TRÙNG TRỊ TỲ NI
SỰ NGHĨA TẬP YẾU
CỔ
NGÔ – NGẪU ÍCH – Sa-môn TRÍ HÚC giải thích
Việt
dịch: Sa-môn THÍCH ÐỔNG MlNH
Nhuận văn
và chú thích: Sa-môn THÍCH ÐỨC THẮNG
---o0o---
TẬP I
QUYỂN THỨ
8
38.
GIỚI
ĂN THỨC
ĂN CÁCH ÐÊM
Ðây là
giá tội. Ðại
thừa Tỳ-kheo
đồng học.
GIỚI
BỔN:
Tỳ-kheo
nào, cất
chứa
đồ
ăn quá
đêm và
ăn, Ba-dật-đề.
NGUYÊN DO:
Tôn giả
Ca-la thường tọa
thiền tư
duy, khi ấy trong
thành khất thực dễ
được. Ca-la nghĩ
rằng: “Tại
sao hàng ngày phải
đi khất
thực khổ sở!
Thà là ta ăn những
thức
ăn
được trước,
những thức
ăn
được sau mang về
để ngày mai
ăn”. Sau
đó làm theo ý
đã nghĩ.
Các Tỳ-kheo
đến bữa
ăn không thấy
Ca-la, nghi là qua đời
hay là đi nơi
khác... Sau đó, lại
thấy hỏi
biết lý do, bạch
Phật, kiết
giới.
GIẢI
THÍCH:
Thức
ăn nhận
được ngày nay
để
đến ngày mai,
đối với các Tỳ-kheo
đều là vật
không thanh tịnh.
TƯỚNG TRẠNG CỦA
TỘI
Tỳ-kheo-ni
phạm Ba-dật-đề.
Không
phạm: thức
ăn còn thừa
đem trao cho cha mẹ
hay người công quả
v.v... Sau đó, từ
nơi họ
xin lại thì
được
ăn.
Luật
Thập tụng nói:
Ðại
Tỳ-kheo chưa dùng tay nhận
mà cùng ngủ với
thức
ăn thì gọi
là nội túc,
ăn phạm Ðột-kiết-la;
đã dùng tay nhận
và cùng ngủ gọi
là tàn túc thực,
nếu
ăn phạm
Ba-dật-đề.
- Trước
tự lấy trái cây, sau nhận
từ nơi tịnh
nhơn mà
ăn, phạm Ðột-kiết-la.
- Có hai loại xúc thực,
ăn không tội:
a) Tỳ-kheo
thanh tịnh
đụng nhầm.
b) Tỳ-kheo
phá giới không biết
xấu hổ
đụng vào (xúc chạm).
Thuốc
7 ngày có thể dùng
quá nửa ngày.
Căn
bản ni-đà-na
nói:
Bánh
hay trái cây ăn
còn, đem trao cho
Sa-di, sáng ngày được
nhận
ăn; nếu
có tâm hy vọng sẽ nhận
lại thì khi trao mắc
ác tác, khi ăn phạm tội
đọa, nếu
hoàn toàn không có tâm hy vọng
sẽ
được nhận
lại thì không phạm.
Mục-đắc-ca
nói:
Nếu
người bệnh mà nghèo, dầu,
tô dư thừa
dùng không tội.
- Tỳ-kheo
đi
đường, bảo
Sa-di mang lương thực
theo có thể vì
Sa-di đỡ lên,
đỡ xuống.
Lại nữa,
các Bí-sô đi
đường nên
đem theo lương
thực,
đã không có người
thế tục,
lại không có Sa-di,
thì nên khuyến hóa
thí chủ. Thí chủ cũng
không, nên tự tay
mang đi, sau
đó gặp
người thế
tục, trao
đổi mà
ăn. Trường hợp
không thể thực
hiện phương
tiện trao
đổi thì nên chia
làm hai phaàn, bảo
người thế
tục rằng: “Ngươi
lấy một phần”.
