TRÙNG TRỊ TỲ NI
SỰ NGHĨA TẬP YẾU
CỔ
NGÔ – NGẪU ÍCH – Sa-môn TRÍ HÚC giải thích
Việt
dịch: Sa-môn THÍCH ÐỔNG MlNH
Nhuận văn
và chú thích: Sa-môn THÍCH ÐỨC THẮNG
---o0o---
TẬP II
QUYỂN THỨ 16
I.
GIỚI CỦA
TỲ-KHEO-NI
Pháp Bố-tát
của Ni cùng với
Tỳ-kheo
đồng.
Những giới
chung của Tỳ-kheo
và Tỳ-kheo-ni như
trước
đã
nói.
Ở
đây,
chỉ những
giới không chung mới
lục ra. Chủ
ý là giản lược
chỗ cốt
yếu, chứ
không giải thích rộng.
I. TÁM PHÁP BA-LA-DI
1. Giới
dâm.
2. Giới
trộm.
3. Giới
sát.
4. Giới
đại
vọng
ngữ.
Bốn
giới
này
đều
đồng
với Tỳ-kheo.
5. Cùng với
thân người
nam xúc chạm.
GIỚI BỔN:
Tỳ-kheo-ni
nào, với
tâm nhiễm
ô cùng người
nam có tâm nhiễm
ô, trên thân từ
nách trở
xuống,
từ
đầu
gối
trở
lên; hoặc
nắm,
hoặc
rờ,
hoặc
kéo, hoặc
đẩy,
hoặc
rờ
lên, hoặc
rờ
xuống,
hoặc
nâng lên, hoặc
để
xuống.
Tỳ-kheo-ni
ấy
là kẻ
Ba-la-di không
được
sống
chung. Ðây là giới
thân xúc chạm.
NGUYÊN DO:
Trưởng
giả Lộc
Lạc cùng với
Tỳ-kheo-ni
Thâu-la-nan-đà
để ý lẫn
nhau. Một hôm nọ
trưởng giả
mời chư
Ni thời cơm.
Thâu-la-nan-đà biết
trưởng giả
vì mình mà mời chư
Ni, nên
ở chùa không
đi.
Trưởng giả
nhìn khắp Ni chúng không thấy
Thâu-la-nan-đà, bèn hỏi:
- Thâu-la-nan-đà
ở
đâu mà không thấy
đến?
-
Ở
chùa, không
đến.
Truởng
giả vội
sớt thức
ăn xong, liền
đến chùa.
Thâu-la-nan-đà từ
xa thấy
trưởng giả
đến liền
nằm trên giường,
Trưởng giả
hỏi:
- Cô có bệnh
hay sao?
- Không bệnh
chi cả. Ðiều
tôi muốn trưởng
giả không thỏa
mãn cho.
Trưởng
giả nói:
- Tôi cũng
muốn chứ
không phải không.
Trưởng giả liền
ôm choàng
đằng trước
nằm xuống,
tay sờ, miệng
hôn. Sa-di-ni nhỏ
giữ
phòng thấy vậy,
đến báo cáo với
chư Ni. Chư
Ni hiềm trách, bạch
các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo
bạch Phật.
Thế Tôn họp
Tăng, quở
trách, kiết giới.
TƯỚNG
TRẠNG
CỦA
TỘI
Nam tử,
tưởng nam tử,
tay rờ thân, thân xúc chạm
nhau, nhận sự
thích thú, phạm Ba-la-di. Nghi là
nam tử,
Thâu-lan-giá. Cho
đến nắm
cái
đãy cũng
như vậy.
Ni dùng thân xúc chạm
y người
nam,
đồ anh lạc;
và ngược lại
nam dùng y,
đồ anh lạc
chạm xúc thân Ni với
dục tâm
đắm
nhiễm, thì phạm
Thâu-lan-giá. Dùng áo nơi
thân hay
đồ anh lạc,
xúc chạm y nơi
thân, hay
đồ anh lạc
của
đối
tượng với
dục tâm
đắm
nhiễm, thì phạm
Ðột-kiết-la.
Với dục
tâm
đắm nhiễm,
thân xúc chạm nhau, dù không
thích thú, phạm Thâu-lan-giá. Cho
đến
nắm, kéo cũng
vậy. Nếu
nam của loài trời,
nam của A-tu-la, cho
đến súc sanh giống
đực,
có thể biến
hình, thân xúc chạm
nhau, thì phạm Thâu-lan-giá. Loại
không thể biến
hình, thì phạm Ðột-kiết-la. Thân của
người nữ
xúc chạm nhau, thì Ðột-kiết-la. Thân của
kẻ hai hình xúc chạm
nhau, thì Thâu-lan-giá. Với
dục tâm chạm
y, bát v.v... cho
đến tự
xúc chạm thân mình, tất
cả
đều
Ðột-kiết-la.
