TRÙNG TRỊ TỲ NI
SỰ NGHĨA TẬP YẾU
CỔ
NGÔ – NGẪU ÍCH – Sa-môn TRÍ HÚC giải thích
Việt
dịch: Sa-môn THÍCH ÐỔNG MlNH
Nhuận văn
và chú thích: Sa-môn THÍCH ÐỨC THẮNG
---o0o---
TẬP I
QUYỂN THỨ
2
B. VẤN ÐÁP KHẢI BẠCH
-
Tăng
họp
chưa?
-
Tăng
đã họp
-
Hòa hiệp
không?
-
Hòa hiệp.
-
Người
chưa
thọ
giới
Cụ
túc
đã ra chưa?
-
Người
chưa
thọ
giới
Cụ
túc
đã ra rồi.
(Nếu có thì bảo
họ ra rồi
trả lời
như vậy.
Nếu không thì trả
lời):
-
Trong
đây không có người
chưa
thọ
giới
Cụ
túc.
-
Các Tỳ-kheo
không
đến có thuyết
dục
và thanh tịnh
không?
-
Tỳ-kheo...
thuyết
dục
và thanh tịnh.
(Nếu có người
thuyết dục
thì trả lời
như vậy,
bằng không thì trả
lời):
-
Trong chúng
đây không có người
thuyết
dục
và thanh tịnh.
-
Có ai sai Tỳ-kheo-ni
đến thỉnh
giáo giới
không?
-
Không có Tỳ-kheo-ni
đến thỉnh
giáo giới.
-
Tăng
nay hòa hiệp
để làm gì?
-
Thuyết
giới
Yết-ma.
-
Ðại
đức Tăng
xin lắng
nghe:
Hôm nay là Bạch
(hay Hắc) nguyệt
ngày thứ 15 (hoặc
14) chúng Tăng
thuyết
giới.
Nếu
thời
gian thích hợp
đối với
Tăng,
Tăng
chấp
thuận
hòa hợp
thuyết
giới.
Ðây là lời
tác bạch.
Kiền-độ thuyết
giới
nói:
Ðại
Ca-tân-nậu
ở tại
trú xứ Tiên nhơn,
bên núi Hắc thạch
(trong vườn nai), yên lặng
suy nghĩ, với
ý nghĩ như
sau: “Nay ta nên
đến
thuyết
giới hay không. Ta thường
là người thanh tịnh
bậc nhất”.
Lúc bấy
giờ,
đức Thế
Tôn biết ý niệm
của Ðại
Ca-tân-nậu, nên trong khoảnh
khắc như
người tráng sĩ
co duỗi cánh tay, thoạt
nhiên biến mất
khỏi núi Kỳ-xà-quật, Thế
Tôn hiện
đến
trước mặt
Ca-tân-nậâu, trải
tọa cụ
ngồi. Khi
ấy,
Ca-tân-nậu lễ
sát chân
đức Thế
Tôn, rồi ngồi
qua một bên. Ðức
Thế Tôn biết
mà vẫn hỏi:
“Vừa
rồi
ở nơi
đây, thầy
có nghĩ như
vậy phải
không?”
Ca-tân-nậu
đáp:
“Bạch
Thế
Tôn! Ðúng như vậy”.
Phật
dạy:
“Pháp thuyết
giới, nên phải
cung kính, tôn trọng,
thừa
sự. Nếu
thầy không cung kính Bố-tát,
tôn trọng thừa
sự thì ai là người
cung kính tôn trọng
thừa
sự.
Thầy nên
đến
thuyết giới,
không
được không
đến.
Nên
đi bộ
đến, không nên dùng Thần
túc
đến. Tôi cũng
sẽ
đến”.
Tùy theo mỗi
trú xứ, người
nhiều hay ít, cùng tập
hợp lại
một chỗ
để thuyết
giới. Không hòa hợp
thuyết giới,
phạm Ðột-kiết-la.
