Trích
Lục Phật Học
Cao
Hữu Đính
---
o0o
---
TỨ TRÍ
(Của giáo nghĩa Duy Thức)
Tứ trí là
thuật ngữ của giáo nghĩa Duy Thức. Theo giáo nghĩa của trường phái này,
thì việc thành tựu viên mãn phép quán Duy Thức Tánh nói trong Duy Thức
Hành, hành giả chuyễn hóa tám thức (vọnh) thành bốn trí (chân).
1/ Thành sở
tác trí:
Năm thức đầu
(nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) chuyễn thành Thành sở tác trí. Tức cái trí
được tạo tác bởi sự thành tựu viên mãn của A Lại Da.
Năm thức ấy
trước kia phân biệt một cách hư vọng: Giờ đây, chúng có công năng huyền
diệu ly phân biệt, cho nên gọi là Thành sở tác.
2/ Diệu quan
sát trí:
Ðệ lục thức
chuyễn thành Diệu quan sát trí vì thức này công vi thủ, tội vi khôi.
Trước kia
trong vọng, nó quan sát lầm lạc hư dối, nay cũng chính nó, nhưng đã được
thanh lọc rồi thì nó quan sát một cách huyền diệu. Trí ấy gọi là Diệu quan
sát trí.
3/ Bình đẳng
tánh trí:
Ý thức được
thanh lọc, an tỉnh, mở đường cho Mạt Na thức, không còn chấp bỉ, thử,
nhân, ngã nữa. Thức Mạt Na chuyễn thành bình đẳng tánh trí.
4/ Ðại viên
cảnh trí:
Tiếp theo
thức A Lại Da ra khỏi sự che lấp của vô minh, chiếu sáng trọn vẹn, phản
chiếu mọi sự mọi vật trong thế gian như một tấm kiếng tròn đầy, cho nên
gọi là Ðại viên cảnh trí (Cảnh: tấm gương).
DUY THỨC TAM THẬP TỤNG
* 30 bài tụng
nói gì? (Tụng: kệ)
A. Duy Thức
Tướng: 19 tụng chia ra như sau:
1.
Năng biến 1: 4 tụng (1, 2, 3, 4)
2.
Năng biến 2: 3 tụng (5, 6, 7)
3.
Năng biến 3: 2 tụng (8, 9)
Tương ứng với
chúng có những tâm sở nào? Tâm sở là tác dụng tâm lý phụ. Còn ba năng biến
là ba trung tâm của tác dụng tâm lý chính.
4. Liệt kê
sáu loại tâm sở và nghĩa của mỗi chủng loại: 5 tụng (10,11, 12, 13 ,14).
5. Sự hiện
khởi của 6 thức đầu (trong Năng biến 3): 2 tụng (15, 16).
6. Sự biến
hóa mầu nhiệm của ba loại thức năng biến, trước sau nối tiếp nhau mà tạo
ra vọng sinh tử luân hồi. Do đó, nên có chủ thuyết Duy Thức để thuyết
minh: 3 tụng (17, 18, 19).
B. Duy Thức
Tánh: 6 tụng chia ra như sau:
1/ Ba tự
tánh: 3 tụng (20, 21, 22).
2/ Ba vô
tánh: 3 tụng (23, 24, 25).
C. Duy Thức
Hành: 4 tụng (26, 27, 28, 29)
Nói về bốn
giai đọan hành trì phép quán Duy Thức Tánh.
D. Duy Thức
Quả: một tụng (30) nói về kết quả của phép quán Duy Thức Tánh: chứng Pháp
thân (thành Phật).
Giáo nghĩa
Duy Thức gồm bốn mục: tướng, tánh, hành, quả (Tướng,
Tánh gồm chung gọi là Duy Thức cảnh)
Trong bốn mục
nói trên, với một vài canh cải như khái niệm về ba năng biến mà nhờ đó
chuyễn nghĩa từ Tâm Lý Học Tiểu thừa sang Ðại thừa. Có ba lớp năng biến,
diễn tiến từ mội tâm ra ngoại cảnh. Ba năng biến là ba trung tâm phát khởi
sự biến hóa của Thức.
Về sự biến
hóa đó, nên nhớ: Phật ví Thức như Huyễn sư làm trò ảo thuật.
Về ba lớp
biến hóa nên nhớ: ba khu tâm, ý, thức do Phật xác định từ nguyên thủy.
Như vậy,
trong mục Tướng này, tư tưởng đặc sắc của Thế Thân chỉ ở ba lớp năng biến,
tăng sáu thức lên tám thức. Nhưng về năng biến hai (nói về Mạt Na tức Ý)
thì chưa thấm đâu so với giáo nghĩa Khởi Tín về sau.
* Mục nói về
Tánh rất xuất sắc. Tất cả thiên tài của Thế Thân hiện ra trong mục này.
* Mục nói về
Hành là nhằm thuyết minh pháp tu quán Duy Thức qua bốn giai đoạn. Nhưng
Thái Hư khi giải thích bốn giai đoạn này lại đem bốn giai đoạn tu của Tiểu
thừa mà ghép vào. Thật là tùy tiện như “đem râu ông nọ cắm cằm bà kia”
vậy.
* Mục nói về
Quả, cho đó là Pháp thân Ðại tịch tịnh là rất hợp lý. Chỉ tiếc rằng trong
đoạn đầu (kệ 4) Thế Thân mới xả bỏ thức A Lại Da khi chứng qủa A La Hán,
là không hợp lý chút nào hết. Ðáng lẽ phải nói: xả bỏ A Lại Da khi chứng
pháp thân mới đúng.
Trong thân
năm uẩn, A Tỳ đàm và Duy Thức bắt đầu từ uẩn thức mà len dần vào nội tâm.
Về sau Khởi tín bắt đầu từ hành mà tỏa ra năm thức (tức đi ngược chiều
lại) và chú trọng khai triển tác dụng của Mạt Na (Ý), cho nên so với Duy
Thức, Khởi Tín đào tâm lý con người xuống tận đáy.
