Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Giới Luật


...... ... .

 

NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2001

 

TOÀN TẬP

 

TÂM NHƯ TRÍ THỦ

--- o0o ---

 

 

TẬP I

 

PHÁP MÔN TỊNH ÐỘ

LỜI NÓI ÐẦU

(CHO TẬP SÁCH TỊNH ĐỘ)

 

Giáo pháp của Đức Bổn Sư hiện được lưu truyền khắp thế giới gồm có nhiều pháp môn. Ở nước Việt Nam ta phổ biến nhất duy chỉ có pháp môn Tịnh độ. Pháp môn này cơ hồ như lấn át luôn cả Thiền tông là pháp môn chính truyền từ phái Tỳ ni đa lưu chi cho đến Tổ Thiệt Diệu Liễu Quán.

Hiện nay, trong từ các đại đức tăng ni, ngoài đến tín đồ hội viên các hội Phật giáo cư sĩ, không ai là không thực hành pháp môn này. Thậm chí các đơn vị Phật giáo ở cấp xã thôn tại Trung Việt đều lấy hai chữ ‘tịnh độ’ đặt tên chung cho đơn vị.

Nhân thấy nơi nơi đều thực hành pháp môn tịnh độ, để cho ý nghĩa và phương pháp hành trì pháp môn này được thêm sâu rộng và để góp phần công đức cao dày, tôi phỏng theo quyển ‘Tịnh pháp khải thuật’ soạn ra sách này hầu mong giúp các Phật tử sơ cơ hiểu rõ thêm cái pháp môn vi diệu mà mình đang thực hành.

Sách này gồm tám yếu điểm ở ba bộ kinh: Thập lục quán, Vô lượng thọ Phật thuyết A Di Đà do chính kim ngôn đức Thích Tôn dạy, và một bộ luận là Luận Vãng sanh do ngài Bồ tát Vô Trước soạn. Về đời nhà Tùy có ngài Lô Sơn tức Tổ sư Huệ Viễn, dựa vào ba kinh và một luận nói trên mà lập tông Tịnh độ. Từ bấy giờ tông này không ngớt bành trướng và lan khắp các nước Phật giáo ở miền Đông Á.

Vậy trong tòa nhà Tịnh độ mà hiện nay quí vị đang kiến tạo, họa đồ là của đức Bổn sư, gạch ngói và công xây dựng là của quí Phật tử, tôi nguyện xin góp vào đó một ít đường mật cho vôi gạch chóng ăn nhau hầu mong tòa nhà sớm thành tựu.

Có đạt được sở nguyện cỏn con ấy không là tùy lượng quí Phật tử hưởng ứng nhiều hay ít. Riêng soạn giả tự cho là đã làm xong một việc đáng làm.

Soạn giả cẩn chí.

THÍCH TRÍ THỦ, 1961.

 

CHƯƠNG I

Ý NGHĨA TỊNH ÐỘ

 

A- SAO GỌI LÀ TỊNH ÐỘ?

Tịnh độ là chỉ cho quốc độ trang nghiêm tịnh khiết an tịnh quốc, độ ấy tối thiểu phải có những điều kiện về nhân dân và thổ địa như sau:

a) Về nhân dân (Chánh báo)

1)     An lạc vô bệnh

2)     Thọ mạng lâu dài

3)     Thân tướng đẹp đẽ

4)     Không có sự bất bình đẳng về giàu nghèo, sang hèn.

5)     Tâm tánh nhu hòa, đạo đức cao thượng.

6)     Ðạo tâm kiên cố

7)     Mọi người đều do hóa sanh mà có, không do thai sanh là kết quả của dâm dục ô trược.

8)     Không có sự sai khác về nhở lớn, già trẻ, mạnh yếu.

9)     Không dơ bẩn ô uế.

10)Tâm trí phóng khoáng, thông đạt.

11)Hết luân hồi trong lục đạo.

12)Ðủ sáu món thần thông.

13)Ðầy đủ huệ nhãn, chánh kiến.

Mười ba món trang nghiêm thanh tịnh trên đây thuộc phần chúng sanh thế gian (Chánh báo)

 

b) Về thổ địa (Y báo)

1)     Ðất đai bằng phẳng đầy châu ngọc trong suốt, không có khe hố núi gò lởm chởm và ao rãnh sông ngòi hủng hê.

2)     Không có các nạn thiên tai như lụt bão, sấm sét, đại hạn, địa chấn, gây ra mất mùa đói rét.

3)     Bầu trời luôn luôn quang đãng, không cần ánh sáng mặt trời mặt trăng hay đèn nến.

4)     Tất cả vật dụng luôn luôn mới mẻ, không vỡ, không hư, không mục nát, không cũ nhớp.

5)     Phong cảnh xinh tươi, cây hoa đẹp đẽ lầu gác mỹ lệ, không cần nhọc công kiến trúc trang hoàng mà tự nhiên hiện thành.

6)     Khí trời luôn luôn mát mẽ.

7)     Âm nhạc nhiệm màu hòa tấu tự nhiên hay ngưng tùy theo sở thích người nghe.

8)     Không có động vật nào khác, ngòai loài người, trừ sự biến hóa của Phật.

9)     Hồ nước trong thơm ngọt ngào; cạn sâu ấm mát tùy từng sở thích.

10)Cảnh vật tiếp xúc gây được khoái cảm nhẹ nhàng mà không làm chao động đạo niệm.

11)Bảy báu và vật dụng tự nhiên thành tựu để cung ứng đầy đủ mà không cần đến sức người.

12)Không có các sự trần lao phiền não.

13)Không có nạn nhân mãn, mặc dù dân số vãng sanh mỗi ngày mỗi tăng.

14)Nhân dân sống trong thái bình an lạc, không có tà ma ngoại đạp bức hiếp.

 

Mười bốn món trang nghiêm thanh tịnh thứ hai này thuộc phần “khí thế gian” (Y báo).

Có đầy đủ cả hai phầùn “chúng sanh thế gian” và “khí thế gian” trang nghiêm thanh tịnh như thế mới được gọi là Tịnh độ.

B- CÁC CÕI TỊNH ÐỘ TRONG MƯỜI PHƯƠNG.

Trong mười phương hư không có vô lượng vô số quốc độ với những trạng huống khổ vui ngàn sai muôn khác. Nguyên nhân thành tựu các quốc độ sai khác ấy tuyệt đối không do một sức thần thánh nào khác hoặc một sự ngẫu nhiên nào tạo thành.

Quốc độ tuy nhiều, nhưng khái quát có thể chia hai loại:

1)     Quốc độ do cộng nghiệp của chúng sanh duyên khởi. Cộng nghiệp ấy cảm thành quốc độ y báo chung, để chúng sanh tùy từng biệt nghiệp thiện hay ác mà thọ quả báo hoặc vui hoặc khổ.

2)     Quốc độ do Phật và Bồ tát hiện ra để dùng làm chốn đạo tràng độ sanh.

Loại trước gọi là uế độ. Vì nguyên nhân trong quá khứ, chúng sanh làm điều phước đức ít, mà gây điều tội ác nhiều nên cảm báo thành quốc độ vui ít khổ nhiều

Loại sau thành Tịnh độ. Vì nguyên nhân tạo nên quốc độ này là do sức phước hệ của Chư Phật Bồ tát, sức gia trì của bốn tâm vô lương: Từ, bi, hỷ, xả. Thêm vào các nguyên nhân ấy lại có tăng thượng duyên là công đức tu tập của chúng sanh hồi hướng nguyện sanh về các cõi ấy. Có sự cảm ứng đạo giao giữa nội nhơn và ngoại duyên ấy liên hệ với nhau nên mới duyên khởi quốc độ trang nghiêm thanh tịnh thuần vui không có khổ nhơn tội báo xen vào

Trong mười phương thế giới có vô số uế độ nhưng cũng có vô số Tịnh độ. Trong các uế độ, thế giới Ta bà của chúng ta mới chỉ là một. Nếu chúng ta tưởng rằng chỉ có một uế độ này thôi thì đó là một sự đại lầm lẫn. Cũng như trong các Tịnh độ, thế giới Cực lạc của Ðức A Di Ðà cũng mới chỉ là một. Nếu không hiểu rằng giữa hư không vô tận còn có vô lượng Tịnh độ khác của Chư Phật, đó lại cũng làm một sự đại lầm lẫn khác nữa.

Trong ba bộ kinh nói về Tịnh độ sở dĩ Ðức Phật chỉ chuyên nói về thế giới Cực lạc là chỉ vì một lý do sẽ nói sau. Ngoài ra trong kinh “Dược sư lưu ly bản nguyện công đức”. Ngài còn nói đến cõi Tịnh độ Tịnh lưu ly của Ðức Dược sư Như Lai; trong kinh “Ðại Bửu tích” Ngài còn nói đến cõi Tịnh độ Diệu hỷ của Ðức Bất Ðộng Như Lai; hay trong kinh “Di Lặc thượng sanh” Ngài còn nói đến cõi Tịnh độ Ðâu Suất của Ðức Di Lặc Bồ tát. Tuy nhiên, đó cũng chi mới sơ lược kể qua vài ba cõi mà thôi. Kỳ thật, trong mười phương thế giới có hằng hà sa số chư Phật thì cũng có hằng hà sa số cõi Tịnh độ. Những chúng sanh nào được sanh về Tịnh độ ấy đều do nhơn duyên riêng và tại mỗi cõi đều có phương pháp tu hành khác nhau, phù hợp với từng nhơn duyên. Tu  hành y theo Phật pháp nào thì đến khi thuần thục sẽ được vãng sanh về cõi Tịnh độ đó. Phương pháp tu hành cầu vãng sanh Tịnh độ thì được gọi làphép tu Tịnh độ.

Các cõi Tịnh độ trong mười phương có nhiều vô lượng mà pháp tu cũng có nhiều vô số. Vậy ai theo phương pháp của cõi nào cũng đều có thể tùy nguyện được vãng sanh ở cõi ấy.

Ở đây riêng đối với thế giới Cực lạc Tây phương, Ðức Phật đặc biệt tán thán và giới thiệu một cách tường tận hơn cả là vì chúng sanh ở nõi này, lòng tham dục quá nặng, đức tin quá yếu nên tâm chí loạn động; trong tình trạng đó, nếu giới thiệu nhiều cõi Tịnh độ quá thì sợ khó thành tựu. Cho nên, chỉ đặc biệt nói nhiều về một cõi Tây phương Cực lạc, khiến nghe chuyên nhất tập trung ý chí hướng về một mối mới ghi nhớ dễ dàng và thâu hoặch có hiệu quả.

C- CÁC LOẠI TỊNH ÐỘ SAI KHÁC

Tịnh độ hay uế độ tuy hình như thuộc ngoại cảnh nhưng sự thật thì đều do nhứt tâm biến hiện. Chư Phật khi lấy diệu dụng của tịnh thức biến hiện ra Tịnh độ, vì tác dụng có sai khác nên danh nghĩa Tịnh độ cũng tùy đó mà có sai khác.

