TRÙNG TRỊ TỲ NI
SỰ NGHĨA TẬP YẾU
CỔ
NGÔ – NGẪU ÍCH – Sa-môn TRÍ HÚC giải thích
Việt
dịch: Sa-môn THÍCH ÐỔNG MlNH
Nhuận văn
và chú thích: Sa-môn THÍCH ÐỨC THẮNG
---o0o---
TẬP II
QUYỂN THỨ 19
Quyển thứ 19 này, nguyên bản được lưu
hành riêng. Ðề mục chỉ gọi là “Tứ phần luật tạng”.... Nay hiệp lại in
chung thành một pho, chỉ thêm trước là “Trùng trị” sau là” Tỳ-ni”... nơi đề mục.
Trong chánh văn và văn giải thích, có
một số chữ nhỏ viết thành hai hàng là y theo nguyên bản. Lần khắc bản kỳ này
thưa rõ như vậy.
LƯỢC GIẢI THÍCH
KIỀN-ÐỘ TRÌ GIỚI CỦA ÐẠI, TIỂU THEO TỨ PHẦN LUẬT TẠNG
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Phật-đà-da-xá và ngài Trúc-phật-niệm
Bồ-tát Sa-di Trí Húc, tục danh Tế Minh, người (Mộc Ðộc) huyện Cổ Ngô giải
thích
Kiền-độ,
giải thích gọn
có hai nghĩa:
1. Thuyết
minh những phần
giống nhau.
2. Thuyết
minh riêng từng vấn
đề.
Phần
giống nhau thì “Ðại”
là Tỳ-kheo, “Tiểu”
là Sa-di, cả hai
đều lấy giới
làm gốc. Ai không
trì giới này, không
phải là
đệ tử
của Phật,
Phật không phải
là thầy của
họ. Do
đó có tên là
đại tiểu Trì giới
Kiền-độ. Chúng ta nên biết
trong phần này
đồng với giới
của Tỳ-kheo. Cho
đến những
phương pháp
đoạn
trừ tất cả
pháp chướng
đạo
được gọi
là Ba-la-đề-mộc-xoa
giới. Xả
ly 5 triền cái, an trú vào Tứ
thiền gọi
là Thiên giới. Chứng
được Ngũ
thông Tam minh gọi
là Vô lậu giới.
Ba loại giới
này là con đường
chung để ra khỏi thế
gian. Trong văn tuy
chỉ nói Tỳ-kheo, thật
ra chung cả Sa-di
cùng tu tập vậy.
Phần chi tiết
thì “Ðại” là Ðại thừa,
tự lợi lợi
tha. “Tiểu” là Tiểu
thừa, chuyên cầu
tự lợi. Cả
hai đều lấy
giới này làm gốc.
Không giữ giới
này, tự lợi
lợi tha
đều mất. Kinh Hoa nghiêm nói: “... thọ
trì đầy
đủ giới
pháp oai nghi, có khả
năng khiến
cho hột giống Tam bảo
không đoạn
tuyệt.”
Kinh
Niết-bàn nói:
“Bồ-tát thường
suy nghĩ,
đời sống
xuất gia thoải mái, rộng
rãi như hư
không, tất cả
pháp lành đều tăng
trưởng từ
đó. Ðời sống
tại gia bị
bức bách, ràng buộc
như lao ngục, tất
cả pháp ác
đều phát sanh từ
đó. Các ngài
đến chỗ
chư Tăng
ở, nghe Phật
nói đạo Vô thượng,
Chánh pháp Vô thượng,
đại chúng phạm
hạnh chơn
chánh, liền cầu
xuất gia, Bạch
tứ yết-ma,
thọ trì trọng
giới thuộc
tánh, dứt cơ
hiềm
ở
đời, bình
đẳng không sai biệt.
Như người
ôm phao nổi vượt
qua biển lớn.