NÒNG CỐT ÁCH YẾU CỦA DUY THỨC TAM THẬP TỤNG
(Gồm trong ba tụng 17, 18, 19)
Tụng 17:
Thức có sức
năng động nội tại khiến nó biến chuyễn không ngừng (tịnh tâm, Thức động).
Từ sức triển chuyễn biến hóa của nó, giả hiện ra hai phần: Năng phân biệt
và sở phân biệt. Bởi cả hai mặt đều không thật, cho nên quy kết lại thì
chỉ có một cái thức duy nhất mà thôi. Thức duy nhất ấy, tụng 18 sẽ nói cho
biết đó là: Thức nhất thiết chủng (nhân tướng của năng biến một)
Tụng 18: Ý
nói:
Tất cả các
chủng từ trong thức nhất thiết chủng là đầu mối sinh ra sức năng động
triển chuyễn và biến hóa của nó. Sức triển chuyễn ấy vô cùng kỳ diệu, tâm
tư không suy lường nổi, ngôn ngữ không diễn đạt được. Cho nên lớp lớp phân
biệt, dáng nọ kiểu kia, lố nhố, lúc nhúc, lít nhít, lăng nhăng mới giả
hiện ra như tướng có thật.
Tụng 19: Ý
nói:
Tập khí của
ba nghiệp thân, khẩu, ý cộng với tập khí của hai thứ tạo thành một tổng
hợp gọi là quả dị thục. Quả này không phải là một cái cố định. Nó luôn
luôn biến dạng, vì hể còn tiếp tục tạo nghiệp và còn chấp thủ, thì các tập
khí của chúng tiếp tục tăng bổ thêm nguyên liệu của nó, không phát sinh dị
thục mới. Vì vậy mà khi dị thục trước hết tác dụng thì dị thục sau nối
tiếp.
Bình giải:
Ba tụng trên
17, 18, 19 nhằm mục đích thuyết minh các then máy biến hóa kỳ diệu của
Thức. Có thuyết minh được cái then máy ấy thì giáo nghĩa Duy Thức mới có
lý do thành lập và đứng vững. Vì vậy ba tụng ấy là nòng cốt căn bản của
Duy Thức Tam Thập Tụng.
Trước hết,
phải nên biết rằng: Từ thời nguyên thủy trong kinh A Hàm, Phật ví uẩn thức
với huyễn thuật (magie). Huyễn thuật tức là trò ảo hóa, do huyễn sư
(magicien) ngụy tạo và hóa hiện.
Giáo nghĩa
Duy Thức triển khai tư lương này bảo Thức là huyễn sư. Các pháp thế gian
là trò ảo hóa do Thức giả dối phân biệt mà hiện ra in tuồng có thật. Then
máy hóa hiện được giáo nghĩa Duy Thức trình bày đại khái như sau:
Thức là cái
năng biến (động) có ba lớp: Lớp năng biến một là đầu mối sinh khởi hai lớp
năng biến sau. Trong năng biến một vai trò ách yếu là vai trò Thức nhất
thiết chủng (nhân tướng). Các chủng tử trong thức này thường hằng ở trong
tư thế biến động. Chúng nhồi nắn nhau, chuyển hóa nhau, biến đổi không
ngừng, biến hóa kỳ diệu, khó có thể nghĩ lường và cũng không có ngôn ngữ
nào để mô tả nó. Hai chữ “như vậy, như vậy” lập đi lập lại, là cốt để nói
lên cái năng lực triển chuyển và biến hóakỳ diệu của nó.
Do năng lực
triển chuyển biến hóa mà tất cả các chủng tử do mọi hiện tượng giao thoa
đủ mọi cách, tạo thành tương quan đối đãi Năng và Sở. Năng là Thức mà Sở
cũng là Thức mà thôi. Cho nên nói: chỉ có Thức (Duy Thức) giả dối.
Tương quan
Năng sở đối đãi ấy ảnh hưởng qua lại với nhau trùng trùng điệp điệp, lít
nhít, lăng nhăng như một tấm lưới mênh mông. Lớp nọ chồng lên lớp kia, vô
cùng tận. Ðây là lý do sâu xa khiến nảy sinh hàng hàng lớp lớp phân biệt,
loại nọ loại kia đằng này đằng khác khó thể suy lường. Cho nên mới nói:
như vậy, như vậy.
Ba nghiệp
thân, khẩu, ý cộng thêm hai thủ (Thủ kiến và Thủ tướng) gieo vào A Lại Da
những ấn tượng ngàn đời khó quên phai.
Gọi các ấn
tượng ấy là chủng tử, đó là đứng về mặt tướng mà nói. Gọi chúng là tập khí
cũng không sai, vì đây là đứng về mặt tác dụng mà nói. Hay nói nôm na: dấu
vết, thói quen. Từ ngữ nào cũng tạm đúng được cả. Chủng tử hoặc tập khí là
nguyên nhân luôn luôn được tăng bổ và đổi mới. Bởi sự tạo nghiệp vẫn tếp
tục thì quả dị thục tục tồn vô cùng tận và luôn luôn biến dạng. Hễ còn tạo
nghiệp thì quả dị thục trước dứt, quả dị thục sau tiếp tục hiện ra. Ðó là
luân hồi. Có tác nghiệp, không có tác nhân.
Tâm giải:
hiểu biết bằng trực giác, tâm linh.
Học giải:
hiểu biết bằng hình thức suy luận.
TƯỚNG NĂNG BIẾN MỘT: A LẠI DA
1. Nó là cái
gì? Cái A Lại Da: tức cái kho chứa mọi chủng tử từ bên ngoài gieo vào qua
ngõ cửa của sáu thức đầu.
2. Chức năng
: nhào nặn và thành thục tất cả các chủng tử của mọi loài, mọi thời, tạo
thành một tổng thể mới quả dị thục.
3. Khả năng
nhận thức: gọi nó là thức vì nó có đối tượng sở duyên, nhưng nó hoàn toàn
mù tịt trước tất cả các đối tượng của nó.
4. Nhưng tâm
sở nào cũng khởi với nó khi nó đối diện với đối tượng: năm tâm sở biến
hành: xúc, tác, ý, thọ, tưởng, tư và xả thọ.