Căn cứ vào Tây phương Hiệp luận đã ghi chép thì Tịnh độ có 10 loại không đồng nhau:

1)     TỶ LÔ GIÁ NA TỊNH ÐỘ

Tỷ lô giá na tức là pháp thân của Chư Phật. Hán dịch là Biến nhứt thế xứ (nghĩa là cùng khắp nơi chốn). Cõi tịnh độ này bất luận ở đâu cũng hóa hiện được, vì ở  đâu cũng có vô lượng hóa Phật. Ðây cũng tức là báo độ của chư Phật.

2)     DUY TÂM TỊNH ÐỘ

Loại Tịnh độ này tùy tâm biến hiện. Tâm uế thì quốc độ uế, tâm tịnh thì quốc độ tịnh. Như trong kinh Duy Ma Cật dạy: “Trực tâm là Tịnh độ của Bồ tát; khi Bồ tát thành Phật những chúng sanh trung trực đều vãng sanh về cõi ấy... Nếu Bồ tát muốn được quả Tịnh độ phải tịnh lòng mình; tùy lòng mình tịnh thì cõi Phật tịnh.”

Ðó là nghĩa của Duy tâm Tịnh độ.

3)     HẰNG CHƠN TỊNH ÐỘ

Hằng chơn Tịnh độ tức như cảnh giới mà Ðức Phật đã thị hiện trên hội Linh Sơn để hướng dẫn hàng tam thừa quyền giáo Bồ tát,  cho họ biết rằng ở cõi này tuy ô uế nhưng cũng chính là cõi thanh tịnh vậy. Trong kinh chép rằng trên hội Linh Sơn, các đệ tử hỏi Phật vì sao cảnh giới của Ngài hiện đương sống lúc bấy giờ (núi Linh thứu) lại cũng ô uế bất tịnh, thế thì nhơn địa tu hành của Ngài cũng bất tịnh chăng? Phật liền lấy ngón chân ấn xuống đất, cảnh uế độ liền biến thành trang nghiêm thanh tịnh.

Như vậy cảnh hằng chơn Tịnh độ này là một cảnh hằng thường, nhưng biến hiện tùy theo nghiệp nhơn của chúng sanh mà thấy có tịnh hay có uế.

4)     BIẾN HIỆN TỊNH ÐỘ

Biến hiện Tịnh độ là do sức gia cảm của Phật mà có biến hiện. Như trong kinh Bát nhã nói Ðức Phật dùng thần lực biến  thế giới này thành một thế giới như ngọc lưu ly, có đủ   bảy báu trang nghiêm và hoa sen rải khắp mặt đất. Cảnh giới ấy tức là cảnh giới mà Ðức Phật tạm thời  biến hiện để cho chúng ta thấy rằng bản lai diện mục của uế độ tức cũng chính là Tịnh độ vậy.

5)     KÝ BÁO TỊNH ÐỘ

Luận Khởi Tín chép rằng: “Khi Bồ tát hoàn mãn công đức, sanh lên cung trời Sắc Cứu Kính thì hiện ra thân tướng rất cao lớn. Trước khi bổ xứ kế vị thành Phật, Bồ tát tạm ký thác báo thân ở dó một thời gian, nên gọi là cung trời ấy là Ký báo Tịnh độ”, như cung trời Ðâu Suất của đức Bồ tát Di Lặc hiện an trú trước khi bổ xứ thành Phật.

6)     PHÂN THÂN TỊNH ÐỘ

Theo kinh Niết bàn. Phật bảo Ương Quật rằng: “Ngươi không biết rằng ta đã an trú trong thực tại vô sanh. Nếu ngươi không tin, cứ qua Ðông phương hỏi Ðức Phật ở đấy tên gì thì Ngài tự giới thiệu: “Thích Ca là ta”!

Không có gì đáng ngạc nhiên cả, vì nên biết rằng pháp thân của Phật đã an trú trong thực tại vô sanh thì đức Phật ở Ðông phương hay ở cùng khắp mười phương đều cũng chỉ là phân thân của một đức Phật mà thôi vậy.

7)     Y THA TỊNH ÐỘ

Kinh  Phạm Võng: “Nay ta là Lô Xá Na ngồi trên đài sen gồm có ngàn hoa. Trên ngàn hoa ấy lại thị hiện ngàn thân Thích Ca. Mỗi hoa lại bién thành trăm ức cõi Phật và trong mỗi cõi lại hiện ra một Thích Ca”.

Các cõi được thị hiện như vậy nên gọi là báo thân tha thọ dụng (hiện báo thân cho người khác thọ dụng) mà chỉ có Ðăng địa Bồ tát mới thấy. (Ðăng địa nghĩa là đã lên từ nhứt địa tới thập địa)

8)     THẬP PHƯƠNG TỊNH ÐỘ

Thập phương Tịnh độ là các cõi Tịnh độ trong mười phương. Như ở Ðông phương thì có các cõi Tịnh độ của đức Phật A Súc, Ðức Phật Dược Sư, Ðức Phật Tu Di Ðăng Vương... Nam phương Tịnh độ của Ðức Phật Nhật Nguyệt Ðăng..., Thượng phương có cõi Tịnh độ của Ðức Phật Hương Tich v.v...

Mỗi Ðức Phật đều an trú trong một cõi Tịnh độ thanh tịnh trang nghiêm không còn có cấu trần.

9)     NHỨT TÂM TỊNH ÐỘ

Loại Tịnh độ này nương nơi tâm mà biến hiện và tùy theo công năng tu chứng cao thấp nên có phân ra bốn bực không đồng.

a)     Phàm Thánh đồng cư Tịnh độ

Ðây là quốc độ của hàng nhị thừa và nhơn thiên. Nhị thừa là Thánh; nhơn thiên là Phàm. Thánh phàm cùng ở chung nên gọi là  Phàm Thánh đồng cư, lại vì tính chất tịnh uế không đồng mà có chia thành hai thứ. Như cõi Ta bà là đồng cư uế độ; cõi Cực lạc là đồng cư  Tịnh độ.

b)     Phương tiện hữu dư Tịnh độ

Ðây là cảnh giới an trú của hàng tiểu thừa. Hàng tiểu thừa nhờ đoạn được phiền não của kiến hoặc và tư hoặc nên thoát ra khỏi tam giới. Kiến hoặc là sự mê lầm về kiến thức, tư hoặc là sự mê lầm về tư tưởng. Trên con đường tu chứng, đoạn trừ kiến hoặc và tư hoặc chỉ là mới đạt được phương tiện chứ chưa đạt được cứu cánh. Còn cần  phải tiến lên nữa và phải đoạn hai món mê lầm là Trần sa hoặc là sự mê lầm cội gốc do căn bản vô minh gây nên. Ðoạn kiến hoặc và tư hoặc chỉ là mới đạt được phương tiện, nên hành giả còn phải tu tiến thêm nữa; vì vậy gọi là phương tiện hữu dư. Hữu dư nghĩa là còn sót, chưa rốt ráo.

c)     Thật báo vô chướng ngại Tịnh độ.

Ðây là cảnh giới an trú của các vị đại Bồ tát. Các vị đại Bồ tát nương theo pháp chơn thật mà tu hành cảm được quả báo thù thắng chơn thật; sắc giới (vật chất) cũng như tâm giới (tinh thần) không còn gây chướng ngại đối với  Bồ tát nên gọi là thật báo vô chướng ngại. Cảnh giưói của các vị Bồ tát đã tu chứng.

d)     Thường tịch quang Tịnh độ

Ðây cũng tức là cảnh giới đại Niết bàn của  Chư Phật an trú. Thể tánh của cảnh giới anỳ thường vắng lặng mà vẫn thường quang minh vì do trí huệ của Phật hằng thường tỏa chiếu cùng khắp. Vì thế nên gọi là thường tịch quang độ. Thường tịch nghĩa là thường vắng lặng, thường quang nghĩa là thường soi sáng.

10)BẤT KHẢ TƯ NGHÌ TỊNH ÐỘ

Bất tư nghì Tịnh độ tức là cảnh giới Cực lạc của Ðức Phật A Di Ðà để thâu nhiếp, tiếp nhận chúng sanh trong mười phương. Sức thâu nhiếp ấy không thể nghĩ bàn, vì ngoài sức tư tưởng và luận bàn của chúng sanh.

Ðây là chỉ đứng về nghĩa thù thắng của cảnh giới Cực lạc mà nói, chứ sự thật thì tất cả các cõi Tịnh độ trong mười phương đều có công năng thâu nhiếp tiếp nhận và đều có tác dụng bất khả tư nghì như thế.

Tóm lại 10 cảnh Tịnh độ trên này tuy có sai khác nhau về danh từ, nhưng cùng đồng nhất tâm biến hiện, vì cõi Tịnh độ nào cũng đều lấy sự thâu tiếp nhận chúng sanh bất khả tư nghì làm căn bản. Cho nên, nói một cõi tức gồm đủ cả bốn cõi: đồng cư, phương tiện, thật báo và tịch quang. Sự lập danh sai khác chẳng qua là tùy theo mỗi phương tiện mà thôi.

Ở đây chỉ riêng chú trọng về cõi Tịnh độ Cực lạc của Ðức Phật A Di Ðà là vì cõi ấy rất có quan hệ mật thiết với chúng ta, như Ðức Thích Ca đã dạy.

Vì vậycõi Cực lạc Tịnh độ là mục tiêu chính để chúng ta tập trung tất cả lực lượng tư tưởng vào đó. Nếu thật chứng được một cõi Tịnh độ thì bao nhiều cõi Tịnh độ khác cũng đều chứng được.

 

CHƯƠNG II

PHẠM VI CÕI CỰC LẠC

TIẾT MỘT

Y BÁO VÀ CHÁNH BÁO TRANG NGHIÊM

 

Kinh Vô lượng thọ chép rằng: Ðức Phật A Di Ðà khi còn đương làm Tỳ kheo. Tỳ kheo Pháp Tạng nhắm mục đích trang nghiêm cõi Tịnh độ để dễ giáo hóa các loài hữu tình, nên đã từng xin với Ðức Phật Thế Tự Tại dạy cho biết tướng trạng (hình thức) vào nội dung 210 ức quốc độ của Chư Phật. Nghe xong, Ngài lại yêu cầu biến hiện cho thấy để y cứ vào đó mà tham khảo làm ấn tượng trong khi tu hành.

Sau khi thấy nghe tường tận bao nhiều cảnh giới quốc độ Chư Phật, Tỳ kheo Pháp Tạng mới bắt đầu vận hết tinh thần tu nhơn “tạo quốc độ”. Trải 5 kiếp tư duy nhiếp thủ. Ngài mới thành tựu thế giới Cực lạc.

