Lược Giải
Những Pháp Số Căn Bản
Hạnh Cơ
---o0o---
Số
10
MƯỜI BỨC TRANH CHĂN TRÂU
(thập ngưu đồ - thập mục ngưu đồ)
Đây là mười bức họa trâu biểu
tượng cho hành trình tu chứng của người tu học, rất được phổ biến trong
các chùa, am, thiền viện, Phật học viện và viện đại học Phật giáo ở các
nước Phật giáo Bắc truyền. – Lấy đề tài “chăn trâu” để biểu
trưng cho công phu tu tập của người tu học, đó không phải là sự kiện mới
lạ, mà đã từng được chính đức Thế Tôn sử dụng trong khi Ngài còn tại
thế; về sau, khi Thiền tông hưng thịnh, nó lại trở thành một trong những
thiền án mà quí vị tổ sư thường dùng để khai thị cho các đệ tử. –
Những bức tranh chăn trâu này xuất hiện ở Trung-hoa, không biết đích xác
là vào thời nào, chỉ biết chắc chắn là chúng đã được thịnh hành từ thế
kỉ XII (dưới triều đại nhà Tống). Tranh chăn trâu xuất hiện rất nhiều
bộ, bộ nào cũng gồm có mười bức. Tất nhiên, những bộ tranh này không
phải do một người vẽ, mà đã do nhiều người, nhưng người vẽ đầu tiên là
ai thì không biết được. Tuy có rất nhiều bộ tranh chăn trâu khác nhau,
nhưng tựu trung có thể xếp thành hai loại: loại theo khuynh hướng Đại
thừa và loại theo khuynh hướng Thiền tông.
A. Tranh Đại Thừa.
Bộ tranh chăn trâu có
khuynh hướng đại thừa được truyền tụng nhất hiện nay là bộ bắt đầu bằng
bức “Chưa Chăn” (vị mục) và kết thúc bằng bức “Vắng Hết”
(song dẫn). Tranh vẽ con trâu đen (tượng trưng cho tâm mê vọng) và người
chăn trâu (tượng trưng cho hành giả). Lần lượt qua từng bức tranh, màu
đen của trâu sẽ chuyển biến dần thành màu trắng, trước tiên là cái đầu,
lan dần đến thân mình, và cuối cùng là đuôi trâu, nói lên rằng, nhờ trải
qua nhiều công phu tu tập mà cái tâm vọng động, cấu nhiễm của hành giả
dần dần được gạn lọc mà sáng dần lên trên nấc thang giác ngộ. Tóm lại,
mười bức tranh chăn trâu ở đây là một đường biểu diễn của công
trình điều phục tâm ý của hành giả trên đường giải thoát, giác ngộ. Mười
bức tranh đó chắc chắn là do các thiền sư vẽ, nhưng, như trên đã nói,
không biết đích xác là của ai, chỉ biết rằng, thiền sư Phổ-Minh (? - ?)
là người đã sáng tác mười bài thi tụng (mỗi bài cho một bức
tranh) để nói lên ý nghĩa sâu xa của chúng.
1. Chưa chăn (vị mục).

Tranh vẽ một con trâu toàn đen đang chạy
nhảy lung tung, và chú mục đồng vừa đuổi theo vừa đưa nắm cỏ non để dụ
nó. Lúc này hành giả mới bắt đầu phát tâm tu học, tâm ý hãy còn buông
lung theo trần cảnh, nên phải cố gắng tìm cách “bắt” tâm lại.
2. Mới chăn (sơ điều).

Tranh vẽ người chăn trâu đã dùng dây
thừng xỏ và cột được mũi trâu, và bắt đầu “trị” cho trâu thuần;
mũi trâu đã chuyển màu đen thành trắng. Lúc này hành giả biết quay về
nương tựa nơi Ba Ngôi Báu, nguyện gìn giữ giới luật và tu học
nghiêm túc để cho tâm ý không còn xao lãng, phóng túng theo dục vọng.
3. Chịu phép (thọ chế).

Tranh vẽ con trâu đã hết hung hăng và
chịu khuất phục, trọn cái đầu của trâu đã chuyển thành trắng; và chú mục
đồng dắt trâu đi nhẹ nhàng, không còn phải dùng sức lực lôi kéo hay roi
vọt đánh đập nữa. Tuy vậy, chú vẫn giữ chắc sợi dây xỏ mũi và tay chưa
dám bỏ cây roi. Nhờ quyết lòng tu tập, giới hạnh nghiêm túc mà giờ đây
hành giả thấy tâm ý mình có phần định tĩnh, sáng suốt, nhẹ nhàng hơn.
Được vậy là nhờ hành giả thường trực quán sát và nhận diện dòng tâm ý
đang trôi chảy của mình.
4. Quay đầu (hồi thủ).

Tranh vẽ con trâu đã chuyển sang màu
trắng đến nửa thân mình. Nhờ chăn giữ lâu ngày, bây giờ trâu đã dần dần
thuần thục, không còn giống như trâu “hoang” nữa. Chú mục đồng không còn
phải mệt nhọc “trị” nó nữa, mà có thể cột nó vào gốc cây và hưởng được
chút nhàn hạ. Hành giả ngày càng sống với chánh niệm thường xuyên hơn,
theo sát và thấy rõ tâm ý mình hơn, không một hoạt động nào của tâm mà
qua lọt được con mắt quán niệm của hành giả.
5. Ngoan ngoãn (tuần phục).

Tranh vẽ trâu đã trắng đến hết lưng và
bụng, đã được chú mục đồng cởi bỏ sợi dây, vì trâu đã hoàn toàn thuần
thục, không còn lo lắng gì nữa. Hành giả lúc này đã hoàn toàn điều phục
tâm ý mình, hoàn toàn sống trong tỉnh thức. Tâm ý đã thanh tịnh, nhẹ
nhàng, thanh thoát, hành giả thật an lạc, thấy được sự mầu nhiệm của
cuộc sống, chung quanh mình cái gì cũng tươi đẹp, dễ thương.
6. Không ngại (vô ngại).

Tranh vẽ người chăn trâu ngồi thổi sáo
nơi gốc tùng, trâu ngoan ngoãn nằm nghe, khắp thân mình đã chuyển sang
màu trắng; chỉ có cái đuôi là còn đen. Hành giả lúc này hoàn toàn tĩnh
lặng, không cần dụng công điều phục mà tâm ý an nhiên tự tại.
7. Mặc ý (nhậm vận).

Tranh vẽ chú mục đồng thản nhiên nằm ngủ
dưới gốc cây, còn trâu thì mặc tình rong chơi gặm cỏ, toàn thân trắng
toát, từ chóp mũi đến chót đuôi không còn một vết đen nào. Bởi tâm đã an
nhiên tự tại, không còn bị chướng ngại, nên tất cả những kiến chấp sai
lạc về ngã (tức bốn thứ phiền não: ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái)
nơi hành giả giờ đây cũng bị gột sạch; tuy nhiên, những tà kiến về pháp
vẫn còn, sự giải thoát chưa được trọn vẹn.
8. Quên nhau (tương vong).

Trong tranh vẫn còn có trâu và mục đồng,
nhưng trâu đã quên mất sự có mặt của mục đồng, mà mục đồng cũng quên mất
sự có mặt của trâu. Hành giả cố gắng tiến lên mãi, và giờ đây thì tất cả
mọi tà kiến vô thức về sự tồn tại của ngã cũng như của pháp đều dứt
sạch.
9. Chiếc bóng (độc chiếu).

Con trâu trong tranh không còn trông thấy
nữa, người chăn trâu một mình đứng giữa thiên nhiên. Tâm hành giả bây
giờ đã trở thành “vô tâm”, mọi niệm phân biệt đều dứt sạch, không còn có
trong - ngoài, có - không, sinh - diệt, tâm - cảnh, dơ - sạch v.v...; tự
tính chân như của vạn hữu tỏ lộ ra trước mắt.
10. Vắng hết (song dẫn).

Tranh không còn gì cả, chỉ xuất hiện một
hình tròn đầy đặn và trống rỗng. Tuệ giác hoàn toàn sáng tỏ, giải thoát
trọn vẹn, không còn lời gì có thể nói về mức chứng ngộ tột cùng của hành
giả, chỉ diễn tả tượng trưng bằng một hình tròn viên mãn.
B. Tranh Thiền Tông.
Thiền tông chủ trương “chỉ thẳng vào
chân tâm, thấy được tính là tức khắc thành Phật” (trực chỉ chân
tâm, kiến tánh thành Phật), cho nên, khác với tranh đại thừa ở trên,
tranh Thiền tông vẽ con trâu trước sau chỉ có một màu: trắng hoặc đen.
Tuy nhiên, tranh trâu trắng thì hiếm thấy vì ít được thưởng thức, trong
khi đó, tranh trâu đen được phổ cập hơn, vì nó có vẻ hùng mạnh nhưng mộc
mạc, gần gũi với cuộc sống hơn. Bộ tranh chăn trâu được mọi người thưởng
thức nhiều nhất là của thiền sư Thanh Cư (? - ?), diễn tả tiến trình tu
tập của hành giả, bắt đầu bằng công việc “tìm trâu” và kết thúc
bằng “cả trâu và người đều mất” (biểu trưng bằng hình vẽ một vòng
tròn trắng). Như thế là chỉ có tám bức họa. Sau đó, thiền sư Tắc Công (?
- ?) vẽ thêm bức thứ chín là “Trở về nguồn cội” (phản bổn hoàn
nguyên); rồi cuối cùng, thiền sư Từ Viễn (? - ?) lại vẽ nốt bức thứ mười
là “Thõng tay vào chợ” (nhập triền thùy thủ). Cả bộ tranh mười
bức này về sau lại được thiền sư Quách Am (đời thứ 15 dòng Lâm Tế) làm
cho mỗi bức một bài thi tụng, có kèm lời dẫn giải để nói lên ý nghĩa của
mỗi bức tranh.
Những dẫn giải về mỗi bức họa sau đây
(phần in chữ nghiêng) là của chính thiền sư Quách Am (Tuệ Sỹ dịch –
trích từ sách Thiền Qua Tranh Chăn Trâu của Trúc Thiên và Tuệ Sỹ).
1. Tìm trâu (tầm ngưu).