5. Tánh nó
đối với trước chân lý: vô phú: không có ngăn che chân lý.
6. Tánh nó về
mặt đạo đức: vô ký: không thiện, không ác.
7. Tánh năm
biến hành tương ưng với nó: cũng vô phú, vô ký.
8. Tướng
trạng nó giống như một giòng thác chảy xiết, không ngừng chuyển biến từ
sát na trước qua sát na sau.
9. Tu đến quả
vị nào mới đoạn trừ được nó? A La Hán.
*
* *
a) Cái A Lại
Da này, từ đâu ra, Duy Thức không nói, khác với Khởi Tín. Theo Khởi Tín,
Tâm động Vô minh, Tổng thể: động + tịnh là A Lại Da. (Như Lai tạng động).
Trong phần
động, từ Vô minh và do Vô minh mới có sinh khởi ra Thức A Lại Da chứa các
chủng tử của bên ngoài gieo vào.
b) Ngoài cái
A Lại Da và tư trang của nó (bộc lưu) là khám phá mới của Duy Thức
Casdado, còn nọi chi tiết khác, nhất là cách trình bầy na ná như trong
Pháp tướng ATỳ Ðàm của Tiểu thừa.
c) Với quả vị
tối cao là A La Hán nói đây, thì trường phái Duy Thức thoát thai từ A Tỳ
Ðàm Tiểu thừa, cố gắng vươn kên Ðại thừa nhưng chỉ mới đi được nửa đường.
*
* *
A Lại Da: hàm
chứa và làm phát hiện các pháp (năng nhiếp tất nhất thiết pháp, sinh nhất
thiết pháp)
Mạt Na: cứ
điểm của ý niệm nhân ngã và tư duy.
A Lại Da
không có ý thức phân biệt chủ thể, đối tượng, ngã, phi ngã như Ý thức và
Mạt Na Thức.
Quả dị thục
có ba loại: dị thời (khác thời), dị loại (khác loại) và biến dị thục (biến
thành khác)
Hai thủ:
1.
Thủ tướng (ôm chặt tướng giả dối của các pháp)
2.
Thủ kiến (ôm chặt kiến giải sai lầm)
Tập khí hôi
hám tích tập, tạo thành thói quen ngàn đời khó xóa, như chủng tử.
TƯỚNG NĂNG BIẾN THỨ BA: TIỀN LỤC THỨC SỰ SINH KHỞI CỦA SÁU THỨC ÐẦU
1. Thức căn
bản:
Theo giáo
nghĩa Duy Thức, tất cả 7 thức đầu (lục thức và Mạt Na thức) đều nương vào
A Lại Da thức mà có sinh khởi, không riêng gì Mạt Na thức. Cho nên A Lại
Da thức được mệnh danh là Thức căn bản.
2. Tùy duyên:
Nếu đứng
riêng về mặt hiện khởi mà nói, thì năm thức đầu lại còn phải tùy duyên,
cho nên có khi khởi, khi không khởi. Khi chung, khi không chung. Hiện
tượng giống như sóng mới, tuy nương vào nước nhưng phải tùy duyên của
gió... mới dấy lên được.
3.
Ý THỨC
Sự sinh khởi
của ý thức lại khác hẳn. Nó hằng hiện khởi, ngoại trừ năm trường hợp sau
đây:
1.- Sinh lên
cõi trời vô tưởng.
2.- Nhập định
vô tưởng (sáu thức không khởi) – định vô tâm.
3.- Nhập định
diệt tâm (sáu thức không khởi) – định vô tâm.
4.- Ngủ say
không chiêm bao.
5.- Chết
giấc.
I. Duy Thức
Tướng hay là:
Then máy
triển chuyển biến hóa của thức.
Duy Thức Tam
Thập Tụng, trang mở đầu, nói rằng, Ngã và Pháp (tức mọi hiện tượng nói
chung) chỉ là giả lập. Chúng chỉ có trên ngôn thuyết, nhưng không thực có
trên thực thể. Tất cả chỉ là trò ảo hóa của thức (Huyễn thức do huyễn sư
Thức tạo tác biến hóa)
Vậy, cái trò
ảo hóa diễn tiến ra sao? Các thức do triển chuyển biến hóa tạo ra hai phần
Năng phân biệt và Sở phân biệt (Nên nhớ: Thức là phân biệt). cả hai đều là
không, cho nên nói: duy chỉ có thức mà thôi.
Thức nói đây
là chỉ vào Nhân tướng của Năng biến một, tức Thức nhất thiết chủng (không
nói tư tưỏng A Lại Da và quả tướng dị thục). Thức nhất thiết chủng ấy
(chủng tử hay tập khí) luôn luôn ở trong tư thế hiếu động và hằng thường
biến đổi. Biến đổi không ngừng và biến đổi kỳ diệu, biến đổi khó lường.
Sát na trước khác với sát na sau, giống như sự biến đổi của bộc lưu (thác
chảy) cho nên, tác giả lập đi lập lại hai chữ “như vậy, như vậy” là cốt để
mô tả cái năng lực triển chuyển biến hóa kỳ diệu và khó lường đó. Ðây là
đầu mối của mọi sự phân biệt khởi sinh.
Phân biệt là
gì? – Là hiện tượng giao thoa triển chuyển của tất cả các chủng tử (hay
tập khí) trong A Lại Da, tác động qua lại với nhau, mà tạo thành tương
quan đối đãi giữa Năng và Sở, giữa chủ và khách. Ảnh hưởng qua lại với
nhau kiểu này kiểu khác, dáng nọ dáng kia, khó thể suy lường được, cho nên
nói “như vậy, như vậy”.
Sự triển
chuyển huyễn hoặc, kỳ diệu ấy bắt nguồn từ các chủng tử của Nghiệp và
chủng tử của hai thủ (thủ kiến và thủ tướng) tất cả các loại chủng tử (tập
khí) tạo thành hai quả dị thục thường hằng đổi khác. Rồi vì sự tạo nghiệp
mới tăng bổ thêm cho nền khi dị thục trước chấm dứt, lại có dị thục kế
tiếp phát sinh. Ðó là hiên tượng luân hồi. Trên đây là Duy Thức tướng
trong Tam Thập Tụng (từ trang 1 – 24)
II. Duy Thức
Tánh:
A.