Không thể vì sự
cầu xin tha thiết
của la-sát mà tự
hủy mình. Hành giả
trì giới này có thể
phát sanh năm chi
giới:
1. Căn
bản nghiệp
thanh tịnh giới:
Mười
điều
thiện là tánh giới
của các giới.
Tức chỉ
cho: Không sát sanh, không trộm
cắp v.v.... theo văn
này vậy.
2.
Những giới
thanh tịnh khác quyến
thuộc trước
sau: “Trước” là
chỉ cho thời
gian phương tiện
để phạm giới,
“Sau” là chỉ cho
hai thiên về sau.
Dù trước hay sau
đều lệ thuộc
vào căn bản
giới. Chữ
“khác” là chỉ cho
tùy luật oai nghi
và các kinh cấm chế. Như
24 giới trong kinh
Phương
đẳng.
Ở
đây gọi
là “chi” tức là chỉ cho sự
xa lìa các pháp chướng
đạo, theo văn này vậy.
3.
Phi chư ác giác,
Giác thanh tịnh giới:
Tức chỉ cho Ðịnh
côïng giới. Nghĩa
là một lòng trừ
triền cái
đạt
được các căn
của Thánh, theo văn
này vậy.
4) Hộ
trì chánh niệm, niệm
thanh tịnh giới:
Tức chỉ
cho Ðạo côïng giới.
Là Tứ niệm
xứ quán trong văn
này.
5) Hồi
hướng cụ
túc, Vô thượng
đạo giới:
Tức chỉ
cho Ðại thừa
giới. Nghĩa
là Bồ-tát
ở trong giới này
đủ Tứ
hoằng thệ
nguyện Lục
độ, hết
lòng phát nguyện hồi
hướng Bồ-đề.
Tứ hoằng thệ
nguyện: Bồ-tát
tự thương
thân mình và các chúng sanh phá giới,
tạo tội, mất
thân người, trời
và sự an lạc
của Niết-bàn,
tức biết
rõ Tập
đế. Khi qua lại
trong sanh tử, chịu quả
báo các đường ác, tức
biết rõ Khổ
đế. Vì khổ
và tập nghịch
chiều với
Giới, Ðịnh,
Tuệ, do
đó không có Ðạo
đế. Vì không có Ðạo
đế cho nên không chứng
đắc Niết-bàn,
tức không có Diệt
đế. Nay muốn
nhổ gốc
Khổ, Tập
nên khởi tâm
đại bi phát hai thệ
nguyện:
Y vào
Khổ
đế mà phát “Chúng
sanh không số lượng,
thệ nguyện
đều
độ khắp”.
Y vào Tập
đế mà phát “Phiền
não không cùng tận,
thệ nguyện
đều dứt sạch”.
Muốn
tu Ðạo
để chứng
Diệt phải khởi
tâm đại từ,
phát hai thệ nguyện:
Y vào Ðạo
đế mà phát “Pháp
môn không kể xiết,
thệ nguyện
đều tu học”.
Y vào
Diệt
đế mà phát “Phật
đạo không gì hơn,
thệ nguyện
được viên thành”.
Lục
Ðộ:
Ghê tởm
điều
ác, xuất gia từ
bỏ sự
yêu thích, tức
Ðàn-na Ba-la-mật (Bố thí Ba-la-mật).
Mảy may không phạm
giới chống
cự lại quỷ
la-sát, tức Thi-la
Ba-la-mật (Trì giới Ba-la-mật).
Hay kiểm soát thân
tâm, an nhiên truớc
sự
đánh mắng,
gọi là Sanh nhẫn.
Chịu
đựng nóng lạnh
nhiếp phục tham nhuế
và tám thứ gió... gọi
là Pháp nhẫn. Không
bị tổn
hoại bởi
ái kiến tức
là Sằn-đề
Ba-la-mật (Nhẫn
nhục Ba-la-mật).
