NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2001
TOÀN TẬP
TÂM NHƯ TRÍ THỦ
--- o0o ---

TẬP I
KINH
Đường Tam tạng Pháp sư Nghĩa Tịnh dịch.
Như thị ngã
văn, nhứt thời Bạc già phạm tại Thất la phiệt thành, Thệ đa lâm, Cấp cô độc
viên.
Nhĩ thời Phật cáo chư bậc sô hữu tam chủng pháp, ư chư thế gian thị bất khả ái,
thị bất quang trạch, thị bất khả niệm, thị bất xứng ý. Hà giả vi tam? Vị lão,
bệnh, tử. Nhữ chư bậc sô thử lão bệnh tử thế gian vô giả, Như Lai ứng chánh đẳng
giác bất xuất ư thế vị chư chúng sanh thuyết sở chứng pháp cập điều phục sự. Thị
cố ưng tri thử lão bệnh tử ư chư thế gian thị bất khả ái, thị bất quang trạch,
thị bất khả niệm, thị bất xứng ý. Do thử tam sự Như Lai ứng chánh đẳng giác xuất
hiện ư thế vị chư chúng sanh thuyết sở chứng pháp cập điều phục sự. Nhĩ thời Thế
Tôn trùng thuyết tụng viết:
Ngoại sự trang thể hàm qui hoại
Nội thân lý biến diệc đồng nhiên.
Duy hữu thắng pháp bất diệt vong,
Tri hữu trí nhân ưng thiện sát,
Thử lão bệnh tử giai cộng hiền
Hình nghi xú ác cực khả yếm
Thiếu niên dung mạo tạm thời đình,
Bất cửu hàm tất thành khô toái.
Giả sử thọ mạng mãn bách niên,
Chung qui bất miễn vô thường bức,
Lão bệnh tử khổ thường tùy trục,
Hằng dữ chúng sanh tác vô lợi.
Nhĩ thời Thế Tôn thuyết thị kinh dĩ chư bậc sô chúng, thiên, long, dược xoa càn
thát bà, a tu la đẳng giai đại hoan hỷ tín thọ phụng hành.
Đời
Đường, Tam tạng Pháp sư Nghĩa Tịnh dịch ra chữ Hán.
Tôi nghe như vậy. Một thời Phật tại thành Thất la phiệt nơi rừng Thệ đa, vườn
Cấp cô độc.
Bấy giờ Phật bảo các Tỳ kheo rằng trong các thế gian có ba pháp không thể yêu,
không trong sạch, không thể muốn, không vừa ý. Ba pháp là gì? Là già, bệnh,
chết. Này các Tỳ kheo, nếu trong thế gian không già, bệnh, chết thì Như Lai ứng
chánh đẳng giác không xuất hiện ra đời vì các chúng sanh nói pháp đã chứng và
cách điều phục. Vậy nên biết rằng trong các thế gian, già bệnh chết này là không
thể yêu, là không trong sạch, là không thể muốn, là không vừa ý. Vì ba việc này
Như Lai ứng chánh đẳng giác xuất hiện ra đời vì các chúng sanh nói pháp đã chứng
và cách điều phục. Bấy giờ Thế Tôn lặp lại bài tụng rằng:
Bề ngoài trang điểm đều hư hoại,
Trong thân biến đổi cũng vậy thôi.
Chỉ có thắng pháp thường chẳng mất,
Các người có trí hãy xét coi!
Đây già bệnh chết đều đáng chán,
Hình nghi xấu xí thật khó ưa
Tuổi trẻ dung nhan tạm thời đó,
Nào có lâu chi, đều héo khô.
Dẫu cho tuổi thọ trăm năm đủ,
Chẳng khỏi vô thường não bức thân.
Già bệnh chết, khổ thường theo đuổi.
Chẳng lợi gì cho thân chúng sanh.
Bấy giờ Thế Tôn nói kinh nầy xong,
các chúng tỳ kheo, thiên, long, dược xoa, càn thát bà, a tu la đều rất hoan hỷ
tín thọ, phụng hành.