Ba Tánh của Thức:
1/ Biến kế sở chấp:
Biến kế sở
chấp cùng khắp và sở chấp lung tung. Tướng Ngã và tướng Pháp sở dĩ hiện ra
là vì chúng bị chấp bởi tánh sở chấp này. Thức ngã và thức pháp thì không
thực có, chỉ vì sở chấp này mà có cho nên gọi tánh ấy là Biến kế sở chấp.
2/ Y tha
khởi:
Nương vào cái
“tha” mà có sinh khởi cái “tự”. Cái tướng riêng “tự” bị sinh khởi do duyên
của “tha”, chứ thật chất của tướng riêng không có. Tánh sinh khởi hư huyễn
đó gọi là y tha khởi.
3/ Viên thành
thật:
Ngộ được tánh
y tha khởi của các pháp v.v... (xem xét), chính do tánh viên thành thật
thì liền biết tánh của các pháp chỉ do “y tha khởi” mà “tự khởi”. “Tự”
không rời “tha” mà đứng riêng được.
Do ngộ “y
tha” mà chứng “viên thành thật” cho nên có thể nói viên thành thật và y
tha chẳng phải khác nhau, cũng chẳng phải chẳng khác nhau. Cho nên từng
nói “phi bất kiến thử bỉ”: không phải không thấy cái này mà thấy được cái
kia.
Ba tánh gắn
liền với Thức, cho nên nói chung là ba tự tánh của thức.
B.
Ba vô tánh của Thức:
III. Duy Thức Hành (xem tiếp ở phần sau)
IV. Duy Thức Quả (xem tiếp ở phần sau)
DUY THỨC TAM THẬP TỤNG-
* Tâm vương hay Tâm pháp (nhận thức)
* Tâm sở (hiện tượng tâm lý)
Tâm sở: Tâm
sở hữu pháp (Pháp sở hữu của Tâm vương. Tâm vương: thức):propriete mentale
của Tâm vương. Có sáu loại Tâm sở (gồm 51 món).
1.- Tâm sở
biến hành:
Loại tâm sở
có tác dụng len lỏi cùng khắp mới thôi (quá, hiện, vị), mọi chốn (ba cõi),
mọi tánh (thiện, ác, vô ký), mọi thức (8 thức). Khi tâm vương duyên cảnh,
thì dù có liễu biệt cảnh hay không đều phải trải qua quá trình bắt buộc
là: xúc. Tác ý, thọ, tưởng, tư cho nên gọi là biến hành.
- Xúc:
sensation: tiếp xúc và hòa hợp giữa căn, cảnh.
- Tác ý:
Excitation mentale, attention: móng tâm muốn biết cảnh.
- Thọ:
Impression produite par la sensation: nhận lãnh cảnh (cảnh có thể thuận,
nghịch hay không với Tâm vương).
- Tưởng:
Imagination: ấn tượng gợi ra trong Tâm vương cái bóng dáng của cảnh.
- Tư:
Volition: suy tư cái bóng dáng ấy, đầu mối của tạo nghiệp.
2. Tâm sở
biệt cảnh:
Là loại tâm
sở chỉ có tác dụng riêng biệt, đối trước cảnh sở duyên cùng riêng biệt.
- Dục:
desir: ham muốn dấy khởi trước cảnh ưa thích.
- Thắng giải:
resolution, determination: quyết tâm tìm hiểu lựa chọn
- Niệm:
souvenir memoire: nhớ lại cảnh đã qua, ít nữa cũng đã trải qua một lần
rồi.
- Ðịnh:
concentration: dấy khởi trong lúc tập trung cao độ.
- Huệ:
comprehénion intelligence: dấy khởi trong cảnh định nhuần nhuyễn và thâm
hậu.
3. Tâm sở
thiện:
Loại tâm sở
có tác dụng tâm lý tốt về mặt đạo đức. Tín, Tâm...
4. Tâm sở
phiền não căn bản:
Loại tâm sở
có tác dụng tâm lý chuyên gây phiền não và khổ đau Tham, sân, si, mạn...
5. Tâm sở tùy
phiền não:
Tâm sở tùy
thuộc phiền não căn bản. Từ phiền não căn bản phát sinh, tác dụng giới
hạn, có khi cục bộ, phần, hạn.
6. Tâm sở bất
định:
Loại tâm sở
không thể quyết định được tốt, xấu, lành hay dữ. Tốt, xấu, lành, dữ phải
xét tùy theo trường hợp. Có hai cặp:
- Tốt, xấu là
Hối và Miên.
- Lành, dữ là
Tầm và Tư.
*
* *
* Các loại
tâm sở trên, Pháp tướng A Tỳ Ðàm của Tiểu thừa đã thuyết minh khá đầy đủ.
Ở đây, Thế Thân chỉ chuyển toàn bộ qua Ðại thừa. với một ít bổ túc nhỏ
nhặt.
* Thuyết Duy
Thức của Thế Thân có bốn mục: Tướng, Tánh, Hạnh, Quả.
1. Tướng Duy
Thức: sáng tạo ra “Tam năng biến”
Tướng liễu
biệt cảnh: tức tiền lục thức (sáu thức đầu), A Tỳ Ðàm đã thuyết minh rồi.
Ông chỉ thêm một ít chi tiết cho phù hợp với năng lực biến hiện của các
thức, ròi xếp 51 Tâm sở vào loại này.
2. Tánh Duy
Thức: ba tánh, ba vô tánh.
3. Hành Duy
Thức: đề ra bốn giai đoạn từ hành theo pháp quán Duy Thức.
4. Quả Duy
Thức: thuyết minh quả vị Phật trong tụng chót.
Như vậy,
ngoại trừ phần nói về tướng năng biến ba, tất cả các phần khác đều là sáng
tạo của riêng ông. Thế mà xưa nay, giải nghĩa thuyết Duy Thức, người ta
lấy bốn giai đoạn tu hành của Tiểu thừa vào mục Duy Thức Hành là điều sai
lầm (Noãn, Ðảnh, Nhẫn, Thế đệ nhất).