Giữ gìn học
giới, không sanh
tâm trái phạm, tức là Tinh tấn
Ba-la-mật. Quyết
định trì giới,
không bị hồ
nghi cuồng loạn,
chuyên tâm bất
động, tức
Thiền-na Ba-la-mật.
Thấu rõ nhân quả,
biết Giới
là chánh thuận với
căn bổn của
giải thoát, xuất
sanh tất cả
Thánh quả của
ba thừa, chẳng
phải 62 tà kiến
của ngoại
đạo, gọi là Bát-nhã Ba-la-mật.
Hết lòng phát nguyện,
chỉ cho 12 thệ nguyện
để tự chế
tâm mình trong kinh Phạm
võng. Trong tạng
Luật cũng
thuyết minh
đầy
đủ ý này. Lại
phát nguyện: Nguyện tất
cả chúng sanh,
được giới thanh tịnh,
giới thiện
pháp, cho đến
đầy
đủ các giới
Ba-la-mật... Trong Diệu huyền
và Thích thiêm
có giải thích
đầy
đủ 10 chi giới
pháp này.
Hồi hướng
Bồ-đề,
tức dùng công
đức trì giới này trang nghiêm Vô thượng Bồ-đề.
Kinh Bồ-tát thiện
giới nói: Giới
cấm của
Thanh văn và tất cả
thiện pháp,
đều là nhân của
Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác.
Chi thứ năm
này là Vô thượng
đạo giới;
nếu xét theo văn
này thì Tứ thiền, Ngũ
thông, Tam minh, đều
thu vào bốn chi trước,
tất cả
đều quy về
Ðại thừa
vậy. Trí Giả Ðại
sư nói: Tam quy, Ngũ
giới, Thập
thiện, 250 pháp giới
đều là Ma-ha-diễn
(Ðại thừa). Ngài Kinh Khê nói: Một cử
chỉ, một
động tác,
đâu chẳng
phải là pháp giới.
Lại nói: Giới
không có đại tiểu, do tâm người
cảm thọ
phân định; Trung
đạo biến
nhập cả
Không quán và Giả
quán cùng sự luật nghi, có thể
mới
được gọi
là trì giới
đầy
đủ. Nên biết
Ðại thừa cũng
dùng giới này làm căn
bản, cần
phải phân chia khoa
tiết rõ ràng vậy.
Lược giải
nghĩa chữ
“đại” xong. Tiếp
theo đây là phần chánh văn
được chia làm hai:
thứ nhất
phát khởi nhân
duyên. Thứ hai, nói
về pháp yếu.
A. PHÁT KHỞI NHƠN DUYÊN:
Bấy
giờ,
đức Thế
Tôn trụ tại
nước Câu-thiểm-di
(hoặc gọi là Câu-thiểm-tỳ,
hay Kiều-thuởng-di,
thuộc về Trung
Ấn Ðộ).
Vua Ưu-đà-diên
là thân hậu trí thức
với ngài Tân-đầu-lô
(Ưu-đà-diên tức
là Ưu-điền, hay là Ô-đà-diễn-na,
Trung Hoa dịch là
Xuất Thọ,
Tân-đầu-lô, Trung
Hoa dịch là Bất
Ðộng. Họ
ngài là Phả-la-đọa.
Ngài rất thông
minh, có tài ăn nói).
Nhà vua sớm chiều thường
đến viếng
thăm Tôn giả.
Khi ấy, có một
đại thần
người Bà-la-môn
tháp tùng nhà vua, không có lòng tin
đối với
Phật Pháp, tâu với
vua rằng:
- Tại
sao Ðại vương
sớm chiều
đến thăm
hỏi kẻ
hành nghiệp hạ
tiện này, mà thấy
vua lại không
đứng dậy.
Vua liền phán rằng:
- Sáng
mai, ta sẽ
đến, nếu
cố ý không
đứng dậy,
sẽ giết
kẻ
ấy.