Không phạm:
Nếu khi trao nhận
nhầm xúc chạm,
hoặc khi cứu
giải mà xúc chạm,
tất cả
không dục tâm và ban
đầu
khi chưa kiết
giới, si cuồng,
tâm loạn, thống
não, ràng buộc.
6. Phạm
tám việc.
GIỚI BỔN:
Tỳ-kheo-ni
nào, với
tâm nhiễm
ô, biết
người
nam có tâm nhiễm
ô, chấp
nhận
sự
nắm
tay, nắm
áo, vào chỗ
vắng,
cùng đứng,
cùng nói, cùng
đi,
thân dựa
kề
nhau, hẹn
nhau. Tỳ-kheo-ni
ấy
là kẻ
Ba-la-di không
được
sống
chung. Ðây là phạm
tám việc.
NGUYÊN DO:
Cũng
do Thâu-la-nan-đà, cho nên chế
cấm.
TƯỚNG
TRẠNG
CỦA
TỘI
Từ
nắm
tay cho
đến thân dựa
kề nhau, mỗi
mỗi
đều
phạm Thâu-lan-giá. Phạm
đến việc
thứ tám, Ba-la-di. Trời,
rồng, cho
đến
súc sanh có thể
biến
hóa
được phạm
bảy việc,
mỗi mỗi
Ðột-kiết-la.
Phạm
đến
việc thứ
tám, Thâu-lan-giá. Súc sanh không biến
hình
được và người
nữ có tâm nhiễm
ô, phạm
đến
việc thứ
tám Ðột-kiết-la.
Không phạm:
Nếu vì sự
trao nhận nên tay chạm
nhau, hoặc có sự
cứu giải
nên nắm áo. Hoặc
có chỗ dâng cúng, hoặc
lễ bái hoặc
sám hối, hoặc
thọ pháp, vào chỗ
vắng, cùng
đứng,
cùng nói, cùng
đi.
Hoặc
bị người
đánh, hoặc
có giặc
đến,
voi
đến, ác thú
đến,
kẻ thích khách
đến,
nghiêng mình
để tránh nhằm dựa
nhau. Trường
hợp
đến
cầu giáo thọ,
hoặc thỉnh
pháp, hoặc thọ
thỉnh, hoặc
đến chùa, hoặc
cùng hẹn nơi
chỗ không thể
làm việc xấu
(bậy).
7. Che giấu
trọng
tội
của
người.
GIỚI BỔN:
Tỳ-kheo-ni
nào, biết
Tỳ-kheo-ni
phạm
Ba-la-di, không tự
phát lồ,
không nói với
người
trong chúng, không bạch
với
đại
chúng. Thời
gian khác Tỳ-kheo-ni
kia, hoặc
mạng
chung, hoặc
bị
chúng cử
tội,
hoặc
thôi tu, hoặc
theo ngoại
đạo.
Khi đó
lại
nói rằng:
“Tôi, trước
đây
đã
biết
cô ấy
có tội
như
vậy,
như
vậy.”
Tỳ-kheo-ni
ấy
là kẻ
Ba-la-di không
được
sống
chung. đây
là giới
che giấu
trọng
tội
của
người.
NGUYÊN DO:
Em của
Thâu-la-nan-đà là Ðề-xá-nan-đà, phạm
Ba-la-di. Thâu-la-nan-đà
sợ em mình bị
tiếng xấu,
nên làm thinh không nói. Thời
gian sau, Ðề-xá thôi tu, chư
Ni hỏi:
- Em của
cô thôi tu phải không?
Thâu-la-nan-đà
nói:
- Trước
đây
tôi
đã biết
nó có tội như
vậy, như
vậy.
Chư
Ni trách rằng:
- Tại
sao cô che giấu trọng
tội của
kẻ khác.
Chư
Ni bạch
với Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo bạch
Thế Tôn kiết
giới.
TƯỚNG
TRẠNG
CỦA
TỘI
Biết
bữa
ăn trước
đến bữa
ăn sau mới
nói, cho
đến biết
nửa
đêm,
sau
đêm mới
nói, phạm Thâu-lan-giá. Biết
sau
đêm mà không nói,
đến khi tướng mặt
trời xuất
hiện là phạm
Ba-la-di. Trừ tám tội
Ba-la-di, còn che giấu
tội
khác, tùy theo chỗ
phạm,
tự che giấu
trọng tội,
phạm Thâu-lan-giá, che
giấu
tội của
người khác, phạm
Ðột-kiết-la.
Không phạm:
Nếu không biết,
nếu không có người
để có thể
nói, nếu nói sẽ
có mạng nạn,
phạm hạnh
nạn.