Trâu chưa xuất hiện trong bức tranh mở
đầu này, mà chỉ có hình ảnh chú mục đồng đang đi tìm trâu. Tâm của hành
giả vẫn có đó, nhưng lâu nay cứ rong ruổi chạy theo dục vọng trần cảnh,
sống buông trôi trong quên lãng; bây giờ bắt đầu cuộc đời tu tập theo
hạnh tỉnh thức, hành giả mới trở lại đi tìm “tâm” của mình. Nhưng,
xưa nay đâu có mất, săn tìm chi? Bởi, quay lưng với Giác mà thành ra
lỏng lẻo; sấn bước vào Trần nên mới bị mất đi. Từ đó, quê hương càng lúc
càng diệu vợi, mà đường sá lại gập ghềnh. Cái lẽ được và mất đã cháy
bừng bừng; phải và quấy mọc lên tua tủa.
2. Thấy dấu (kiến tích).

Đến đây người chăn trâu vừa phát hiện ra
dấu chân của trâu. Hành giả đang ở những bước đầu của công phu thiền
quán; vì biết “dừng lại”, biết nắm giữ hơi thở, nên đã có được vài giây
phút sống với chánh niệm. Mò kinh để thấy nghĩa, học giáo để tìm ra
tung tích. Rõ, bao khí dụng chỉ một chất vàng, hết thảy tạo vật là chính
ta cả. Chính tà khỏi lựa, chân ngụy khỏi phân. Bởi chưa vào được cửa đó,
nên mượn tiếng kêu là “thấy dấu”.
3. Thấy trâu (kiến ngưu).

Lúc này người chăn trâu đã trông thấy
được con trâu. Hành giả đã có tiến bộ trong công phu tu tập, sống với
nếp sống tỉnh thức thường xuyên hơn, đã cảm thấy vững chắc hơn trên con
đường giới định tuệ. Theo tiếng mà vào, ghé mắt là thấy. Cửa sáu căn
tỏ rõ không nhầm; ngay nơi động dụng rành rành hiển lộ. Chất mặn trong
nước, chất xanh trong màu. Vén lông mày lên, là nó chứ ai!
4. Được trâu (đắc ngưu).

Người chăn trâu đã bắt được trâu. Hành
giả đang nỗ lực điều phục và làm chủ tâm ý mình, không để bị níu kéo
theo những vọng tưởng tà kiến. Ông cố gắng nhận diện tất cả những tâm sở
phiền não để tìm cách chuyển hóa chúng, tạo điều kiện thuận lợi tối đa
cho những chủng tử giác ngộ có nhiều cơ hội hiện hành. Từ lâu, vùi
lấp ngoài đồng hoang, hôm nay đã gặp mi. Bởi cảnh đẹp nên khó lòng đuổi,
đắm say cỏ non hoài mãi không thôi. Cứng đầu còn quá lắm, tính buông
lung chưa hết. Muốn cho chịu phép mọi bề, cần cho roi vọt.
5. Chăn trâu (mục ngưu).

Người chăn trâu đã bắt được trâu, dùng
dây thừng xỏ mũi và dắt nó đi theo mình. Hành giả lúc này đã hoàn toàn
có được chánh niệm trong lúc thiền tập. Hành giả quán chiếu và thấy rõ
một cách thường xuyên dòng tâm ý đang trôi chảy của mình; hay nói cách
khác, đây là giai đoạn “dùng tâm quán sát tâm”. Trong những khi đi đứng
nằm ngồi, không lúc nào hành giả đánh mất chánh niệm. Niệm trước vừa
khởi, niệm sau tiếp theo. Bởi đã Giác nên thành Chân. Bởi tại mê, hóa ra
vọng. Chẳng phải do cảnh mà có, nhưng chính do tâm mà sinh. Xỏ mũi, cùm
đầu, không chần chờ gì nữa.
6. Cưỡi trâu về nhà (kị ngưu qui gia).

Người chăn trâu ngồi trên lưng trâu,
khoan thai thổi sáo, thong thả trở về nhà. Lúc này hành giả đã hoàn toàn
làm chủ được tâm ý mình, không lay động, không chướng ngại. Con đường
giác ngộ dẫn về “bản lai chân diện mục” đã được thắp sáng và bày ra
trước mặt, hành giả cứ hướng theo đó mà trở về. Đã hết cuộc can qua,
đã rồi câu được mất. Hát bài ca đồng của anh đốn củi, thổi điệu khúc quê
của chú bé con. Vắt mình trên trâu, mắt mở nhìn mây vời vợi. Kêu réo,
không quay đầu; kéo lôi, cũng chẳng dừng bước.
7. Quên trâu còn người (vong ngưu tồn
nhân).

Trâu đã mất dạng, chỉ còn người chăn. Sau
khi đã trở về với “bản lai chân diện mục”, hành giả thường trực an trú
trong tuệ giác về tính “không” của vạn hữu; tâm của hành giả cũng tức là
hành giả, đâu có gì khác nhau! Thân, Tâm chỉ là một. Pháp không là
pháp phân hai, mắt trâu là tông chỉ. Mượn tiếng “bẫy thỏ” để dụ cho dị
danh; lấy chữ “dò cá” để nêu cái sai biệt. Như vàng ròng rút ra từ đáy
quặng; như trăng tỏ vén khỏi cụm mây. Một đạo hàn quang qua khỏi kiếp Uy
Âm vô thỉ.
8. Người trâu đều quên (nhân ngưu câu
vong).

Cả trâu và người chăn trâu đều mất dạng.
Hành giả thường trực an trú trong tuệ giác về tính “không” của vạn hữu,
và tiến đến nấc thang cao tột của tuệ giác giác ngộ: những tà kiến vô
thức về sự tồn tại của NGÃ và PHÁP hoàn toàn bị tiêu diệt. Buông bỏ
tình phàm thì ý thánh cũng không. Chỗ có Phật cũng không thèm rong chơi,
chỗ không Phật cũng không thèm ngó lại. Không vướng đầu này hay đầu nọ,
không liếc xéo nơi này hay nơi kia. Hàng trăm con chim ngậm hoa, thẹn
sao là thẹn!
9. Trở về nguồn cội (phản bản hoàn
nguyên).

Tuệ giác siêu việt đã đạt được, hành giả
trở về an trú trong trạng thái “niết bàn tịch tịnh”, giải thoát trọn vẹn
khỏi mọi ý niệm có không, sinh diệt, đến đi, thêm bớt, khổ vui, mê ngộ,
chứng đắc và đối tượng chứng đắc. Bản lai thanh tịnh, không vướng một
mảy trần. Quán sát vẻ tươi và héo của những gì là hữu tướng, an thân
trong cảnh ngưng tịch của đạo vô vi. Không đồng với huyễn hóa, cần gì
phải tu, phải trị. Nước biếc, non xanh, ngồi mà xem cuộc thành bại.
10. Thõng tay vào chợ (nhập triền thùy
thủ).

