I.
PHÁP
Y CHỈ
Phần thứ
hai
thuyết
minh:
Lúc
bấy giờ,
có các vị Tỳ-kheo
mới thọ
giới, Hòa thượng
viên tịch,
không người dạy bảo,
cho nên không biết
giữ gìn oai
nghi... cho đến
giống như
Bà-la-môn nhóm họp.
Các Tỳ-kheo bạch Phật,
Phật cho phép
trường hợp như
vậy nên thỉnh
A-xà-lê, như
trong vấn
đề “Hòa thượng”
đã trình bày.
Thưa thỉnh như
sau:
“Xin Ðại
đức một
lòng nhớ
nghĩ!
Con Tỳ-kheo
tên là... nay cần
cầu
Ðại
đức làm người
y chỉ.
Xin Ðại
đức cho con
được y chỉ.
Con y chỉ
nơi
Ðại
đức
để sống.”
(thưa 3 lần).
Vị
được thỉnh
cầu nói:
“Ðược,
tôi cho ông nương
tựa,
ông chớ
buông lung.”
Trường
hợp vị
Tỳ-kheo mới
thọ giới
muốn
ở chỗ
nhàn tịnh, cho
phép y chỉ nơi
chỗ khác, nếu
trong ngày trở
về kịp.
Không nên sai người
nhận y chỉ
hay trao y chỉ
người khác.
Không nên không lựa
chọn người
thọ y chỉ,
hay (lựa chọn)
người cho y chỉ.
Bệnh
hay là trông nom bệnh
không y chỉ,
được
ở riêng.
Luật Tăng
kỳ nói rõ:
Thỉnh
y chỉ có 5
pháp:
1)
Quí mến.
2)
Cung kính.
3)
Biết xấu.
4)
Biết hổ
thẹn.
5)
Ưa sống với
nhau.
A-xà-lê có 4 hạng:
1)
Không cung cấp
lương thực
mà cũng không dạy
dỗ Chánh pháp.
Hạng người này không phiền
thưa, cứ
bỏ
đi.
2)
Có cung cấp lương
thực mà không dạy
dỗ Chánh pháp.
Hạng người này nên thưa
mà đi.
3)
Không cung cấp
lương thực
mà có dạy dỗ
giáo lý. Hạng
này tuy khổ, trọn
đời không nên
đi.
4)
Có cung cấp lương
thực mà cũng
có dạy dỗ
giáo lý. Hạng
này tuy xua đuổi,
trọn
đời không nên
đi.
Nếu
đệ tử không nghe lời
dạy bảo nên nói với
người trông coi
về giường
mền,
đừng cung cấp
giường mền,
nói với người
trị nhật,
không phân phối
phần
ăn. Nếu
người
đó hung ác có
thế lực,
có thể tạo
việc bất
lợi, Hòa thượng
nên tránh đi.
Thầy y chỉ
nên xếp y bát
ra ngoài cương
giới một
đêm, tức
là cắt
đứt sự
y chỉ với
người không
nghe lời dạy
bảo
ấy.
Nếu Hòa thượng,
A-xà-lê có lỗi,
đệ tử
nên can gián không nên dùng lời
thô mà khuyên can. Y như
pháp giáo giới,
nên nói lời nhã
nhặn
để thầy
đừng làm việc
ấy. Thầy
thuận nghe thì tốt,
nếu ngược
lại thầy
tạo thêm tội
lỗi chê trách
bác bỏ lời
khuyên can thì nên tránh xa. Nếu
là bậc A-xà-lê thì mình ôm y bát ra ngoài giới
ở một
đêm rồi
trở lại y chỉ
nơi vị khác... Nếu
người
ấy có thế lực
thì nên tránh xa họ
đi.
Trường hợp
y chỉ với
người có
đức hạnh mà vị
Hòa thượng
ấy mạng
chung hay thôi tu, hay bị
cử tội,
hay ra ngoài cương
giới ngủ, hoặc
đệ tử tự
ra ngoài cương
giới ngủ, như
vậy gọi là không y chỉ.