* Tuy không
sâu xa bằng giáo nghĩa Khởi Tín, nhưng với thuyết “tam năng biến” rõ ràng
là ông muốn đề cập đến mặt đáy (Inconscient) qua hai năng biến đầu. Tướng
năng biến thứ ba hoàn toàn thuyết minh tâm lý hiện thực (pschologie du
monde conscient) qua tác dụng của 51 món tâm sở.
* Sự sai khác
giữa triết thuyết Khởi Tín và Duy Thức đã rõ. Ðiều mà không ai chối cãi
được là Duy Thức chỉ Ðại thừa hóa quan điểm của Tiểu thừa, trong lúc Khởi
Tín hoàn toàn trụ trên lập trừờng Ðại thừa.
DUY THỨC HÀNH
Bốn giai đoạn
tu hành.
1. Tư lương:
chuẩn bị hành trang lên đường.
Mục đích hành
giả là “cầu trú Duy Thức Tánh”, nhưng trong giai đoạn đầu này, còn bị hai
thủ thùy miên làm chủ, không nhúc nhích được. Vì vậy, phải giữ giới, để
dần dẹp thế lực của chúng, rồi lần lần trừ chúng. Hai thủ là: thủ tướng và
thủ kiến. Hai thủ này theo nhân duyên mà nằm nép như ngũ yên một góc xó
nào đó chờ tư lương (của cái lương thức) nói đây là đánh dẹp hai thủ.
Thủ kiến: sở
tri chướng
Thủ tướng:
Phiền não chướng.
2. Giả hành:
bắt đầu hạ thủ công phu.
Việc này chỉ
tiến hành được là sau khi chiết phục được phần nào sức khuấy phá của hai
thủ.
Dựng lên một
biểu tượng đặt trước mắt (vòng tròn hay chấm trắng chẳng hạn). Gọi biểu
tượng đó là duy thức tánh. Quán biểu tượng cho đến mức nhuần nhuyễn. Nhưng
dù cho nhuần nhuyễn đến tột độ, đó chưa phải là Duy Thức Tánh, vì nó là
cái sở đắc chưa thật trụ trong Duy Thức Tánh. Ðây chỉ mới là cái tựa mà
thôi.
3. Thông đạt:
thông suốt, không còn bất cứ gì chướng ngại.
Quán cho đến
khi biểu tượng tan biến, cảnh sở duyên không còn nữa. Trí ấy hoàn toàn
không có sở đắc. Trí ấy xa lìa tướng hai thủ. Bấy giờ mới là: thật trụ Duy
Thức Tánh.
4. Tu tập:
trí vừa chứng đắc là trí xuất thế gian không thể nghĩ bàn nhờ đó mà xã bỏ
hai chướng thô trọng là phiền não chướng và sở trí chướng, hai chướng này
chuyển thành:
Phiền não –
Niết bàn (giải thoát)
Sở tri – Bồ
đề (giác ngộ)
Hai quả này
từ nhiễm chuyển thành tịnh, cho nên gọi là hai quả chuyển.
DUY THỨC QUẢ
Chứng đắc hai
quả chuyển ấy, tức thành tựu Pháp thân. Pháp thân là cái thân giải thoát,
an vui, trong lành, thường hằng, không hề nghĩ bàn của cõi vô lậu, mệnh
danh là Pháp thân đại tịch tịnh.
NGHĨA CỦA BA TÁNH VÀ BA VÔ TÁNH
a) Ba tánh:
Biến kế:sở
tịnh cùng khắp.
1. Biến kế sở
chấp: bị chấp bởi biến kế. Hay do biến kế sở chấp mà có hiện ra tướng giả
dối của các pháp.
Tướng hiện ra
đó, gọi là: tướng biến kế sở chấp.
Tánh của nó
cũng gọi là tánh biến kế sở chấp.
3. Y tha khởi
nương nơi các “tha” duyên kia mà có sự sinh khởi của cái tướng “tự” này
(lý duyên khởi). Sự sinh khởi ấy là giả dối, không phải thật sự có sinh
khởi.
Tánh của nó
gọi là: tánh y tha khởi.
3. Viên thành
thật: viên mãn thành thật. Ngộ được cái y tha trong sự sinh khởi của các
pháp thì mới thấu rõ cái tánh viên mãn thành thật của hiện tượng sinh
khởi.
Tánh ấy gọi
là tánh viên thành thật.
Biến kế sở
chấp, y tha khởi, viên thành thật là ba tánh gắn lên với thức, cho nên gọi
là: ba tự tánh của thức.
b) Ba vô
tánh:
Lột xác ba tự
tánh, lật ngược chúng lại, thì thành ba vô tánh.
1. Tướng so
sở chấp cùng khắp mà có hiện ra, là tướng giả dối: tướng vô tánh (vô tánh
của tướng)
2. Sinh khởi
các “tự” do “tha” duyên tựu thành, thì đó không phải thật có duyên khởi:
Sinh vô tánh (vô tánh của sinh).
3. Lìa bỏ y
tha, ngộ được tánh viên thành thật, thấy được thực chất như như bất biến
ấy chẳng có tánh gì hết. Nó là cái vô tánh (vô tánh tuyệt đối). Cái vô
tánh tuyệt đối này là cái như như thường hằng bất biến của các pháp, mệnh
danh là chân như.
Triết học Duy
Thức gọi đó là: Tánh Duy Thức. Hóa cho nên: ngộ nhập Duy Thức Tánh, đồng
nghĩa với ngộ nhập chân như.
a)
Theo Duy Thức:
Phiền não
chướng: chướng ngại của phiền não khổ đau, ngăn chặn cái vui giải thoát
của Niết bàn.
Sở tri
chướng: chướng ngại của tri kiến sai lầm, ngăn chặn cái biết chân thật của
Bồ đề.
* Tiêu diệt
xong hai chướng ngại thì hai quả chuyển y tự hiện ra.