Với hạnh nguyện độ sinh của một vị
Bồ-tát, và với hành trang “bi-trí-dũng” đã sẵn sàng, hành giả lên đường
nhập thế, dùng mọi phương tiện trí, lực để hóa độ chúng sinh. Khép
cánh cửa sài, một mình một bóng, dù thánh hiền vạn cổ cũng không hay.
Chôn vùi cái văn vẻ của riêng ta, bỏ lại lối mòn của cổ đức. Mang bầu
vào chợ, chống gậy về nhà, hàng rượu hàng cá, dạy cho thành Phật hết.
GHI CHÚ:
20 bức họa trên đây đã được chụp lại từ sách Thiền Qua Tranh Chăn Trâu
của Trúc Thiên và Tuệ Sỹ.
MƯỜI DÂY RÀNG BUỘC
(thập triền)
“Ràng buộc”
là không được tự do tự tại; ở đây có nghĩa là bị trói chặt, bị giam hãm
trong ngục tù sinh tử, trong vòng kiềm tỏa của luân hồi, không được giải
thoát. Sở dĩ như vậy là bởi do mười “dây” phiền não sau đây:
1. Lầm lỗi mà không biết tự xấu hổ (vô
tàm).
2. Không biết tự thẹn khi thấy người khác
có giới hạnh trong sạch hơn mình (vô quí).
3. Ganh ghét (tật).
4. Bỏn sẻn, keo kiệt (xan).
5. Tiếc rẻ (hối).
6. Ham ngủ (thụy miên).
7. Không an tĩnh (trạo cử).
8. Tối tăm, không tỉnh táo (hôn trầm).
9. Giận dữ, hung hãn (phẫn).
10. Che giấu lỗi lầm (phú).
MƯỜI ĐỊA
(thập địa)
“Địa”
ở đây là địa vị, là giai tầng tu chứng trên bậc thang giác ngộ. Có nhiều
loại “mười địa”, ở đây xin đề cập đến hai loại căn bản nhất:
A. Mười Địa của Ba Cỗ Xe
(tam thừa thập địa).
Theo Đại Trí Độ Luận và tông Thiên
Thai của Trí Giả đại sư, đây là cái thang giác ngộ có 10 giai tầng tu
chứng được lập chung cho ba cỗ xe (tam thừa) là Thanh-văn,
Duyên-giác và Bồ-tát:
1. Càn tuệ địa (trí tuệ khô cạn).
Đây là địa vị của một hành giả khi mới phát tâm tu hành. Vì chưa được
thấm nhuần dòng nước Phật pháp cho nên trí tuệ của hành giả hãy còn khô
cạn.
2. Tánh địa (thấy tính). Ở địa vị
này hành giả bắt đầu thấy được tính Phật nơi tự thân mình.
3. Bát nhẫn địa (an trú nơi tám sự
quán ngộ). Chữ “nhẫn” nghĩa là chịu đựng; và chịu đựng ở
đây có nghĩa là an trú vững chắc nơi thật tướng của vạn
pháp mà lòng không bị giao động, chán nản. Ở địa vị này, hành giả luôn
luôn vận dụng trí tuệ để quán chiếu (quán) thật tướng của vạn
pháp và nhận chân (ngộ) được chân lí “Bốn Sự Thật”, lần lượt trải
qua tám trình độ quán ngộ (bát nhẫn) như sau:
1) Quán ngộ về “khổ đế” ở cõi Dục.
2) Quán ngộ về “tập đế” ở cõi Dục.
3) Quán ngộ về “diệt đế” ở cõi
Dục.
4) Quán ngộ về “đạo đế” ở cõi Dục.
5) Quán ngộ về “khổ đế” ở hai cõi
Sắc và Vô-sắc.
6) Quán ngộ về “tập đế” ở hai cõi
Sắc và Vô-sắc.
7) Quán ngộ về “diệt đế” ở hai cõi
Sắc và Vô-sắc.
8) Quán ngộ về “đạo đế” ở hai cõi
Sắc và Vô-sắc.
4. Kiến địa (thấy rõ chân lí).
Hành giả đã chứng ngộ chân lí “Bốn Sự Thật” ở khắp ba cõi, tâm ý hoàn
toàn tự do, không còn bị kiềm tỏa bởi các tà kiến, và bắt đầu được dự
vào “dòng Thánh”, tức là Tu-đà-hoàn, quả vị thấp nhất trong bốn
quả vị của cỗ xe Thanh-văn (Thanh văn thừa).
5. Bạc địa (gần kề). Ở địa vị này,
hành giả tu tập và diệt trừ được phần lớn những phiền não căn bản của
cõi Dục, tương đương với Tư-đà-hàm, quả vị thứ hai trong bốn quả
vị của cỗ xe Thanh-văn. Với quả vị này, hành giả còn phải tái sinh vào
cõi Dục một lần nữa để tiếp tục tu tập.
6. Li dục địa (rời khỏi cõi Dục).
Ở địa vị này, hành giả tu tập và diệt trừ hoàn toàn các phiền não gốc rễ
của cõi Dục, cho nên vĩnh viễn không còn tái sinh vào cõi Dục nữa, tương
đương với A-na-hàm, quả vị thứ ba trong bốn quả vị của cỗ xe
Thanh-văn.
7. Dĩ biện địa (đã hoàn tất). Ở
địa vị này, hành giả tu tập và dứt sạch hoàn toàn phiền não của cả ba
cõi, chứng được các phép mầu nhiệm, vượt thoát khỏi ba cõi, tương đương
với A-la-hán, quả vị cao nhất của cỗ xe Thanh-văn.
8. Bích-chi Phật địa (Duyên-giác).
Ở địa vị này hành giả dùng trí tuệ tự mình quán chiếu nguyên lí “mười
hai nhân duyên” mà được giác ngộ và thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi.
Phật Bích-chi hay Phật Độc-giác là quả vị chứng đắc của cỗ xe Duyên-giác
(Duyên giác thừa).
9. Bồ-tát địa. Địa vị A-la-hán và
Phật Bích-chi cũng đã là những địa vị giác ngộ, nhưng mới chỉ được phần
tự lợi, nên chưa phải là giác ngộ trọn vẹn. Muốn đạt được quả vị giác
ngộ trọn vẹn, cao tột thì hành giả phải phát tâm tu tập hạnh Bồ-tát.
Pháp môn tu tập chính yếu của hành giả ở địa vị này là “sáu phép qua bờ”
(lục độ), và hạnh nguyện chính yếu ở địa vị này là “độ sinh”.
10. Phật địa. Khi thành quả tối
hậu của địa vị Bồ-tát (tự lợi và lợi tha, hay tự giác và giác tha) đã
đạt được viên mãn thì hành giả chứng đắc địa vị cao quí tột bực của sự
nghiệp giác ngộ là địa vị Phật-đà.
B. Mười Địa của Bồ Tát.
Trong quá trình tu tập từ khi phát tâm
cho đến khi thành tựu hạnh nguyện Bồ-tát, hành giả phải lần lượt trải
qua 10 địa vị (được ghi trong kinh Hoa Nghiêm) sau đây:
1. Hoan hỉ địa (tâm ý rất vui).
Sau khi đã trải qua một thời gian dài tu tập, hành giả diệt trừ được bốn
phiền não mang tính chất tà kiến(1),
bắt đầu thấy được tính “không” của ngã và pháp, cởi bỏ được cái
tâm niệm phàm phu để hòa nhập vào “Bồ-tát thân”; vì vậy mà có được niềm
vui lớn.
2. Li cấu địa (xa rời phiền não).
Ở địa vị này, hành giả tu tập và gột sạch được những cấu nhiễm của phiền
não, và có được giới hạnh thanh tịnh, giới đức viên mãn.
3. Phát quang địa (trí tuệ phát
sinh). Hành giả đạt được nhẫn nhục viên mãn, thoát khỏi mê vọng,
ánh sáng trí tuệ của tự tính giác ngộ bắt đầu hiển lộ.
4. Diễm tuệ địa (trí tuệ rực rỡ).
Do sự tinh tấn tu tập mà trí tuệ giác ngộ, từ chỗ bắt đầu phát
sinh ở Phát quang địa, đến đây đã trở nên rực rỡ, thù thắng.
5. Nan thắng địa (đạt được một
cách khó khăn). Từ Diễm tuệ địa tiến lên được đến đây quả là một hành
trình vô cùng khó khăn. Hành giả phải thường xuyên tu tập thiền định
để có được một định lực thâm hậu, thấu suốt được nguyên lí “hai sự thật”
(nhị đế)(2),
chứng được pháp thân thanh tịnh.
6. Hiện tiền địa (chân như hiển
hiện). Ở địa vị này, hành giả tiếp tục diệt trừ các căn bản phiền não vi
tế và hoàn thành việc phát triển trí tuệ cao tột, hoàn tất công
hạnh tu tập “sáu phép qua bờ” (lục độ), vượt khỏi các khái niệm phân
biệt giữa có và không, nhiễm và tịnh v.v..., cho nên tự tính chân như
của vạn hữu tỏ lộ ra trước mắt.
7. Viễn hành địa (đi xa). Ở đây,
tâm ý của hành giả bắt đầu an trú thường xuyên trong sự thông suốt về
tính “không” của ngã và pháp. Tuy tà kiến vô thức về sự tồn tại của pháp
vẫn còn, nhưng tà kiến vô thức về sự tồn tại của ngã thì hoàn toàn bị
tiêu diệt, phát khởi đại bi tâm và thành đạt phương tiện vô ngại
trong việc độ sinh.
8. Bất động địa (không lay động).
Ở địa vị này, tà kiến vô thức về sự tồn tại của pháp nơi tâm ý hành giả
cũng hoàn toàn bị tiêu diệt. Vì vậy, hành giả được an trú trong trạng
thái hoàn toàn thanh tịnh mà du hành tự tại, không còn bị các ma phiền
não tham sân si cũng như “ngũ dục”, “lục trần” làm cho lay động (bất
động); không còn bị rơi trở lại trong các cảnh giới đau khổ (bất
đọa); không còn bị thối lui vào con đường tu tập của hàng tiểu thừa
(bất thối); và không còn bị bất cứ một thứ tà kiến nào làm cho
tán loạn (bất tán).
9. Thiện tuệ địa (trí tuệ diệu
dụng). Hành giả thành tựu được trí tuệ biện tài vô ngại, nên có
thể ra đi giáo hóa độ sinh khắp cả mười phương ba cõi, đồng thời xét
đoán được những chúng sinh nào đáng được cứu độ và những chúng sinh nào
không đáng được cứu độ.
10. Pháp vân địa (mây pháp). Đây
là địa vị cao tột trên đường tu tập của Bồ-tát hạnh. Ở địa vị này, hành
giả có tuệ giác và muôn hạnh đầy đủ, du hành giáo hóa khắp nơi
với tâm bình đẳng, không phân biệt người đáng hay không đáng được cứu
độ, dường như mây lành, có thể tưới mưa cam lộ xuống khắp các nơi để làm
nảy sinh thiện căn nơi tất cả chúng sinh. Có thể nói, đó chính là hóa
thân của Phật.
CHÚ THÍCH
(1) Xin xem lại mục “Bốn Phiền Não” ở
trước.
(2) Xin xem lại mục “Hai Sự Thật” ở
trước.
MƯỜI ĐỘNG LỰC SAI KHIẾN
(thập sử - thập căn bản phiền não)
