TRÙNG TRỊ TỲ NI
SỰ NGHĨA TẬP YẾU
CỔ
NGÔ – NGẪU ÍCH – Sa-môn TRÍ HÚC giải thích
Việt
dịch: Sa-môn THÍCH ÐỔNG MlNH
Nhuận văn
và chú thích: Sa-môn THÍCH ÐỨC THẮNG
---o0o---
TẬP I
QUYỂN THỨ 3
THỨ HAI: GIỚI
TRỘM
Ðây là
tánh tội. Ðại
thừa
đồng chế.
Trường
hợp
được phép làm, như
trong Giới bổn
của Bồ-tát
đã nói
đầy
đủ.
Hỏi:
- Ðại
thừa gặp
trường hợp
được phép làm, thì
vấn
đề sát sanh,
ăn trộm,
dâm dục, nói láo,
đối với
giới Bồ-tát,
không những không
trái phạm mà còn
được nhiều
công đức,
đối với giới
Tỳ-kheo có trái phạm
không?
Ðáp:
- Xuất
gia đối với
giới dâm thì Ðại
thừa, Tiểu
thừa
đều cấm;
ba giới sát, trộm
và vọng thì Ðại
thừa khai mở
cho, Tiểu thừa
thì ngăn cấm.
Nếu quả
thật vì lòng từ
bi, cứu vật
thì đối với
giới Bồ-tát
tuy không trái phạm,
nhưng
đối với
pháp của Tỳ-kheo
vẫn phải
y luật kiết
tội. Luận
rằng: Nơi
thâm tâm của Bồ-tát
còn muốn thay thế
cho tất cả
chúng sanh, nhận lấy
cái khổ nơi
địa ngục,
đâu không thể
nhận lấy
cái khổ do sự
trị phạt
của Tăng?
Thảng như
tự xưng
là Ðại sĩ,
mà không tuân hành quy chế
của Tăng
thì đã chẳng
phải là Tỳ-kheo
mà cũng chẳng
phải là Bồ-tát.
GIỚI BỔN:
Tỳ-kheo
nào, nơi làng xóm, hoặc
nơi rừng
vắng, lấy
vật không cho với
tâm trộm cắp;
tùy theo sự lấy
vật không cho
ấy mà vua hay Ðại
thần của
vua, hoặc bắt,
hoặc giết,
hoặc trói, hoặc
đuổi
khỏi nước,
hoặc khiển
trách: “Ngươi là kẻ
trộm, ngươi
là kẻ ngu, ngươi
là kẻ không biết
gì.” Tỳ-kheo
ấy là kẻ
Ba-la-di không được sống
chung.
NGUYÊN DO:
Ðức
Phật du hóa nơi thành La-duyệt,
trong núi Kỳ-xà-quật.
Lúc bấy giờ,
trong thành có một
vị Tỳ-kheo,
con của người
thợ
đồ sứ,
tên là Ðàn-ni-ca, cất
một thảo
am nơi chỗ rừng
vắng. Vị
Tỳ-kheo
ấy
đi vào trong thôn khất
thực, trẻ
nhỏ quơ
củi dỡ
thảo am
ấy
đem về
chụm.
Sau đó, vị
Tỳ-kheo kia trộn
đất làm thành một
ngôi nhà bằng
đất, lấy
củi và phân bò nung chín. Ngôi nhà
ấy sắc
đỏ như lửa.
Phật cấm
không cho làm nhà hoàn toàn bằng
gạch màu sắc
đỏ. Nếu làm, phạm
tội Ðột-kiết-la.
Ðức Phật ra lệnh
cho các Tỳ-kheo
đến
đập phá ngôi nhà
ấy. Tỳ-kheo
Ðàn-ni-ca lại lừa
dối nói với
người giữ
cây gỗ của
nước Ma-kiệt-đà
để lấy
gỗ quý lưu
trữ của vua Bình-sa. Ðại
thần tâu với
vua, vua nghĩ:
Không nên vì một ít
tài vật mà dứt
mạng sống
của người
xuất gia, chỉ
quở trách rồi
đuổi
đi. Các quan thì
không bằng lòng,
cư sĩ
thì cơ hiềm.
Hàng Tỳ-kheo thiểu
dục, nhân
đây bạch Phật,
Phật quở
trách rồi kiết
giới.
GIẢI THÍCH:
Tùy bất
dữ thủ
pháp (tùy theo pháp không cho mà lấy),
tức là tùy theo
pháp tắc của
nhà vua quy định lấy
vật không cho, xử
trị như
thế nào. Pháp của
nhà vua lúc bấy giờ là: Nếu
lấy năm tiền,
hay lấy vật
trị giá
đủ năm
tiền thì bị tội
tử hình.