Gọi là quả
chuyển y, làvì: đoạn trừ được phiền não thì phiền não chướng chuyển thành
Niết bàn, đoạn trừ sở tri thì Niết bàn là tâm giải thoát, Bồ đề là tuệ
giải thoát.
b)
Theo Khởi Tín:
Phiền não
ngại: chướng ngại của phiền não khổ đau, ngăn chặn cái trí Như Lý. Trí như
lý là trí soi suốt chân như, đúng như lý thể của nó (Lý: thể, tánh)
* Trí ngại:
chướng ngại của tri kiến sai lầm, ngăn che cái trí như lượng. Trí như
lượng là trí soi suốt mọi vật trong thế gian, cũng như dung lượng của
chúng.
(lượng: đo lường, dung lượng bị đo lường)
Như vậy:
Phiền não ngại: chướng ngại sự thật của bản
thể.
Trí ngại: chướng ngại sự thật của hiện
tượng.
Giáo nghĩa
Khởi Tín phản ảnh trung thành đường hướng căn bản của Ðại thừa, luôn luôn
ôm sát hai đầu trục: bản thể (chân như) và hiện tượng (sinh diệt) mà
thuyết minh.
Trong khi đó thì:
Giáo nghĩa
Duy Thức, vốn phát xuất từ căn bản Tiểu thừa mà tiến lên Ðại thừa, cho
nên chưa thoát ly được hai quan niệm cố hữu của các trường phái Tiểu thừa
là: Tâm giải thoát (Niết bàn) và Tuệ giải thoát (Bồ đề) mà triển khai.
Lưu ý: xưa
nay người ta thường gọi trường phái Duy Thức là trường phái Bán Ðại thừa,
lý do là vì đó.
PHẬT GIÁO ÐẠI THỪA
Muốn biết Phật giáo Ðại thừa là gì, người học cần nhớ rằng phong trào Ðại
thừa bắt đầu xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ I trước Tây lịch, tức gần
năm thế kỷ sau Niết bàn. Trong suốt năm thế kỷ hậu Niết bàn ấy: Thánh điển
nguyên thủy (đại diện là hai hệ thống kinh văn Agama và Nikaya) đã tập kết
khoảng đầu thế kỷ (sau Niết bàn) thứ III trước TL. Như vậy là Thánh điển
nguyên thủy truyền khẩu chừng một thế kỷ. Nòng cốt của các Tạng Luận của
trường phái Tiểu thừa cũng bắt đầu hình thành trong giai đọan này (tức
trước kinh văn Ðại thừa chừng hai thế kỷ)
Nguyên nhân
nào khiến phong trào Ðại thừa xuất hiện?
Các tổ Thiền
Ðại thừa cho rằng những gì mà các tạng Luận của Tiểu thừa khai triển đều
chưa sâu sắc và đầy đủ, không phản ảnh được nội dung thâm áo của lời Phật
dạy trong Thánh điển Nguyên thủy. Do đó họ mới vận động để cho ra phong
trào Ðại thừa (cỗ xe lớn) và gọi đối phương của họ là Tiểu thừa (cổ xe
nhỏ). Viện dẫn các giáo chứng và lý chứng trích từ kinh văn Nguyên thủy
ra, họ tập kết kinh điển mới, mệnh danh là kinh văn Vaipulia (phiên âm: Tỳ
Phật Lược; dịch nghĩa: Phương đẳng hay phương quảng). Phương quảng chính
là kinh văn Ðại thừa vậy. Kinh Phương quảng đầu tiên ra đời chính là Tiểu
Phẩm Bát nhã, xuất hiện trên lá bối vào khoảng giữa thế kỷ thứ I trước
Tây Lịch (tức là sau Niết bàn chừng năm thế kỷ). Qua thế kỷ thứ I sau TL,
nội dung của Tiểu Phẩm Bát Nhã được khai triển rộng và sâu thêm mà thành
Ðại Phẩm Bát Nhã. Tất cả kinh văn Ðại thừa về sau đều bắt nguồn từ Bát
Nhã, cho nên nói: Bát Nhã vi Ðại thừa chư kinh chi mẫu thai: Bát Nhã là
cái mẫu thai từ đó sinh ra các kinh Ðại thừa.
Tiến trình
phát triển của kinh văn Ðại thừa:
Có hai giai
đoạn:
1. Giai đoạn
1: từ thế kỷ I trước TL đến thế kỷ thứ II sau TL, với sự xuất hiện của các
kinh: Bát Nhã, Hoa Nghiêm, Duy Ma, Pháp Hoa nhằm xiển dương cái Phật tánh
mà Phật đã nói trong một kinh Nguyên thủy (trong kinh ấy Phật ví chúng
sinh như hoa sen mọc trong bùn, có khác nhau về cấp độ nhưng không khác
nhau về tánh chất, và cuối cùng đều nở hoa và đều thơm ngát như nhau như
nhau. Ðóa hoa (Liên Hoa) thơm ngát đó, chính là cái Phật tánh mà tất cả
chúng sinh đều có ngang nhau, ở nơi kẻ đại ngu cũng như ở người đại trí.
Cái Phật tánh ấy bắt đầu được triển khai trong kinh văn Bát Nhã, rồi cuối
cùng được chung kết trong Pháp Hoa. Bằng một khẳng định dứt khóat: Nhất
thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh.
Với Phật giáo
Ðại thừa, giá trị con người như thế là được phát huy lên đến tột đỉnh vinh
quang của nó, cho đến ngày nay vốn tự hào là văn minh.
Ðến đây thì
Long Thọ và Ðề Bà xuất hiện (giữa thế kỷ thứ II sau TL). Bằng lý luận Bát
Bất Long Thọ thuyết minh triết học, mà hoàn thành giáo nghĩa Ðại thừa trên
cả hai mặt về đạo học và triết học, chiếm địa vị độc tôn trong các giới tư
tưởng Ấn Ðộ, át cả Tiểu thừa và ngoại đạo buổi bấy giờ. Do đó Long Thọ
được suy tôn là Ðệ Nhị Thích Ca.