Phật dạy kinh A di đà:
Như thật tôi nghe
Một thời đức Phật
Ở nước Xá vệ
Vườn Cấp cô độc
Cùng tỳ kheo tăng
Một ngàn hai trăm
Năm mươi người đủ
Đều là những bậc
Đại A la hán
Tai mắt đại chúng
Trưởng lão Xá lợi
Đại Mục kiền liên
Ma ha Ca diếp
Đại Ca chiên diên
Đại Câu thi la
Và Ly bà đa
Châu lợi bàn đà
A nan, Nan đà
Và La hầu la
Kiều phạm ba đề
Tân đầu, La đọa
Ca lưu đà di
Đại Kiếp tân na
A nâu lâu đà
Và Bạt câu la
Như vậy đông đủ
Các hàng đệ tử
Bồ tát đại sĩ
Văn thù sư lợi
Vương tử Văn thù
Và A dật đa
Bồ tát Hương thượng
Bồ tát Bất hưu
Bồ tát Thường cần
Cùng như vậy thảy
Các đại bồ tát
Thích đề hoàn nhân
Vô lượng chư thiên
Đại chúng đông đủ,
Bấy giờ Phật gọi,
Ngài Xá lợi phất
Mà bảo như vầy:
Từ đây đi qua,
Đến hướng Tây phương,
Cách mười vạn ức,
Quốc độ chư Phật,
Có một thế giới
Hiệu là Cực lạc
Trong thế giới ấy
Có một đức Phật
Hiệu A Di Đà
Hiện đang thuyết pháp
Này Xá lợi phất!
Vì sao cõi ấy
Tên là Cực lạc?
Chúng sanh cõi ấy,
Không có các khổ,
Hoàn toàn an vui,
Nên gọi Cực lạc.
Lại Xá lợi phất!
Cõi nước Cực lạc,
Bảy lớp lan can
Bảy lớp lưới giăng,
Bảy lớp hàng cây,
Đều dùng bốn báu
Bao quanh bốn phía
Cho nên cõi kia
Gọi là Cực lạc.
Lại Xá lợi phất!
Quốc độ Cực lạc,
Có hồ bảy báu,
Có nước tám đức,
Vừa đầy trong đó,
Dưới đáy nước hồ,
Toàn bằng cát vàng,
Bốn phía bờ đường,
Vàng bạc lưu ly
Pha lê xa cừ,
Họp lại mà thành,
Trên có lầu gác,
Cũng dùng vàng bạc,
Lưu ly pha lê,
Xa cừ mã não,
Mà trang điểm đó.
Hoa sen trong hồ,
Lớn như bánh xe,
Sen xanh ánh xanh,
Sen vàng ánh vàng,
Sen đỏ ánh đỏ,
Sen trắng ánh trắng,
Hương thơm ngào ngạt
Thanh khiết nhiệm mầu.
Nầy Xá lợi phất!
Quốc độ Cực lạc
Thành tựu như thế,
Công đức trang nghiêm.
Lại Xá lợi phất!
Quốc độ Phật kia,
Thường tấu nhạc trời,
Vàng ròng làm đất,
Ngày đêm sáu thời
Rưới hoa mạn đà,
Chúng sinh ở đó
Tảng sáng mỗi ngày
Đều dùng đảy gấm
Đựng các thứ hoa
Cúng dường chư Phật.
Ở khắp mười phương
Mười vạn cõi Phật,
Trong chừng giây lát
Trở về xứ mình,
Ăn cơm, kinh hành.
Nầy Xá lợi phất!
Quốc độ Cực lạc
Thành tựu như thế,
Công đức trang nghiêm.
Còn như vầy nữa,
Nầy Xá lợi phất!
Cõi kia thường có
Các thứ chim lạ,
Màu sắc đẹp đẽ,
Bạch hạc, khổng tước,
Anh vũ, xá lợi,
Ca lăng tần già,
Và chim cộng mạng.