Sáng
ngày mai vua liền
đến, Tôn giả
Tân-đầu-lô tưø
xa thấy vua
đến, liền nghĩ:
- Hôm
nay vua đến với
ác tâm, nếu ta
không đứng dậy sẽ
bị mất mạng,
nếu ta
đứng dậy nhà vua sẽ
bị mất ngôi. Nhưng
nếu ta không
đứng dậy. Vua sẽ
giết ta, và sẽ
đọa
địa ngục.
Nên để cho vua
đọa
địa ngục
hay nên để cho vua mất
ngôi?
Tức
thời lại
nghĩ: “Thà
để cho vua mất
ngôi, chứ không nên
để cho vua
đọa
địa ngục”. Do vậy
liền
đứng dậy
từ xa
đón chào, vấn an nhà vua:
- Làm
thay! Ðại vương.
Nhà vua
liền hỏi:
- Tại
sao hôm nay Tôn giả
lại
đứng dậy
chào đón vấn an trẫm?
Tôn giả
đáp:
- Vì
vua cho nên đứng dậy.
Vua hỏi:
- Hôm
qua, tại sao không
đứng dậy?
- Cũng
vì vua.
- Tại
sao cũng vì trẫm?
- Hôm
qua nhà vua đến với
thiện tâm, nay nhà
vua đến với ác tâm. Nếu
tôi không đứng dậy,
vua sẽ giết
tôi, và chắc chắn
do vì giết tôi mà nhà vua sẽ
vào địa ngục.
Cho nên tôi nghĩ:
“Nhà vua này mang ác tâm
đến, nếu ta không
đứng dậy
sẽ giết
ta, nếu ta
đứng dậy,
ắt nhà vua sẽ
mất ngôi. Nếu vua giết
ta vua ắt sẽ
đọa vào
địa ngục.
Thà để vua mất
ngôi chứ không nên
để vua
đọa vào
địa ngục,
cho nên tôi đứng dậy.”
Vua hỏi:
- Trẫm
sẽ mất
ngôi à?
Tôn giả
trả lời:
- Sẽ
mất.
Vua lại
hỏi:
- Bao
nhiêu ngày nữa sẽ
mất ?
- Chậm
lắm là mười ngày.
Khi
ấy, Vua liền
trở về
Câu-thiểm-di, sửa
chữa thành trì, tích lũy
lương thực,
chuẩn bị
chất
đốt, tập
hợp binh sĩ
để thủ
thành. Cảnh giác
đầy
đủ trong vài ngày
và đếm từng
ngày... đến ngày thứ bảy,
nhà vua tuyên bố:
-
Sa-môn nói không thật.
Nhà vua
bèn cùng thể nữ
du ngoạn bằng
thuyền trên sông Hằng.
Lúc ấy, trong vương
quốc
Ủy-thiền
(do vua Mãnh Quang trị
vì, tên nước
ấy không thấy
chỗ nào phiên dịch
danh từ này) bảy
năm không mưa.
Vua nước
ấy nghe vua Bình-sa
ở nước
Ma-kiệt có viên ngọc
“Xuất thủy”.
Nếu
đưa viên ngọc
kia ra, thì trời liền
mưa.
(Ma-kiệt,
gọi
đủ là Ma-kiệt-đà, Trung Hoa dịch
là Thiện thắng,
hay Vô não, Bất hại, thuộc
Trung Ấn Ðộ.
Bình-sa, gọi
đủ là Tần-bà-sa-la,
Trung Hoa dịch là Mạc
thật, hay Hình lao,
hay Ảnh kiên, hoặc
Ảnh thắng.
Nhan sắc người
ở
đó
đoan chánh, thù diệu.)