Đây là mười loại phiền não gốc rễ
làm động lực sai khiến, thúc đẩy chúng sinh tạo nên các hành động sai
lầm, xấu xa, tội lỗi, gây đau khổ cho mình, cho người, và cho cả muôn
loài; đó là: tham dục (tham), sân hận (sân), ngu si (si), kiêu mạn
(mạn), nghi ngờ (nghi), và “năm cái thấy sai lạc” (thân kiến, biên kiến,
tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến – đã đề cập ở trước).
MƯỜI NGUYỆN LỚN của BỒ TÁT PHỔ HIỀN
(Phổ Hiền thập nguyện)
Phổ Hiền (có nghĩa là sự hiền đức phổ cập
khắp nơi) là tên của một vị Bồ-tát lớn, thường được các kinh điển đại
thừa (nhất là Hoa Nghiêm và Pháp Hoa) nhắc nhở và khen ngợi. Vì lòng đại
bi, ngài nguyện luôn luôn dùng mọi phương tiện để tuyên dương Phật pháp,
hóa hiện mọi thân tướng để cứu độ chúng sinh, và ủng hộ tất cả những ai
hành trì và hoằng dương Phật pháp. Ngài có lập mười điều nguyện lớn,
được ghi trong kinh Hoa Nghiêm như sau:
1. Nguyện thường cung kính và lễ bái chư
Phật (lễ kính chư Phật).
2. Nguyện thường khen ngợi công đức của
chư Phật (xưng tán Như Lai).
3. Nguyện thường thực hành hạnh bố thí,
cúng dường (quảng tu cúng dường).
4. Nguyện thường ăn năn các tội lỗi đã
tạo ra và ngăn ngừa các tội lỗi chưa phát sinh (sám hối nghiệp
chướng).
5. Nguyện thường hoan hỉ và khuyến khích
những công việc có ích lợi do mọi người thực hiện (tùy hỉ công đức).
6. Nguyện thường cầu xin Phật hoằng hóa
đạo pháp (thỉnh chuyển pháp luân).
7. Nguyện thường cầu xin Phật thường trú
ở thế gian để chúng sinh được gội nhuần mưa pháp (thỉnh Phật trụ
thế).
8. Nguyện thường theo Phật để tu học
(thường tùy Phật học).
9. Nguyện thường thuận theo tâm ý của mọi
chúng sinh để hướng dẫn tu học (tùy thuận chúng sinh).
10. Nguyện thường hồi hướng tất cả công
đức lành cho tất cả chúng sinh đều được thành tựu đạo quả giải thoát
(phổ giai hồi hướng).
Với chí nguyện tu học và phụng sự chúng
sinh, hành giả lấy các hạnh nguyện trên đây làm hạnh nguyện của chính
mình. Phật là đối tượng của hành giả, và “Phật” ấy nào phải ở đâu xa, mà
chính là tự tính giác ngộ sẵn có nơi mình! Hãy cung kính, hãy lễ bái,
hãy cúng dường v.v... cái tự tính giác ngộ ấy!
MƯỜI TÔNG PHÁI
(thập tông)
“Tông”
là chủ yếu; “phái” là
nhánh, dòng. Trong thời kì còn tại thế độ sinh, đức Phật đã tùy theo
từng căn cơ của thính chúng mà thuyết minh vô lượng pháp môn khác nhau.
Và dĩ nhiên, cũng bởi vì thính chúng có nhiều căn cơ khác nhau cho nên
họ cũng lĩnh hội những pháp môn ấy một cách khác nhau. Đó là đầu mối của
sự phân chia hệ phái về sau này trong giáo đoàn. Khi có tình trạng phân
phái như vậy, người khởi xướng ra một tông phái thường y cứ vào một số
kinh luận (pháp môn) mà mình sở đắc để lấy đó làm yếu nghĩa chỉ
đạo.
Khởi thỉ, sau khi đức
Phật nhập diệt, Phật giáo Ấn-độ đã chia làm hai hệ phái lớn: Tiểu thừa
và Đại thừa. Sau đó mỗi “thừa” lại chia làm nhiều nhánh nhỏ hơn. Tuy
nhiên, sự phân phái của đạo Phật không giống như sự “phân hóa” với cái ý
nghĩa không đẹp thường tình, nhưng đó chính là vì nhu cầu phát triển trí
thức của loài người mà đạo Phật phải phát huy tính chất khế lí và
khế cơ của mình để có thể hòa nhập vào môi trường xã hội mà mình
đang có mặt.
Khi đạo Phật được
truyền bá vào Trung-hoa, cũng nhằm phát huy cái tính chất khế lí và khế
cơ ấy, Phật giáo Trung-hoa đã lần lượt thành lập nên nhiều tông phái
khác nhau. Dĩ nhiên, vì tính khế cơ, một tông phái có thể được
lập nên trong một hoàn cảnh nào đó, rồi đến lúc nó không còn thích nghi
với hoàn cảnh hiện tại nữa thì tự nó phải biến diệt. Vì vậy, số tông
phái được lập nên và thịnh hành ở Trung-hoa có lúc nhiều lúc ít, tùy
thời; nhưng tựu trung thì có mười tông phái sau đây được coi là tiêu
biểu:
1. Tông Câu Xá.Tông
này lấy bộ luận A Tì Đạt Ma Câu Xá của đại luận sư Thế Thân
(người Ấn-độ, thế kỉ thứ 5) làm yếu chỉ, chủ trương tất cả các pháp (bao
gồm cả tâm và vật) đều thực có, nhưng không có một bản ngã tồn tại
thường hằng bất biến. (Danh từ Phật học Hán Việt gọi chủ trương này là
“ngã không pháp hữu”.) Hành giả phải thường xuyên dùng trí tuệ để
quán chiếu về chân lí “bốn sự thật” để chứng nhập niết bàn – vì theo
tông này, ngoại trừ cảnh giới niết bàn ra, thế gian hoàn toàn không có
gì là phúc lạc.Pháp sư Chân Đế (người Ấn-độ) đã dịch bộ luận Câu Xá
từ Phạn văn ra Hán văn và truyền tông này sang Trung-hoa vào thế kỉ thứ
6 (khoảng năm 563-567). Đến thế kỉ thứ 7, bộ luận lại được pháp sư Huyền
Trang (người Trung-hoa, 596-664) dịch ra Hán văn một lần nữa và truyền
cho đệ tử là pháp sư Khuy Cơ (632-682); và chính nhờ vị này mà tông Câu
Xá ở Trung-hoa được kiện toàn, trở thành một hệ thống triết học nền tảng
thiết yếu cho tất cả những nhà nghiên cứu Phật học.
2. Tông Thành
Thật.
Tông này lấy bộ luận
Thành Thật của Ha Lê Bạt Man (người Ấn-độ, khoảng 250-350) làm
căn bản, chủ trương không có ngã mà cũng không có vạn pháp (tâm và vật)
– danh từ Phật học Hán Việt gọi là “ngã pháp nhị không”. Khi hành
giả quán chiếu về tính “không” của ngã và pháp thì sẽ diệt trừ được
phiền não chướng và sở tri chướng, chứng nhập cảnh giới niết bàn tịch
tịnh.
Bộ luận Thành Thật được pháp sư
Cưu Ma La Thập (người Ấn-độ) dịch ra Hán văn và truyền tông này sang
Trung-hoa vào đầu thế kỉ thứ 5.
Hai tông Câu Xá và Thành Thật trên đây
đều thuộc về truyền thống tiểu thừa. Hiện nay cả hai đều đã bị thất
truyền, nhưng hai bộ luận Câu Xá và Thành Thật thì vẫn được các
giới học Phật tham cứu.
Tám tông phái sau đây thuộc về truyền
thống đại thừa:
3. Tông Luật.
Tông này được sáng lập ở Trung-hoa vào
giữa thế kỉ thứ 7 mà vị sáng tổ là luật sư Đạo Tuyên, một đệ tử nổi
tiếng về luật học của pháp sư Huyền Trang. Tông này chủ trương chỉ cần
thông suốt và tinh nghiêm hành trì giới luật; khi giới thể đã thanh tịnh
thì định lực phát sinh; định lực đã phát sinh thì trí tuệ giác ngộ cũng
bừng sáng. Luật tông đặt nền tảng trên bộ luật Tứ Phần của tiểu
thừa và “tam tụ tịnh giới” của đại thừa.
4. Tông Tam Luận (cũng có các tên
gọi khác là Tánh, Pháp Tánh, Không, Bát Nhã).
Tông này lấy hai bộ luận Trung Quán
và Thập Nhị Môn của đại
luận sư Long Thọ (người Ấn, thế kỉ thứ 2), và bộ Bách Luận của
đại luận sư Đề Bà (đệ tử của ngài Long Thọ) làm căn cứ, đả phá mọi cái
nhìn sự vật bằng khái niệm, bằng mê chấp và tà kiến phân biệt; và chủ
trương nhìn sự vật bằng con đường trung đạo với các nguyên tắc “nhị
đế” và “bát bất” (bất sinh, bất diệt, bất thường, bất đoạn,
bất nhất, bất dị, bất lai, bất khứ) để thấy được thực tướng “như như”
của chúng. Lí tưởng của nó là dẹp bỏ mọi “hí luận”, và mọi luận chứng
đều được đặt nền tảng trên bốn mệnh đề (tứ cú): có
(hữu), không có (không), vừa là có vừa là không có (diệc
hữu diệc không), vừa không phải là có vừa không phải là không có
(phi hữu phi không).
Thế kỉ thứ 5, pháp sư Cưu Ma La Thập sang
Trung-hoa, dịch cả ba bộ luận trên và truyền cho đệ tử là Tăng Triệu để
thành lập nên tông Tam Luận; nhưng phải chờ đến thời đại sư Cát Tạng
(thế kỉ thứ 6) thì tông này mới được kiện toàn, có hệ thống và qui củ
hẳn hoi.
5. Tông Thiên Thai (cũng gọi là
tông Pháp Hoa).
Tông này được thành lập tại Trung-hoa vào
cuối thế kỉ thứ 6 với vị tổ thứ nhất là đại sư Trí Khải (hay Trí Giả).
Thực ra, vị sáng tổ của tông này phải là đại sư Huệ Văn (đầu thế kỉ thứ
6). Ngài Huệ Văn truyền cho đệ tử là đại sư Huệ Tư (514-577). Đại sư Trí
Khải chính là đệ tử của đại sư Huệ Tư, nhưng vì ngài đã có một nhân cách
nổi bật, một sở học uyên thâm, một trí tuệ phi thường, đương thời không
ai sánh kịp, vả lại, chính ngài là người đã kiện toàn tông Thiên Thai,
cho nên đã được tôn xưng là vị tổ thứ nhất của tông này.
Tông Thiên Thai lấy bộ kinh Pháp Hoa
làm căn bản lập tông, và lấy bộ Đại Trí Độ Luận (của Long Thọ)
làm chỉ nam cương yếu; ngoài ra còn tham khảo thêm các kinh luận liên hệ