Xét kỹ về mặt kiến lập, các thế giới trong mười phương đều do cộng nghiệp của chúng sanh tạo thành vào đều chỉ do thức biến hiện, tất cả đều nương bên ngoài in tuồng như có, nhưng sự thật thì chỉ do nội thức biến chuyển, nghĩa là đều quy về nhứt tâm cả. Ở dây Chư Phật là những bậc đã tịnh hóa được tâm thức, dùng tâm thức thanh tịnh ấy mà biến hiện thì tạo thành Tịnh độ. Nếu chúng sanh nhứt tâm niệm Phật tức là gieo chánh niệm vào tịnh thức của Phật, như đổ một chậu nước vào biển cả. Nước chậu dung hòa vào biển cả. Nước chậu dung hòa với nước biển, cùng chung một hương vị. Cũng thế, khi chúng sanh đã sinh vào quốc độ của chư Phật, y báo và chánh báo của chúng sanh cũng trở thành trang nghiêm như Phật và cũng sẽ được dung thông vô tận vậy.

Bây giờ, chúng ta thử tìm hiểu vì sao Ngài Tỳ kheo Pháp Tạng phải trải qua năm kiếp tư duy nhiếp thủ mới hoàn thành được cảnh giới Cực lạc. Ta hãy cử một thí dụ cho rõ nghĩa: thí dụ về cách tạo nhơn để thành tựu một cây bửu thọ.

Ngài Pháp Tạng Tỳ kheo trong lúc tu quán, tập trung tư tưởng ào một khoảng hư không. Trong khoảng hư không ấy vốn không có gì hết, nhưng Ngài tưởng tượng ra một cây bửu thọ gốc vàng, cành bạc, nhánh lưu ly, chồi thủy tinh, lá san hô, hoa mã não, trái xà cừ, sự tưởng tượng như thế gọi là tư duy. Khi tư duy đã thuần thục, cây bửu thọ đã hoàn thành, Ngài nắm lấy tư tưởng ấy không phóng xả; cây bửu thọ ấy cũng sẽ do đó mà vĩnh viễn tồn tại!

Bấy giờ Ngài mới mong ý muốn cho cây bửu thọ “chết” ấy thoát khỏi trạng thái tỉnh để trở nên sống động: Muốn nó nở hoa kết quả, nó liền nở hoa kết quả; muốn nó phát ra thanh âm, nó liền phát ra thanh âm.v.v... Cứ y như thế mà hành trì thì gọi là nhiếp thủ nghĩa là thu hoạch và giữ lấy.

Ðối với cây bửu thọ kia, chỉ có Phật nhãn mới biết cây bửu thọ nó là hư huyễn không thật, kỳ dư chúng sanh trong chín cõi khác, kể từ địa ngục sắp lên và Bồ tát sắp xuống hết thảy đều thấy cây bửu thọ là thật có. Chúng sanh dùng mắt mà trông thì nó có sắc thật; dùng thân mà sờ thì nó có chất thật; dùng mũi mà ngữi thì có mùi thật; dùng lưỡi mà nếm thì nó có vị thật; dùng ý mà suy nghĩ thì nó có hình dáng thật. Sở dĩ có cảm giác như thật ấy vì sự cấu tạo cây bửu thọ đã hoàn thành rồi.

Lấy sự tạo thành của một cây bửu thọ đơn cử ra đây chẳng qua là để làm thí dụ cho ta hiểu rằng sự hoàn thành cả cõi Tịnh độ đòi hỏi công phu và thời gian lâu dài đến bực nào. Ở thế giới Cực lạc không riêng gì một cây này mà tất cả sự vật, hình hình sắc sắc ngàn sai khác, thảy đều có một nguồn gốc tạo thành giống như thế cả.

Còn lý do khiến Ngài Pháp Tạng Tỳ kheo phát tâm tu tập tư duy nhiếp thủ để tạo cảnh giới Tịnh độ là cốt nhằm xây dựng một chốn đạo tràng thanh tịnh trang nghiêm để tiếp độ chúng sanh. Ngài đã vận hết tinh thần trải qua năm đại kiếp mới thành tựu xong. Ðến nay, thế giới Cực lạc là nơi quy túc (về nghỉ) của chúng ta về sau. Sanh về đó là nấc thang thoát ly sanh tử luân hồi để cho chúng ta bước lên đường cứu kính giải thoát. Vậy xem đó, chúng ta có thể ý niệm được lòng từ bi vô hạn của Ðức Phật A Di Ðà đối với chúng sanh là nhường nào vậy.

Phật học chia quả báo làm hai loại: quả báo hiện trong tự thân là chánh báo, quả báo hiện ngoài tự thân, như hoàn cảnh, quốc độ và tất cả sự vật chung quanh là y báo.

Sự tôn nghiêm của y báo và chánh báo ở cõi Cực lạc đại khái đều có chép trong ba bộ kinh dạy về pháp môn Tịnh độ (Vô Lượng Thọ, Thập Lục Quán và A Di Ðà) nhưng trong ba mộ kinh ấy cũng mới giải bày một cách khái quát mà thôi, và những điều của ba bộ kinh ấy trình bày chẳng qua cũng chỉ như một giọt nước so với bể cả mênh mông! Nếu nói cho rõ ràng đầy đủ, tưởng e cùng kiếp mãn đời cũng không bao giời nói hết được.

Tuy không tài nào diễn tả được hết, nhưng đại phàm “trăm nghe không bằng một thấy”, người tu hành nếu kiên cố nhất tâm niệm Phật, trong tương lai được vãng sanh Tịnh độ rồi, khi tự thân mình đã an trú trong cảnh giới đó, tất nhiên tự mình trong thấy rõ ràng khỏi cần ai thuyết giáo nhiều lời.

Trong khi chờ đợi một sự thân chứng đích xác hơn, bây giờ ta hãy tạm y cứ vào kinh điển để biết một cách khái lược về trạng thái trang nghiêm của thế giới Cực lạc .

a) Chánh báo trang nghiêm

Chánh báo trang nghiêm gồm có các chi tiết lược kê như sau:

1) Thân tướng trang nghiêm. Nhân dân trong cõi Tịnh độ, thân sắc vàng, có đủ 32 tướng tốt, hình mạo giống nhau, không kẻ đẹp người xấu, dung sắc vi diệu, cao lớn khôi ngô, vô cùng xinh đẹp.

2) Thọ mạng vô hạn. Sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp (a tăng kỳ kiếp = vô số), tự chủ hoàn toàn, tùy theo bản nguyện.

3) Có phép thần thông. Từ thiên nhãn (thấy suốt tất cả) đến thiên nhĩ thông (nghe suốt tất cả), tha tâm thông (biết suốt tâm niệm kẻ khác), túc mạng thông (biết rõ kiếp trước), thần túc thông (đi lại tự tại); nếu chứng được quả vị A La Hán còn được lâu tận thông (dứt sạch nghiệp luân hồi)

4) Thường an trú trong chánh định. Tâm trí luôn luôn an định, không bị hoàn cảnh chi phối tán động.

5) Không còn đọa vào ác đạo. Ðã sanh Tịnh độ thì không bao giời còn bị sa đọa vào ba đường dữ tại: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

6) Hoa sen hóa sanh. Nhân dân ở Tịnh độ đều hóa sanh từ hoa sen mọc ở hồ bảy báu; tuyệt nhiên không do ái dục giữa nam và nữ và thành.

7) An vui thanh tịnh. Thân tâm được an lạc như các vị Tỳ kheo đã chứng quả A La Hán (lậu tận không).

8) Không còn có tên bất thiện. Ở cõi Tịnh độ không còn có gì được gọi là bất thiện; danh từ bất thiện cũng không có, huống nữa là sự bất thiện.

9) Ðạo tâm bất thoái. Ðược sanh về cõi Tịnh độ, tâm niệm luôn luôn dũng mãnh tinh tấn, một mạch thẳng tiến đến đạo quả vô thượng Bồ đề, không còn thoái chuyển.

10) Trí tuệ biện tài. Ðọc tụng kinh văn thọ trì giáo pháp một cách tinh tế và có đủ biện luận vô ngại.

11) Ðược vô sanh nhẫn. Chứng được quả vô sanh pháp nhẫn tức là phá trừ hết ngã chấp và pháp chấp, đạt được chân trí, và chơn trí ấy xứng hợp với chơn lý; lý và trí không hai.

12) Oai lực tự tại. Có đủ năng lực lớn lao và thần thông tự tại như các bậc Thanh văn và Bồ tát đủ năng lực nắm tát cả thế giới vào trong lòng bàn tay.

13) Thân sáng chói lọi. Hàng Thanh văn thần thì chiếu sáng được một tâm: hàng Bồ tát thì thân chiếu sáng được từ một trăm do tuần cho đến tam thiên đại thiên thế giới.

14) Vô số Thanh văn trong hội đầu tiển Ðức Phật A Di Ðà đã giáo hóa, số chúng sanh chứng quả Thanh văn không thể kể xiết. Số Bồ tát cũng vậy. Về số lượng Thanh văn và Bồ tát chứng quả này. Ðức Thích Ca bảo cho Ngài A Nan hay rằng: “Có sức thần như Mục Kiền Liên và dùng sức thần thông ấy trải qua trăm ngàn muôn ức vô số kiếp, cũng không thể biết được số lượng Thanh văn Bồ tát chứng quả trong đại hội đầu tiên của Ðức A Di Ðà giáo hóa: dù cho có biết được một phần nào mà nếu đem so với số chưa biết được thì cũng không khác nào một giọt nước so với biển cả.”

15) Vô số bổ xứ Bồ tát. Ở quốc độ Cực lạc, chúng sanh đều bất thoái chuyển: trong sô bất thoái chuyển đó, số người sẽ bổ xứ “bổ xứ = sắp thành Phật” không thể đếm hết được.

b) Y Báo trang nghiêm (1)

Y báo trang nghiêm gồm có các chi tiết lược kê như sau:

1) Quốc độ bằng phẳng thanh tịnh: Toàn quốc không có bụi nhơ, không có núi Tu Di và các non gò đống khác; cũng không có biển lớn biển nhỏ mênh mông hoặc khe ngòi hang hố trập trùng.

2) Mặt đất do bảy báu tạo thành: Ở quốc độ Cực lạc, ngọc lưu ly rải khắp mặt đất, xen lộn với bảy báu, trong suốt từ trong ra ngoài. Dưới đáy đất có đế bằng vàng, kim cang và thất bảo chống đỡ đất lưu ly. Xung quanh đế, trong tám phương có tám góc; mỗi góc khảm bằng chất thất bảo; mỗi thứ trong thất bảo chiếu ra trăm ngàn ánh sáng có tám vạn bốn ngàn màu sắc chói sáng rực rỡ lên mặt đất lưu ly có dây chuyền vàng bủa giăng, xen lộn với thất bảo, tạo thành những ranh giới ngay thẳng phân minh, rộng rãi bao la mênh mông bát ngất, tráng lệ thanh kỳ, trang nghiêm tuyệt diệu!

3) Khí hâu ôn hòa: Khí hậu không lạnh không nóng mát mẻ quanh năm, không phân chia bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông.