Các loài chim ấy
Ngày đêm sáu thời
Kêu tiếng hòa nhã,
Tuyên dương những pháp
Năm căn năm lực,
Bảy phần bồ đề,
Tám phần thánh đạo,
Các pháp ấy thảy.
Chúng sinh ở đó
Nghe tiếng ấy rồi,
Đều nhớ niệm Phật,
Niệm pháp, niệm tăng.
Nầy Xá lợi phất!
Chớ bảo chim ấy
Thật do tội báo,
Bởi nghiệp sanh ra.
Lý do vì sao?
Này Xá lợi phất!
Quốc độ Phật kia,
Không ba đường dữ.
Nầy Xá lợi phất!
Cõi kia ác đạo
Còn không có tên
Làm gì có thật?
Các loài chim ấy
Do Phật Di Đà
Muốn cho tiếng pháp
Vang khắp mọi nơi,
Mà biến hóa ra.
Nầy Xá lợi phất!
Quốc độ Phật kia,
Gió dịu phảng phất
Thổi vào hàng cây,
Và các lưới báu,
Xuất tiếng nhiệm mầu,
Ví như trăm ngàn
Các thứ âm nhạc
Đồng thời hòa tấu.
Nghe tiếng nhạc ấy,
Tự nhiên sanh lòng
Niệm Phật, niệm pháp,
Niệm thánh hiền tăng.
Nầy Xá lợi phất!
Quốc độ Phật ấy,
Thành tựu như thế,
Công đức trang nghiêm.
Nầy Xá lợi phất!
Ý ông nghĩ sao?
Phật kia vì sao
Gọi A Di Đà?
Nầy Xá lợi phất!
Ánh sáng Phật kia,
Vô lượng vô biên,
A tăng kỳ kiếp
Cho nên được gọi
Là A Di Đà.
Này Xá lợi phất!
Phật A Di Đà
Thành Phật đến nay
Đã qua mười kiếp.
Đại Xá lợi phất!
Phật kia hiện có
Vô lượng vô biên
Thanh văn đệ tử
Đều A la hán
Không thể tính kể
Mà biết số lượng
Các hàng bồ tát,
Cũng lại như vậy.
Này Xá lợi phất!
Quốc độ Phật kia,
Thành tựu như thế
Công đức trang nghiêm.
Này Xá lợi phất!
Quốc độ Cực lạc
Chúng sanh sinh về
Đều được bất thối,
Trong đó hạng người
Nhất sinh bổ xứ,
Số ấy thật nhiều
Không thể tính kể
Biết được số lượng,
Chỉ có thể nói
Vô lượng vô biên
A tăng kỳ kiếp.
Này Xá lợi phất!
Chúng sinh được nghe
Thì hãy phát nguyện,
Sanh về nước kia.
Lý do vì sao?
Sinh về đó rồi,
Thường cùng các bực
Thượng thiện trí thức
Ở chung một chỗ.
Này Xá lợi phất!
Không thể do bởi
Chút ít thiện căn
Phước đức nhơn duyên
Mà được sanh về
Quốc độ Phật kia.
Này Xá lợi phất!
Nếu có thiện nam,
Hay người tín nữ
Nghe nói cảnh giới
Phật A di đà,
Chấp trì danh hiệu
Hoặc chỉ một ngày
Hoặc hai ba ngày
Hay năm sáu ngày
Cho đến bảy ngày,
Nhất tâm bất loạn,
Người ấy lâm chung
Khi bỏ báo thân,
Phật A di đà
Và các thánh chúng
Hiện ra trước mắt.
Người ấy khi chết,
Lòng không điên đảo
Liền được vãng sanh
Quốc độ Cực lạc
Phật A di đà.
Này Xá lợi phất!
Ta thấy lợi ấy,
Nên nói lời này:
Nếu chúng sanh nào,
Nghe pháp thoại nầy,
Hãy nên phát nguyện
Sinh về nước kia.
Lại Xá lợi phất!
Như ta hôm nay,
Xưng dương tán thán
Lợi ích công đức
Bất khả tư nghì.