khác như các kinh Hoa Nghiêm, Đại Niết Bàn, Kim Quang Minh, Kim Cang
Đảnh, và luận Bồ Đề Tâm.
Tông này
chủ trương “tâm” và “pháp” không phải là hai cũng không
phải là một; ngoài tâm không có pháp, ngoài pháp không có tâm; tâm tức
là pháp, pháp tức là tâm. Bởi
vậy, thật thể và hiện tượng của vạn pháp cũng không rời nhau: chính ở
nơi hiện tượng mà thấy được thật thể của vạn pháp. Do chủ trương này mà
tông Thiên Thai đã phát huy các giáo nghĩa như “Nhất tâm tam quán”,
“Nhất niệm tam thiên” (như đã trình bày ở trước). Cũng do chủ trương
ấy mà tuy về phương tiện thiện xảo, tông này tạm thừa nhận có ba cỗ xe
(Thanh-văn, Duyên-giác và Bồ-tát), nhưng cứu cánh thì cũng chỉ thu vào
cỗ xe duy nhất (tức là Phật thừa) mà thôi. Người tu học
vừa phải thông suốt yếu nghĩa của kinh điển (lí giải) và vừa phải
dụng công thiền quán (thực hành) để chứng ngộ được thật tướng của
vạn pháp.6. Tông Hoa Nghiêm (hay Hiền Thủ).
Kinh
Hoa Nghiêm được xuất hiện từ thế kỉ thứ 2, do công trình của Bồ Tát
Long Thọ. Đến thế kỉ thứ 5, đại sư Giác Hiền mang kinh này sang
Trung-hoa, dịch và truyền bá. Thế kỉ thứ 7, đại sư Pháp Thuận (hay Đỗ
Thuận) đã y cứ trên giáo nghĩa của kinh này mà sáng lập nên tông Hoa
Nghiêm. Đến đời tổ thứ ba là đại sư Hiền Thủ (tức Pháp Tạng), tông này
trở nên thịnh hành và vang danh rực rỡ khắp nơi, cho nên người ta đã coi
ngài là vị sáng tổ đích thực của tông này, và gọi đó là tông Hiền
Thủ.Tông này lập cước trên nền tảng của lí thuyết nhân quả, nhưng là một
lí thuyết nhân quả rất đặc biệt, vô cùng thâm diệu; có thể nói, đó là
cực điểm của tất cả những lí thuyết nhân quả, được gọi là thuyết
“Pháp giới duyên khởi”. Do lí thuyết này mà tông Hoa Nghiêm chủ
trương tất cả sự vật trong vũ trụ phải tạo thành một toàn thể nhịp
nhàng, tương dung, tương nhiếp trong một thế giới gọi là “sự sự vô
ngại pháp giới”, tức là thế giới lí tưởng Nhất-như. Những pháp án
nói rằng: “Một là tất cả, tất cả là một”; “Một vật có mặt trong tất
cả các vật, tất cả các vật có mặt trong một vật”; “Cái này là cái kia,
cái kia là cái này”; “Cái này có trong cái kia, cái kia có trong cái
này”; “Nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài”; “Quá khứ, hiện tại, vị
lai ở trên đầu một sợi tóc” v.v... đều là giáo nghĩa của kinh Hoa
Nghiêm, và cũng là giáo nghĩa của tông này, nhằm giúp cho hành giả
quán chiếu, tu tập để đạt được cái thế giới lí tưởng nhất-như
ấy.
7. Tông
Pháp Tướng (cũng gọi là Duy Thức).Tư tưởng “Duy Thức” được hệ
thống hóa bởi hai vị đại luận sư Vô Trước và Thế Thân (hai anh em ruột,
người Ấn-độ) ở thế kỉ thứ 5. Thế kỉ thứ 7, pháp sư Huyền Trang ở
Trung-hoa sang Ấn-độ du học, gặp lúc tư tưởng Duy Thức đang cực kì thịnh
hành, nên đã chuyên tâm học hỏi và đã sở đắc về pháp môn này. Khi trở về
nước, ngài đã tích cực trước tác, phiên dịch và truyền bá Duy Thức
Học, và được mọi giới coi là sáng tổ của tông Pháp Tướng ở
Trung-hoa.
Tông này
chủ trương vạn pháp, bằng cách này hay cách khác, luôn luôn liên hệ với
thức và chỉ hiện hữu trong thức. Cho nên, học thuyết của tông này –
Duy Thức Học, đã chú trọng đặc biệt về vấn đề “nhận thức”.
Nó chuyên khảo sát mọi hiện tượng (pháp) bằng tướng trạng
và hoạt dụng (tướng) của chúng, để từ đó thấy được thể
tính chân thật của chúng. Tông này đặt căn bản trên các kinh luận như:
Hoa Nghiêm, Giải Thâm Mật, A Tì Đạt Ma, Lăng Già, Du Già Sư Địa Luận
(của Di Lặc và Vô Trước), Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận (của Di
Lặc và Vô Trước), Nhiếp Đại Thừa Luận (của Vô Trước), Thập Địa
Kinh Luận (của Thế Thân), Duy Thức Nhị Thập Tụng (của Thế
Thân), Duy Thức Tam Thập Tụng (của Thế Thân), Bát Thức Qui Củ
Tụng (của Huyền Trang) v.v...
8. Tông Chân Ngôn (hay Mật tông).
Đầu thế kỉ thứ 8, hai đại sư Ấn-độ là
Thiện Vô Úy và Kim Cương Trí, trước sau đã đem các kinh điển Mật giáo
sang truyền bá và lập nên tông Chân Ngôn tại Trung-hoa; nhưng phải đợi
đến giữa thế kỉ ấy với vị đệ tử xuất sắc của ngài Kim Cương Trí là đại
sư Bất Không (người Ấn), thì tông này mới thực sự được phát huy rực rỡ.
Hai bộ kinh căn bản và quan trọng nhất của tông này là Đại Nhật
và Kim Cương Đảnh.
Yếu chỉ của tông Chân Ngôn là chuyên hành
trì bí mật về cả ba nghiệp thân, khẩu và ý. Hành trì bí mật về thân là
dùng ấn quyết; về khẩu là đọc tụng thần chú (chân ngôn); và về ý là quán
tưởng một đối tượng; cả ba hành động ấy phải đồng thời tương ứng nhau.
Khi sự hành trì đi đến chỗ nhất tâm thì hành giả thâm nhập được Phật
trí, đắc đạo ngay trong giờ phút hiện tại.
9. Tông Tịnh Độ (hay Liên tông).
Vào thế kỉ thứ 3, đại sư Khương Tăng Khải
(người Ấn) sang Trung-hoa, dịch và truyền bá kinh Vô Lượng Thọ;
thế kỉ thứ 5, đại sư Cưu Ma La Thập sang Trung-hoa và dịch kinh A Di
Đà; tiếp đó, đại sư Cương Lương Da Xá lại sang và dịch kinh Quán
Vô Lượng Thọ; đó là ba bộ kinh khởi đầu và làm nền tảng cho việc
hình thành tông Tịnh Độ. Pháp môn “tu tịnh độ” đã được người
Trung-hoa biết đến từ thế kỉ thứ 3, nhưng thực ra, mãi đến thế kỉ thứ 7,
do công trình truyền bá sâu rộng của đại sư Huệ Viễn, tông này mới được
hưng thịnh và thực sự trở thành một tông phái; do đó, ngài đã được coi
là vị tổ sáng lập.Tông Tịnh Độ chủ trương tu tập thiện nghiệp, chuyên
tâm trì niệm danh hiệu và quán tưởng hình tướng đức Phật A Di Đà thì sau
khi mệnh chung sẽ được vãng sinh về thế giới Cực-lạc, một thế giới hoàn
toàn trong sạch, an vui, do Phật A Di Đà làm giáo chủ, khác hẳn với thế
giới Ta-bà đầy dơ bẩn và khổ đau này.
10. Tông Thiền (hay Tâm tông).Mục
đích của Thiền tông là “kiến tánh thành Phật”. Để tiến tới mục
đích đó, người tu thiền phải bắt đầu bằng cuộc sống “có chánh niệm”
và tiếp tục bằng con đường thực nghiệm tâm linh (chứ không phải
dùng trí năng để nghiên cứu, phân tích, lí luận) để chứng ngộ chân lí.
Đường lối ấy được tóm tắt trong câu nói của tổ Bồ Đề Đạt Ma: “Truyền
thừa không hệ thuộc vào giáo điển, không căn cứ vào văn tự, đi thẳng vào
lòng người, thấy được thể tính liền thành Phật.” (Giáo ngoại biệt
truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật.)
Tổ Bồ Đề Đạt Ma là người Ấn-độ, sang
Trung-hoa đầu thế kỉ thứ 6, và được coi là vị tổ đầu tiên của Thiền tông
Trung-hoa. Đến đầu thế kỉ thứ 8 thì Thiền tông chia làm hai nhánh: nhánh
phương Bắc (do tổ Thần Tú) và nhánh phương
Nam
(do tổ Huệ Năng). Nhánh Bắc không bao lâu
thì mai một, riêng nhánh Nam thì ngày càng hưng thịnh, và đã sản sinh ra
5 thiền phái nổi tiếng: Lâm Tế (do tổ Hy Vận), Qui Ngưỡng
(do tổ Qui Sơn), Tào Động (do tổ Dược Sơn), Vân Môn (do tổ
Vân Môn), và Pháp Nhãn (do tổ Huyền Diệu).
Mặc dù kinh Lăng Già (được đại sư
Đức Hiền, người Ấn, dịch ra Hán văn vào thế kỉ thứ 5) được xem là kinh
căn bản, nhưng Thiền tông còn kết hợp tư tưởng của nhiều kinh điển khác
như Viên Giác, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Bát Nhã
v.v...Tất cả mười tông phái Phật giáo ở trên, sau khi được thành lập
ở Trung-hoa, đều được truyền bá sang Triều-tiên và Nhật-bản, và đều từng
được hưng thịnh một thời. Ngày nay, ở Trung-hoa (lục địa cũng như
Đài-loan), các tông phái hầu như không còn mang sắc thái đặc thù nào
nữa, mà chỉ còn là một nền Phật giáo tổng hợp của các tông phái đại
thừa, trong đó, Thiền và Tịnh-độ được in rõ nét hơn. Ở Nhật-bản và
Đại-hàn, ba tông Thiền, Luật và Tịnh-độ vẫn còn đang thịnh hành và giữ
được bản sắc riêng.Trường hợp Việt-nam thì khác hẳn. Suốt 2000 năm lịch
sử Phật giáo ở Việt-nam, có thể nói, đó chỉ là lịch sử của Thiền tông.
Không kể hai thế kỉ đầu Tây lịch (thời kì Phật giáo du nhập trực tiếp từ
Ấn-độ), từ thế kỉ thứ 3, Việt-nam đã được truyền bá thiền học, do tổ sư
Khương Tăng Hội (người Việt gốc Khương-cư). Chính ngài là sáng tổ của
thiền học Việt-nam, và sau đó được tiếp nối bởi các thiền sư Đạt Ma Đề
Bà (từ Ấn-độ sang) và Huệ Thắng (người Việt, đệ tử của Đạt Ma Đề Bà) ở