4) Lưới báu bủa giăng: Vô lượng lưới báu giăng khắp cõi Phật. Dây giăng toàn bằng vàng, kết tủa bằng ngọc trân châu, xen lẫn với trăm ngàn thứ ngọc báu khác xinh đẹp lạ lùng. Chung quanh bốn phía lưới có treo các linh báu khác xinh đẹp lạ lùng. Chung quanh bốn phía lưới có treo các linh báu sáng ngời chói lọi vô cùng tráng lệ. Mỗi khi gió dịu thổi qua, linh báu phát ra vô lượng phất âm khiến chúng sanh ở đấy, hễ nghe tiếng linh thì tự nhiên sanh tâm niệm Phật, niệm Phật, niệm Tăng.

5) Sáu thời mưa hoa: Ngày đêm chia sáu thời có gió dịu phảng phất; đồng thời từ trên trời, hoa mạn đà la rơi xuống cùgn khắp bờ cõi thơm tho mát dịu. Mỗi lần mưa hoa, chân bước xuống lún bốn tất, như đi trên nệm gấm nhưng theo bước chân dở lên, lớp hoa lại hợp liền lại như cũ. Tuần tự trước sau, hoa ấy héo dần rồi biến mất, mặt đất trở lại sạch sẽ. Ngày đêm có sáu lần cảnh tượng ấy diễn đi diễn lại như thế.

6) Sen báu đầy dẫy: Các thứ hoa sen báu mọc lên cùng khắp cả cõi Phật. Mỗi một hoa sen báu lại có trăm ngàn ức cạnh. Từ các cạnh, sức chói sáng của hoa ánh ra vô lượng màu sắc. Sắc xanh phóng ra hào quang xanh; sắc trắng phóng ra hào quang trắng; các sắc huyền, vàng, đỏ, tía, mỗi mỗi đều phóng một loại hào quang riêng vô cùng rực rỡ chói lọi, lấn áp cả ánh sáng mặt trời.

7) Hóa Phật thuyết pháp: Từ mỗi hoa sen báu tuôn ra ba mươi sáu trăm ngàn ức hào quang: trong mỗi hào quang hiện ra ba mươi sáu trăm ngàn ức đức Phật, lại phóng ra vô số hào quang chiếu khắp mười phương và nói pháp nhiệm màu cho mười phương nghe.

8) Cây đạo tràng của Phật: Cây đạo tràng của Ðức Phật A Di Ðà là do các báu hợp thành. Ngoài lại dùng trân châu mã não trang sức thêm. Chung quanh cây, trên các nhánh lớn cành con, các thứ chỗi ngọc treo lỏng thỏng, tỏa ra trăm ngàn vạn sắc tân kỳ. Trên cây đạo tràng, lưới báu xinh đẹp bủa giăng; hết thảy đều trang nghiêm và tùy ý ứng hiện.

9) Cây báu phát âm thanh: Vô số cây báu mọc cùng khắp cõi Tịnh độ. Có cây chỉ do một ngọc báu tạo thành, có cây do hai, ba cho đến bảy loại ngọc báu xen lẫn nhau mà đúc lên. Các loại cây báu ấy mọc từng hàng ngang nhau, trổi từng cánh đối nhau, đâm từng nhánh so nhau lá lá hướng với nhau, hoa hoa giao với nhau, trái trái tương đương nhau, xanh tươi xinh đẹp không thể tả xiết. Khi một làn gió nhẹ thoảng qua, từ cành lá, từ hoa, từ quả mỗi mỗi đều phát ra năm thứ thanh âm hòa những như trăm ngàn điệu nhạc hòa tấu một cách tự nhiên. Nhạc điệu du dương tuyệt diệu hơn gấp trăm ngàn muôn ức lần tiếng nhạc của cung trời Lục dục và phát ra vô lượng thanh âm mầu nhiệm. Nghe tiếng nhạc ấy rồi chúng sanh liên lần lượt chứng nhập giáo pháp sâu xa, tiến lên bậc bất thoái, tiến mãi cho đến khi thành tựu qủa  Phật. Nghe tiếng nhạc ấy rồi thì tai trở nên thanh tịnh không còn các khổ hoạn, mắt trông thấy thấy được sắc cây, mũi ngửi được hương cây, miệng nếm được vị cây, thân tiếp xúc được ánh sáng của cây tỏa ra, ý suy nghĩ hình dáng của cây. Sáu căn đã lãnh hội được hoàn toàn cây báu rồi thì liền đó ngộ được thậm thâm pháp nhẫn mà lên bậc bất thoái. Từ đó mãi cho đến khi thành đạo quả, không còn có sự não hại và lực căn luôn luôn được thanh tịnh.

10) Muôn vật nghiêm lệ: Hết thảy muôn vật đều trang nghiêm thanh tịnh, sáng suốt xinh đẹp, hình sắc đặc biệt và lộng lẫy một cách vi diệu, không thể tả xiết.

11) Không có ba đường dữ : Không có các khổ nạn của ba cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.

12) Cung điện trang nghiêm: Hết thảy nhà cửa như giảng đường tịnh xá, cung điện, lầu gác tự nhiên thành tựu và đều trang hoàng bằng bảy thứ báu. Trên nhà cửa cung điện còn có giăng phủ một lớp mặt võng làm bằng các thứ báu trân châu, ma ni, minh nguyệt. Lại nữa nhà cửa cao thấp rộng hẹp, lớn nhỏ và được xây cất bằng một, hoặc hai, hoặc vô lượng thứ báu, hết thảy đều tùy sở nguyện mà liền có ứng hiện.

13) Quốc độ thanh tịnh: Quốc độ thanh tịnh trong suốt như một thế giới pha lê, chiếu tỏa khắp mười phương, khiến từ đó có thể trông thấy được vô lượng vô biên vô số thế giới của Chư Phật bất khả tư nghì.

14) Hồ tắm trong thơm: Nước trong các hồ tắm yên lặng trong suốt, bản chất thanh tịnh mùi vị thơm tho như nước cam lồ và có đầy đủ tám tính chất gọi là “bát công đức thủy.” Nếu là hồ hoàng kim thì dưới đáy là cát bạch ngân; nếu là hồ bạch ngân thì dưới đáy là cát vàng; nếu hồ là thủy tinh thì dưới đáy là cát lưu ly; nếu hồ là lưu ly thì dưới đáy là cát thủy tinh; nếu hồ là san hô thì dưới đáy cát là hổ phách; nếu hồ là hổ phách thì dưới đáy là cát san hô; nếu hồ là xa cừ thì dưới đáy cát là lưu ly; nếu hồ là lưu ly thì dưới đáy cát là xa cừ; nếu hồ là bạch ngọc thì cát dưới đáy là vàng tía; nếu hồ là vàng tía thì cát dưới đáy là bạch ngọc. Các nhóm báu ấy còn thay đổi tùy theo ý muốn: hoặc do hai thứ báu, hoặc do ba, bốn cho đến bảy thứ báu mà hợp thành hồ.

15) Nước hồ lên xuống tùy nguyện: Nhân dân ở quốc độ Cực lạc, mỗi khi bước chân xuống hồ, mực nước lên xuống cao thấp đều theo ý nguyện. Cũng tùy theo ý nguyện mà nước hồ có ấm lạnh một cách tự nhiên. Tắm xong, tinh thần thấy sảng khoái và tẩy trừ hết tâm cấu nhiễm. Mỗi khi bước xuống tắm bốn phía bờ hồ có tiếng sóng vỗ lao xoa như một điệu nhạc, phát ra tiếng niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng tiến tịch tịnh xa vắng, tiếng vô ngã, tiếng đại từ bi, tiếng ba la mật. Những tiếng phát ra như vậy rất xứng hợp với người nghe và khiến người nghe sanh tâm hoan hỷ vô lượng.

16) Hương xông ngào ngạt: Từ mặt đất lên đến hư không, hết thảy cung điện, lầu gác hồ sen, cây hoa v.vv... Cho đên tất cả vạn vật đều xông ướp trong trăm ngàn thứ hương thơm, kết hợp do vô lượng tạp bảo đặc biệt. Hương ấy tỏa khắp mười phương thế giới; Bồ tát ngửi thấy mùi hương liễu dũng mãnh tu theo hạnh Phật.

17) Thức ăn tinh khiết: Thức ăn gồm các thứ hương hoa vô cùng tinh khiết và thù thắng hơn cả cảnh trời. Khi muốn ăn, chén bát thất bảo tự nhiên hiện ra với trăm thức ăn uống đầy đủ. Cách ăn không như ở cảnh giới chúng ta,mà chỉ bằng tác ý và bằng mắt thấy tai nghe, tức thời tự nhiên bảo mãn. Ăn xong, thức ăn tiêu hóa; đến giờ ăn sau những thức ăn mới lại tự nhiên hiện ra như trước.

18) Y phục tùy niệm: Y phục của nhân dân tùy niệm tùy hiện, không cần may, cắt, giặt, nhuộm.

19) Chim biết thuyết pháp: Các thứ chim ở cõi này đều là hóa thân của  Ðức A Di Ðà. Ngài biến hóa ra các thứ chim tạp sắc kỳ diệu như bạch hạc, khổng tước, anh võ, xá lợi, ca lăng tầng già, cọng mạng, chim phù, chim nhạn, chim oan ương v.vv... ngày đêu sáu thời, kêu tiếng hòa nhã. Tiếng ấy giảng giải pháp ngũ căn, ngũ lực, bảy phẩm bồ đề, tám pháp chánh đạo v.vv... khiến người nghe đều phát tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

 

 

TIẾT HAI

48 LỜI NGUYỆN

Như trong một đoạn trước đã nói, Ðức Phật A Di Ðà, trong thời làm thầy Tỳ kheo. Lấy pháp danh là Pháp Tạng. Pháp Tạng Tỳ kheo, sau khi được nghe giảng về quốc độ thanh tịnh của Chư Phật, liền đến quỳ trước Ðức Phật Thế Tự Tại Vương, phát 48 lời đại nguyện cứu độ chúng sanh. Bốn mươi tám lời đại nguyện ấy có ghi chép trong kinh Quán Vô Lượng Thọ. Tinh thần các lời thề nguyện thật là bao la bát ngát. Ở đây chỉ riêng trích những lời có liên hệ mật thiết với sự tu hnàh của chúng ta, hầu giúp chúng ta có sự quan cảm và sách lệ trên bước đường tu tập. Một khi chúng ta đã rõ được phần nào ân đức rộng rãi bao la của Phật, chúng ta há lại không nỗ lực tinh tấn để khỏi phụ lòng từ bi vô hạn của Phật ư?

Nguyện thứ nhất: Trong nước không có ba ác đạo

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà trong quốc độ còn có ba ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.”

Nguyện thứ 2: Người trong nước khi thọ chung không còn đọa ba ác đạo

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà thiên nhơn trong quốc độ sau khi thọ chung còn đọa lạc vào ba ác đạo.

Nguyện thứ 3: Người trong nước đều toàn sắc vàng.

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà thiên nhơn trong quốc độ không được sắc vàng như chơn kim”.

Nguyện thứ 4: Người trong nước đều có hình tướng xinh đẹp giống nhau.