Người
ấy lấy
rồi, bảo
người
ấy rằng:
“Ngươi lấy phần
ăn của tôi, tôi lấy
phần
ăn của
người, thay
đổi mà
ăn”. Trường
hợp này nếu
khó thực hiện,
thì ngày thứ nhất
nên tuyệt thực.
Sáng ngày nếu có người
trao thì nhận lấy
mà ăn.
Nếu không có
người trao, thì cho
phép tự lấy
một nhúm mà
ăn. Cho
đến ngày thứ
ba lại không có người
trao, cho ăn 2
nhúm. Ðến ngày thứ tư
lại không có người
trao, tùy theo ý của
mình, ăn no, không phạm.
Sau đó, trên lộ
trình đi, lương
thực bị
hết sạch,
có trái chín rớt
trên đất, nên lấy
tác tịnh, thọ
rồi mới
ăn. Nếu
tịnh nhơn
khó có được, thọ
rồi, nên
ăn. Người trao cũng
không, thì có thể tự
lấy, khởi
tưởng của Bắc
châu (Bắc Câu-lô
châu) mà ăn. Trên
cây trái chín chưa
rụng xuống
đất, nên tự leo lên cây rung cho nó rớt, tự
lấy mà
ăn. Những
điều
khai mở trên,
đều là vì nạn
duyên, nếu không nạn duyên thảy
đều cấm ngăn.
Luật Thiện
kiến nói:
Nếu nhiều
Tỳ-kheo cùng
đi mà chỉ có một
Sa-di nhỏ, Tỳ-kheo
tự gánh lấy
lương thực,
đến giờ
ăn, mỗi
người tự
chia phần. Sa-di nhận
phần của
mình rồi, nói với
Tỳ-kheo rằng:
“Nay đem phần
của Sa-di cúng cho
Ðại
đức”. Ðổi
được rồi,
lại
đổi cho vị
thứ hai, lần
lượt cho
đến cả
chúng, ăn như
thế không tội.
Nếu Sa-di không hiểu
pháp Tỳ-kheo tự
đem phần
ăn của
mình cho Sa-di, lần
lượt
đổi như
trên rồi
ăn, không phạm.
Luận Tát-bà-đa
nói:
Nếu thức
ăn là Phật
lạp, diện
môn lạp, tự
tứ lạp, tuy trước
cầm, sau mua,
được
ăn, không có cái tưởng
là của mình vậy,
không tội.
CHỨNG
MINH:
Căn
bản tạp
sự nói:
Phật
bảo A-nan: “Không
có trường hợp,
ở trong nhà nào
đó,
ăn
đồ
ăn cách
đêm, mà chứng
được A-la-hán. Nhưng
cũng không có trường
hợp có A-la-hán, các lậu
đã hết,
ở trong nhà bạch
y, mà ăn
đồ
ăn cách
đêm”.
BIỆN
MINH:
Hỏi:
- Sa-di không
ăn
đồ
ăn cách
đêm,
được chứng
quả A-la-hán. Nếu
đã chứng
quả A-la-hán
rồi thì cần
gì phải thọ
giới Cụ
túc?
Ðáp:
- Trong 8 loại
Tỳ-kheo, tuy có loại
Tỳ-kheo phá kiết
sử, song khi Phật
diệt
độ, cần
phải dùng Bạch tứ
yết-ma làm tôn yếu.
Cho nên Sa-di dầu
đã chứng
vô học, cần phải
tức thời
thọ Cụ
túc, không đợi tuổi
đủ 20. Chưa
hề có trường hợp
không đăng
đàn thọ Cụ
ấy vậy.
39.
GIỚI TỰ
NHẬN THỨC
ĂN
Ðây là
giá tội. Tỳ-kheo
Ðại thừa
đồng học.
GIỚI
BỔN:
Tỳ-kheo
nào,
đưa
vào miệng
thức
ăn
hoặc thuốc không
được trao nhận,
trừ nước
và tăm
xỉa răng,
Ba-dật-đề.
NGUYÊN DO:
Nơi thành Xá-vệ
có một Tỳ-kheo,
thường khất
thực mặc
y phấn tảo.
