6. GIỚI
LÀM PHÒNG RIÊNG QUÁ LƯỢNG
Ðại
Thừa
đồng chế.
Kinh Phạm
võng gọi
là ác cầu
đa
cầu. Kinh Bồ-tát
giới bổn
gọi
là
đa dục
bất tri túc. Vì chúng
thì không phạm.
GIỚI BỔN:
Tỳ-kheo
nào, tự
khất
cầu
để
cất
thất,
không có thí chủ,
tự
làm cho mình, cần
phải
làm đúng
lượng.
Ðúng lượng
ở
đây
là dài mười
hai gang tay Phật,
bên trong rộng
bảy
gang tay Phật.
Phải
mời
các Tỳ-kheo
đến
chỉ
định
nơi
chốn.
Các Tỳ-kheo
ấy
cần
chỉ
định
nơi
chốn,
là nơi
không bị
nguy hiểm,
nơi
không bị
bít lối.
Nếu
Tỳ-kheo,
nơi
có nguy hiểm,
nơi
bị
bít lối,
tự
khất
cầu
để
cất
thất,
không có thí chủ,
tự
làm cho mình, không mời
các Tỳ-kheo
đến
chỉ
định
nơi
chốn,
hoặc
làm quá lượng,
Tăng-già-bà-thi-sa.
NGUYÊN DO:
Nhân
đức
Phật cho phép Tỳ-kheo
làm phòng xá riêng, Tỳ-kheo
nơi nước
Khoáng Dã bèn cất
phòng xá riêng rộng lớn,
tốn nhiều
công của,
đòi
hỏi tín
đồ,
đến nỗi
cư sĩ
thấy Tỳ-kheo
phải tránh. Khi
ấy,
ngài Ca-diếp
đi
khất thực,
cư sĩ
trong thành Khoáng Dã tránh xa ngài. Ngài hỏi,
biết lý do, bạch
Phật
để
kiết giới.
GIẢI THÍCH:
Không có chủ:
Nghĩa là không có thí
chủ,
hoặc một
người, hai người
hay nhiều ngươøi
đứng ra xây cất.
Nạn xứ:
tức là chỗ
có hổ lang, sư
tử, các thú dữ,
cho
đến kiến
hay mối. Tỳ-kheo,
nếu không bị
các thú, trùng làm phiền
bận, nên làm
đất
cho bằng. Nếu
có
đá, gốc
cây gai, nên bảo
người
dọn dẹp
cho sạch. Nếu
chỗ có rãnh nước,
hầm, ao, nghiêng lệch,
nên khiến người
đổ cho bằng,
cho
đầy. Nếu
sợ nước
ngấm úng thì phải
đắp
đê
để
đề
phòng. Nếu
đất
đai bị
người tranh chấp
thì phải giải
quyết cho thỏa
đáng,
đừng
để có tiếng
không hay. Bị bít lối:
tức là chỗ
mà chiếc xe chở
cỏ không quay
đầu
để
đi
quanh
được.
Tỳ-kheo
kia xem xét chỗ không nguy hiểm,
không bị bít lối
rồi,
đến
trong Tăng cởi
guốc dép, bày vai áo
bên hữu,
gối bên hữu
quỳ sát
đất,
chắp tay bạch
như vầy:
“Ðại
đức Tăng,
xin lắng
nghe, tôi là Tỳ-kheo...
tự
khất
cầu
cất
thất,
không có thí chủ,
tự
làm cho mình. Nay
đến trong chúng Tăng,
xin chứng
biết
cho chỗ
không
nguy hiểm,
không bị
bít lối”.
(Bạch như
vậy ba lần).
Lúc bấy
giờ, chúng Tăng
nên quán sát Tỳ-kheo
này, nếu
có thể tin
được,
liền cho phép làm. Nếu
không thể tin
được,
chúng Tăng nên
đến
chỗ
ấy
xem xét. Hoặc sai người
của Tăng,
có thể tin
được,
đến
đó
xem xét. Nếu có sự
nguy hiểm, có bít lối,
hay không có nguy hiểm
mà có bít lối; hoặc
có nguy hiểm mà không bị
bít lối,
đều
không nên cho phép làm. Nếu
không có sự nguy hiểm,
không bị bít lối
mới cho phép làm.