2. Giai đọan
2: Từ thế kỷ sau TL đế thế kỷ thứ V sau TL với sự xuất hiện của các kinh
văn trong hệ thống Bách Bộ Ðại thừa như Bất Tăng Bất Giảm, Thắng Man, Niết
bàn, Lăng Già, Giải Thâm Mật v.v...
Sau Long Thọ
không lâu, một thắc mắc xuất hiện. Vì sao chúng sinh có Phật tánh mà còn
bị trôi lăn dài dài? Trải qua ba thế kỷ thao thức, các tổ Ðại thừa theo
dõi Phật tánh trong trôi lăn và tìm ra quá trình trôi lăn của Phật tánh,
mà hoàn thành giáo nghĩa Như Lai Tạng. Như Lai tạng nghĩa la:ø cái kho
chứa Như Lai, mà thuật ngữ của Khởi Tín gọi là: Pháp giới đại tổng tướng.
Cái đại tổng tường đó nhiếp thâu tất cả các pháp của toàn bộ pháp giới,
bao gồm của hai mặt: Tịnh và Nhiễm. Nó chính ngay cái Tâm Chúng Sinh chứ
không chi khác. Tịnh là chân như, Nhiễm là vô minh. Chân như và Vô minh
kết thành một khối bất tương ly trong tâm chúng sinh. Cả hai đều nhiếp
thâu tất cả các pháp trong pháp giới ngang nhau và đều có lực dụng như
nhau. Nếu xuôi theo vô minh thì nhiễm bọc kín tịnh lại và giam hãm Như Lai
trong vòng sinh tử: Như Lai triền. Ngược lại như thuận dòng chân như mà tu
tập, được sức huân tập của chân như bên trong làm nhân và của giáo pháp
bên ngoài làm duyên, thì Tịnh dần dần có sức mạnh và Nhiễm dần dần bị yếu
sức và mất tiêu luôn. Tịnh bọc lấy nhiễm và chuyển lực dụng của Nhiễm
thành Nghiệp dụng thanh tịnh bất khả tư nghì: Như Lai xuất triền. Giáo
nghĩa Ðại thừa đến luận Khởi Tín là chung điểm. Cho nên xưa nay, về mặt
phần giáo, Khởi Tín được xác định là Ðại thừa chung giáo.
Sau Khởi Tín,
Ấn Giáo (Bà La Môn giáo canh tân) xâm nhập Phật giáo Ðại thừa chụp lấy
giáo nghĩa Như Lai Tạng của Ðại thừa mà khai triển ròng rã, rồi phối hợp
với phép tu riêng (dựa trên bùa chú) mà thành lập Mật giáo. Mật giáo không
thuộc chính hệ của Phật giáo như Ðại thừa, mà chỉ được coi như bàng hệ. Vì
vậy, nói Mật giáo là Phật giáo thì không đúng, nhưng nói Mật giáo không
phải là Phật giáo cũng sai. Có điều ta ghi nhận rằng: càng về sau Mật giáo
càng xâm nhập sâu vào các tông như Tịnh độ chẳng hạn. Do đó mà thần chú
lan tràn cùng khắp trong Phật giáo như nước vỡ bờ.
Phật giáo Ðại
thừa chia toàn bộ giáo pháp Phật thành ba thừa:
- Hai thừa
cấp thấp là Thanh văn thừa và Duyên Giác Thừa. nói chung là nhị thừa (danh
từ thông xưng là Tiểu thừa)
- Thừa cấp
cao hơn là Ðại thừa.
Gọi chung cả
ba thừa là Tam Thừa.
- Vượt lên
trên Tam Thừa và gồm thâu cả ba lại: Phật thừa hay nhất thừa.
- Duyên Giác
thừa chỉ có một quả: Duyên giác.
- Thanh Văn
thừa có bốn quả: Từ Ðà Hòan, Tư Ðà Hàm, A Na Hàm, A La Hán. Ba quả đầu gọi
là Tam Hiền, quả chót là quả Thánh.
- Bồ tát thừa
được chia ra năm cấp: 1/ Thập tín, 2/ Thập trụ, 3/ Thập hạnh, 4/ Thập
hướng, 5/ Thập Ðịa. Mỗi cấp có 10 bậc cộng thành 50 bậc. Vượt trên thập
địa gọi là Ðẳng giác (giác ngộ ngang bằng Phật)
- Chúng sinh
theo tiếng Phạn là tát đỏa (satva). Tát đỏa chưa hướng đến đạo giác ngộ
là: Ngoại phạm. Bắt đầu hướng đến đạo giác ngộ (bodhi:Bồ đề) là Nội phạm.
Nội phạm là cấp đầu của Bồ tát nghĩa là Bồ tát Thập Tín.
- Ðã an trú
trong đạo giác ngộ là Thập Trụ.
- Ðang thực
hành trong đạo giác ngộ là Thập Hạnh.
- Công hạnh
đang trải qua rồi và đương hướng tới thánh vị là Thập Hướng.
Bắt đầu lên
đến thánh vị gọi là Bồ tát đăng địa. Từ Ðăng địa lên đến địa vị thứ 10,
gọi là Bồ tát Thập Ðịa. Vượt khỏi Thập địa gọi là Bồ tát Ðẳng giác.
- Ba cấp
(Trụ, Hạnh, Hướng) gọi là Tam Hiền.
- Mười bậc
của cấp Thập địa gọi là Thập Thánh
- Trước khi
lên Thập Ðịa (10 bậc của Hướng) gọi là Bồ tát địa tiền.
- Bên Sơ địa
gọi là: Bồ tát Ðăng Ðịa hay Bồ tát địa thượng. Từ bậc thứ 7 trở lên (thất
địa, tức Viễn Hành địa) thì mới không bị thối chuyển (lui về hàng phàm
phu)
Chú ý:
- Tam Hiền
trong Thanh văn thừa là: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm.
- Tam hiền
trong Bồ tát thừa là: ba cấp Trụ, Hạnh, Hướng.
Lại nữa, theo
Ðại thừa thì quả thánh của Thanh văn thừa (A La Hán) chỉ mới tương đương
với cấp Tam hiền trong Ðại thừa mà thôi.