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà thiên nhơn trong quốc độ còn có hình tướng kẻ đẹp người xấu không đồng”.

Nguyện thứ 5: Người trong nước đều được túc mạng thông.

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà nhân dân trong quốc độ không chứng được túc mạng thông, không biết suốt trăm ngàn ức kiếp về trước.

Nguyện thứ 6: Người trong nước đều được thiên nhãn thông.

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà nhân dân trong quốc độ không chứng được thiên nhãn thông, không thấy suốt được trăm nghìn muôn ức quốc độ Chư Phật trong mười phương”.

Nguyện thứ 7: Người trong nước đều được thiên nhĩ thông

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà thiên nhơn trong quốc độ không chứng được thiên nhĩ thông, không nghe suốt trăm ngàn muôn ức lời thuyết pháp Chư Phật trong mười phương và không thọ trì được tất cả lời thuyết pháp”.

Nguyện thứ 8: Người trong nước đều được tha tâm thông

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà thiên nhơn trong quốc độ không chứng được tha tâm thông, không hiểu suốt tâm trí kẻ khác cùng là tâm niệm chúng sanh trong trăm ngàn muôn ức quốc độ của Chư Phật”.

Nguyện thứ 9: Người trong nước đều được thần túc thông.

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà thiên nhơn trong quốc độ không chứng được thần túc thông, không bay khắp trăm ngàn muôn thế giới Chư Phật trong khoảng một niệm.”.

Nguyện thứ 15: Người trong nước thọ mạng vô lượng và đều tự tại trong sự sống chết.

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà nhân dân trong quốc độ không được sống lâu vô lượng và không được sống chết tự tại tùy theo bản nguyện riêng.

Nguyện thứ 18: Chúng sanh trong mười phương chỉ tu phép thập niệm cũng đủ được vãng sanh.

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật, có chúng sanh trong mười phương một lòng tin tưởng tôi, hằng ngày đêm niệm mười lần tên hiệu tôi để cầu vãng sanh Cực lạc mà đến khi lâm chung chẳng đặng như nguyện.

Nguyện thứ 19: Chúng sanh trong mười phương phát nguyện vãng sanh Cực lạc đều được tiếp đón.

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật, có chúng sanh trong mười phương phát tâm bồ đề, tu hành các món công đức, cầu được vãng sanh Cực lạc mà đến khi họ lâm chung, tôi và đại chúng Bồ tát không phóng quang hiển hiện ra trước mắt để tiếp dẫn họ về nước Cực lạc”.

Nguyện thứ 20: Chúng sanh trong mười phương hồi hướng công đức đều được vãng sanh Tịnh độ.

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật trong mười phương, nghe đến danh hiệu tôi, tưởng nghĩ đến quốc độ tôi, làm các việc công đức để hồi hướng nguyện vãng sanh về nước cực lạc mà không được như nguyện”.

Nguyện thứ 21: Người trong nước đều có đủ 32 tướng tốt

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà nhân dân trong quốc độ không có đủ 32 tướng tốt của trượng phu”.

Nguyện thứ 27: Vạn vật trong nước tôi đều trang nghiêm, thanh tịnh, sáng suốt, đẹp đẽ vô lượng vô biên.

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà tất cả vạn vật trong quốc độ, thân tướng không trang nghiêm thanh tịnh, không sáng suốt đẹp đẽ và hình sắc không thù thắng đặc biệt, không tinh vi huyền diệu. Giá có chúng sanh dù đã chứng được thiên nhãn đi nữa, vẫn không thể biện biệt hết số lượng của vạn vật trang nghiêm ấy”.

Nguyện thứ 31: Quốc độ thanh tịnh chiếu khắp các thế giới

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà quốc độ không thanh tịnh không soi suốt mười phương vô lượng vô số bất khả tư nghì thế giới Chư Phật như gương sáng trong suốt mọi vật.

Nguyện thứ 32: Tạp bảo cung điện ngọt ngào hương xông

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà cung điện, lầu gác, cây hoa, cũng như tất cả vạn vật trong quốc độ không ngào ngạt trăm ngàn hương thơm do vô lượng tạp bảo chung cộng hợp thành, xông ngát từ mặt đất lên đến hư không. Hương thơm ấy phải kỳ diệu hơn tất cả hương trời, tỏa khắp mười phương thế giới và sẽ khiến Bồ tát ngửi thấy đều dũng mãnh tu theo hạnh Phật”.

Nguyện thứ 34: Chúng sanh trong mười phương nghe được danh tự Phật đều chứng được vô sanh pháp nhẫn.

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà các loại chúng sanh trong mười phương vô lượng bất khả tư nghì thế giới của chư Phật nghe đến danh tự tôi, mà không chứng được vô sanh pháp nhẫn của Bồ tát cùng là các phép tổng trì thâm diệu”.

Nguyện thứ 35: Nữ chuyển thành Nam

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật có những người nữ trong mười phương vô lượng bất khả tư nghì thế giới chư Phật chán ghét thân phụ nữ nghe đến hiệu tôi, phát tâm Bồ đề. Hoan hỉ tin tưởng, cầu xã bỏ than phụ nữ mà đến lúc thọ chung vẫn không xả bỏ được thân phụ nữ.

Nguyện thứ 38: Y phục của nhân dân tùy niệm liền hiện, khỏi cần phải cắt may giặt nhuộm.

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà nhân dân còn có người cần phải cắt may giặt nhuộm mới có quần áo, chứ không tùy niệm liền hiện như lời Phật tán thán: Diệu phục đúng pháp, tự nhiên để đắp lên trên mình”.

Nguyện thứ 39: Người trong nước an lạc như hàng lậu tận.

Nguyện rằng: “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu khi tôi thành Phật mà nhân dân trong quốc độ không hưởng thọ an lạc như các hàng lậu tận Tỳ kheo”.

Hai mươi mốt lời nguyện trọng yếu trong số 48 đại nguyện lược trích trên đây quan hệ mật thiết vô cùng đối với chúng ta. Hai mươi bảy lời nguyện còn lại chỉ riêng liên quan với các hàng đại Bồ tát nên đối với chúng sanh chưa phải là nhu cầu cần thiết. Vì vậy nên ở đây nên miễn nói đến. Ai muốn biết tường tận xin hãy xem trong kinh Quán Vô Lượng Thọ.

Trong mỗi lời nguyện đều có câu “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác.” Xin lưu ý rằng đó là một điều quan trọng. Không thủ ngôi chánh giác là từ chối quả vị Phật, không chịu làm Phật để riêng an hưởng thường, lạc, ngã, tịnh một mình, trong khi chúng sanh trong quốc độ còn đau khổ. Lời nguyện vừa hợp tình, vừa xứng lý, vừa quảng đại bao la, thể hiện được hoàn toàn cả một trời đại bi thăm thẳm khó thể nghĩ bàn.

Trong kinh “Phật thuyết A Di Ðà”, Ðức Thích Ca dạy rằng: Ðức Phật A Di Ðà thành Phật đã từ mười kiếp rồi và 48 lời đại nguyện của ngài đã được thực hiện hoàn toàn viên mãn. Nếu không như thế, Ngài quyết không chịu thành Phật.

Ðọc lại các lời đại nguyện của Ðức Phật A Di Ðà trên đây, ngay trong hàng tín đồ rất có thể có kẻ móng tâm bán tin bán nghi. Mà bán tin bán nghi là lẽ thường tình, và chính ngay Ðức Phật Thích Ca cũng đã tiên đoán như vậy khi Ngài dạy rằng đây là mọt “nan tín chi pháp”, khó thể nghĩ nghì. Nhưng chúng ta hãy xét rằng người quân tử ở thế gian không còn bao giời dám nói sai lời, huống hồ là Ðức Phật, đấng đầy đủ phước đức trí huệ, muôn hạnh vẹn toàn. Vì vậy, chúng ta phải thật lòng chí thành thâm tín. Có thâm tín mới quyết nghi và chỉ khi nào quyết nghi được, thì muôn hạnh muôn đức mới phát sanh ra. Kinh dạy: “Nghi tắc hoa bất khai” nghĩa là hễ còn ngờ vực thì hoa không nở. Dù công hạnh nhiều đến đâu mà lòng thâm tín chưa kiên cố thiết tha thì khó có kết quả.

Ta cũng nên lưu ý thêm rằng các đại nguyện trên đây đều thuộc trách nhiệm riêng của Phật. Duy có ba điểm 18, 19 và 20 thì cả đôi bên, Ðức Phật và người tu đều liên đới chịu trách nhiệm. Ðại nguyện thứ 18 nói rằng người tu hành dù chỉ đều đều xưng danh hiệu Ngài mười lần mỗi ngày (tu phép thập niệm), cũng được vãng sanh. Nếu không được vãng sanh, ấy là trách nhiệm của Ngài. Nhưng nếu ta không chí tâm tin tưởng và không giữ được phép thập niệm đều đặn mỗi ngày thì đó là lỗi của ta. Hai đại nguyện 19 và 20 kế tiếp liền đó cũng bao hàm cái ý kiến liên đời trên trách nhiệm như thế cả.

Nếu chúng ta nhứt tâm tin tưởng, dũng mãnh thực hành ba sự kiện: niệm danh hiệu, nguyện vãng sanh và hồi hướng tất cả công đức để cầu sanh Tịnh độ, tức là chúng ta đã làm xong nhiệm vụ. Việc đáng làm, cần làm, chúng ta đã làm. Kỳ dư bao nhiêu điều khác hoàn toàn do trách nhiệm của Ðức Phật A Di Ðà tất cả.

Nói tóm lại, pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh độ đặt căn cứ trên hai yếu tố cơ bản: đức từ bi quảng đại của Chư Phật và lòng ưa muốn thiết tất cả chúng sanh, trên dưới giao cảm nhau, nương tựa nhau mà có khai hoa kết trái. Khi sự giao cảm tương duyên đã thắm thiết đậm đà đến mức không còn ranh giới của giao cảm nữa tất nhiên trong nhơn tướng, quả thể đã hiện bày một cách cụ thể. Ðến lúc ấy, nhân cũng tức là quả, mà quả cũng tức là nhân. Hiện tiền, kết quả đã có thể chứng nghiệm được, lo gì lúc lâm chung không được vãng sanh lạc quốc! Sự quan trọng chỉ cốt ở chỗ đức tin có vững không. Lòng tin đã thắm thiết chưa và sự thực hành có thường xuyên và đúng đắn không? Tất cả chánh yếu của vấn đề là tại chỗ đó mà thôi.

Hơn nữa, pháp môn niệm Phật còn hàm súc một đạo lý rất vi diệu thậm thâm và còn có nhiều tác dụng bất khả tư nghì, chứ không phải đơn giản như người thường hay lầm lẫn. Chính Ðức Thích Ca đã than rằng đây là một pháp “nan tín” mà đây cũng là một pháp có diệu dụng bất khả tư nghì nhất.

