thịnh.
Mà trong đó Giáo Ðoàn Tăng Ni , là hàng
trưởng tử Như Lai phải nghiêm trì Giới Luật , để bảo tồn chánh pháp cứu
độ chúng sanh, mà trong Kinh Di Giáo Ðức Thế Tôn đã dạy.
Ðể thực hiện những lời Giaó huấn đó của
Ngài, hằng năm Mùa An Cư Tịnh Tu , trao dồi giới đức không thể
thiếu đối với hàng Trưởng Tư Như Lai. Năm nay Mùa Kiết Giới An Cư 2004 ,
lần thứ 5 do Giáo Hội Tổ Chức . . Chúng con Chư Tăng Ni , Phật tử tại
đạo tràng Tu Viện Quảng Ðức được Chư Tôn Ðức tin tưởng giao phó tổ chức
Mùa An An Cư Tịnh Giới năm nay, đây là một niềm vui lớn , một công đức
lớn mà Tu Viện Quảng Ðức chúng con được hoan hỷ vui mừng nhận lãnh.
Tuy rằng chúng con vẫn biết với hoàn cảnh ,
và những phương tiện khiêm tốn của Tu Viện trong hiện tại , cũng như tài
đức khiếm khuyết của chúng con khó có thể chu toàn viên mãn cho
khóa tu , nhất là về mặt sức khỏe của Chư Tôn Ðức và quí Phật tử
về tùng hạ Tu Học , côn quả trong 10 ngày vì thời tiết quá lạnh. Chúng
con cầu nguyện Chư Phật gia hộ, và mong được đón nhận những lời
chỉ dạycủa chư tôn đức , cũng như được sự hổ trợ phát tâm của những
thiện nam tín nữ Phật tử xa gần, gián tiếp hổ trợ , hay về tham dự khóa
hạ an cư , tu học công quả .
Kính bạch lên Chư Tôn Ðức, Thay mặt
Ban Tổ Chức Khóa Hạ An Cư lần thứ 5 của GHPGVNTN Hải Ngoại Úc Ðại Lơi
Tân Tây Lan, cũng là Hóa Chủ Trường Hạ tại Tu Viện Quảng Ðức , tính cho
đến giờ phút này chúng con được cung đón 60 Chư Tôn Ðức Tăng Ni đã đăng
ký về Kiết giới an cư tại giới Trường. Ðồng thời cũng có hơn 70 Phật Tử
về tùng hạ tu học, công quả trong 10 ngày.
Nhân Danh Hóa Chủ Trường Hạ chúng con thành
tâm đê đầu đảnh lễ Chư Tôn Ðức, thân mến đón mừng sự có mặt của quí vị
Phật tử về tùng hạ, cũng như quí đồng hương Phật tử xa gần .
Kính chúc chư tôn đức , cùng liệt quí vị,
thân tâm an lạc, bồ đề tăng trưởng , đạo quả viên thành, Suốt thời gian
Tu Học
Nam Mô Công Ðức Lâm Bồ Tát Tác Ðại
Chứng Minh.
^
Lời Mở Ðầu Lễ
An Vị Thích Ca Phật Ðài Lộ Thiên.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch hiện tiền Chư Tôn Hòa Thượng, Chư
Thượng Tọa Ðại Ðức Tăng Ni.
Kính thưa quí đồng hương Phật tử thân mến.
Ðúng vào ngày 20.6.1997 Ðào Tràng Tu Viện
Quảng Ðức thuyên chuyển về nơi mảnh đất này, nơi đây là một ngôi trường
tiểu học cũ đã đóng cửa trong nhiều năm, khung cảnh thật hoang tàn xơ
xát. Suốt 7 năm qua Ðạo Tràng Quảng Ðức chúng con từng bước khắc phục
xây dựng và chỉnh trang để trở thành một ngôi Tu Viện được trang nghiêm
.
Ðây là một thành quả khiêm tốn, được xây
dựng bằng cả mồ hôi , nước mắt, bằng tâm đức nguyện lực của mọi giới
đồng hương Phật tử xa gần.
Kính thưa liệt quí vị, Phật Ðài Thích ca Lộ
Thiên trước mặt Chư Tôn Ðức và quí đồng hương Phật tử là một pho
tượng được an trí trong ngôi chánh điện cũ, pho tượng này đã được quí
đồng hương Phật tử xa gần phát tâm cúng dường , và đã phát tâm lễ lạy tu
học trong nhiều năm. Tuy nhiên khi xây dựng ngôi chánh điện mới Ðạo
Tràng chúng con đã an vị Tôn Tượng Bổn Sư bằng đồng tại Ðại Hùng Bảo
Ðiện.
Và để đánh dấu ghi lại công đức ngay từ
những ngày đầu tiên , đồng thời cũng để kỷ niệm, và đền ơn trong muôn
một ân đức của quí ân nhân, đồng hương Phật tử xa gần đã nhiệt tâm hổ
trợ, chúng con quyết định xây dựng Phật Ðài Lộ Thiên này. Ngưỡng bạch
lên hiện tiền Chư Tôn Ðức Tăng Ni, thật là một phước duyên thù thắng cho
đạo tràng Tu Viện Quảng Ðức của chúng con, được Chư Tôn Ðức giao phó
trọng trách tổ chức Mùa An Cư Tịnh Giới Tu Trì cho Chư Tôn Ðức Tăng Ni
trong Giáo Hội.
Sau một tuần lễ tịnh giới tu học đã trôi
qua, hôm nay đạo tràng chúng con được Chư Tôn hứa khả quang lâm Phật Ðài
Lộ Thiên Thích Ca Mâu Ni để Chú Nguyện Lễ Sái Tịnh Tẩy Trần An Vị. Ðây
là một công đức lớn mà đạo tràng của chúng con khó có thể đủ phước duyên
nhận được.Trong giờ phút trang nghiêm thanh tịnh trước Ðài Sen Chân Dung
Ðức Thế Tôn, chúng con nguyện cầu Hồng ân Tam Bảo chứng minh gia hộ Chư
Tôn Tôn Ðúc Pháp Thể Khinh An Chúng Sanh Dị Ðộ.
Và kính chúc toàn thể quí đồng hương Phật
tử xa gần , bồ đề tâm kiên cố, gia đình hạnh phúc, và luôn được an lành
trong ánh hào quang của Ðức Phật.
Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát
Trụ Trì Tu Viện Quảng Ðức
Tỳ Kheo Thích Tâm Phương
^
Xem Kỷ Yếu Khóa An
Cư năm 2005
-
|
Ban Thực Hiện Kỷ Yếu
Cố vấn: HT Thích Bảo Lạc
Biên tập nội dung: ÐÐ Nguyên Tạng, ÐÐ Phổ Huân
Ðánh máy: Chúc Khâm
Sửa bản in: Sông Thu
Trình bày: Nhân Văn, Nhị Tường
Trình bày bìa: Tâm Kiến Chánh
Kỹ thuật ấn loát: Lợi Trương, Steve Lowe Nguyên Thiện Bảo
Ðóng bìa: Nguyên Nhật Minh, Như Thảo, Thục Hà, Anh Dũng
|
|
---o0o---
Cập nhật: 14-07-2004
|
|