Tỳ-kheo
tuổi
nhỏ,
đến
ngày Bố-tát, phải
đến trước
nơi nhà thuyết
giới, lau quét, trải
tọa cụ,
múc
đầy nuớc
nơi bình tịnh
thủy, bình rửa
chân,
đốt
đèn
và
đem thẻ
hành xá-la. (Xá-la Hoa dịch
là trù. Luật
Ngũ
phần nói: Thẻ,
không
được lớn
hơn ngón tay, không
được nhỏ hơn
chiếc
đũa).
Nếu
họ không biết
thì Thượng tọa
phải dạy
họ. Không dạy,
hay không nghe theo lời
dạy,
đều phạm
tội Ðột-kiết-la. Thuyết
giới rồi
nên dọn dẹp.
Nếu
trú xứ
nào chỉ có một
Tỳ-kheo,
đến
ngày Bố-tát nên
đến
nhà thuyết giới,
lau quét... như
trước.
Nếu
có khách Tỳ-kheo
đến, bốn
vị hay trên bốn
vị, trước
nên tác bạch rồi
sau thuyết giới.
Nếu có ba vị,
hai vị, mỗi
một vị,
hướng vào nhau
để
nói:
“Nay ngày thứ
15 (hay 14) Tăng thuyết
giới, tôi... thanh tịnh”.
Nói như
vậy
ba lần. Nếu
có một vị,
nên tâm niệm miệng
nói cũng như
vậy, ba lần.
(Chiếu theo các bộ
khác thì nếu
ba vị
nên nói: Nhị
Ðại
đức
ức
niệm... Nếu
2 vị nên nói: Ðại
đức
ức
niệm).
Không nên phi pháp biệt
chúng, phi pháp hòa hiệp,
và pháp biệt
chúng Yết-ma thuyết
giới. (Giải
thích trong pháp Yết-ma).
Nên nói pháp hòa hiệp
Yết-ma thuyết
giới.
Nếu
Tỳ-kheo có bệnh
và bận việc
của Tam bảo
cho phép dữ dục
thanh tịnh.
Nên nói bằng
lời, hay biểu
hiện nơi
thân tướng
để
dữ dục
thanh tịnh. Nếu
không biểu hiện
nơi thân tướng,
hay không nói thành lời,
không thành dữ dục
thanh tịnh. Trường
hợp người
nhận dục
thanh tịnh rồi,
liền qua
đời
cho
đến bị
diệt tẫn
v.v... Không thành dữ
dục
thanh tịnh; nhưng
nếu ngủ,
vào
định, hoặc
quên không tác bạch,
vẫn
thành dữ dục
thanh tịnh. Nếu
người nhận
dục cố
ý không nói, phạm Ðột-kiết-la. Nếu
không thể thực
hành như vậy,
thì nên dìu Tỳ-kheo bệnh
đến trong Tăng.
Nếu lo sợ
hoặc có thể
bị chết,
tất cả
Tăng nên
đến
chỗ Tỳ-kheo
bệnh, xoay quanh cùng tác
Yết-ma.
Nếu Tỳ-kheo
bệnh nhiều,
có thể tập
hợp lại
một chỗ
càng hay. Trường hợp
không thể làm như
vậy, thì các Tỳ-kheo
nên ra ngoài giới
tác Yết-ma.
Không có phương tiện
nào
được phép biệt
chúng tác pháp Yết-ma.
Không nên xưng sự dữ dục thanh tịnh. Cho phép như pháp Tăng sự dữ dục thanh tịnh. (Xưng sự là nói: Tôi dữ dục việc này, không dữ dục việc kia).
Cho phép nhận
nhiều người
dữ dục,
thanh tịnh.
Người nhận
dục có việc,
cho phép chuyển dữ
dục, thanh tịnh,
nếu xong việc
nên tự
đến.
Khi thuyết
giới, có tám nạn
khởi
đến,
và có các duyên khác, cho phép thuyết giới
lược.
Tám nạn
là: Vua, giặc, nước,
lửa, bệnh,
ác trùng, nhơn, phi nhơn.
Các duyên khác là: Hoặc
đại chúng họp,
chỗ ngồi
chật
- chúng nhiều vị
bị bệnh
- hoặc chỗ
che không
đầy
đủ
gặp trời
mưa, hoặc
việc
đấu
tranh, hoặc ban
đêm
nói pháp
đã khuya, nên Yết-ma
thuyết giới
khi mặt trời
chưa xuất
hiện.