Phật A di đà,
Phương Đông cũng có
Phật A súc bệ,
Phật Tu di tướng,
Phật đại Tu di,
Phật Tu di quang,
Và Phật Diệu âm,
Như vậy cho đến
Vô lượng vô số
Chư Phật thế tôn
Ở quốc độ mình
Hiện ra tướng lưỡi
Đẹp đẽ rộng dài
Trùm khắp ba ngàn
Đại thiên thế giới,
Nói lời chân thật:
Tất cả chúng sinh
Nên tin những lời
Xưng dương tán thán
Công đức lớn lao
Bất khả tư nghì
Kinh được hết thảy
Chư Phật giữ gìn.
Này Xá lợi phất!
Thế giới phương Nam,
Có Phật Nguyệt đăng
Phật Danh vă quang,
Phật Đại diệm kiên,
Phật Tu di đăng
Phật lực Tinh tấn,
Như vậy cho đến
Vô lượng vô số
Chư Phật thế tôn
Ở quốc độ mình
Hiện ra tướng lưỡi
Đẹp đẽ rộng dài
Trùm khắp ba nghìn
Đại thiên thế giới,
Nói lời chân thật:
Tất cả chúng sanh
Nên tin những lời
Xưng dương tán thán
Bất khả tư nghì
Công đức lớn lao
Kinh được hết thảy
Chư Phật giữ gìn.
Này Xá lợi phất!
Thế giới phương Tây
Có Phật Vô lượng thọ,
Phật Vô lượng tướng,
Phật Vô lượng tràng,
Phật Đại quang,
Phật Đại minh,
Phật Bửu tướng,
Phật Tịnh quang,
Như vậy cho đến
Vô lượng vô số
Chư Phật thế tôn
Ở quốc độ mình
Hiện ra tướng lưỡi
Đẹp đẽ rộng dài
Trùm khắp ba ngàn
Đại thiên thế giới
Nói lời chân thật:
Tất cả chúng sinh,
Nên tin những lời
Xưng dương tán thán
Công đức lớn lao
Bất khả tư nghì,
Kinh nhứt thiết chư
Phật sở hộ niệm.
Này Xá lợi phất!
Thế giới phương Bắc
Thế giới phương Bắc
Có Phật Diệm kiên
Phật Tối thắng âm
Phật Nan trở
Phật Nhật Minh
Phật Võng minh
Như vậy cho đến
Vô lượng vô số
Chư Phật thế tôn
Ở quốc độ mình
Hiện ra tướng lưỡi
Đẹp đẽ rộng dài
Trùm khắp ba ngàn
Đại thiên thế giới
Nói lời chân thật:
Tất cả chúng sanh
Nên tin những lời
Xưng dương tán thán
Công đức lớn lao
Bất khả tư nghì,
Kinh được hết thảy
Chư Phật giữ gìn
Này Xá lợi phất!
Thế giới phương dưới
Có Phật Sư tử
Phật Danh văn,
Phật Đạt ma
Phật Pháp tràng
Phật Trì pháp
Như vậy cho đến
Vô lượng vô số
Chư Phật thế tôn
Ở quốc độ mình
Hiện ra tướng lưỡi
Đẹp đẽ rộng dài
Trùm khắp ba ngàn
Đại thiên thế giới
Nói lời chân thật:
Tất cả chúng sanh
Nên tin những lời
Xưng dương tán thán
Công đức lớn lao
Bất khả tư nghì,
Kinh được hết thảy
Chư Phật giữ gìn
Nầy Xá lợi phất!
Thế giới phương trên
Có Phật Phạm âm
Phật Tú vương,
Phật Hương thượng,
Phật Hương quang,
Phật Đại diệm kiên,
Phật Tạp sắc,
Bảo hoa nghiêm thân,
Ta la thọ vương,
Phật Bảo hoa đức,
Kiến nhứt thiết nghĩa,
Phật Tu di sơn,
Như vậy cho đến
Vô lượng vô số
Chư Phật thế tôn
Ở quốc độ mình
Hiện ra tướng lưỡi
Đẹp đẽ rộng dài
Trùm khắp ba ngàn
Đại thiên thế giới
Nói lời chân thật:
Tất cả chúng sanh
Nên tin những lời
Xưng dương tán thán
Công đức lớn lao
Bất khả tư nghì,
Kinh được hết thảy
Chư Phật giữ gìn
Nầy Xá lợi phất!