thế kỉ thứ 5, thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi (người Ấn, sang Trung-hoa rồi
Việt-nam) ở thế kỉ thứ 6, thiền sư Vô Ngôn Thông (từ Trung-hoa sang) ở
thế kỉ thứ 9 v.v... Nhưng, nói thế không có nghĩa là Phật giáo Việt-nam
chỉ hoàn toàn thuần túy có tư tưởng thiền học, mà sự thực, trên phương
diện hành trì tu tập, nó thu nhiếp cả các phương pháp của Tịnh Độ, Luật
và Mật tông, và trên phương diện phát huy trí tuệ, nó cũng thống hợp cả
những yếu nghĩa của các tông Duy Thức, Thiên Thai, Hoa Nghiêm v.v...
MƯỜI VỊ ĐỆ TỬ LỚN CỦA PHẬT
(thập đại đệ tử)
Trong suốt cuộc đời
hành đạo, đức Phật đã hóa độ cho hàng trăm vạn đệ tử, xuất gia cũng như
tại gia, gồm đủ mọi thành phần và tầng lớp xã hội. Trong số này, hạng
xuất sắc, ưu tú, chứng được thánh quả cũng đã có đến hàng vạn, nhưng đặc
biệt nhất, có mười vị đã từng được các kinh điển tiểu cũng như đại thừa
đều xưng tụng là mười vị đệ tử đứng đầu của Phật. Sở dĩ các ngài được
gọi là “đứng đầu” (đại) vì ai trong số đó cũng có một sở
trường riêng, một đạo hạnh riêng, mà cái sở trường, cái đạo hạnh ấy đều
ở mức cao tột, trội hơn tất cả mọi người khác trong giáo đoàn. Mười vị
tôn giả ấy được các kinh điển liệt kê có chỗ khác nhau, nhưng danh sách
sau đây là phổ thông hơn hết:
1. Tôn giả Xá Lợi
Phất, đứng đầu thánh chúng về trí tuệ (trí tuệ đệ nhất).
Ngài là người nước Ma-kiệt-đà, con của một gia đình Bà-la-môn giàu có,
tiếng tăm. Lớn lên, ngài cùng với người bạn thân là Mục Kiền Liên theo
tu học với đạo sĩ San Xà Da, rất nổi tiếng ở thành Vương-xá (kinh đô của
vương quốc Ma-kiệt-đà). Vốn thông minh tài trí hơn người, chẳng bao lâu
hai người đã đạt được trình độ tương đương với thầy; tuy vậy, hai người
vẫn không bằng lòng với sở đắc của mình, cho nên đã giao hẹn cùng nhau
rằng, hễ ai chứng đạt được đạo lớn trước thì phải chỉ bảo ngay
cho người kia; hoặc giả, ai tìm được minh sư trước thì phải dìu dắt
người kia. Vào năm thứ hai sau ngày thành Đạo, đức Phật dẫn giáo đoàn
đến hành hóa tại địa phương kinh thành Vương-xá. Tại đây, được sự hướng
dẫn của đại đức A Xã Bà Thệ (một trong 5 vị đệ tử xuất gia đầu tiên của
Phật), Xá Lợi Phất cùng Mục Kiền Liên đã xin xuất gia làm đệ tử Phật, và
chẳng bao lâu hai vị đã trở thành những bậc thượng thủ của giáo đoàn.
Chính tôn giả Xá Lợi Phất là người đã được Phật ủy thác trông coi công
trình xây cất tu viện Kì-viên ở thủ đô Xá-vệ của vương quốc Kiều-tát-la.
Lúc đó, bước chân hoằng hóa của Phật chưa đặt đến nơi này, nhưng nhờ vào
trí tuệ siêu việt và biện tài vô ngại của mình mà tôn giả đã thu phục
biết bao nhiêu vị đạo sĩ ngoại đạo lỗi lạc, đem họ về với Tam Bảo, trước
khi Phật và giáo đoàn đến đây mở đạo tràng tại tu viện Kì-viên. Tôn giả
viên tịch trước Phật ba tháng.
2. Tôn giả Mục
Kiền Liên, đứng đầu thánh chúng về thần thông (thần thông đệ
nhất). Ngài cũng là con của một gia đình Bà-la-môn, trong ngôi
làng sát cạnh làng của tôn giả Xá Lợi Phất. Ngài và Xá Lợi Phất, như
trên đã nói, là hai người bạn chí thân, cùng thông minh tài trí, lớn lên
cùng học một thầy, rồi cùng theo Phật xuất gia một lần. Ngoài sở trường
về thần thông, ngài còn nổi tiếng là bậc chí hiếu, vì đã cứu được Mẹ
ngài thoát khỏi cảnh khổ ngạ quỉ. Công tác hoằng hóa đặc sắc của tôn giả
là việc hóa độ cho thiếu phụ Liên Hoa Sắc, từ một nàng kĩ nữ lừng danh
trở thành một vị tì kheo ni gương mẫu, chứng quả A-la-hán và có thần
thông số một trong hàng ni chúng. Cuối đời, tôn giả đã bị ngoại đạo hành
hung đến tử thương; việc xảy ra khoảng vài tháng trước khi tôn giả Xá
Lợi Phất viên tịch.
3. Tôn giả Đại Ca
Diếp, đứng đầu thánh chúng về tu khổ hạnh (đầu đà đệ nhất).
Ngài xuất thân từ giai cấp Bà-la-môn, là người con độc nhất trong một
gia đình cự phú ở ngoại ô kinh thành Vương-xá của vương quốc Ma-kiệt-đà.
–Tương truyền rằng, tài sản của gia đình này còn nhiều hơn cả tài sản
của quốc vương đương thời là Tần-Bà-Sa-La.– Ngài được sinh ra dưới gốc
cây, và có gần đủ 32 tướng tốt của đức Phật. Đến tuổi trưởng thành, ngài
vâng lệnh song thân lập gia đình, nhưng cả hai vợ chồng đều cùng có ý
nguyện xuất gia tìm thầy học đạo, nên trong suốt 12 năm sống bên nhau,
hai người vẫn quyết giữ phạm hạnh, dứt tuyệt ái ân. Sau 12 năm, lúc đó
song thân đều đã qua đời, ngài mới được dịp thực hiện ý nguyện, bèn rời
nhà ra đi, ước hẹn với vợ rằng, khi nào tìm được minh sư thì sẽ trở về
dẫn bà cùng đi tu. Tương truyền, ngày ngài rời nhà ra đi tìm thầy học
đạo cũng chính là ngày đức Thế Tôn thành đạo. Vậy mà ngài đã phải đi chu
du khắp nơi, mãi đến khi tu viện Trúc-lâm (ở ngoại ô kinh thành
Vương-xá) xây cất xong (năm thứ hai sau ngày Phật thành đạo), Phật và
giáo đoàn dời về hành đạo tại đó, ngài mới có duyên được gặp Phật và
xuất gia theo Phật tu học. Rồi năm năm sau nữa, khi chúng Tì kheo ni đã
được Phật cho phép thành lập, ngài mới độ được cho vợ cùng xuất gia theo
Phật. Trước khi xuất gia, ngài thừa kế một gia sản giàu sang địch quốc
là thế, vậy mà sau khi xuất gia, ngài lại chỉ chuyên tu hạnh đầu đà
(khổ hạnh). Ngài sống khắc khổ đến nỗi đức Phật cũng phải ái ngại, nhất
là khi tuổi đã về già, sức khỏe đã mòn mỏi. Cho nên đã có vài lần Phật
phải khuyên bảo, nhưng ngài vẫn cương quyết giữ chí nguyện. Ngài đã được
đức Thế Tôn truyền cho tâm pháp, và sau khi đức Thế Tôn nhập diệt, ngài
đã kế thừa sự nghiệp, gánh vác trọng trách lãnh đạo giáo đoàn. Với sự hộ
pháp của vua A Xà Thế (nối ngôi vua cha là Tần Bà Sa La), ngài đã đích
thân tổ chức và chủ trì cuộc kết tập kinh điển lần đầu tiên tại ngoại ô
thành Vương-xá, ba tháng sau ngày Phật nhập niết bàn. Ngài thọ trên một
trăm tuổi. Trước khi viên tịch, ngài đã truyền tâm pháp cùng trọng trách
lãnh đạo giáo hội lại cho tôn giả A Nan.
4. Tôn giả Tu Bồ Đề, đứng đầu
thánh chúng về thông suốt tính không của thực tại vạn hữu (giải
không đệ nhất). Ngài quê ở thành Vương-xá, trong một gia đình
giàu có thuộc giai cấp phú thương, nghiệp chủ; vốn là cháu gọi trưởng
giả Cấp Cô Độc (cư trú tại kinh thành Xá-vệ của vương quốc Kiều-tát-la,
đã từng xây tu viện Kì-viên để cúng dường Phật và giáo đoàn dùng làm cơ
sở tu học và hành đạo đầu tiên ở vương quốc này) bằng bác ruột. Trong
hàng thánh chúng, chỉ có tôn giả là có nhận thức sâu sắc về tính KHÔNG
của vạn pháp, vì ngài đã hoàn toàn thấu triệt về đạo lí Không
cũng như đã chứng nghiệm được tuệ giác Không. Để chứng minh cho
điều đó, đức Phật đã từng bảo tôn giả thay Ngài giảng thuyết về tính
Không để cho đại chúng được bổ túc thêm kiến thức. Không có tài liệu nào
ghi nhận về thời khắc viên tịch của tôn giả.
5. Tôn giả Ca
Chiên Diên, đứng đầu thánh chúng về tài hùng biện (nghị luận
đệ nhất). Ngài xuất thân ở giai cấp Bà-la-môn, trong một gia
đình hào phú, danh giá bậc nhất tại vương quốc A-bàn-đề (miền
Nam Ấn-độ). Từ nhỏ, ngài đã được song thân cho về ở với đạo sĩ A Tư Đà, cậu
ruột của ngài, để tu học. A Từ Đà là một vị đạo sĩ Bà-la-môn đắc đạo,
tiếng tăm lừng lẫy khắp xứ Ấn-độ từ trước khi Phật xuất thế. Thấy cháu
mình bẩm tính cực kì thông minh, đức hạnh, lại có chí lớn, ông rất cưng
quí, và đã đem hết gia sản tinh thần của mình truyền cho. Bởi vậy, vừa
trưởng thành là ngài đã trở thành một đạo sĩ Bà-la-môn xuất chúng. A Tư
Đà, dù vốn là một đạo sĩ Bà-la-môn lỗi lạc, vẫn thấy rõ vị thái tử Tất
Đạt Đa mới ra đời tại kinh thành Ca-tì-la-vệ (vương quốc Thích-ca) kia
mới chính là bậc đại giác ở thế gian. Vì biết rõ mình đã quá già, không
thể sống cho đến ngày thái tử thành đạo, nên ông đã dẫn cháu sang vương
quốc Ca-thị, đến vùng phụ cận vườn Nai (Lộc-uyển) gần kinh thành
Ba-la-nại, và cư trú tại đây. Từ đó, hằng ngày ông đều dặn dò Ca Chiên
Diên, “khi nào bậc đại giác thành đạo, Người sẽ hóa độ tại khu vực này,
lúc đó cháu phải xin theo Người tu học.” Đạo sĩ đã từ trần trước khi
