49. Không nên
đại tiểu
tiện,
hỉ,
nhổ
lên rau cải
tươi,
trừ
bệnh,
cần
phải
học.
Tỳ-kheo-ni,
Ba-dật-đề.
Không phạm:
Ðại tiểu
tiện nơi
không có rau, cỏ
tươi,
rồi dòng nước
chảy
đến
nơi có rau cỏ
tươi, hoặc
gió thổi, chim ngậm
rớt nơi
có rau, cỏ tươi.
Luật
nhiếp
nói:
Nơi
chông gai, rừng rú không phạm.
Nếu
đi
trong rừng lớn,
cành lá sum suê, nên tránh chỗ
có người. Nếu
đi nơi
đồng ruộng
cỏ liên tiếp,
không có chỗ trống,
nên dùng lá khô trải,
đại
tiện lên
đó;
nếu không thể
được, không phạm.
50. Không
được
đại tiểu
tiện,
hỉ,
nhổ
trong nước
sạch,
trừ
bệnh,
cần
phải
học.
Không phạm:
như giới
trên.
Luật
Thiện kiến
nói:
Nếu
nước
không có người dùng, hoặc
nước biển,
không phạm. Tuy nước
có người dùng mà khoảng
cách xa không có người dùng, không phạm.
51. Không nên
đứng mà
đại tiểu
tiện,
trừ
bệnh,
cần
phải
học.
Không phạm:
Bị trói, chân
đạp
phải
đồ
nhơ nhớp.
52. Không nên thuyết
pháp cho người
vắt
ngược
y, không cung kính, trừ
bệnh,
cần
phải
học.
53. Không nên thuyết
pháp cho người
quấn
y nơi
cổ,
trừ
bệnh,
cần
phải
học.
54. Không nên thuyết
pháp cho người
trùm
đầu, trừ
bệnh,
cần
phải
học.
55. Không nên thuyết
pháp cho người
quấn
khăn
trên
đầu, trừ
bệnh,
cần
phải
học.
56. Không nên thuyết
pháp cho người
chống
nạnh,
trừ
bệnh,
cần
phải
học.
57. Không nên
thuyeát pháp cho người
mang dép da, trừ
bệnh,
cần
phải
học.
Luật
Ngũ phần
nói:
Nếu
nhiều
người mang dép da,
không nên bảo cởi,
nên nhân nơi người
nào khoâng mang mà nói, không phạm.
58. Không nên thuyết
pháp cho người
mang guốc
gỗ,
trừ
bệnh,
cần
phải
học.
59. Không nên thuyết
pháp cho người
ngồi
trên ngựa,
trừ
bệnh,
cần
phải
học.
Luật
Thập tụng
nói:
Vua Ba-tư-nặc cỡi
ngựa
đến
Kỳ-hoàn thăm
Phật, Lục
quần vì vua nói pháp,
cho nên chế. Người
đi trước,
mình
đi sau; người
ở
đường
chính, mình
ở
đường
phụ; người
ngồi, mình
đứng;
người ngồi
chỗ cao, mình ngồi
chỗ thấp;
người nằm,
mình ngồi; che
đầu,
trùm
đầu, thu tay, chống
nạnh, vắt
y lên, trùm vai hữu,
mang dép da, guốc gỗ;
cầm
gậy, cầm
dù, cầm dao, cầm
mâu, cung tên, duyên khởi
đều
đồng.
(Kinh Giới nhân duyên cũng
vậy).
60.
Không
được
ngủ
nghỉ
trong tháp Phật,
trừ
vì canh giữ,
cần
phải
học.
Không phạm:
Bị cầm
giữ, mạng
nạn v.v...
Căn
bổn tạp
sự
nói:
Trước khi bước chân lên
điện
đài
hương, phan can (cột
cờ), chế-để (tháp Phật)...
phải tụng
Già-đà (kinh kệ),
sau
đó mới
bước chân
đi.
Không vậy mắc
tội Việt
pháp.
61. Không
được chôn giấu
tài vật
trong tháp Phật,
trừ
muốn
cho chắc
chắn,
cần
phải
học.
62. Không
được mang dép
da vào tháp Phật,
cần
phải
học.
63.
Không
được tay caàm
dép da
đi vào trong
tháp Phật,
cần
phải
học.
64. Không
được mang dép
da
đi nhiễu
quanh tháp Phật,
cần
phải
học.
65. Không
được mang giày
Phú-la
vào trong tháp Phật,
cần
phải
học.
66. Không
được xách giày
Phú-la vào trong tháp Phật,
cần
phải
học.
Không phạm:
Hoặc bị
người dùng sức
mạnh kéo, kêu vào
trong tháp.
67.
Không
được ngồi
dưới
tháp mà
ăn, lưu
lại
cỏ
và thức
ăn làm dơ
đất, cần
phải
học.
Không phạm:
Gom lại một
bên chân, khi ra mang
đem
theo.
68.
Không
được khiêng tử
thi
đi qua dưới
tháp, cần
phải
học.