Ý người nghĩ sao?
Vì sao gọi là
Kinh được hết thảy
Chư Phật giữ gìn?
Nầy Xá lợi phất!
Nếu có thiện nam
Hay người thiện nữ,
Nghe được kinh nầy,
Chuyên tâm thọ trì
Và nghe danh hiệu
Chư Phật Thế tôn,
Thì người thiện nam
Hay thiện nữ ấy
Đều được tất cả
Chư Phật thế tôn
Luôn luôn hộ niệm,
Đều không thối chuyển
Vô thượng bồ đề.
Vì vậy cho nên,
Nầy Xá lợi phất!
Các người đều phải
Nên tin lời ta
Và lời chư Phật
Nầy Xá lợi phất!
Nếu có những người
Đã phát nguyện rồi
Hay đang phát nguện
Hoặc sẽ phát nguện,
Muốn sanh quốc độ
Phật A Di Đà;
Tất cả người ấy
Được không thối chuyển
Vô thượng bồ đề,
Và đã sinh về
Hoặc nay đang sinh
Hoặc sau sẽ sinh
Về quốc độ kia.
Vì vậy cho nên
Này Xá lợi phất!
Các người thiện nam
Hoặc kẻ thiện nữ
Nếu có lòng tin,
Hãy nên phát nguyện
Sinh quốc độ kia.
Này Xá lợi phất!
Như ta hôm nay,
Xưng dương tán thán
Công đức lớn lao
Bất khả tư nghì
Của chư Phật ấy.
Thì các Phật kia
Lại cũng xưng tán
Công đức lớn lao
Bất khả tư nghì.
Các ngài nói rằng:
Đức Phật Thích ca
Mâu ni Thế tôn
Hay làm những việc
Hi hữu khó làm.
Ở cõi Ta bà
Trong đời dữ dội
Bởi năm thứ trược,
Kiếp trược, kiến trược
Phiền não, chúng sanh
Và thọ mạng trược,
Để chứng đạo quả
Vô thượng bồ đề,
Lại vì chúng sanh
Nói ra những việc
Khó tin khó làm.
Nầy Xá lợi phất!
Ngươi biết, ta ở
Trong đời ác trược
Làm việc khó ấy,
Chứng được đạo quả
Vô thượng bồ đề,
Lại vì tất cả
Chúng sinh thế gian
Nói pháp khó tin,
Thật là rất khó.
Phật dạy đến đây,
Ngài Xá lợi phất
Cùng các tỳ kheo
Tất cả thế gian
Mọi người, chư thiên,
Và A tu la
Nghe lời Phật dạy
Hoan hỷ tín thọ,
Lạy Phật mà lui.
LỜI DỊCH GIẢ
Kinh Thập thiện nghiệp đạo nầy, xưa nay có nhiều nhà giải thích; Nhưng
gần đây tôi được đọc quyển “Thập thiện nghiệp đạo kinh giảng yếu” của ngài Thái
Hư Pháp sư, thấy tóm tắt dễ hiểu, lời lẽ giản dị mà ý nghĩa đầy đủ, lại rất hợp
với căn cơ hiện tại. Hàng Phật tử tại gia hay xuất gia muốn lợi mình lợi người,
muốn đem hạnh phúc cho nhân quần xã hội, tạo thành một cực lạc thiên quốc giữa
thế giới thực tại không thể không lấy kinh này làm kim chỉ nam.
Vậy nên tôi xin dịch lại quốc văn để cống hiến toàn thể Phật tử. Trong đây, trừ
ngoài chánh kinh, lời giảng giải có chỗ thêm bớt một vài phần cho thích hợp với
xứ sở; có chỗ nào chưa thích đáng hoặc sai lầm, mong quí vị Thiện tri thức hoan
hỷ chỉ giáo lại cho.