TƯỚNG
TRẠNG
CỦA
TỘI
Nếu
không
được Tăng
cho phép, hay làm quá lượng,
mỗi việc
phạm một
tội Tăng
tàn. Làm mà không thành phạm
Thâu-lan-giá, hay sai người
khác làm cũng vậy.
Nếu
vì người khác làm mà
thành, thì phạm Thâu-lan-giá, không thành phạm
Ðột-kiết-la.
Nếu
có nguy hiểm, có bít lối,
mỗi việc
phạm một
tội Ðột-kiết-la. Sai người
khác làm hay vì người khác làm thành hay không thành
đều phạm
Ðột-kiết-la.
(Tỳ-kheo-ni
v.v... không
được
phép
ở nơi
A-lan-nhaõ). Sa-di phạm Ðột-kiết-la.
Luật
Tăng kỳ
nói:
Khi làm xong mắc
tội Tăng
tàn. Khi sử dụng
mắc tội
Việt tỳ-ni.
Luật
Thập tụng
nói:
Thành nhà rồi,
mới nhận,
không phạm.
7. GIỚI
LÀM PHÒNG LỚN
MÀ KHÔNG ÐƯỢC
TĂNG
CHỈ
CHỖ
Ðại
thừa
đồng
chế.
Kinh Phạm
võng nói: Khi hành pháp Ðầu-đà,
cho
đến an cư
mùa hạ, những
chỗ có nguy hiểm
không
được vào.
GIỚI BỔN:
Tỳ-kheo
nào muốn
cất
Tịnh
xá lớn
có thí chủ
làm cho mình, cần
phải
mời
các Tỳ-kheo
khác
đến chỉ
định nơi
chốn.
Các Tỳ-kheo
ấy chỉ
định nơi
chốn
- là nơi
không có nguy hiểm,
không bị
bít
lối.
Nếu
Tỳ-kheo,
nơi
có nguy hiểm,
nơi
bị
bít lối,
cất
Tịnh
xá lớn,
có thí chủ
làm cho mình, không mời
các Tỳ-kheo
đến chỉ
định nơi
chốn,
Tăng-già-bà-thi-sa.
NGUYÊN DO:
Vua
Ưu-điền
cùng với Tôn giả
Xiển-đề
là bạn thân. Tôn giả
làm phòng lớn theo ý mình. Lúc
ấy
trong thành Câu-diệm-di
có cây Ni-câu-luật, thần,
người qua lại
thường ngồi
nghỉ mát dưới
bóng cây. Tôn giả
Xiển-đề chặt
cây
ấy, cư
sĩ cơ
hiềm nên Phật
chế cấm.
TƯỚNG
TRẠNG
CỦA
TỘI
Trừ
trường
hợp làm quá lượng,
bao nhiêu trường hợp
khác, phạm
nặng hay nhẹ
đồng như
giới trước.
Luật
Thập tụng
nói:
Thành nhà rồi,
mới nhận,
không phạm.
8. GIỚI
HỦY
BÁNG KHÔNG CĂN
CỨ
Ðây là tánh tội,
Ðại thừa
đồng chế.
Nếu
đến người
ngoài nói thì phạm
trọng
tội. Nếu
đến người
đồng giới
nói thì phạm tội
nhẹ.
GIỚI BỔN:
Tỳ-kheo
nào, vì giận
hờn
ấp
ủ,
đối với
Tỳ-kheo
không phải
là Ba-la-di mà vu khống
bằng
pháp Ba-la-di không căn
cứ,
muốn
hủy
hoại
đời sống
phạm
hạnh
của
vị
ấy. Về
sau, dù bị
cật
vấn
hay không bị
cật
vấn,
sự
việc
ấy
được biết
là không căn
cứ,
Tỳ-kheo
này nói rằng:
“Tôi vì thù hận
mà nói như
vậy”.