Luật
Thập tụng
nói:
Nếu
Tăng
cùng với Ni cô này tác
pháp “bất
kiến” các tội
tẫn xuất.
Hoặc cuồng
tâm, loạn tâm, bịnh
hoại tâm. Khi
ấy
không nói tội của
người khác, không phạm.
Nếu Tăng
cùng với Ni cô này
đã
giải tẫn,
hoặc
bịnh thống
khổ
đã
chấm dứt,
bình phục rồi.
Lúc bấy giờ
che tội của
người khác cho
đến
khi thấy rõ
đất
(tức minh tướng
xuất hiện)
phạm Ba-la-di.
8. Theo kẻ
bị
cử
tội,
ba phen can gián không bỏ.
GIỚI BỔN:
Tỳ-kheo-ni
nào, biết
Tỳ-kheo
bị
Tăng
cử
tội,
như
pháp như
luật,
như
lời
Phật
dạy,
mà không thuận
theo, không sám hối,
Tăng
chưa
cho tác pháp
ở
chung. Cô Ni kia lại
thuận
theo. Các Tỳ-kheo-ni
nói rằng:
“Ðại
tỷ,
Tỳ-kheo
này bị
Tăng
cử
tội,
như
pháp như
luật,
như
lời
Phật
dạy,
mà không thuận
theo, không sám hối,
Tăng
chưa
cho tác pháp
ở
chung. Cô
đừng
thuận
theo.”
Khi Tỳ-kheo-ni
can gián Tỳ-kheo-ni
kia như
vậy
mà kiên trì không bỏ.
Tỳ-kheo-ni
nên can gián hai ba lần
cho bỏ
việc
ấy.
Nếu
ba lần
can gián bỏ
thì tốt,
không bỏ
thì Tỳ-kheo-ni
kia là kẻ
Ba-la-di không
được
sống
chung. Ðây là tội
theo kẻ
bị
cử.
NGUYÊN DO:
Tôn giả
Xiển-đà
bị Tăng
cử tội,
Tỳ-kheo-ni Úy-thứ,
tới lui phục
vụ, các Ni can gián
ngăn
chặn. Cô ta trả
lời: - Ðây là anh của
tôi, nay không cúng dường
đợi
đến
khi nào.
Cho nên vẫn
tùy thuận phục
vụ không thôi. Các Ni
hiềm
trách nói với các Tỳ-kheo
để bạch
Phật. Phật
bảo Chúng Tỳ-khèo-ni
Bạch tứ
yết-ma can gián (quở
trách) mà kiết giới
này.
Tùy thuận
có 2 loại: một
là pháp, hai là y thực.
TƯỚNG
TRẠNG
CỦA
TỘI
Yết-ma
lần thứ
ba xong, phạm Ba-la-di. Hai lần
Yết-ma xong, mà bỏ
phạm ba Thâu-lan-giá.
Một
lần Yết-ma
xong mà bỏ, phạm
hai Thâu-lan-giá. Bạch
xong mà bỏ,
phaïn một Thâu-lan-giá. Ai
bảo:
đừng bỏ,
người
ấy
phạm Thâu-lan-giá. Nếu
không quở trách phạm
Ðột-kiết-la.
Không phạm:
Phi pháp, biệt chúng Yết-ma
v.v...
Luật
Thập tụng
nói:
Chư
Ni nên nói với vị
Tỳ-kheo bị
tẫn: “Thầy
nên chiết phục
hạ ý,
đến
đại Tăng.
Nếu không chiếc
phục hạ
ý, thì Ni Chúng sẽ
tác Yết-ma
không lễ bái, không nói
chuyện,
không cúng dường. Trường
hợp khi Chúng Tỳ-khèo-ni
chưa tác pháp Yết-ma
không lễ bái, mà dạy
pháp thọ pháp, cho vật,
nhận vật,
mỗi mỗi
Ðột-kiết-la.
Nếu sau khi
đã
tác pháp Yết-ma, thì mỗi
mỗi phạm
Thâu-lan-giá. Chư
Ni trước
nên nhỏ nhẹ
khuyên bảo, nếu
chịu bỏ
thì tác nhiều Ðột-kiết-la, nhiều
Thâu-lan-giá sám hối,
nếu
không chịu bỏ
thì mới Bạch
tứ yết-ma.
II. MƯỜI
BẢY
PHÁP TĂNG-GIÀ-BÀ-THI-SA
Luật
Tăng kỳ
thì có 19 pháp, Luật Căn
bản
thì lại có 20 pháp.
1. Giới
mai mối.
2. Giới
hủy
báng vô căn
cứ.
3. Giới
hủy
báng phiến
diện.
Ba giới
này
đồng với
Tỳ-kheo.
GIỚI
THỨ
4 (Tố