Dịch giả Kính bạch.
Dịch xong mùa Thu năm Kỷ sửu
Phật lịch 2512 - 1949
Tại Phật học đường Báo Quốc
KINH THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO
NGÀI
THÁI HƯ PHÁP SƯ
GIẢNG TẠI
HỘI PHẬT GIÁO CHÁNH TÍN Ở HÁN KHẨU (TRUNG
HOA)
Lời bàn trước khi giảng kinh
Hôm nay giảng về kinh Thập thiện nghiệp đạo, trước khi giảng chánh văn, xin bàn
qua mấy lời ở đầu kinh.
Chữ KINH của Phật giáo, nói cho đủ là Khế Kinh nghĩa là khế lý
và khế cơ. Chữ khế nghĩa là hợp. Tất cả giáo điển của Phật đều
kiến lập trên nguyên tắc ấy. Khế lý là hợp với lý chơn thật của
tất cả muôn sự muôn vật, là tánh tướng chơn thật của muôn sự muôn vật, do trí
huệ tuyệt đối của Phật tự minh chứng được; rồi đem chỗ thân chứng ấy khai thị
cho mọi loài sanh linh đều được chứng nhập: ấy là Phật y theo nguyên tắc khế
lý mà thuyết pháp vậy. Khế cơ là hợp với cơ duyên từng chủng loại,
từng căn tánh, từng thời tiết nhơn duyên. Đức Phật tìm phương tiện thích hợp với
tất cả mọi loài mà thuyết pháp, chúng sanh đều được giác ngộ. Đủ hai nghĩa
Khế lý và Khế cơ ấy gọi là Khế Kinh.
Nay căn cứ vào hai nghĩa ấy mà nói nghĩa đại khái của kinh nầy:
I .
THIỆT NGHĨA CỦA KHẾ LÝ
Là
nghĩa chân thật hợp với lý chân thật của muôn sự muôn vật, về tánh, về tướng
vậy.
Thiệt nghĩa hợp với chơn lý, đây không vì thời gian mà biến đổi, không vì bờ cõi
mà sai khác, không luận thời đại nào, địa phương nào, chủng loại nào, đều như
thế cả. Nơi đây xin chia làm ba đoạn để nói về nghĩa chơn thật hợp lý của kinh
Thập thiện nghiệp đạo này.
1)
Thập thiện nghiệp là mục tiêu làm lành của thế gian và xuất thế gian.
‘Nghiệp’ là hành vi; ‘thập thiện nghiệp’ là mười hành vi lành. Về thân có ba:
không sát sanh, không trộm cắp, không dâm dục. Về ngữ có bốn: không nói dối,
không nói hai lưỡi, không nói ác khẩu, không nói thêu dệt. Về ý có ba: không
tham lam, không sân hận, không ngu si tà kiến.
Họp cả thân, ngữ, ý thành mười nghiệp lành, trái lại tức là mười nghiệp ác.
Thiện và ác không nhứt định, cần phải xem tánh chất của nó mà định nghĩa. Nếu
trong tâm thiện, thì phát hiện ra nơi hành vi lợi lạc cho chúng sanh, tức là
thiện nghiệp. Tâm ác, thì hiện ra nơi hành vi làm tổn hại chúng sanh, tức là ác
nghiệp. Hơn nữa, muốn biết thiện hay ác của mười nghiệp về thân, khẩu, ý, ta hãy
xem sự kết quả về tương lai tốt hay xấu mà quyết định. Mười nghiệp lành này
không những nơi hành vi lành của thế gian, mà trong kinh điển Phật đều nói đến;
mười nghiệp lành này là cơ bản hành vi lành cả xuất thế gian nữa vậy. Ở thế gian
thì do những hành vi lành này mà đi đến kết quả tốt đẹp về nhơn, về thiên.