Phật thành đạo, và Ca Chiên Diên đã nhớ lời cậu dạy, khi Phật đến hóa độ
ở vùng này, liền xin xuất gia theo Phật tu học. Vốn thông minh bác học,
chẳng bao lâu ngài chứng quả A-la-hán, và trở thành một vị đệ tử thượng
thủ của đức Phật. Ngài nổi danh là nhà hùng biện đại tài, và chính nhờ
tài hùng biện này, ngài đã thuyết phục, dìu dắt không biết bao nhiêu
ngoại đạo trở về nương tựa ngôi Tam Bảo. Không ai biết được ngài viên
tịch vào lúc nào.
6. Tôn giả Phú Lâu Na, đứng đầu
thánh chúng về giảng pháp (thuyết pháp đệ nhất). Ngài sinh
trong một gia đình giàu có thuộc giai cấp phú thương, nghiệp chủ ở vương
quốc Kiều-tát-la. Tôn giả được nổi tiếng nhân lần đi bố giáo ở tiểu quốc
Du-na, một xứ biên địa mà ai nghe cũng sợ sệt, vì đó là một nơi không có
văn hóa, dân chúng man rợ, bạo ác. Vậy mà tôn giả đã tự nguyện đến đó
giáo hóa, và đã thành công rực rỡ, lập được đạo tràng, dạy dỗ cho dân
chúng sống có văn hóa, tính tình thuần thiện, thờ phụng Tam Bảo. Không
biết tôn giả viên tịch vào lúc nào, chỉ biết rằng, sau khi Phật nhập
diệt, tôn giả vẫn còn tiếp tục sứ mệnh độ sinh.
7. Tôn giả A Na
Luật (hay A Nậu Lâu Đà), đứng đầu thánh chúng về mắt thấy vô ngại
(thiên nhãn đệ nhất). Ngài là con trai thứ của thân vương Cam
Lộ Phạn ở kinh thành Ca-tì-la-vệ (vương quốc Thích-ca), gọi quốc vương
Tịnh Phạn bằng bác ruột. Như vậy, đức Phật với ngài là anh em chú bác
ruột. Anh ruột ngài là đại tướng Ma Ha Nam, người đã được đức Phật và
hội đồng hoàng tộc tín nhiệm cung cử lên nối ngôi sau khi vua Tịnh Phạn
thăng hà (vì lúc này thái tử Nan Đà cũng như hoàng tôn La Hầu La đều đã
xuất gia theo Phật). Năm thứ ba sau ngày thành đạo, đức Thế Tôn đã từ tu
viện Trúc-lâm (ở thành Vương-xá) trở về cố hương là thành Ca-tì-la-vệ để
thăm phụ hoàng cùng hoàng tộc. Khi Phật rời Ca-tì-la-vệ để đi địa phương
khác giáo hóa thì có bảy vị vương tử con của các thân vương thuộc dòng
họ Thích-Ca (như Bạch Phạn, Cam Lộ Phạn, Hộc Phạn – đều là em ruột của
vua Tịnh Phạn) đã xin theo Phật xuất gia, trong đó có vương tử A Na
Luật. Ngài tu học rất tinh tấn, nhưng cứ mắc phải một lỗi nhỏ, là thường
ngủ gục trong khi nghe Phật giảng pháp! Dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng
vẫn không bỏ tật ấy được; đến nỗi ngài đã bị Phật quở trách đôi ba phen.
Cuối cùng, chẳng có cách nào hơn, ngài phải lập nguyện “không ngủ”.
Ngài đã ngồi suốt ngày suốt đêm, hai mắt mở thao láo nhìn vào quãng
không, không chớp mắt. Cứ thế, ngày này qua ngày khác, ngài cố gắng ngồi
chịu đựng, cho đến một hôm thì cặp mắt sưng vù. Phật rất lo ngại, lại
phải khuyên dỗ, nhưng ngài cứ nhất mực giữ vững chí nguyện; kết quả đưa
đến là cặp mắt mù luôn! Phật thương xót lắm, cứ ở một bên để săn sóc cho
ngài. Phật vừa săn sóc, vừa dạy ngài phương pháp tu định để cho mắt
“sáng” ra. Ngài triệt để tu tập theo phương pháp Phật dạy, và chẳng
bao lâu sau đó, ngài chứng thiên nhãn thông, thấy suốt trong ngoài, khắp
cùng ba cõi, không ai sánh bằng, cho nên được đại chúng xưng tán là bậc
thiên nhãn số một, trở thành một trong những vị đệ tử lớn của Phật.
Trong giờ phút Phật nhập niết bàn tại rừng Câu-thi-na, ngài vẫn kề cận
bên Phật, nhưng về sau thì không ai thấy vết tích gì do ngài để lại.
8. Tôn giả Ưu Ba
Li, đứng đầu thánh chúng về tinh tường và nghiêm trì giới luật
(trì giới đệ nhất). Ngài quê ở thành Ca-tì-la-vệ, xuất thân
từ giai cấp nô lệ, làm nghề thợ cạo, có hiếu với mẹ vô cùng. Dù ở giai
cấp nô lệ, bị cấm học hành, nhưng hai mẹ con đều có tâm trí linh mẫn,
thông minh khác thường, riêng ngài thì tính tình cẩn trọng, nghề nghiệp
khéo léo, vì vậy mà ngài đã được tuyển vào hoàng cung để chuyên trách
việc cắt tóc và hầu hạ các vị vương tử. Khi đức Phật về hoàng cung lần
đầu tiên (năm thứ ba sau ngày thành đạo) để thăm phụ hoàng và hoàng tộc,
bảy vị vương tử dòng Thích-ca đã xin theo Phật xuất gia tu hành, ngài
cũng xin được theo các vị vương tử xuất gia, và đã được Phật thu nhận.
Đó là người ở giai cấp nô lệ đầu tiên được gia nhập giáo đoàn của Phật,
– và cũng là người nô lệ đầu tiên được tham dự vào sinh hoạt tôn giáo
trong lịch sử văn minh Ấn-độ. Do tính tình vốn vô cùng cẩn trọng, ngài
đã hành trì giới luật thật nghiêm túc, trở thành vị tì kheo mẫu mực nhất
tăng đoàn về phương diện giới luật. Trong đại hội kết tập kinh điển lần
đầu tiên ở ngoại ô thành Vương-xá do tôn giả Đại Ca Diếp chủ trì, ngài
đã được đại chúng cung cử đọc tụng các giới luật đức Phật đã chế, làm
thành bộ Bát Thập Tụng Luật, là bộ luật căn bản đầu tiên của Phật
giáo. Khác với Phật giáo Bắc truyền, Phật giáo Nam truyền cho rằng, vị
sơ tổ kế thừa đức Phật lãnh đạo giáo đoàn là tôn giả Ưu Ba Li chứ không
phải là tôn giả Đại Ca Diếp.
9. Tôn giả A
Nan
(hay A Nan Đà), đứng đầu thánh chúng về nghe nhiều nhớ kĩ (đa văn
đệ nhất). Ngài là em ruột của đại đức Đề Bà Đạt Đa (con của thân
vương Bạch Phạn), và là em chú bác ruột của đức Phật. (Các vị
vương tử anh em chú bác ruột trong dòng họ Thích-ca còn được biết tên
cho đến ngày nay, theo thứ tự trên dưới, gồm có: Tất Đạt Đa, Nan Đà
– con quốc vương Tịnh Phạn; Đề-Bà Đạt Đa, A Nan Đà – con thân
vương Bạch Phạn; Ma Ha Nam, A Na Luật – con thân vương Cam Lộ
Phạn; Bạt Đề, Bà Sa, Kiếp Tân Na – con thân vương Hộc Phạn; và
Nan-Đề – con của (?). Trừ Ma Ha Nam ở lại nối ngôi vua Tịnh Phạn,
tất cả các vị khác đều xuất gia tu hành; thái tử Tất Đạt Đa, trước khi
xuất gia tìm đạo và thành Phật thì đã lập gia đình và có con là vương
tôn La Hầu La; khi đức Phật trở về cố hương Ca-tì-la-vệ thăm hoàng gia
lần đầu thì thái tử Nan Đà theo Phật xuất gia trước nhất, kế tiếp là
vương tôn La Hầu La, đến khi Phật rời Ca-tì-la-vệ để đi giáo hóa phương
khác thì bảy vị vương tử còn lại cùng rủ nhau theo đến chỗ Phật xin xuất
gia.) Theo truyền thuyết từ trước đến
nay thì tôn giả A Nan đã được sinh ra đúng vào ngày đức Phật thành đạo.
Nhưng thiết nghĩ, điều này không hợp lí lắm, vì ngài theo Phật xuất gia
vào năm thứ ba sau ngày Phật thành đạo, nếu ngài sinh vào ngày Phật
thành đạo thì lúc xuất gia ngài mới có 3 tuổi! Không thể chấp nhận được.
Năm đó vương tôn La Hầu La được 10 tuổi. Dù tôn giả La Hầu La xuất gia
trước, nhưng cũng chỉ trước vài ba tháng thôi. Ngài xuất gia cùng năm
với La Hầu La, nếu ngài không lớn hơn thì cũng phải bằng tuổi với La Hầu
La, nghĩa là ngài phải ra đời trước ngày Phật thành đạo. Theo Đường
Xưa Mây Trắng của thiền sư Nhất Hạnh thì khi đi xuất gia, ngài vừa
18 tuổi – lớn hơn vương tôn La Hầu La 8 tuổi, nhưng nhỏ tuổi nhất trong
số bảy vị vương tử cùng đi xuất gia một lần. Bởi vậy, khi xuất gia ngài
đã không được thọ giới tì kheo ngay, mà phải chờ đến hai năm sau, khi
tròn đủ 20 tuổi. Trong tăng đoàn, ngài là người đẹp trai và thông minh
nhất, học một biết mười, nghe đâu nhớ đó, lại nhớ lâu, nhớ kĩ. Năm Phật
được 55 tuổi đời thì ngài được đại chúng đề cử làm thị giả thường xuyên
cho Phật. Phật đi đâu, nói pháp gì, ngài đều có mặt, bởi vậy, ngài cũng
là người đã “nghe được nhiều nhất” trong tăng đoàn. Với nhiệm vụ thị
giả, ngài đã hầu hạ, săn sóc đức Thế Tôn tận tâm tận lực, từ việc lớn
đến việc nhỏ đều chu toàn trọn vẹn, không sơ suất, không lỗi lầm. Đối
với mọi người thì ngài hết sức khiêm cung, lịch sự, hòa nhã, thân ái;
cho nên, trong thì đức Thế Tôn không có điều gì phải quở trách ngài, và
ngoài thì đại chúng cũng không có gì phải phiền hà ngài. Điều làm cho
mọi người (từ thời đại ngài cho đến ngày hôm nay) yêu mến và nhớ ngài
nhất là lần ngài bị nữ nạn “Ma Đăng Già”.
Ni chúng tôn thờ ngài như vị cao tổ,
vì nhờ ngài mà đức Thế Tôn đã cho phép thành lập giáo hội tì kheo ni.
Tuy thông minh, đức độ và tận tụy như vậy, nhưng ngài lại là người chứng
ngộ chậm nhất trong tăng đoàn! Một vị có căn tính tối tăm nhất tăng đoàn
như đại đức Chu Lị Bàn Đà Già, học một câu kệ ba tháng không thuộc, mà