Nếu A-xà-lê mạng
chung, thôi tu, bị
cử tội,
ra ngoài cương
giới ngủ, hoặc
đệ tử ra ngoài giới
ngủ, cũng
vậy.
Nếu
đủ 5 hạ,
biết rõ pháp, biết
rõ luật thì
được phép lìa y
chỉ, gọi
là xả y chỉ.
Nếu Tỳ-kheo
không biết rõ
pháp, không biết
luật, không thể
tự lập, không thể
hướng dẫn
kẻ khác thì trọn
đời không
được ly y chỉ
để sống.
Nếu
đủ 10 hạ, biết
rõ pháp, biết
rõ luật, có khả năng
tự lập, có khả
năng dựng
lập cho kẻ
khác, Tỳ-kheo
như vậy
được nhận
người khác y chỉ.
Luật Ngũ
phần nói
rõ:
Cho phép không nhận y chỉ
cho đến sáu
đêm.
Ðệ tử
muốn
đến chỗ
khác, việc cần
yếu là phải
thưa với
thầy trước
khi đi hai
đến ba ngày. Vị
thầy nên trù
tính nơi chỗ
đệ tử
mình xin dơøi
đến
đó có người
để họ
y chỉ thì mới cho
đi.
Mỗi khi
đến trú xứ
nào, trước hết
phải lễ
Tháp, lễ Thượng
toạ. Kế
đó xin phòng
ở, vậy
sau mới cầu
y chỉ. Vị
được cầu
làm y chỉ nên hỏi: “Nhị
sư (Hòa thượng,
A-xà-lê) của
ông là ai? Trước
đây ông
ở
đâu? Ông thường tụng
kinh gì?” Nếu
người cầu y chỉ
trả lời
đúng pháp thì
nhận cho y chỉ.
Nếu trả
lời không
đúng pháp thì
nên nói rằng:
“Ông không biết
tôi, tôi không biết
ông, ông nên đến
người có sự
quen biết
để cầu
y chỉ.” Trường
hợp có sự
nghi ngờ, nên
nói chờ thời
gian. Thời gian
người
ấy chờ
cho đến 6
đêm, xem xét họ,
nếu hợp ý thì nên cho y chỉ.
Nếu không hợp
ý thì nên trả lời
như trên
đã trình bày.
Không nên y chỉ Tăng
hay Tháp mà nên y chỉ
với bậc
Thượng tọa,
Tỳ-kheo như
pháp, người có
khả năng
giáo giới.
Luật Thập
tụng nói
rõ:
Phải thành tựu
5 pháp, cùng 5 hạ
đầy
đủ thì khỏi
cần cầu
y chỉ. Năm
pháp ấy là:
1) Biết phạm.
2) Biết không
phạm.
3) Biết tội
nhẹ.
4) Biết tội
nặng.
5) Tụng Ba-la-đề-mộc-xoa,
học rộng,
khéo nói.
Trường
hợp thọ Tỳ-kheo
giới lâu năm
mà không biết 5
pháp trên thì trọn
đời nên y chỉ
với người khác.
Ðại
Tỳ-kheo cũng nên theo tiểu
Tỳ-kheo cầu
thọ y chỉ,
nếu mình chưa
đủ 5 pháp trên.
Trường hợp
này vẫn phải
thừa sự
cúng dường tiểu
Tỳ-kheo, trừ
vấn
đề lễ lạy.
Cho
phép năm, sáu
đêm không y chỉ
thì không phạm.
Nếu có vị
Y chỉ sư
tốt mà không y
chỉ dù chỉ
một
đêm vẫn phạm
Ðột-kiết-la,
thậm chí cũng
không được lấy
nước rửa
chân của Tăng
để dùng.
Trường
hợp gặp
lúc đói khát,
có thể
được thì hằng
ngày đến thăm Hòa thượng
và cho phép ở lại
đó, nếu
không thể
được thì năm
ngày đến một lần.