 

 

TIẾT BA

BA BẬC VÀ CHÍN PHẨM VÃNG SANH

 

Với pháp môn niệm Phật, bất luận là bậc Ðại đức thông tam tạng hay là hạng độn căn tối dạ một chữ không học, hễ cứ nhất tâm chuyên niệm, dứt trừ được các mối nghi thì thảy đều được vãng sanh, không bỏ sót một ai. Sỡ dĩ thành tựu được toàn vẹn như thế là vì sự vãng sanh không chỉ riêng tự lực mà đưon độc thành tựu. Phải còn nhờ Phật lực nhiếp thọ. Phầnnày là phần quan trọng có ảnh hưởng đều, ai cũng như ai. Nhưng tuy cùng vãng sanh như nhau, song vì sự bất tề về trí thức và công hạnh nên phẩm vị cao thấp bất đồng có khác biệt nhau.

Sự bất đồng về phẩm vị theo kinh Ðại Bổn nói có ba, theo Quán Kinh nói có chín. Ba hay chín, tuy có khác nhau ở con số, nhưng so về ý nghĩa không có gì là chênh lệch. Một bên nói phớt lờ về đại cương, một bên đi sâu vào chi tiết chẳng qua là sự sai biệt vì tường tận hay khái lược mà thôi.

Sự phân chia ra ba bậc chín phẩm đại khái được quy định như sau:

Ba phẩm bậc trên dành riêng cho hàng xuát gia ly dục thanh tịnh, nhờ đọc tụng đại thừa, thâm giải đệ nhất nghĩa đế (chơn lý tuyệt đối), rộng tu các công đức.

Ba phẩm bậc trung dành cho hàng chúng sanh phụng trì trai giới, hồi hướng công đức, hiếu dưỡng cha mẹ, tu các nhơn lành ở đời, chuyên niệm danh hiệu Phật.

Ba phẩm bậc dưới dành cho hàng chúng sanh biết sám hối tội lỗi sau khi đã lỡ lầm, biết tinh tấn tu theo phép thập niệm. Cả ba đều cùng lấy sự phát Bồ đề tâm làm động cơ căn bản.

Sau đây xin căn cứ theo kinh Quán Vô Lượng Thọ, lược giải chín phẩm vãng sanh:

A-    SANH VỀ BA PHẨM TRÊN (thượng)

1-PHẨM THƯỢNG THƯỢNG

a)Hành động trong lúc sanh tiền

Dấy động từ tâm không sát hại sinh vật, cụ túc cá giới hạnh, đọc tụng kinh điển Ðại thừa. Tưởng niệm 6 phép tu hành (tưởng niệm Phật, tưởng niệm Pháp, tưởng niệm Tăng, tưởng niệm bố thí, tưởng niệm giới hạnh, tưởng niệm phước đức) hồi hướng công đức, phát nguyện cầu sanh Tịnh độ. Tròn đầy các công đức ấy rồi thfi từ 1 đến 7 ngày sẽ được vãng sanh.

b)Trạng huống lúc lâm chung

Ðức Phật A Di Ðà, Ðức Quán Thế AÂm, Ðức Ðại Thế Chí cùng các đấng Hóa Phật và Thánh chúng, tay nâng đài kim cang đến trước người hành giả, Phật và Bồ tát đều phóng hào quang chiếu khắp thân hình hành giả, đưa tay tiếp dẫn tán thán công đức và khuyến khích tinh tấn. Hành giả hoan hỷ bước lên đài kim cang,tùy hành theo Phật và Thánh chúng. Trong khoảnh khắc, vãng sanh Cực lạc.

c) Kết quả sau khi vãng sanh

Sau khi vãng sanh về cõi Tịnh độ rồi, thấy được rừng cây áo báu, khắp nơi Phật và Bồ tát, sắc tướng trang nghiêm hiện ra diễn thuyết pháp mầu. Nghe xong, liền ngộ vô sanh pháp nhẫn. Trong chốc lát, dạo khắp mười phương, phụng sự hằng sa chư Phật. Theo thứ lớp được thọ ký, chứng đặng vô lượng pháp môn tổng trì rồi trở về quốc độ mình tùy nguyện hóa độ chúng sanh.

2. PHẨM THƯỢNG TRUNG

a)Hành động trong lúc sanh tiền

Chưa thọ trì đọc kinh điển Ðại thừa, chưa hiểu rõ thâm nghĩa, nhưng đối với chơn lý đệ nhất nghĩa đế, lòng không kinh động. Ðã thâm tín nhơn quả, không hủy báng Ðại thừa, đem công đức ấy hồi hướng cầu sanh Cực lạc.

b)Trạng huống lâm chung

Ðức Phật A Di Ðà và toàn thể Thánh chúng, tay nâng đài vàng đến trước hành giả, tỏ lời tán thán công đức khuyến tu học lý đệ nhất nghĩa của Ðại thừa. Hành giả ngồi lên đài vàng chắp tay tán Phật, trong khoảnh khắc liền sanh Tịnh độ.

b)Kết quả sau khi vãng sanh

Ở trên đài vàng như hoa sen lớn một đem hoa nở để lộ ra một thân tướng sắc vàng. Hành giả nghe các âm thanh thuần nói pháp đệ nhất nghĩa rất sâu xa. Trải qua bảy ngày, không thoái chuyển Bồ đề tâm, liền sau đó bay đi khắp mười phương, lễ bái Chư Phật, tu các pháp tam muội. Qua một kiếp, chứng được vô sanh pháp nhẫn và được thọ ký thành Phật.

            3. PHẨM THƯỢNG HẠ

            a)Hành động trong lúc sanh tiền

Tin nhân quả, không hủy báng đại thừa, có phát đạo tâm vô thượng, đem công đức ấy hồi hướng cầu sanh Tịnh độ.

b)Trạng huống lúc lâm chung

Thấy Ðức Phật A Di Ðà, Ðức Quán AÂm, Ðức Ðại Thế Chí cùng 500 hóa Phật đến rước, đồng thanh tán rằng: “Pháp tử! người đã phát đạo tâm vô thượng nên nay chúng ta đến rước người”. Hành giả thấy mình ngồi trên đài hoa sen vàng. Ngồi xong, hoa búp lại, theo Phật và Bồ tát vãng sanh trong ao sen thất bảo....

c)Kết quả sau khi vãng sanh

Ngồi trong hoa sen được một ngày đêm thì sen nở. Sau khi 7 ngày mới thấy tướng tốt của Phật nhưng chưa rõ lắm. Sau 21 ngày, mắt mới thấy tỏ tướng đồng thời tai cũng nghe tiếng thuyết pháp. Rồi cũng chu du khắp mười phương để nghe Chư Phật nói các pháp nhiệm mầu. Trải qua 3 tiểu kiếp, chứng được bách pháp minh môn an trú ở địa vị Hoa hỷ (tức là sơ địa Bồ tát)

 

B- SANH VỀ BA PHẨM BẬC GIỮA (trung)

4. PHẨM TRUNG THƯỢNG

a)Hành động trong lúc sanh tiền

Thọ trì ngũ giới, tu bát quan trai giới, giới đức Thanh tịnh, không tạo nghiệp ngũ nghịch, không phạm các lỗi lầm, đem các công đức ấy nguyện vãng sanh Cực lạc

b)Trạng huống lúc lâm chung

Khi gần lâm chung, thấy Ðức Phật A Di Ðà cùng Thánh chúng phóng hào quang sắc vàng đến trước mặt hành giả. Tai nghe Phật thuyết bốn chơn lý: vô thường, khổ, không, vô ngã và tán thán công hạnh xuất gia. Hành giả rât hoan hỷ, ngồi trên hoa sen chắp tay lễ Phật. Trong chốc lát liền vãng sanh.

c)Kết quả sau khi vãng sanh

Hoa sen lềin nở và liền nghe thuyết pháp tán thán 4 chơn đế: Khổ, tập, diệt, đạo. Chứng quả A La Hán, có đủ tam minh, lục thông và tám môn giải thoát đầy đủ.

5. PHẨM TRUNG TRUNG

a)Hành động trong lúc sanh tiền

Hoặc đã từng tu giới bát quan trai giới, hoặc đã từng thọ giới sa di, hoặc đã từng thọ giới cụ túc, mỗi công hạnh trong một ngày đêm với đầy đủ oai nghi. Ðem công đức ấy hồi hướng, cầu nguyện vãng sanh Cực lạc.

b)Trạng huống lâm chung

Lúc gần lâm chung, thấy Ðức Phật A Di Ðà phóng hào quang sắc vàng, tay nâng đài sen thất bảo, cùng với Thánh chúng đến trước mặt hành giả, tán thán rằng: “Thiện nam tử! Vì nhà ngươi tùy thuận theo lời Phật dạy nên ta đến rước người”. Hành giả ngồi lên hoa sen. Hoa sen búp lại rồi sanh về Cực lạc.

c)Kết quả sau khi vãng sanh

Ở trong hồ thất bảo bảy ngày, hoa sen mới nở. Mở mắt chắp tay tán thán Ðức Phật, nghe pháp hoan hỷ rồi chứng được quả Tư đà hoàn. Quả nửa kiếp liền chứng A La Hán.

6. PHẨM TRUNG HẠ

a)Hành động trong lúc sanh tiền

Hiếu dưỡng cha mẹ, làm các việc nhân từ ở đời.

b)Trạng huống lúc lâm chung

Khi sắp lâm chung, được gặp Thiện tri thức, được nghe các việc an vui của thế giới Ðức Phật A Di Ðà và được nghe 48 lời đại nguyện của Ngài Pháp Tạng Tỳ kheo. Nghe xong rồi thì mạng chung. Trong chốc lát, liền vãng sanh Cực lạc.

c)Kết quả sau khi vãng sanh

Trải qua 7 ngày, gặp Ðức Quán Thế AÂm và Ðức Ðại Thế Chí, nghe pháp hoan  hỷ, chứng quả Tư đà hoàn. Qua một tiểu kiếp, chứng quả A La Hán.

 

 

C- SANH VỀ BA PHẨM BẬC DƯỚI (hạ)

7. PHẨM HẠ THƯỢNG

a)Hành động trong lúc sanh tiền

Tuy không phỉ báng kinh điển Ðại thừa, gây rất nhiều tội lỗi, làm nhiều điều ác ngu si không biết tự hổ

b)Trạng huống lúc lâm chung

Lúc gần lâm chung, may mắn gặp bậc Ðại Thiện tri thức nói cho nghe danh tự và đề mục 12 bộ kinh Ðại thừa. Nhớ nghe tên 12 bộ kinh, trừ diệt được ác nghiệp nặng nề. Theo lời chỉ bảo của vị Ðại Thiện tri thức, chắp tay niệm danh hiệu Phật. Nhờ xưng danh ấy, trừ diệt được nhiều kiếp tội lỗi trong đường sanh tử luân hồi. Bây giờ hóa Phật và hóa Bồ tát Quán Thế AÂm và Ðại Thế Chí đến trước người chết, tán thán rằng “Thiện nam tử! Nhà người nhờ có xưng danh hiệu Phật. Nhờ có xưng danh hiệu Chư Phật tội lỗi được tiêu trừ, nên ta đến rước người”.