Bốn quả Thanh
Văn: Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà Hàm, A na Hàm, A La Hán. Trên con đường đi đến bốn
quả gọi là bốn hướng. Gọi chung là tứ hướng tứ quả (cũng gọi là bốn cấp
tám bậc – Tứ song bát bội)
Tu Ðà Hoàn
hướng – Tu Ðà Hoàn: 1 cấp
Tư Ðà Hàm
hướng – Tư Ðà Hàm: 2 cấp
A Na Hàm
hướng – A Na Hàm: 3 cấp
A La Hán
hướng – A La Hán: 4 cấp
Tu Ðà Hoàn:
Bằt đầu dự vào dòng Thánh. Còn tái sinh bảy lần nữa (Thất Lai).
Tư Ðà Hàm:
Còn tái sinh một lần nữa (Nhất Lai)
A Na Hàm: Hết
tái sinh (Bất Hoàn)
A La Hán có
hai nghĩa:
- Sát tặc:
tiêu diệt hết giặc phiền não.
- Ứng cúng:
Xứng danh được trời và người cúng dường.
Chú ý:
Hệ thống Pháp
tướng của trừơng phái Duy Thức đặt căn bản trên tám thức (từ nhãn, nhĩ cho
đến Alaya thức) chia chẻ trong các mục: Tướng, Tánh, hạnh, quả. Mục tướng
thuyết minh về Tam năng biến. Mục tánh nói về Tam tánh và Tam vô tánh. Ðó
là các mục đặc sắc nhất trong Duy Thức.
Pháp tướng
Khởi Tín bắt đầu từ trạng thái sơ động của Tâm (vô minh) mà lập thuyết.
Trái lại, Pháp tướng của Duy Thức lập cước trên sáu thức (nhãn, nhĩ...)
triển khai từ pháp tướng A Tỳ Ðàm của Tiểu thừa, phối hợp với tư tưởng
Không của Ðại thừa rồi tăng bổ thêm hai thức Mạc Na và A Lại Da để chung
cục đưa ra cái gọi là Duy Thức tánh (tánh của Duy Thức).
Ðứng trên lập
trường căn bản là Duy Thức tánh, trường phái Duy Thức cho rằng tất cả các
pháp đều do thức biến hiện, kể luôn cả sơn hà đại địa.
Bài kệ mở đầu
của Duy Thức Tam Thập Tụng:
Do giả
thuyết ngã pháp
Hữu chủng
chủng tướng chuyển
Bỉ ư thức
sở biến
Thử năng
biến duy tâm.
Nghĩa: Ngã và
Pháp chỉ là hai cái giả lập. Thật ra bên trong có vô vàn tướng này, tướng
khác chuyển biến mà hiện ra. Các tướng ấy là phần sở biến của Thức mà
nương thức mà có phát sinh. Phần năng biến gồm có ba lớp:
Các bài kế
tiếp nói về ba lớp năng biến: A Lại Da, Mạt Na, sáu thức.
Lớp sâu kín
(vừa là đầu mối) là thức A Lại Da, gọi là Ðệ nhất năng biến. Thức A Lại Da
chứa các chủng tử (hột giống) từ trần cảnh đưa vào, các chủng tử ấy nhào
nặn với nhau cho đến khi thuần thục, rồi hiện ra trở lại mà tạo nên trần
cảnh và nhận diện trần cảnh. Ðây là cái được gọi là: Hiện hành huân chủng
tử, chủng tử huân hiện hành. Sự huân tập này diễn biến không bao giờ
ngừng. Do đó mà có sự sinh khởi bất tận của vạn sự vạn vật trong thế gian.
Từ lớp năng
sở biến này. dấy lên lớp đệ nhị năng biến là thức Mạt Na. Mạt Na sau khi
sinh khởi, chụp lấycái A Lại Da mà cho là Ngã. Vì vậy, thức Mạt Na (Mana)
ghọi là thức chấp ngã. Mạt Na vẫn được hiểu theo nghĩa tư lương. Nhưng đây
chỉ cái tư lương của A Lại Da mà thôi (hoàn toàn không đồng nghĩa với cái
tư lương trong Khở Tín)
Hết lớp năng
biến thứ hai (Mana), tiếp theo là lớp năng biến thứ ba nằm ở ngoài vào. Ðó
là sáu thức nhãn, nhĩ... ý thức. Năm htức đầu chỉ phần biệt phần thô của
trần cảnh. Muốn phân biệt rõ ràng (liễu biệt), phải có sự cộng tác của
thức thứ sáu (ý thức).
Ý thức có hai
lọai: Ngũ câu cộng tác với năm thức trước.
Ðộc câu có
tác dụng phân biệt độc lập và riêng rẽ.
Theo Duy
Thức, tiến trình của sự nhận thức diễn trên hai chiều, từ ngoài vào trong
và từ trong ra. Từ ngoài vào thì đem hình ảnh các pháp gieo vào ý thức,
rồi Mạt Na thức và lưu trú trong A Lại Da Thức thành chủng tử. Ðây là tiến
trình hiện huân chủng. Từ trong ra là: các chủng tử trong A Lại Da hiện ra
trở lại, xuyên qua Mạt Na thức rối ý thức và năm Thức đầu, để chúng nhận
diện sự vật. Ðây là tiến trình chủng huân hành.
Qua các nét
chính yếu được trình bày trong giáo nghĩa Duy Thức thì rõ ràng học thuyết
Duy Thức chỉ thuyết minh tác dụng nhận thức của cái tâm. Duy Thức chưa hề
nói đến bản thể của tâm và tương quan giữa tâm và thức như Khởi Tín.
---
o0o
---
Mục
Lục
| Phần 1 | Phần 2
|Phần 3 | Phần
4
Phần 5 | Phần 6
| Phần 7 | Phần 8
| Phần 9| Phần 10
---
o0o
---
|
Tủ
sách Phật học
|
--- o0o ---
Vi tính: Nguyên
Trang
Trình
bày:
Nhị
Tường
Cập
nhật
ngày:
01-07-2002