Trường hợp
mỗi năm
ngày không đến
được thì lúc Bố-tát
cần
đến. Nếu
Bố-tát không theå
đến
được cho
đến xa hai
do-tuần rưỡi,
đến ngày Tự
tứ cũng
nên đến thăm Hòa thượng.
Bộ Căn
bản ni-đà-na
nói rõ:
Chưa
đủ 5 hạ,
tuy thành tựu 5
pháp, cho đến
khéo biết rõ Tam tạng,
Tam minh chứng
đủ, trừ hết
3 cấu, nhưng
cũng phải
y chỉ. Nếu
đủ 5 hạ,
cho lìa y chỉ
để du hóa, nhưng
đến bất cứ
chỗ nào cũng
phải y chỉ.
Nếu có tâm cầu
Y chỉ sư
thì được ly y chỉ
năm
đêm. Nếu
không có tâm cầu
Y chỉ sư
thì lìa y chỉ một
đêm cũng
không được.
Trường hợp
không có y chỉ
mà ở trong chúng Tăng
thọ dụng
ẩm thực...
đều chẳng hợp
lệ. Cho
đến trong vòng
10 hạ
đều như
vậy.
Bộ Bách nhất
yết-ma nói
rõ:
Cho
dù đã thọ
Tỳ-kheo,
đến 60 tuổi
hạ, và 80 tuổi
đời, mà
đối với
kinh Biệt giải
thoát chưa
từng
đọc tụng, không rõ nghĩa
nó, thì cũng phải
y chỉ nơi
bậc Trưởng
lão. Trường hợp không có vị
Trưởng lão thì
y chỉ nơi
vị niên thiếu
Tỳ-kheo cũng
được. Trường
hợp như
vậy chỉ
trừ lễ
bái, còn bao nhiêu việc
khác cần phải
phục vụ
như trò
đối với thầy.
Hạng người
này cần
được gọi
là Tỳ-kheo già
mà là trẻ vậy.
Bộ Tạp
sự nói rằng:
Có
duyên sự cần
phải tạm
đi xa nhưng
chắc chắn
sẽ trở về
lại, nên tâm niệm
nương theo cựu
sư (thầy cũ)
khỏi phiền
phải thọ
y chỉ lại.
Người
y chỉ, người dạy
dỗ
đọc tụng
đều phải
cung phụng hầu
hạ. Trường
hợp hai vị
đều lâm bệnh,
nếu có khả
năng thì chăm
sóc cả hai. Nếu
không có khả năng
thì cung phụng
vị y chỉ.
Nếu không có thầy
dạy dỗ
đọc tụng
thì tùy đó có
thể tạm
ở
được. Nhưng
nếu không có vị
y chỉ sư
mà tạm
ở là không hợp
lệ. Có một
vị Bí-sô,
ở một
trú xứ, làm y
chỉ cho nhiều môn nhơn.
Nhưng khi vị
Bí-sô ấy mạng
chung, không có người
để y chỉ. Phật
dạy: “Tìm một
vị có
đức, nên cung cấp
phòng ở tốt,
miễn các công
tác, cung phụng
hầu hạ,
ngọa cụ
vật dụng
không thiếu thốn cái chi, tất
cả
đều
đầy
đủ. Nếu không có vị
ấy thì không
được
ở nơi
đó
đến kỳ
Bố-tát thứ
hai”.
Lại
có trường hợp tiền
an cư, vị
y chỉ viên tịch,
Phật bảo
phải cầu
y chỉ sư
giống như
trường hợp trên. Nếu
không có vị nào
thì nên đến trú
xứ khác cầu
vị Y chỉ
sư, rồi
thọ hậu
an cư.
Có
trường hợp
hậu an cư,
thầy qua
đời, Phật
bảo trong thời
gian tháng mưa
kiểm tra lẫn
nhau, nhắc nhở
lẫn nhau, cẩn
thận cùng nhau
sống. Qua tháng
mưa rồi,
có người y chỉ,
và cung cấp
đầy
đủ tất cả
như trước
đã trình bày.