Luật
Thập tụng nói:
Một
đồng trị giá bằng
một phần
mười sáu của
đồng tiền.
Luật
nhiếp nói:
Năm
ma-sái, một ma-sái
có 80 bối xỉ.
TƯỚNG TRẠNG
CỦA TỘI
Lấy
rời khỏi chỗ
thì phạm tội
Ba-la-di. Chuẩn bị
để lấy mà chưa
được, phạm
tội Thâu-lan-giá, lấy
gần năm
tiền phạm
Thâu-lan-giá, lấy
không được phạm
Ðột-kiết-la.
Dạy người
lấy, dạy
người tìm,
đồng như
trước. Phương tiện
dạy người
tìm năm tiền
trở lên, nhưng
người
được dạy,
lấy vật
khác, hay lấy chỗ
khác, người lấy
phạm Ba-la-di, còn
người dạy phạm
Thâu-lan-giá. Nếu
người
được dạy
không có tâm trộm cắp
mà lấy
được trên năm tiền
thì người lấy
không có tội, người dạy
phạm Ba-la-di. Nếu
người
được dạy
với tâm
ăn trộm,
lấy
được năm
tiền trở lên thì phạm
Ba-la-di, còn người
dạy không phạm bổn
tội.
Vật
có chủ hay tưởng là có chủ,
không cho mà lấy năm
tiền trở
lên, phạm Ba-la-di. Gần
năm tiền
trở xuống,
phạm Thâu-lan-giá.
Nghi là có chủ, lấy
năm tiền
trở lên thì phạm
Thâu-lan-giá. (Nếu
theo bộ Căn
bản thì cũng
phạm tội
Ba-la-di). Gần năm
tiền trở
xuống phạm
Ðột-kiết-la
(dựa vào bộ
Căn bản
thì cũng phạm Thâu-lan-giá). Không có chủ, tưởng
là có chủ và nghi
là có chủ mà lấy năm
tiền trở
lên thì phạm
Thâu-lan-giá, gần năm
tiền trở
xuống phạm
Ðột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni
phạm Ba-la-di. Ba
chúng nhỏ phạm
Ðột-kiết-la,
diệt tẫn.
Trường hợp
không phạm là: tưởng
là cho, tưởng của
mình, tưởng là phấn
tảo (vất
bỏ), nghĩ
rằng tạm lấy,
ý tưởng là của
người thân hữu,
và lúc đầu chưa
chế giới
v.v.... thì không phạm.
(Phần thứ
ba
nói: Ý tưởng thân hậu
‘bạn thân’ có bảy
yếu tố
để tạo
thành người bạn
thân đem lại
lợi ích và lòng từ
mẫn. Bảy
pháp là:
- Vật
khó cho có thể cho.
- Việc
khó làm có thể làm.
- Việc
khó nhẫn có thể
nhẫn.
- Việc
bí mật nói cho
nhau.
-
Không bươi móc
nhau.
- Gặp
khổ không bỏ
nhau.
-
Nghèo nàn không khinh dể.)
Căn
bản tạp sự
nói:
Phàm là
người thân hữu,
là người có thể giao phó
đời mình cho họ.
Người
ấy có 5 yếu
tố:
- Có lòng thương
yêu nhau.
- Càng gần càng vừa
lòng.
- Tôn trọng lẫn
nhau
- Xa lâu nhớ nhau.
- Bạn dùng vật
của mình, lòng sanh
vui mừng.
Phần thứ
tư
nói:
Với
tâm trộm cắp,
vì người,
đem
vật phải
chịu thuế
của họ
qua khỏi cửa
ải quan thuế,
trị giá
đủ
năm tiền,
phạm Ba-la-di. Nhiều
Tỳ-kheo bảo
một người
lấy vật
của kẻ
khác, lấy
được
năm tiền,
nhưng tất
cả mỗi
người
đều
phạm tội
Ba-la-di. (Vì dùng tâm trộm
cắp lấy
vật của
người
đủ
5 tiền, lìa khỏi
chỗ cũ).
Ðối với
địa phương
kia, vật
được
trị giá là 5 tiền,
nhưng
đến
địa phương
này trị giá dưới
5 tiền vẫn
phạm tội
Ba-la-di. Ðối với
địa phương
kia vật
được
trị giá dưới
5 tiền, nhưng
đến
địa
phương này trị
giá trên 5 tiền, phạm Thâu-lan-giá. Biết
người
đó
với tâm trộm
cắp, sai mình lấy
vật của
người, trước
đó thì chấp
thuận, nhưng
sau
ăn năn
không thực hiện,
thì phạm Ðột-kiết-la. Muốn
ăn trộm
áo của người,
nhưng nhầm
lấy áo của
mình, thì phạm Thâu-lan-giá. Kẻ trộm
kia lấy vật,
mình cưỡng
đoạt lấy
vật của
kẻ trộm
đó, phạm
Ba-la-di. Lấy lần
trước, lấy
lần sau khác nhau
cộng
lại
đủ
5 tiền, phạm
Ba-la-di.