Vua nước
Ủy-thiền liền
cử bốn bộ
binh (voi, ngựa,
xe, bộ)
đến vây kín thành Vương
Xá (tên đô thành
nước Ma-kiệt-đà). Thành
ấy phòng thủ
quá chắc chắn, không cách nào chiếm
được. Chỉ
có khi nào lương thực nước
uống trong thành hết,
mới có thể
chiếm
được. Lúc này, những
vị
đại thần
có trí tuệ, tài giỏi trung thành
đưa ra một
kế sách: Dùng cây
trúc nhỏ cắm
dưới
đáy ao,
đem các loại
sen cắm vào
đầu ngọn
các cây trúc. Khi ấy,
các vị
đại thần
đến tâu với
vua Bình-sa: “Bệ hạ
biết chăng?
Thành Vương Xá rất kiên cố,
không cách nào chiếm
được, trừ khi lương
thực cạn
hết, mới
có thể chiếm
được. Nay bệ
hạ nên sai sứ
đến nói với
Vua Ba-la-thù-đề (vua
Mãnh Quang) thế
này: Hãy ngưng vây
thành, chúng ta không cần
đấu nhau bằng
voi, ngựa, xe cộ, dáo, mác nữa.
Ngài có thể dùng
các loại hoa:
Ưu-bát-la (hoa sen xanh), Bát-đầu-ma (hoa sen hồng),
Câu-đầu-ma (hoa sen
vàng), Phân-đà-lợi
(hoa sen trắng),
cùng chúng ta đấu
nhau. Tôi cũng sẽ dùng các loại
hoa như vậy
để cùng
đấu. Hay ngài có thể
chiếân
đấu với
chúng tôi bằng lương thực,
chúng tôi cũng sẵn
sàng chiến
đấu với
ngài.”
Vua Bình-sa chấp thuận
ý kiến này và sai sứ
đến chỗ
vua Ba-la-thù-đề,
trình bày vấn
đề như
trên.
Vua Ba-la-thù-đề nghe sứ
giả trình bày, suy
nghĩ: “Thành Vương Xá rất
kiên cố, chỉ
khi nào trong thành lương
thực cạn
hết, mới
có thể chiếm
được. Nhưng
hiện nay lương
thực trong thành rất
dồi dào
đầy
đủ”. Vua nghĩ
như vậy
mới báo với
sứ giả:
- Ta
đến
đây không vì mục
đích vây thành, mà
vì đất nước
ta bảy năm
nay không mưa. Ta
nghe trong nước của
quý ngài có ngọc thủy châu; nếu
đưa ngọc
đó ra, thì trời
liền mưa.
Do đó, ta mới
xuất quân tới
đây.
Sứ
giả trả
lời với Ðại
vương:
- Tại
sao lúc ban đầu Ðại
vương không nói cần
ngọc. Nếu nói cần
ngọc chúng tôi sẽ
trao cho. Vậy, vua
nên rút binh, chúng tôi sẽ
đưa ngọc
sang.
Vua
Mãnh Quang rút binh, kéo về
hướng nước
Câu-thiểm-di. Trên
đường
đi, vua nghe tiếng
cười giỡn
của
Ưu-đà-diên
cùng với thể
nữ
đi thuyền
du ngoạn trên sông Hằng,
liền hỏi
người gần
bên:
-
Tieáng cười giỡn
ấy là của
ai?
Kẻ
thần bên cạnh
đáp:
- Ðại
vương không biết
hay sao? Vua Ưu-đà-diên
cùng các thể nữ
đi thuyền
du ngoạn trên sông
Hằng,
đó là tiếng
cười của
ông ta.
Vua
Mãnh Quang ra lệnh
cận thần
im lặng, và thả
voi xuống bên bờ
sông Hằng. Người
quản tượng
liền thả
voi trắng thứ
nhất xuống
sông, núp mình theo voi. Khi
ấy,
đại thần của
vua Ưu-đà-diên
thấy voi trắng
bên sông, liền tâu
vua:
- Tâu bệ
hạ có voi hoang
ở bờ
sông.
Vua liền
ra lệnh:
- Hãy
im lặng,
đưa thuyền vào gần
bờ sông, chỗ
voi đứng.