Trường hợp
không có thì không được
quá lần Trưởng
tịnh thứ
hai.
Có
thể
đến các trú xứ
khác cần cầu
Y chỉ sư.
Nếu Bổn
sư viên tịch
v.v... đều cũng
như trước
mà giải quyết.
Kinh Tỳ-ni mẫu
nói rõ:
Thọ
y chỉ rồi,
xin phép ra ngoài giới
bảy ngày,
đủ bảy
ngày trở lại
chùa, không mất
y chỉ.
II.
TƯ
CÁCH ÔNG THẦY
Phần thứ
hai
nói rõ:
Tôn
giả Hòa-tiên mới
vừa 2 tuổi
hạ, dẫn một
người
đệ tử
1 tuổi hạ,
đến chỗ
đức Thế
Tôn. Ðức Thế
Tôn tuy biết mà
vẫn chỉ
nơi người
đệ tử
hỏi:
-
Ðây là vị Tỳ-kheo
nào?
Tôn
giả Hòa-tiên thưa:
- Ðệ
tử của
con.
Ðức
phật hỏi
Tôn giả
Hòa-tiên:
-
Hiện ông bao
nhiêu tuổi (hạ)?
Tôn
giả Hòa Tiên thưa:
-
Con 2 tuổi.
Ðức
Phật lại
hỏi:
- Ðệ
tử ông bao
nhiêu tuổi?
Tôn
giả Hòa-tiên thưa:
- Ðệ
tử con 1 tuổi.
Lúc
bấy giờ,
đức Thế
Tôn bằng mọi cách quở
trách:
-
Việc làm của
ông là quấy,
không phải oai
nghi, không phải
pháp của Sa-môn, không phải
tịnh hạnh,
không phải hạnh
tùy thuận. Ông
làm việc không
nên làm. Này ông Hòa-tiên! Ông chưa
hết bú sữa mà nhận
dạy dỗ cho người
khác, làm sao ông dạy
được.
Từ
nay cho phép Tỳ-kheo
nào đủ 10 hạ, có trí tuệ
mới trao truyền
giới Cụ
túc cho người,
cho người y chỉ. Cần
thi hành pháp Hòa thươïng,
A-xà-lê như
sau:
Nếu
chúng Tăng vì
người
đệ tử
mình tác Yết-ma,
tác ha trách, tác tẫn,
tác y chỉ, tác
Yết-ma không cho
đến nhà bạch
y, tác bất kiến tội
cử, bất sám hối
cử, bất xả
ác kiến cử
thì Hòa thượng
như pháp liệu
lý, hoặc giả
bằng cách nào
để cho chúng Tăng
đừng tác pháp Yết-ma
cho đệ tử.
Trường hợp
chúng Tăng tác pháp, bằng
cách làm sao khiến
cho hợp pháp và
như pháp mà liệu
lý, dạy bảo
đệ tử mình thuận
tùng đối với
Tăng, không
trái nghịch, cầu
mong trừ tội
lỗi
để Tăng
sớm giải
pháp Yết-ma.
Nếu
đệ tử
phạm Tăng
tàn, Hòa thượng
nên như pháp liệu
lý, hoặc nên áp
dụng Ba-lợi-bà-sa, hoặc
nên áp dụng Bổn
nhật trị,
hoặc nên áp dụng
Ma-na-đỏa, hoặc
nên xuất tội
đều tùy theo
đó mà áp dụng.
Lại
nữa, nếu
đệ tử
lâm bệnh, Hòa
thượng nên chăm
sóc hoặc sai bảo
người chăm
sóc, cho đến
lành bệnh hay mạng chung.
Nếu
đệ tử
không vui ở chỗ
này tu hành, thì hoặc
tự
đưa
đi chỗ
khác, hoặc bảo
người khác
đưa
đi.