Có 5 cách thuyết
giới:
1) Nói bài tựa,
còn bao nhiêu cáo tri bằng
câu:
Tăng
thường
nghe.
2) Nói bài tựa
và bốn pháp khí (Ba-la-di).
3) Nói
đến
pháp Tăng tàn.
4) Nói
đến
pháp nhị Bất
định. Ngoài ra còn bao
nhiêu, cáo tri bằng
câu: Tăng thường
nghe.
5) Nói từ
bài tựa cho
đến
hết.
Trong 8 nạn,
nạn nào khởi
đến, tùy theo gấp
hay hoãn, gần
hay xa mà thuyết rộng,
hẹp tùy theo
đó.
Nếu không có nạn
duyên thì không
được
nói lược.
Nếu
Tỳ-kheo tâm loạn,
cuồng si, hoặc
nhớ thuyết
giới, hay không nhớ
thuyết giới;
hoặc
đến
hoặc không
đến,
nên tác Yết-ma cuồng
si cho vị
ấy.
Bệnh lành nên giải.
Người
phạm
giới, không
được
thuyết giới,
không
được nghe giới,
không
được
đến
Tỳ-kheo phạm
giới sám hối.
Người phạm
giới không
được
nhận người
khác sám hối, như
pháp
đã sám hối
rồi, sau mới
thuyết giới.
Trường
hợp
khi
đang thuyết
giới, Tỳ-kheo
hoặc biết
có tội hoặc
trong tâm nghi ngờ,
nếu
hướng
đến
chúng nói thì sợ
ồn
ào, nên nói với Tỳ-kheo
ngoài gần, hoặc
tâm niệm rằng:
Phải sám hối
tội
ấy
như pháp khi Bố-tát
xong. Nghĩ như
vậy mới
được phép nghe giới.
Nếu
tất
cả Tăng
đều phạm,
hoặc sanh nghi, nên
đến
Tỳ-kheo khách thanh tịnh
sám hối, quyết
nghi, sau
đó mới
thuyết giới.
Nếu không có Tỳ-kheo
khách
đến, nên sai hai, ba người
đến trú xứ
Tăng thanh tịnh
gần nhất
để quyết
nghi sám hối, rồi
trở về
trú xứ. Tỳ-kheo
trong trú xứ hướng
đến hai, ba vị
ấy sám hối,
sau
đó mới
thuyết giới.
Nếu gần
đó không có Tăng
thanh tịnh, nên tác bạch
phổ
đồng
sám hối, sau
đó
mới thuyết
giới. Nếu
không biết tội
danh, tội tướng,
đợi có Tỳ-kheo
khách trì luật
đến
cầu hỏi
cho rõ rồi như
pháp sám hối.
Hỏi:
- Phổ
đồng sám hối,
pháp thức thế
nào?
Ðáp:
- Một người
tác bạch, rồi
mỗi người
tự cải
hoán thân tâm. Sau
đó
gặp
Tỳ-kheo thanh tịnh,
vẫn cần
phải phát lồ
sám hối
để
trừ tội.
Nếu
Tỳ-kheo
khách nghe thấy
trong trú xứ
có Tỳ-kheo cựu
trú (ở lâu) nên tìm mời
đến
để
tác pháp Yết-ma. Nếu
không tìm, hay tìm không
được,
mà tác pháp liền, hoặc
không mời tác pháp,
đều
không thành Yết-ma, thì mắc
tội. Nếu
tìm không
được, bèn kêu tác pháp
liền,
cũng không thành Yết-ma,
nhưng không mắc
tội. Tỳ-kheo
cựu trú
đối
với khách cũng
vậy. (Tìm tòi khắp
nơi gọi
là tìm. Cao giọng
xướng
kêu gọi là hoán).
Không nên
đối
trước Tỳ-kheo-ni
cho
đến người
chưa thọ
Ðại giới
tác Yết-ma và ngăn
thuyết giớ