Vua
Ưu-đà-diên
giỏi về
phương pháp
điều
khiển voi. Vua tự
đi trước
một mình hò hét,
đánh
đàn
để bắt
voi. Người quản tượng
nhân cơ hội
ấy liền
bắt vua
Ưu-đà-diên.
Nhà vua rất sợ
sệt; Người
quản tượng
hỏi vua:
- Ngài
có sợ hay không?
Vua
đáp:
- Tôi rất
sợ.
Người
quản tượng
nói:
- Vua
đừng sợ,
Vua Ba-la-thù-đề mời
gọi ngài.
Vua
càng thêm sợ, nghĩ:
Vua Ba-la-thù-đề có
giết ta và tùy tùng của
ta không?
Sau
đó nhà vua
được áp giải
đến chỗ
vua Ba-la-thù-đề,
vua Thù-đề hỏi:
- Nhà
ngươi có sợ
không?
- Sợ.
- Ðừng
sợ! Ngươi có thể
dạy con trai ta là
Cù-ba-la (chưa
thấy phiên dịch)
phương pháp
điều
khiển voi, và dạy
con gái ta đánh
đàn cầm.
Vua Ưu-đà-diên
được
điệu
đến nước
Ủy-thiền,
quản thúc trong bảy
năm. Thời
gian đó
Ưu-đà-diên
dạy phương
pháp điều
khiển voi cho con trai và dạy
đàn cầm
cho con gái của vua
Mãnh Quang. Trong thời
gian này Ưu-đà-diên
tư thông với
con gái của vua,
Cù-ba-la biết việc
đó, tự
nghĩ: “Nếu ta tâu việc
này lên vua cha thì Ưu-đà-diên
bị giết,
ông ấy là thầy
của ta, dạy
dỗ ta cực khổ.
Ðây là con gái vua, kia là vua, xét ra cũng
được.” nên che giấu
không nói với ai.
Sau đó, vua
Ưu-đà-diên
muốn trốn
thoát, tự thu xếp
chuẩn bị
một con voi mẹ
chạy rất
mau. Cù-ba-la cũng
biết
được, suy nghĩ:
- Ông ấy tự
trang bị một
thớt voi chạy
mau, tất muốn
chạy trốn.
Nếu ta tâu lên vua cha, tất ông
ấy bị
giết. Ông
ấy là thầy
của ta,
đã dạy
dỗ ta cực
khổ; do
đó, không nói với
ai biết. Vua
Ưu-đà-diên,
đặt vương nữ
lên voi, chỉ trong
chớp nhoáng
đã từ
nước
Ủy-thiền
về
đến nước
Câu-thiểm-di. Vua
đến ngay nơi chỗ
phu nhơn Xa-di-bạt-đề
(chưa thấy
phiên dịch) nói
như vầy:
- Này phu nhơn!
Trong khi tôi bị quản
thúc, có nguyện sẽ
cúng dường tám vị
Bà-la-môn, đầy
đủ tất
cả mọi
sự nhu cầu.
Nay tôi muốn thực hiện
điều
đó, người
cần chu toàn
đầy
đủ.
Phu nhơn
đáp:
- Nếu như
vậy thì tất
cả mọi vật
sở hữu của
tôi của vua, như
voi, xe, ngựa, vàng
bạc, bảy
báu, đem dâng cho một
người, thì họ
cũng nhận
hết, vẫn
còn thấy chưa
đủ.
Vua nói:
- Như
vậy thì giải quyết
sao bây giờ?
Phu nhơn
nói:
-
Ở
đây có ngài Ma-ha
Ca-chiên-diên (phiên dịch
là Văn sức, hay là Ly hữu
vô, Phá ngã mạn
tâm, người Nam
Thiên Trúc, giòng họ
Bà-la-môn, một
trong mười người
đệ tử,
luận ngh