Thấy nghe xong, sanh lòng hoan hỷ, tức thời mạng chung. Liền cưỡi hoa sen theo Phật sanh về hồ thất bảo.

c)Kết quả sau khi vãng sanh

Trải qua 49 ngày, hoa sen mới nở. Trong lúc hoa sen nở, Ðức Quán Thế AÂm và Ðức Ðại Thế Chí phóng hào quang sáng, đứng trước mặt, nói cho nghe giáo lý thậm thâm của 12 bộ kinh. Nghe rồi tín hiểu phát lòng vô thượng. Trải qua 10 tiểu kiếp, thông hiểu đầy đủ các pháp và chứng quả sơ địa Bồ tát.

8. PHẨM HẠ TRUNG

a)Hành động trong lúc sanh tiền

Nghiệp chướng nặng nề. Hủy phạm ngũ giới, bát giới hay cụ túc giới. Ăn cắp vật dụng của Thường trú. Của hiện tiền của Tăng. Thuyết pháp không thanh tịnh, không biết hổ thẹn với người. Tạo các tội lỗi như đã kể trên, đáng lẽ phải đọa và địa ngục.

b)Trạng huống lâm chung

Lúc gần lâm chung, tướng địa ngục hiện bày trước mắt. May mắn gặp được Thiện tri thức nói cho nghe oai đức quang minh, thần lực quãng đại của Ðức Phật A Di Ðà và tán thán công năng của ngũ hương là giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương. Nghe xong liền tiêu trừ được tội nặng trong nhiều kiếp sanh tử, lửa địa ngục liền chuyển hóa thành gió mát. Liền đó có mưa hoa rải rác, trên hoa có Phật và Bồ tát hóa hiện ra để tiếp dẫn. Trong chốc lác, liền được vãng sanh vào hồ sen thất bảo.

c)Kết quả sau khi vãng sanh

Trải qua sáu kiếp, sen nở, Ðức Quán Thế AÂm, Ðức Ðại Thế Chí dùng pháp âm an ủi và nói cho nghe nghĩa lý sâu xa của kinh điển Ðại thừa, nghe xong liền phát tâm vô thượng Bồ đề.

9. PHẨM HẠ HẠ

a)Hành động trong lúc sanh tiền

Làm các nghiệp bất thiện, gây đủ mọi tội lỗi như phạm tội ngũ nghịch, thập ác. Ðã gây các ác nghiệp ác ấy là phải đọa địa ngục trải qua nhiều kiếp để chịu mọi khổ não.

b)Trạng huống lúc lâm chung

Lúc gần lâm chung, may mắn gặp được Thiện tri thức nói cho nghe pháp mầu và bảo niệm danh hiệu Phật. Kẻ kia bị khổ não bức bách không thể niệm được. Thiện hữu thương xót khuyến khích và nhất tâm hộ niệm. Tiếng niệm phật liên tục bất tuyệt, khiến kẻ kia có thể họa theo. Nếu họa niệm đủ 10 lần “Nam Mô A Di Ðà Phật” tức thời nhờ niệm lực ấy mà tội lỗi trong nhiều kiếp được tiêu tan. Lúc mạng chung liền thấy hoa sen vàng như vầng mặt nhựt hiện ra trước mắt. Trong khoảnh khắc liền vãng sanh thế giới Cực lạc.

c)Kết quả sau khi vãng sanh

Nằm trong hoa sen đủ 12 đại kiếp, sen mới nở Ðức Quán Thế AÂm và Ðức Ðại Thế Chí nói cho nghe thật tướng của các pháp và dạy cho phép diệt trừ tội chướng. Nghe xong sanh tâm hoan hỷ, phát tâm vô thượng Bồ đề.

 

Như trên đã tóm tắt trạng huống theo nhơn quả của chín phẩm vãng sanh thuộc ba bậc: Thượng, Trung, Hạ.

Trong chín phẩm ấy, năm phẩm trước là kết quả của sự tu tập hồi hướng công đức nguyện cầu sanh về thế giới Cực lạc. Phẩm vị sở dĩ có cao có thấp bất đồng là căn cứ nơi công tu tập sâu cạn mà có sai biệt.

 Chí như bốn phẩm sau thì lại không cùng có nguyên nhân như trên. những kẻ được vãng sanh thuộc 4 phẩm này chưa từng tu pháp xuất thế gian. Như phẩm thứ 6 (Trung hạ) chẳng hạn, thì chỉ có nguyên nhân là hiếu thuận với cha mẹ, nhơn từ với làng xóm, nghĩa là chỉ cần tu theo thiện pháp thông thường của thế gian mà thôi. Ba phẩm chót thuộc về bậc hạ sanh thì không những chưa tu thiện pháp thế gian mà lại còn tạo nhiều trọng tội nữa. Theo luật quả báo, lúc lâm chung ác tướng hiện bày, lẽ đáng phải đọa ba đường dữ là địa ngục, ngạ quỷ hay súc sanh. Thế mà, nhờ gặp Thiện tri thức, phát được tín tâm trong lúc ấy, cũng được vãng sanh. Các trường hợp này trong kinh mệnh danh là “đới nghiệp vãng sanh”. Ðới nghiệp vãng sanh toàn là nhờ nguyện lực rộng lớn của Ðức Phật A Di Ðà vô cùng vô tận vậy. Vì lẽ đó, tôn Tịnh độ này đem so với các pháp môn tu trì khác, không pháp môn nào bì kịp. Cho nên, trong “Phật Giáo Sơ học Khóa bổn” nói rằng: “Những điều trong Quán kinh dạy thật rất kinh dị: Tạo tội ngũ ngịch mà vẫn được vãng sanh. Nguyện lực Phật quả khó lường. Trong tam tạng giáo điển, trừ Quán kinh ra, không thấy có chỗ nào nói như thế”, thật là một pháp môn đặc biệt hy hữu.

Ðiểm thứ hai cần chú ý về Tịnh độ tôn là sức hộ niệm của thiện hữu tri thức phối hợp với nguyện lực bất khả tư nghì của Ðức Phật A Di Ðà, điểm đặc biệt này cũng choán hết 4 phẩm sau. Quả vậy, những kẻ được vãng sanh thuộc 4 phẩm sau lúc sanh tiền, chưa từng nghe đến vấn đề sanh Tịnh độ, chưa hề lưu ý đến Phật pháp, thế mà khi sắp lâm chung được gặp thiện trị thức khuyến khích tán thán xưng niệm danh hiệu, kết quả cũng được ngồi lên đài sen sanh về nước Phật, như thế, chúng ta thấy công năng gia trì hộ niệm của thiện tri thức vô cùng quý báu, quý báu cơ hồ như ngang với Phật lực!

Ðồng thời, ta cũng nên ý thức sự quan trọng của giờ phút lâm chung là như thế nào? Mặc dù bình sanh có tu hay không tu, căn cứ vào trạng huống lúc lâm chung, người ta có thể quyết đoán rằng: “Hễ trong giờ phút lâm chung mà được thanh tịnh thì bất luận là ai, cũng đều được vãng sanh tất cả.” Trái lại, giả sử cả đời tu hành, nhưng đến giờ phút lâm chung mà còn luyến tiếc, nghi ngờ, rối loạn, thì không thể nào vãng sanh được. Cho nên, những bậc thiện tri thức và ban hộ niệm không thể vắng mặt trong giờ phút “thiên thu vĩnh biệt” mà dù là Phật tử hay không Phật tử, nếu người ấy muốn có một cuộc đời hạnh phúc vĩnh cửu sau khi bỏ đời này qua đời khác.

Ðiểm thứ ba cần chú ý nữa là: Không nên lầm lẫn giữa kết quả tất nhiên là 5 phẩm trước và kết quả hy hữu là 4 phẩm sau.

Khi nghe nói rằng chúng sanh trong 4 phẩm sau, lúc sanh tiền chưa từng niệm Phật, ngược lại còn làm các điều dữ, miễn lúc lâm chung gặp được Thiện tri thức chỉ điểm khai đạo, niệm được 10 lần danh hiệu Phật cũng được vãng sanh; nghe nói như vậy rồi cho rằng lúc sanh tiền cần gì tu hành niệm Phật và làm các điều phước thiện cho nhọc sức, đến lúc gần lâm chung nhờ người niệm hộ và tự mình chỉ cần niệm 10 lần là đủ rồi. Quan niệm như thế, thật là vô cùng lầm lạc. Như vậy tỏ ra không hiểu ý nghĩa và tác dụng của pháp niệm Phật.

Bình thời, niệm Phật là gây cho mình một thói quen. Nhờ thói quen ấy nên lúc lâm chung, dù gặp hoàn cảnh nào cũng không quên niệm Phật. Có như thế mới có cảm  ứng. Ðó làhiện tượng chánh thường. Chứ như bình thời không niệm Phật vì không biết Phật, nhưng (lúc lâm chung, nhờ cơ duyên tốt, gặp được thiện tri thức hộ niệm dạy bảo), nhơn đó phát sanh chánh niệm, liền được vãng sanh. Ðây là hiện tượng đặc biệt.

Cả hai trường hợp đều xuất ở lòng thành thật. Có khác chăng là hiện tượng chánh thường, chúng ta nên nương tựa vì ta là chủ động. Hiện tượng đặc biệt khó mà ỷ lại vì ta không chủ động được và trong muôn người chưa có được một thừa hưởng đặng cơ duyên hy hữu ấy.

Hơn nữa, biết mà không làm, đợi đến phút lâm chung mới chịu phát tâm, sự phát tâm ấy làm sao gọi được là chơn chánh? Với một bộ óc tính toán và vụ lợi như thế thì chỉ có thể phát sanh ra tà niệm mà thôi!

Tình cảnh chết chóc của loài người thật là thiên hình vạn trạng. Có kẻ chết không được an lành như chết trong lao tù, chết trên chiến địa, chết bên đường ngoại nội, chết trên bàn mổ ở dưỡng đường v..v... Những cảnh chết như thế thì làm thế nào gặp được thiện tri thức hộ niệm? Không phải ai cũng chết an lành và chung quanh có kẻ thân thuộc hết? Ðó là chưa kể trường hợp gia nhơn vì bối rối hoặc vì không tin nên không mời kịp hay không chịu mời Thiện tri thức hộ niệm! Lại có kẻ chết bất thần không thể nào mời kịp, hoặc có mời kịp nhưng tâm thần bênh nhân hoảng loạn không thể nghe và không thể niệm theo thì biết làm thế nào? Biết bao nhiêu là vấn đề nan giải trong lúc bối rối ấy.

Trong lời đại nguyện thứ 19 của Ðức Phật A Di Ðà chỉ nói khi thân mạng gần lúc lâm chung có Phật và Bồ tát đến đón vây, chứ không nói trạng huống lúc lâm chung như thế nào. Vì thế kẻ hành giả đã từng phát nguyện cầu vãng sanh thì bất luận chết cách nào, hoặc bằng pháo đạn gươm dao, thuốc độc, huyết dư, dịch tả, hoặc bị đánh đòn, bị cọp bắt, bị điện giật, bị lửa cháy, bị nước trôi v.v... Hoặc kịp niệm Phật, hoặc không kịp niệm Phật, trong giờ phút lâm chung thảy đều được Phật và Thánh chúng vây tiếp dẫn.