Nếu
đệ tử
có chỗ nghi ngờ
nên dùng pháp, dùng luật,
như lời
Phật dạy,
như pháp giải
trừ.
Bộ Yết-ma
ngài Ðàm-đế soạn
tập
nói rõ:
-
PHÁP: Chỉ
có 5 món viễn
ly hành:
1) Xuất ly phi
thế pháp.
2) Việc
độ phi thọ
pháp.
3) Vô dục phi hữu
dục.
4) Vô kết phi hữu
kết.
5) Bất thân cận
sanh tử phi
thân cận.
-
LUẬT:
Tức là 5 món xuất
yếu hành:
1) Thiểu dục phi đa dục.
2) Tri túc phi vô yểm.
3) Dị hộ phi nan hộ.
4) Dị dưỡng phi nan dưỡng.
5) Trí tuệ phi ngu si.
-
PHẬT
SỞ
GIÁO: Tưùc
là 5 món giáo giới
hành:
1) Hữu tội giả chế.
2) Vô tội giả thính.
3) Nhược chế, nhược thính, pháp hữu giảm khuyết giả như pháp cử chi.
4) Số số vi phạm chiết phục dữ niệm.
5) Chơn thật công đức, ái niệm xưng tán.
(Tạm
dịch:
Pháp là những
gì hướng dẫn
chúng ta ra khỏi
đời
đau khổ,
vượt lên trên vấn
đề chấp thọ,
không ái dục,
không bị buộc
ràng.
Luật
là phương pháp
để ra khỏi
luân hồi: phải
thiểu dục,
tri túc, yểm
ly, phòng hộ,
phương tiện
sống hết
sức
đơn giản
và dễ dàng, cần
có trí tuệ
để tuyển trạch.
Những
điều
Phật dạy:
Việc sai quấy
thì cấm, việc
có ích không tổn
hại thì cho
làm. Cấm làm mà
làm thì phạm,
cho làm mà không làm là phạm,
‘chỉ mà tác là phạm,
tác mà chỉ là
phạm’. Kẻ phạm
thường xuyên phải
bắt buộc
nhiếp niệm. Công
đức thật
sự thì khen ngợi).
Trường
hợp
đệ tử
mình sanh ác kiến,
phải dạy
bảo họ bỏ
ác kiến, trụ
nơi thiệân
kiến, phải dùng pháp và y thực
nhiếp hộ
họ, dạy
họ tăng
giới, tăng
tâm, tăng huệ.
Dạy họ học
hỏi tụng kinh. Phải
giải quyết
vấn
đề y thực,
ngoạ cụ,
y dược cho họ
theo khả năng
của mình.
Có
5 phương pháp
để khiển
trách đệ tử:
1)
Bảo họ
đi
đi (đi
đâu thì
đi).
2)
Ông đừng vào
phòng tôi.
3)
Ông đừng hầu
hạ tôi nữa.
4)
Ông đừng
đến chỗ
tôi.
5)
Tôi không nói với
ông nữa
đâu.
(Nếu
là bậc A-xà-lê
thì điều
4 đổi lại
là: Ông đừng y chỉ
nơi tôi nữa).
Ðệ
tử có 5 việc nên quở
trách:
1) Không biết xấu.
2) Không biết hổ
thẹn.
3) Không thọ giáo.
4) Mất
oai nghi.
5) Không cung kính.
Laïi có 5 việc
cần quở trách:
1) Không biết xấu.
2) Không biết hổ
thẹn.
3) Nói không nghe tức
không nghe lời
dạy.
4) Ưa
làm bạn với
kẻ dữ.
5) Ưa
đến nhà dâm nữ.
Lại
ưa
đến nhà phụ
nữ, nhà con gái
chưa có chồng, nhà huỳnh
môn, tịnh xá Tỳ-kheo-ni,
tịnh xá Thức-xoa, Sa-di-ni,
ưa
đến những
chỗ mại
dâm. Những việc
như v