Ăn trộm
đất, nước,
trái cây, rau cải v.v... tính
đủ 5 tiền,
hoặc mình tự
thọ dụng,
hoặc khiến
cho nó bị tổn
giảm, tất
cả
đều
phạm Ba-la-di.
Trường hợp,
người Ðàn-việt có hai
đứa bé
khôn ngoan dạn dĩ,
một hôm, ngài Tất-lăng-già-bà-ta
đến,
đứa bé liền
đến ôm chân, chạy
quanh mừng giỡn.
Sau đó, kẻ
trộm bắt
đem
đi, cha mẹ
nó đến nơi Tôn giả
khóc kể, nghĩ
rằng Tôn giả
bắt con họ. Tôn giả
dùng Thiên nhãn thấy
em bé trong thuyền
của bọn
giặc. Tôn giả
liền dùng thần
thông bắt
đem về
cho cha mẹ nó. Các
Tỳ-kheo cơ
hiềm Tôn giả
về vấn
đề này. Phật
hỏi Tôn giả
dùng tâm gì để bắt
em bé. Tôn giả trả
lời: Dùng lòng từ
bi chứ không có tâm
trộm cắp.
Phật dạy:
Không phạm tội.
Luật Tăng
kỳ nói:
Trường hợp
Tỳ-kheo trên
đường
đi, bị bọn
cướp cướp
đoạt,
hoặc bọn
cướp ít, Tỳ-kheo
nhiều, hoặc
bọn giặc
giấu vật
vừa cướp
được
đến chỗ
khác. Vị Tỳ-kheo
này nếu chưa
nghĩ là vật
của mình
đã mất,
rồi
đoạt
lấy lại, thì không tội.
Nếu
đã nghĩ
vật của mình
đã mất
rồi
đoạt
lấy lại,
thì thành bọn giặc, cướp
của bọn giặc.
Lại nữa, hoặc
bọn giặc
thuận
đường
đi, gần
đến xóm làng, sắp
sửa
đem vật
ra chia, Tỳ-kheo
theo xin lại
được thì không tội.
Hoặc dùng thế lực
khủng bố
khiến cho giặc
trả lại cũng
không tội. Hoặc
báo cáo cho người
chủ tụ
lạc, dùng phương
tiện dụ
dỗ, khiến
cho giặc trả
lại, không tội.
Nếu biết
làm như vậy
họ sẽ
giết, sẽ
trói thì không nên báo cáo. Trường
hợp Tỳ-kheo làm vị
Ma-ma-đề (tức
chủ chùa). Tháp (chùa) không có tài sản,
chúng Tăng có tài sản,
bèn nghĩ rằng:
Sở dĩ
trời, người
cúng dường chúng Tăng
đều nhờ
ơn của
Phật, cúng dường Phật
tức là cúng dường
chúng Tăng, bèn
đem của
Tăng tu bổ
Tháp. Vị Ma-ma-đề
này mắc tội
Ba-la-di.
Trường
hợp Tháp có tài vật,
chúng Tăng không có tài
vật,
bèn nghĩ rằng:
Cúng dường Tăng,
Phật cũng
có trong
đó, liền
đem vật
của Tháp cúng dường
cho Tăng. Vị
Ma-ma-đề sử
dụng như
vậy mắc
tội Ba-la-di.
Trường hợp
Tháp không có tài vật,
Tăng có tài vật,
được như
pháp tạm mượn
để dùng, nhưng
cần phải
ghi chép phân minh rằng:
“Khi nào mượn dùng,
khi nào sẽ trả lại”.
Nếu Tăng không có tài vật,
Tháp có tài vật cũng
như vậy.
Khi giao nhận
để mượn
dùng, phải tuyên
đọc văn kiện
rõ ràng trước
chúng, giao nhận
phân minh. Nếu
không tuyên đọc văn kiện
thì phạm tội
Việt tỳ-ni.
Trường
hợp hai Tỳ-kheo có chung tài vật
cần chia, một
trong hai Tỳ-kheo
đó có tâm trộm
cắp lấy hết
về cho mình, trừ
phân nửa của
họ ra, còn phân nửa
của vị
kia, nếu
đủ 5 tiền
thì phạm Ba-la-di.