Không phạm:
Cần phải
đi qua con
đường
ấy, hoặc
bị sức
mạnh bắt
buộc.
69.
Không
được chôn tưû
thi dưới
tháp, cần
phải
học.
70. Không
được thiêu tưû
thi dưới
tháp, cần
phải
học.
71. Không
được
đối diện
tháp thiêu tử
thi, cần
phải
học.
72. Không
được thiêu tử
thi quanh bốn
phía tháp, khiến
cho mùi hôi bay vào, cần
phải
học.
73. Không
được mang áo và
giường
người
chết
đi qua dưới
tháp, trừ
đã giặt,
nhuộm,
xông hương,
cần
phải
học.
74. Không
được
đại tiểu
tiện
dưới
tháp Phật,
cần
phải
học.
75. Không
được
đại tiểu
tiện
trước
tháp Phật,
cần
phải
học.
76. Không
được
đại tiểu
tiện
quanh bốn
phía tháp Phật
khiến
mùi hôi bay vào, cần
phải
học.
77. Không
được mang tượng
Phật
đến chỗ
đại tiểu
tiện,
cần
phải
học.
Không phạm:
Con
đường phải
đi, cường
lực bắt
buộc.
78. Không
được nhăm
nhành dương
(xỉa
răng,
súc miệng)
dưới
tháp Phật,
cần
phải
học.
79. Không
được nhăm
nhành dương
đối diện
tháp Phật,
cần
phải
học.
80.
Không
được nhăm
nhành dương
quanh bốn
phía tháp Phật,
cần
phải
học.
81.
Không
được hỉ,
nhổ
dưới
tháp Phật,
cần
phải
học.
82.
Không
được hỉ,
nhổ
đối diện
tháp Phật,
cần
phải
học.
83.
Không
được hỉ,
nhổ
quanh bốn
phía tháp Phật,
cần
phải
học.
84.
Không
được ngồi
duoãi chân về
phía tháp, cần
phải
học.
Không phạm:
Khoảng giữa
có ngăn cách, cường
lực bắt
buộc.
Phần
thứ tư
nói:
Nếu
trong Tăng-già-lam
đầy cả
tháp, cho phép giữa
khoảng
cách hai tháp ngồi
duỗi
chân.
85. Không
được thờ
tháp Phật
ở phòng dưới,
mình
ở phòng trên, cần
phải
học.
Không phạm:
Mạng nạn,
phạm hạnh
nạn.
86. Không
được thuyeát
pháp cho người
ngồi
mà mình
đứng, trừ
bệnh,
cần
phải
học.
Luật
Tăng kỳ
nói:
Nếu
Tỳ-kheo
vì việc của
tháp, việc của
Tăng
đến
vua hay nhà
địa chủ,
họ bảo
Tỳ-kheo phải
nói pháp cho họ
nghe, không
được bảo
họ
đứng
dậy, sợ
họ sanh lòng nghi. Nếu
kế bên
đó
có người nào
đứng,
nên tác ý vì người
ấy
mà nói. Vua tuy nghe, Tỳ-kheo
không tội.
87. Không
được thuyết
pháp cho người
nằm
mà mình ngồi,
trừ
bệnh,
cần
phải
học.
88. Không
được thuyết
pháp cho người
ngồi
chính giữa
còn mình ngồi
một
bên, trừ
bệnh,
cần
phải
học.
89. Không
được thuyết
pháp cho người
ngồi
chỗ
cao, còn mình ngồi
chỗ
thấp,
trừ
bệnh,
cần
phải
học.
Luật
Thiện kiến nói:
Phật
bảo
Tỳ-kheo: “Xưa
kia, nước Ba-la-nại
có một cư
sĩ, vợ
của ông ta có thai,
nêm thèm xoài. Ông ta ban
đêm lén vào trong vườn
của vua hái trộm
xoài mà chưa hái
được,
trời sáng, nên
ẩn
trên cây. Khi
ấy,
vua cùng Bà-la-môn vào vườn muốn
ăn xoài. Bà-la-môn
ở
dưới thấp,
vua
ở trên cao;
Bà-la-môn vì vua nói pháp. Người hái trộm
xoài nghĩ rằng:
Ta
đáng chết,
nay
được thoát; Ta vô
pháp, vua cũng vô pháp, Bà-la-môn cũng
vô pháp. Ta vì người
đàn
bà nên hái trộm
xoài. Vua cũng kiêu mạn
vì thầy
đang
ngồi
ở
dưới mà mình ngồi
trên cao nghe pháp. Bà-la-môn tham lợi
dưỡng nên ngồi
dưới chỗ
thấp vì vua nói pháp.
Ta, cùng vua, Bà-la-môn
đều không
đúng
pháp, vậy ta sẽ
được thoát chết.
Ông ta nghĩ như
vậy rồi
liền nhảy
xuống cây,
đến
chỗ vua nói kệ.
Người hái trộm
xoài thuở
ấy
laø tiền thân của
Như Lai vậy”.
90. Không
được thuyết
pháp cho người
đi trước,
còn mình
đi phía sau, tr