Tỳ-kheo
nào nói như
vậy,
Tăng-già-bà-thi-sa.
NGUYÊN DO:
Ðức
Phật
ở
tại núi Kỳ-xà-quật, Tôn giả
Ðạp-bà-ma-la-tử,
được Tăng
sai phân ngọa cụ
cho chúng Tăng và theo thứ
tự mời
Tăng
đi
thọ trai. Có Tỳ-kheo
Từ Ðịa
đến, vì theo thứ
vị nên nhận
được phòng và ngọa
cụ xấu,
bèn giận dỗi.
Sáng lại, mời
Tăng
đi
thọ thỉnh,
Ðàn-việt nghe biết
Tỳ-kheo Từ
Ðịa
đến,
bèn
ở ngoài cửa,
trải bày ngọa
cụ xấu,
dọn
đồ
ăn dở;
Từ Ðịa
lại giận
gấp bội
phần, bèn nhờ
người em gái là Tỳ-kheo-ni
Từ, vu khống
là Tôn giả xâm phạm
đến phạm
hạnh của
cô.
Ðức Thế
Tôn thẩm vấn
biết
được
sự thật,
bảo các Tỳ-kheo
rằng: Có hai hạng
người chắc
chắn vào
địa
ngục. Hai hạng
người
ấy
là: Không phải là phạm
hạnh, tự
xưng là phạm
hạnh và người
thật có phạm
hạnh mà dùng phi phạm
hạnh vô căn
cứ
để
hủy báng. Quở
trách xong, Phật kiết
giới.
GIẢI THÍCH:
Căn
có 3: Căn cứ
do thấy, căn
cứ do nghe và căn
cứ do nghi.
Nghi có 2 cách: Từ
nơi thấy
mà sanh ra nghi, từ
sự
nghe mà sanh ra nghi.
TƯỚNG
TRẠNG
CỦA
TỘI
Không có 3 căn
này, một là dùng 4 khí
để
hủy báng, hai là dùng
những
pháp phi Tỳ-kheo khác mà hủy
báng, ba là nói phạm
biên tội
cho
đến ngũ
nghịch hai căn
v.v... không luận
người
ấy thanh tịnh
hay không, nói rõ ràng phạm
Tăng tàn, không rõ
ràng phạm
Thâu-lan-giá. Hủy
báng ni
đồng
như trước.
Hủy báng người
khác, phạm Ðột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni
phạm Tăng
tàn. Ba chúng dưới phạm
Ðột-kiết-la.
Không phạm
là có thấy, nghe, nghi, nói
trong mộng,
nhầm nói v.v...
PHỤ:
Luật nhiếp
nói:
Nếu
Ô-ba-sách-ca (tức
Ưu-bà-tắc)
hủy
báng Tỳ-kheo,
nên trao cho họ
Yết-ma
phuù bát. (Trong pháp trị
tội
có nói rõ).
9. GIỚI
LẤY
MỘT
PHẦN
ÐỂ
HỦY
BÁNG
Ðại
thừa... nhẹ...
nặng...
đều
đồng như
giới trước.
GIỚI BỔN:
Tỳ-kheo
nào, vì giận
hờn,
dựa
lấy
tiểu
tiết
trong phần
sự
khác,
đối với
Tỳ-kheo
không phải
là Ba-la-di mà vu khống
bằng
pháp Ba-la-di không căn
cứ,
muốn
hủy
hoại
đời sống
phạm
hạnh
của
vị
ấy. Về
sau, dù bị
cật
vấn
hay không bị
cật
vấn,
sự
việc
ấy
được biết
là dựa
lấy
tiểu
tiết
trong phần
sự
khác, Tỳ-kheo
này tự
nói rằng:
“Tôi vì thù hận
nên nói như
vậy”.
Tỳ-kheo
nào nói như
vậy,
Tăng-già-bà-thi-sa.
NGUYÊN DO:
Tỳ-kheo
Từ Ðịa,
từ trên núi Kỳ-xà-quật nhìn xuống
thấy con dê
đực
cùng với con dê cái hành
dâm, bèn
đ