Nếu người kia
đồng ý cho lấy
thì không tội. Nếu cùng nhau hứa
hẹn
được vật
cùng chia, khi được
vật lại
nói: Mỗi người
đều có lộc
riêng, thì phân nửa
phần trong
đó,
đủ 5 tiền
phạm Ba-la-di. khi nghĩ
như vậy nhưng
vật còn
để nơi
nhà thí chủ thì phạm
Thâu-lan-giá, biết
có thí chủ mà nghĩ như
vậy, mắt
tội Việt
tỳ-ni. Hai Tỳ-kheo phấn
tảo
ước hẹn với
nhau cũng vậy.
Tỳ-kheo coi ngó vật
của Tăng,
cần biết
có vật nên cho, có vật
không nên cho. Thế
nào là nên cho? Vật
có thể làm tổn giảm,
vật có lợi
ích thì nên cho. Sao gọi
là tổn
giảm? Như
có giặc
đến chùa,
đòi hỏi
thức
ăn, thức
uống nếu
không cho thì có thể
bị
đốt chùa, cướp
của, không cho sợ
bị tổn hại,
nên tùy theo đó ít
nhiều cần
phải cho. Tại
sao gọi là có lợi
ích? – Ðối với
thợ nề,
thợ
đào
đất, thợ
vẽ họa
đồ và những
người coi sóc công việc
sửa chữa
phòng ốc của
Tăng thì nên cho bữa
ăn trước,
bữa
ăn sau, dầu
thoa mình và nước uống phi thời
v.v... Nếu vua và
các người có thế lực
lớn nên cho vật
thực, thức
ăn, thức
uống gọi
là có ích thì nên cho.
Có Tỳ-kheo y bát bị
mất, nếu chưa
nghĩ rằng
mình đã mất,
sau biết chỗ,
nên đến
đó tìm cách lấy
lại, nếu
đã nghĩ
rằng mình mất, sau biết
chỗ,
đến tìm cách lấy
lại mắc tội
Việt tỳ-ni,
nếu trước
đã nghĩ
rằng: Sau
đó nếu
biết chỗ
sẽ
đến tìm cách lấy
lại, sau
đó tìm cách lấy
lại
được, như
vậy thì không tội.
Có hai Tỳ-kheo hứa
hẹn nhau: Sẽ
cùng nhau thọ kinh,
sẽ cùng nhau tụng
kinh, sau đó không
thọ kinh, không tụng
kinh, mắc tội
Việt tỳ-ni.
Luật
Căn bản nói:
Khởi
tâm trộm cắp,
chuẩn bị
phương tiện,
mắc tội
ác tác (tức Ðột-kiết-la),
đụng
đến vật
đó phạm
tội Tốt-thổ-la-để-dã (tức
Thâu-lan-giá), đem
khỏi chỗ cũ,
đủ 5 tiền,
phạm Ba-la-thị-ca
(Ba-la-di), không đủ
5 tiền, mắc thô tội
(cũng là
Thâu-lan-giá). Nếu
là vật thuộc
về vật của
súc sanh, chạm
đến vật
đó, phạm
ác tác, rời khỏi chỗ,
đủ 5 tiền,
mắc thô tội,
không đủ 5 tiền,
mắc tội
ác tác.
Luật
nhiếp nói:
Người
thợ săn,
đuổi con vật
chạy vào chùa, dù bị
thương hay không bị
thương, không trả
con vật
ấy lại
cho thợ săn,
không phạm. Nếu
con vật bị
bắn, chạy
vào chùa chết liền, nên trả
lại cho họ.
Nếu
đồng tâm cùng với
giặc, chỉ nơi
chỗ cho họ,
sau đó nhận
phần chia, tùy theo
số lượng
nhận
được mà mắc
tội.
Hỏi:
- Ðây cùng với
dạy người
lấy, có gì sai khác. Thảng
như không nhaän phần,
có phạm tội
chăng?
Ðáp:
- Dạy
người vì mình lấy,
khi vật
ấy lìa khỏi chỗ,
liền thành tội
đối với
mình. Còn chỉ nơi
chốn cho giặc,
khi giặc cướp
được vật
ấy, chưa
chắc họ
đã cho mình, cho
nên phải tùy theo
khi nhận phần mà kết
tội. Song tuy không
nhận phần cũng
mắc tội (phương
tiện Thâu-lan-giá).
Nếu
sau sanh lòng hối hận,
đến nhà người
chủ có vật, báo cho họ
giữ gìn,
đừng
để vật
bị mất, dù bọn
giặc kia lấy
đươïc,
đều mắc tội
phương tiện;
sau tuy có nhận phần cũng
mắc tội Tốt-thổ-la.
Cùng với giặc
đồng
đi, muốn
làm việc trộm
cắp, nhưng
nửa
đường thối
lui, chỉ mắc
tội ác tác.
Ðồng
tâm làm giặc, vì giặc canh chừng,
khi chia vật, nhận
phần thì thành tội.
Vì s