vẫn chứng quả A-la-hán trước ngài. Còn ngài thì mãi đến ba tháng sau
ngày Phật nhập diệt, ngay buổi tối trước ngày khai mạc đại hội kết tập
kinh điển lần đầu, do sự “đánh thức” của tôn giả Đại Ca Diếp, ngài mới
chứng thánh quả A-la-hán! Với sự kiện này, ngài đã được chấp thuận cho
tham dự đại hội vào ngày hôm sau, và được toàn thể thánh chúng cung
thỉnh lên pháp tòa đọc tụng lại toàn bộ những lời dạy của đức Phật trong
suốt 45 năm qua, làm thành tạng Kinh trong ba tạng kinh điển của Phật
giáo. Khi tuổi thọ xấp xỉ 80, ngài được tôn giả Đại Ca Diếp (trên 100
tuổi) truyền tâm pháp và ủy thác trọng trách lãnh đạo giáo hội; và đến
năm 120 tuổi thì ngài truyền tâm pháp và giao phó trách nhiệm lãnh đạo
giáo hội cho đệ tử là tôn giả Thương Na Hòa Tu, rồi nhập niết bàn.
10. Tôn giả La Hầu
La, đứng đầu thánh chúng về oai nghi tế hạnh (mật hạnh đệ
nhất). Ngài là con của thái tử Tất Đạt Đa và công chúa Da Du Đà
La, tức là cháu nội của vua Tịnh Phạn. Vì thái tử Tất Đạt Đa đã đi tu,
và sau đó, người em cùng cha khác mẹ của thái tử Tất Đạt Đa là thái tử
Nan Đà cũng đi tu, cho nên người thừa kế của vua Tịnh Phạn nhất định
phải là ngài; nhưng rồi ngài cũng đi tu nốt, bởi thế, sau khi vua Tịnh
Phạn thăng hà, Phật và hội đồng hoàng tộc mới phải cung cử đại tướng Ma
Ha Nam (anh ruột tôn giả A Na Luật) lên nối ngôi. Ngài theo Phật xuất
gia lúc 10 tuổi, thờ tôn giả Xá Lợi Phất làm thầy y chỉ, và trở thành vị
sa di đầu tiên của tăng đoàn. Suốt tuổi ấu thơ sống trong vương cung,
ngài đã từng được mẹ và ông nội thương yêu cùng cực; lúc sống ở tăng
đoàn, tuy là thân phận sa di, nhưng phần vì vẫn còn là một chú bé, phần
vì là con của Phật nên ai cũng cưng; những yếu tố đó đã giúp cho cái tập
khí “vương giả” cứ sống ngấm ngầm mãi trong tâm hồn trẻ thơ, đã khiến
cho sự tu tập của chú sa di La Hầu La không được nghiêm túc, hay lấy sự
đùa nghịch phá phách người lớn làm trò vui. Bởi vậy, đích thân đức Thế
Tôn phải bao lần dạy dỗ nghiêm khắc, rồi dần dần, càng trưởng thành ngài
càng nhận ra được lẽ thật, quyết tâm sửa đổi những lỗi lầm của tuổi trẻ.
Mặt khác, vị y chỉ sư của ngài là tôn giả Xá Lợi Phất cũng chăm nom tận
tình, đi giáo hóa ở đâu cũng dẫn ngài theo, ở đâu cũng cho ngài ở cùng,
cho nên ngài đã được thấm nhuần trí tuệ cũng như đức độ nhẫn nhục, khiêm
cung của thầy; ngài lập quyết tâm tu tập tinh tấn, nghiêm trì giới luật,
chỉnh đốn oai nghi, suốt ngày im lặng, giảm thiểu tiếp xúc, không nói
chuyện vô ích với bất cứ ai... Sau một thời gian chuyên tu “mật hạnh”
như thế, một hôm, nhân một lời dạy đơn giản của Phật: “La Hầu La!
Thầy hãy quán chiếu để thấy rõ sắc là vô thường; thọ, tưởng, hành, thức
cũng là vô thường; thân thể và tâm ý của mọi người đều là vô thường; đến
cả vạn sự vạn vật đầy dẫy trong thế gian kia, tất cả cũng đều là vô
thường. Đã thấy rõ lẽ vô thường rồi thì tâm ta sẽ không còn bị vướng mắc
vào đâu nữa.”, ngài hoát nhiên đại ngộ! Vì chuyên tu mật hạnh nên
nếp sống của ngài rất bình lặng, không có gì sôi nổi, không có tiếng tăm
lừng lẫy như quí vị tôn giả Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nan, Phú Lâu
Na v.v... Ngài nhập diệt khoảng năm 51 tuổi, trước cả đức Phật và ni sư
Da Du Đà La.
MƯỜI VIỆC THIỆN
(thập thiện)
Một hành động được gọi là “thiện”
khi nó đem lại sự an vui, hạnh phúc, giải thoát và giác ngộ cho mình,
cho mọi người và mọi loài. Ngược lại thì là “ác”, hay “bất
thiện”. Người tu học thì dĩ nhiên suốt đời chỉ nguyện làm việc thiện
và tránh làm tất cả những việc bất thiện. Một cách tổng quát, có mười
loại việc thiện như sau:
1. Không giết hại sinh mạng cũng
như không tán thành và khuyến khích sự giết hại. Phải tìm mọi cách có
thể để bảo vệ sinh mạng. Phải chọn những công việc mưu sinh nào
không gây tàn hại cho con người, loài vật và thiên nhiên.
2. Không lấy làm tư hữu những tiền
bạc và của cải không do chính mình tạo ra hoặc không do người khác biếu
tặng. Không gây dựng tài sản bằng những phương cách bất hợp pháp. Phải
tôn trọng quyền tư hữu của người khác, nhưng đồng thời cũng phải
biết tìm cách ngăn chận, khuyến hóa những kẻ làm giàu bất lương trên sự
đau khổ của quần chúng bị áp bức, thua thiệt.
3. Dù là độc thân hay đã lập gia đình
cũng không được phá hoại danh dự và hạnh phúc của bản thân hoặc
gia đình mình, cũng như của người hoặc gia đình người khác bằng cách
ăn nằm với những người chưa hoặc không phải là vợ hay chồng mình.
Phải ý thức được những đổ vỡ, những khổ đau mà mình có thể gây ra cho
người khác vì hành động bất chính của mình. Và do đó, cần phải tích
cực bảo vệ danh dự và hạnh phúc cho bản thân và gia đình mình cũng
như cho người và gia đình người khác.
4. Không nói những lời dối trá, thêu
dệt, điêu ngoa, xúc siểm nhằm khoa trương và mưu cầu danh lợi, địa
vị cho mình, hoặc để vu oan giá họa cho người. Phải thành thật nhìn nhận
những sai lầm của mình để hối cải. Phải can đảm nói lên sự thật
để cứu người vô tội, cũng như để phơi bày những âm mưu gian dối, xảo
trá, bất công và tàn ác. Phải luôn luôn đối xử chân thật với mọi
người.
5. Không nói lời li gián nhằm gây
nên không khí bất hòa giữa những người khác, tạo sự chia rẽ và đổ vỡ
trong tổ chức, đoàn thể. Phải nói lời xây dựng, hòa giải. Phải
tạo sự đoàn kết giữa mọi người.
6. Không nói lời ác độc, hung dữ, cộc
cằn, lỗ mãng như cãi vã to tiếng, chửi mắng hay nguyền rủa, tạo nên
sân hận, oán thù. Phải nói lời ôn hòa, nhã nhặn, dịu dàng nhằm
tạo sự thông cảm, thương yêu, hòa điệu.
7. Không nói những lời thô tục, dâm
đãng. Không dùng lời lẽ trau chuốt ngọt ngào cốt mê hoặc, dụ dỗ
người. Không nói những lời vô ích. Không lên án hoặc rao truyền những
điều mà mình không thấy biết rõ ràng, chính xác. Không nói những lời gây
hoang mang cho mọi người. Phải nói những điều đứng đắn và xác thực
hầu đem lại sự hiểu biết chính đáng cho người. Những lời nói như vậy lúc
nào cũng có ích và luôn luôn tạo được niềm an vui và gây tin tưởng cho
người nghe.
8. Không để cho tâm tham dục điều
khiển mình. Phải thường xuyên tỉnh thức, không để cho bị quyến rũ
bởi năm thứ dục vọng rồi lấy đó làm mục đích chính của đời mình. Phải
biết sống giản dị để dùng thì giờ và khả năng của mình phụng sự xã
hội. Phải biết san sẻ những gì mình có thể san sẻ được để giúp đỡ người
trong mọi hoàn cảnh khổ đau.
9. Phải ngăn ngừa, đừng để cho tâm sân
hận và oán thù phát sinh. Nếu nó đã phát sinh thì đừng để nó tồn tại
và phát triển, mà phải tìm mọi cách hữu hiệu (như theo dõi hơi thở, quán
niệm về từ bi và duyên sinh chẳng hạn) để tiêu diệt nó ngay. Luôn luôn
đối xử với mọi người bằng thái độ hòa nhã, khiêm tốn và vui vẻ.
10. Không có thái độ cuồng tín đối
với những điều không do trí tuệ soi sáng. Không mù quáng tin theo những
tà thuyết trái chống với những nguyên lí nhân quả, duyên sinh, vô
thường, vô ngã v.v... Không cố thủ những tri kiến sai lầm của mình và
gạt bỏ tri kiến của người. Không phẩm bình người khác bằng những thành
kiến hẹp hòi, cố chấp của mình. Phải học tập thái độ phá chấp và biết
cởi mở để lắng nghe quan điểm của kẻ khác. Phải luôn luôn tìm cầu
học hỏi để phát huy trí tuệ và dùng trí tuệ ấy để soi sáng, làm hiển
lộ sự thật duyên sinh trong mọi vấn đề liên quan đến bản thân, con
người, mọi loài, và vũ trụ.
Mười việc thiện
trên đây là những nguyên tắc hướng dẫn cuộc sống gia đình và xã hội của
đạo Phật, được dùng làm giới luật hành trì cho chúng cư sĩ tại gia, cho
nên cũng được gọi là “Giáo luật mười việc thiện” (thập thiện
giới), có thể đọc tụng tại gia đình mỗi tháng một hay hai lần.
---o0o---
[Mục Lục ] [Số 1 ] [Số 2] [Số 3] [Số 4] [Số 5]
[Số 6 ] [Số 7] [Số 8 ] [Số 9 ] [Số
10]
[Những Số Khác -Bảng Tra Danh Số -Tài Liệu Tham Khảo]
---o0o---
Vi tính: Diệu Thiện; Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-03-2005