Khi ấy trong thành, các cư
sĩ, vì cha mẹ
của họ
qua đời; nơi ngã tư
đường cho
đến trong miếu,
thiết trai phạn
cúng tế. Tỳ-kheo
ấy tự
tay lấy thức
ăn mà
ăn. Cư
sĩ cơ
hiềm, cho nên Phật
chế cấm. Lúc bấy
giờ, có các Tỳ-kheo
sanh nghi, không dám tự
lấy tăm
xỉa răng
và nước lã
để uống,
Phật dạy:
không phạm.
GIẢI
THÍCH:
Nhận
có 5 cách:
- Dùng tay trao, dùng tay nhận.
- Dùng tay trao, dùng vật
nhận.
- Dùng vật
trao, dùng vật nhận.
- Dùng vật
trao, dùng tay nhận.
- Dùng vật
từ xa
đưa, người
trao, kẻ nhận
đều biết
nhau, không có gì trở
ngại, rơi
vào trong tay.
Lại
có 5 cách nhận:
- Thân trao, thân nhận.
- Y trao, y nhận.
- Khuỷu
tay trao, khuỷu tay
nhận.
- Ðồ
trao, đồ nhận.
- Hoặc
có nhân duyên để nơi
đất trao.
TƯỚNG TRẠNG CỦA
TỘI
Tưởng,
nghi v.v... sáu câu như
thường có thể biết.
Tỳ-kheo-ni thì phạm
Ba-dật-đề.
Luật
Ngũ phần nói:
Trừ
thức
ăn nếm
thử không
được nuốt.
Cho phép từ rồng
nhận thức
ăn, từ trời
nhận thức
ăn, từ
quỷ nhận
thức
ăn, từ
khỉ nhận
thức
ăn, từ
nơi lời
nói của thí chủ
nhận thức
ăn. Không
được nhận
thức
ăn từ
đằng xa ném tới
mà ăn.
BIỆN
MINH:
Hỏi:
- Tứ
phần cho nhận
vật từ xa ném
đến thì thành thọ.
Ngũ phần thì không cho nhận
vật thực
ném đến
để
ăn. Vậy thì
ở
đây, nên theo bên
nào?
Ðáp:
- Tứ phần cho nhận
vật từ xa ném
đến, vì phải
dùng tay để hứng
lấy, hoặc
có nhân duyên. Ngũ
phần ném thức
ăn, do bởi
khinh mạn. Cho phép, hay chế
cấm
đều có lý do riêng biệt,
chủ ý
ở nơi
đây là vậy.
40.
GIỚI KHÔNG BỆNH
ÐÒI THỨC
ĂN NGON
Ðại
thừa có bệnh cũng
không được
ăn cá thịt.
GIỚI
BỔN:
Các thức
ẩm thực mỹ
diệu như sữa,
lạc, cá và thịt, Tỳ-kheo nào
không bệnh
mà xin những
thứ
ẩm
thực mỹ
diệu
ấy
cho mình, Ba-dật-đề.
NGUYÊN DO:
Bạt-nan-đà
đến nhà chủ
buôn đòi thức
ăn mỹ
diệu (tạp
thực). Người
chủ buôn hỏi:
“Ngài có bệnh gì?”
Ðược trả lời:
“Không có bệnh, chỉ
muốn
ăn
đồ
ăn mỹ
diệu vậy”.
Chủ buôn cơ
hiềm, cho nên Phật
chế cấm.
Khi ấy, có Tỳ-kheo bệnh
cẩn thận
sợ không dám xin,
không dám vì người
bệnh xin, nhận
được không dám
ăn, cho nên Phật
cho phép.
TƯỚNG TRẠNG CỦA
TỘI
Tỳ-kheo-ni
mắc tội
về pháp hối
quá. Ba chúng dưới
phạm Ðột-kiết-la.
Luật
Thập tụng nói:
Ðòi mà
được, mắc
tội Ba-dật-đề;
không được, mắùc
Ðột-kiết-la.