Tóm lại, ỷ vào Thiện tri thức không bằng tự trông cậy mình, cầu Phật lúc lâm chung không bằng cầu Phật thường xuyên hằng ngày. Sở dĩ hành giả bình thời xưng niệm danh hiệu Phật chính là ứng với đại nguyện thứ 18: “Mỗi ngày mười niệm, quyết được vãng sanh”; bình thời phát nguyện cầu vãng sanh tức là ứng hợp với đại nguyện thứ 19: “Kẻ nào phát nguyện vãng sanh Cực lạc, lúc lâm chung sẽ có Ðức Phật đến rước”; và bình thời làm các công đức hồi hướng công đức về quả Cực lạc là ứng hợp với đại nguyện thứ 20: “Kẻ nào hồi hướng công đức, nhất định được vãng sanh.”

Hằng ngày, tu phép thập niệm, phát nguyện vãng sanh và hồi hướng công đức cũng như người có đóng bảo hiểm nhơn thọ. Một bên là đóng bảo hiểm vật chất, một bên là đóng bảo hiểm tinh thần; cả hai nhất định toại nguyện như nhau.

Như trên, ta thấy quả vãng sanh là một quả có bảo đảm chắc chắn, mà nhơn vãng sanh lại là một nhơn dễ tu tập. Ðiều cốt yếu là phải thật hiểu nhơn tinh thần của Pháp môn niệm Phật mới sanh được chánh niệm. Ðừng có như anh chàng nào đó thấy người sa chân xuống hố sâu, gặp may không chết lại gặp được vòng vàng, rồi cũng tham lam bắt chước chúm chân nhảy xuống hố sâu để được lượm được vàng, nào dè vàng tìm không gặp mà chỉ gặp tử thần đương mừng rỡ đón chào. Bị tan xương nát thịt một cách oan uổng như thế, thật đáng thương thay!

 


 

 

CHƯƠNG III

ÐƯỜNG LỐI TU TỊNH ÐỘ

TIẾT MỘT

BA TƯ LƯƠNG: TÍN, NGUYỆN, HẠNH.

 

 Pháp môn Tịnh độ dễ tu nhưng khó tin. Trong kinh  “Phật tuyết A Di Ðà”, Ðức Thế Tôn cũng thừa nhận như thế.

Ðã thế rồi, pháp môn này lại còn nương tựa hoàn toàn vào lòng tin để thành tập, nương vào lòng tin để duy trì; có lòng tin rồi mới sanh khởi hành động, rồi mới đạt được nguyện vọng nhơn viên quả mãn. Nếu không có lòng tin vững chắc thì tuy cửa Phật rộng mở, cũng không thể vào được. Vì vậy nên Tín, Nguyện, Hạnh gọi là ba môn tư lương về Tịnh độ.

Nói tư lương cũng ví như nói người muốn đi xa cần phải có tiền của (tư) và lương thực (lương) nếu thiếu một trong hai thứ đó thì khó mà đạt mục đích mình muốn đến. Cũng thế, ba món tư lương cần có để lên đường về Tịnh độ cũng không thể thiếu một. Hơn nữa, ba món này liên hệ mật thiết với nhau theo thứ tự trước sau tiếp nối sanh khởi. Trước hết phải do có lòng tin thắm thiết mới có phát sanh nguyện cầu; do nguyện cầu thành khẩn mới hăng hái hành động. Nếu lòng tin không có thì quyết nhiên nguyện và hạnh không thành lập được.

TÍN là căn bản của người tu hành pháp môn Tịnh độ, phải:

Thứ nhứt, phải tin rằng ba bộ kinh nói về Tịnh độ là do Ðức Thích Tôn vì lòng từ bi chân thật mà dạy cho chúng ta quyết không phải như sách ngụ ngôn giả thiết để khuyến tu.

Thứ hai, phải tin rằng ngoài thế giới ô uế mà chúng ta hiện sống, chắc thật có thế giới Tịnh độ trang nghiêm.

Thứ ba, phải tin rằng 48 lời đại nguyện của Ðức Phật A Di Ðà cùng là những công hạnh kiến lập cõi Tịnh độ của Ngài là chơn thật, cũng như việc Ngài đăng ứng hóa độ sanh tại cảnh giới Tịnh độ ấy là chơn thặt.

Thứ tư, phải tin rằng sanh Tịnh độ hay uế độ là do trồng nhơn tịnh thì hoàn quả tịnh, trồng nhơn uế thì quả uế, tuyệt nhiên toàn do tự tâm ứng hiện. Hễ trồng nhơn tịnh thì được tinh không liên quan gì đến vấn đề thưởng phạt.

Thứ năm, phải tin rằng chánh niệm của ta cùng tâm niệm của Ðức Phật A Di Ðà chắc chắn cảm ứng với nhau, lâm chung thế nào cũng được Ngài tiếp dẫn vãng sanh.

Thứ sáu, phải tin rằng tuy ác nghiệp của chúng ta có nhiều, nhưng một khi sanh về Tịnh độ, nhờ có hoàn cảnh tốt đẹp thuận tiện, nhờ ơn giáo huấn thường xuyên của Phật và Bồ tát, ác niệm không thể sanh khởi lại và ác báo do đó sẽ lần lần tiêu trừ.

Thứ bảy, phải tin rằng sức mình và sức Phật, cả hai đều bất khả tư nghì. Trong hai sức cùng bất khả tư nghì ấy, sức Phật lại bất khả tư nghì, gấp trăm ngàn muôn ức lần hơn. Cho nên, một khi được tiếp dẫn, sức mình còn kém cõi thì với sức Phật cũng đủ giúp ta vãng sanh.

Thứ tám, phải tin rằng Phật có vô số Pháp môn giải thoát, Phật có công năng kiến lập thế giới trong một mảy trần. Giá như chúng sanh trong mười phương đều sanh ở trong mảy trần ấy, hết thảy phòng ốc dụng cụ đều trang nghiêm đầy đủ, không thiếu một thứ gì.

Thứ chín, phải tin rằng mình niệm một tiếng niệm Phật là tức thời Ðức Phật liền nghe và liền thâu nhiếp.

Thứ mười, phải tin rằng hễ mình niệm Phật thì chắc chắn lúc lâm chung được Phật và Thánh chúng đến tiếp dẫn vãng sanh về thế giới Cực lạc, quyết không còn đọa lạc luân hồi trong sáu đường nữa.

Tóm lại, phải tin chắc rằng những lời Phật dạy trong kinh đều chơn thật, cần phải thâm tín, tuyệt đối không nên sanh tâm ngờ vực, lòng ngờ vực là chướng ngại vật không thể vượt qua trên con đường dẫn đến đạo quả. Có lòng ngờ vực rồi thì tất nhiên nguyện và hạnh sẽ không có cứ điểm để sanh khởi. Nếu lòng tin kiên cố, tự nhiên phát nguyện cầu sanh Cực lạc và đã phát tâm nguyện cầu, tự nhiên chuyên tâm tinh tấn, y pháp hành trì,không đợi ngoại duyên thúc đẩy.

Người đời nhơn vì căn khí bất đồng. Cho nên, kiến thức cũng bất đồng. có người cho rằng Tịnh độ là cõi hư vô không thật, nên không tin. Có người cho rằng chết là mất hẳn, không có đời sau, nên không tin. Có người cho rằng sanh đông sanh tây, chịu khổ hưởng vui đều là việc ngẫu nhiên, không có việc gây nhơn hưởng quả nên không tin. Có người cho rằng niệm Phật cầu sanh Tây phương là lối giả thiết để khuyên người làm lành lánh dữ, chứ không có cảnh Tây phương Tịnh độ, giả sử có thật thì không thể chỉ niệm ít lần danh hiệu Phật mà được vãng sanh, nên không tin. Có người cho rằng con người vốn đã nặng nghiệp tham, sân,si và ích kỷ, dù có sanh về Tịnh độ thì thói cũ vấn khó trừ, quyết không thể trong khoảnh khắc biến thành người hiền thiện được, nên không tin. Có người cho rằng con người ở thế gian này tạo nghiệp ác quá nhiều, đương nhiên phải theo từng nghiệp mà thọ quả báo, không thể nhờ vãng sanh mà tiêu trừ tất cả nghiệp dữ trong một lúc, như thế htì không hợp với nhân quả. Nên không tin. Có người cho rằng mỗi ngày chỉ cần niệm 10 lần danh hiệu Phật mà cũng được vãng sanh, đó là lời nói mơ hồ, giả như tất cả chúng sanh ai nấy đều làm y như thế thì địa ngục hẳn sẽ trống không, thế giới này hẳn không còn người ở, không thể có việc dễ dàng như thế, nên không tin. Có người cho rằng quốc độ Cực lạc, dù cho số phòng ốc dụng cụ có nhiều đến đâu vẫn có số lượng, trong khi ấy thì số chúng sanh được vãng sanh từ vô thỉ đến giờ, theo lời Phật dạy là vô lượng, thế mà không bị nạn nhân mãn thì thật là mâu thuẫn, vì thế mà không tin. Có người cho rằng sanh về Tịnh độ, nghĩ gì có nấy, muốn áo có áo, muốn ăn có ăn, khỏi nhọc công người tạo tác, thật không khác nào lời nói trong mộng, nói như thế chỉ phỉnh phờ được kẻ ngu phu, thất phu, vì vậy nên không tin. Có người cho rằng thế giới Cực lạc, đất vàng,hồ sen, lâu đài thảy đều bằng thất bảo, không cần kiến tạo mà tự n hiên thành tựu, đó là chuyện thần thoại của đời thượng cổ còn sót lại,không hợp với khoa học hiện đại,vì vậy nên không tin. v.v... và v.vv

Vì vậy, chúng ta chỉ nên tin lời Phật mà thực hành theo, quyết không bị lầm lạc và để khỏi bỏ phí thì giờ luống trôi qua không hí đàm. Nếu tự phụ là thông minh trí tuệ không chịu tin theo, chung quy sẽ trở lại thua những người thật thà chất phát mà có tín tâm mạnh mẽ. Sở dĩ sanh tâm tự phụ kiêu căng như thế, chẳng qua là vì phước đức thiểu bạc nên mới không thọ nạp được một pháp môn giản dị và rất khó gặp như pháp môn Tịnh độ. Thật cũng đáng tiếc lắm thay!

Trên đây, hoàn toàn đứng về phương diện Tín mà nói, chứ chưa đề cập đến hai phương diện Nguyện Hạnh. Nhưng hễ Tín đã vững chắc thì Nguyện và Hạnh tự nhiên thành tựu, khỏi cần phải nhắc nhủ, khuyến hóa. Vì như khi đã tin chắc rằng trước sân nhà có hầm vàng thì tự nhiên