Luật
nhiếp nói:
Không
beänh đến xin,
để có bệnh
ăn; khi xin phạm
ác tác, khi ăn
không có tội. Có bệnh
đến xin,
để không bệnh
ăn, khi xin không
có tội, khi
ăn
tội
đọa. Nếu
thí chủ nói: “Cần
chi cứ cho biết”,
hoặc
đến trời,
rồng, dạ-xoa, xá, khất
cầu, không phạm.
41. GIỚI TỰ
TAY CHO NGOẠI ÐẠO
THỨC
ĂN
Ðại
thừa
đồng học.
Hoặc xem căn
cơ
được phép cho.
GIỚI
BỔN:
Tỳ-kheo
nào tự
tay cho thức
ăn
đến nam ngoại
đạo, nữ
ngoại
đạo, Ba-dật-đề.
NGUYÊN DO:
Phật
bảo A-nan chia bánh
cho chúng Tăng.
Chia rồi còn dư, bèn cho người
đi xin. Có một
người con gái ngoại
đạo lõa hình, nhan
sắc
đoan chánh, A-nan
cho bánh, bánh xấp
hai cái tưởng là một,
đem cho cô ta. Người
con gái ấy cùng với người
gần, hỏi
nhau, biết việc
ấy, họ liền
sanh nghi báng. Lại
có một người Phạm
chí, ăn chỗ
này rồi,
đi
đến nước khác, trên
đường
đi gặp một
người (Bà-la-môn)
giàu lòng tin (tín sĩ),
nói là từ cư
sĩ trọc
đầu
được
ăn. Người
(Bà-la-môn) giàu lòng tin kia bạch
với Tỳ-kheo, Phật
nghe, kiết giới.
Sau đó, ngoại
đạo có lời
oán trách, Phật bèn
cho phép để dưới
đất hay sai người
cho thì được.
TƯỚNG TRẠNG CỦA
TỘI
Tự
tay cho, mà nhận,
phạm Ba-dật-đề;
không nhận, Ðột-kiết-la. Sắp
sửa muốn
cho, lại
đổi ý, phạm
Ðột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni,
phạm Ba-dật-đề.
Ba chúng sau, phạm
Ðột kiết-la.
Không
phạm: Cho cha mẹ
và người giúp việc v.v...
hoặc bị
thế lực
cưỡng
đoạt.
Luật
Căn bản nói:
Hoặc
muốn dùng thức
ăn làm nhân duyên
để trừ
ác kiến của
kẻ
ấy thì không phạm.
Luật
Thập tụng nói:
Không
phạm là, nếu
người
ấy có bệnh
hay quyến thuộc; hoặc
khi xin xuất gia mà
cho (tức là 4 tháng
thử họ
vậy). Tự
mình chưa thọ
thực, không nên cho
kẻ khác. Mình thọ
trước, sau mới
cho người. Nếu là cha, mẹ,
hay người bị
troùi, thì cần cho
thức
ăn gấp;
còn người có thai,
ít nhiều tùy theo
mà cho họ. Súc sanh
nên cho một miếng.
42.
GIỚI ÐẾN
NHÀ KHÁC KHÔNG DẶN
Ðại thừa
đồng học.
GIỚI
BỔN:
Tỳ-kheo
nào, trước
đã nhận người
mời, nhưng trước
hay sau bữa
ăn
đi
đến nhà người khác mà
không báo cho Tỳ-kheo khác biết, trừ trường
hợp
đặc
biệt, Ba-dật-đề.
Trường hợp
đaëc
biệt
là: khi bệnh,
thời
gian làm y, thời
gian thí y,
đây
là trường
hợp
đặc
biệt.
NGUYÊN DO:
Có một
Trưởng giả
thiết lập
trai soạn thỉnh
Tăng,
đợi Bạt-nan-đà
đến. Bạt-nan-đà
sau khi tiểu thực xong lại
đến nhà khác, khi gần
quá ngọ mới
trở lại. Do vậy,
các Tỳ-kheo
ăn không
đủ no vì quá ngọ.
Lại nữa, có một
đại thần
đem cam
đến Tăng-già-lam
cũng
đợi Bạt-nan-đà
đến mới
chia. Bạt-nan-đà
ăn xong, liền
đến nhà khác, quá
ngọ mới
trở lại, khiến
chúng Tăng không
được
ăn cam tươi
ấy, cho nên Phật
chế. Sau
đó, chúng Tăng
không dám nhận lời
mời vào thành, Phật
cho phép dặn nhau rồi vào thành. Lại
nữa, nếu
vì bệnh, khi làm y, khi thí y, không dặn,
được vào thành.
GIẢI
THÍCH:
Trước
bữa
ăn: là mặt
trời xuất hiện
cho đến bữa
ăn. Sau bữa
ăn: là từ khi
ăn cho
đến giữa
ngày. Các Tỳ-kheo
khác: là đồng một giới,
cùng ở.
TƯỚNG TRẠNG CỦA
TỘI
Dặn
rồi
đi, nửa
đường trở
lại... muốn
đi phải
dặn lại.
Không dặn thì vào
bao nhiêu nhà, phạm
bấy nhiêu Ba-dật-đề.
Một chân vào trong
cửa ngõ... phạm
Ðột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni phạm
Ba-dật-đề.
Ba chúng dưới phạm Ðột-kiết-la.
Không
phạm: Nếu
không có Tỳ-kheo
để dặn,
thì đến bên phòng
kho tàng của tụ
lạc, hay
đến chỗ có nhà
để dặn.
Hoặc vì thế lực
kéo lôi, mạng nạn,
phạm hạnh
nạn.
Luật nhiếp
nói:
Nếu nói với
chủ nhà: “Dầu tôi không
đến, cũng
nên cúng dường Tăng,
đừng
để thiếu
sót.” Hay người chủ không vì vị
ấy mà
đợi chờ, thì
đều không tội.
43.
GIỚI CƯỠNG
NGỒI NƠI
NHÀ ĂN
Ðại
thừa
đồng học.
GIỚI BỔN:
Tỳ-kheo
nào, tại
nhà có thức
ăn có vật báu, mà cố
ngồi nán, Ba-dật-đề.
NGUYÊN DO:
Ca-lưu-đà-di
đến nhà của
Trai ưu-bà-di ngồi,
người chồng
hỏi cần gì v.v... Trả
lời: “Cần
thức
ăn”, liền
bảo vợ
đem thức
ăn ra cho.
Ăn rồi,
không đi. Ngươøi
chồng giận
bỏ
đi và nói: “Tùy
ông, muốn làm chi
thì làm”. Phật
nghe, chế cấm.
GIẢI
THÍCH:
Thức
ăn: Nam lấy nữ
làm món ăn, nữ
lấy nam làm món
ăn, cho nên gọi
là “thực gia”. Vật
quý báu: là chỉ cho
xa cừ, mã não, trân
châu, hổ phách,
kim, ngân. (Xét giới
này, chính từ “thực gia
食家?” mắc tội,
chứ chẳng
phải từ
nơi vật
quý mà mắc tội.
Nói: “Có vật báu”,
thì vật báu
ở
đây, chỉ
chỗ vợ
chồng có thể
hành dâm được vậy).
TƯỚNG TRẠNG CỦA
TỘI
Mù mà
không điếc,
điếc
mà không mù, đứng
không ngồi, phạm Ðột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, phạm
Ba-dật-đề.
Ba chúng dưới phạm Ðột-kiết-la.
Không phạm: Chỗ
đưa tay
đụng
đến cánh cửa,
có hai Tỳ-kheo bạn, hay bị
trói v.v...
Luật Thập
tụng nói:
Không phạm: nhà
đoạn
dâm dục, nhà thọ
Bát quan trai, hoặc
lại có bậc Tôn túc ngồi
nơi tòa, hay nhà có
nhiều người ra vào.
Nếu người
nữ thọ
giới một
ngày, người nam không thọ
giới, ha