‘Thiên’ là trời tức chỉ cho các chúng sanh ở về thế giới tốt đẹp hơn loài người;
đó là sự kết quả của những người tu theo mười thiện nghiệp, vì tất cả phước báo
của loài người và trời thành tựu được, đều do tu theo mười điều lành này. Thôn g
thường người ta cho những hành vi đạo đức của loài người là theo năm giới trong
Phật pháp của hàng tại gia thực hành. Nếu muốn sanh về cõi trời thì cần phải có
hành vi đạo đức của thập thiện. Trời lại có ba cõi: cõi dục, cõi sắc và cõi vô
sắc. Muốn sanh vào hai cõi sắc và vô sắc, lại cần tu theo tứ thiền bát định nữa
mới được. Nhưng cũng căn cứ mười nghiệp lành này làm cơ bản; chỉ thêm một tầng
nữa là cần phải có công phu tu các pháp thiền định nữa mà thôi. Cho đến các hàng
Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát phát bồ-đề tâm thoát ly ra ngoài tam giới, lợi
lạc hữu tình , cũng không thể gì bỏ mười nghiệp lành này mà thành tựu được. Vì
thế, giáo pháp đại thừa cũng đều thâu tóm vào trong mười điều lành này.
Nhờ có ‘giới’ mới sanh thiền định, nhờ thiền định mới phát trí huệ. Cho
nên ở trong Thập địa bồ tát, Ly cấu địa về thứ hai, chính là nhờ Thập thiện
nghiệp mà thành tựu. Căn cứ vào thập thiện nghiệp này mà tinh tấn tu giới định,
đoạn trừ cùng tột đến chỗ nhỏ nhiệm của mười nghiệp ác về thân, khẩu, ý; nhờ có
định lực tăng cường, lòng không tán loạn, mới hoàn toàn thành tựu mười hạnh
lành. Đi sâu vào một tầng công phu nữa, cho đến khi nhờ sức thiền định mà phát
sinh trí huệ, cuối cùng đoạn trừ hết căn bản vô minh, đánh tan tà kiến, hoàn
toàn thân chứng quả vô lậu chánh giác, đến đây mới là cứu cánh của thập thiện
nghiệp đạo. Vì thế, sự nghiệp xuất thế của tam thừa thánh nhơn hầu hết bao quát
trong Thập thiện nghiệp. Chỗ chơn thiệt công năng của Thập thiện nghiệp quyết
định là như thế.
2)
Thập thiện là chánh nhơn tạo thành nhơn gian và thiên quốc. Thập
thiện là chánh nhơn tạo thành nhơn gian và thiên quốc mà con đường thiết thực đi
đến cảnh an lạc giữa thế gian cũng là Thập thiện. Nếu muốn đạt đến mục đích an
lạc trong nhơn gian, chính phải làm theo các hành vi không sát hại, không trộâm
cắp... của thập thiện. Nếu ai thực hành theo mười thiện nghiệp thì không có việc
gì là không thành tựu. Hiện tại sự thảm khốc tương tàn tương sát của nhơn loại,
chính là do kết quả của hành vi mười nghiệp ác. Giả sử tất cả đều làm theo mười
nghiệp thiện thì thế giới an lạc sẽ phát hiện ngay. Từ cá nhân cho đến đoàn thể,
xã hội, rộng là thế giới, tạo thành một bể khổâ mông mênh, chẳng biết đâu là bờ
bến; đó đều là kết quả của sự không tu thập thiện! Trên hoàn cầu, đại phàm có
chút tư tưởng, từ các nhà tôn giáo cho đến các nhà học vấn, ai cũng nuôi hy vọng
tạo thành một thế giới an vui tương thân tương ái; nếu thực hành theo mười thiện
nghiệp thì những lý tưởng thiên đường cho đến cực lạc đều phát hiện rất dễ dàng
vậy; thuyết Đại đồng của Trung Quốc và lý tưởng Hoàng kim thế giới của người Tây
phương sẽ thực hiện không khó; cốt yếu là đổi mười hành vi ác trở thành mười
hành vi thiện. Hơn nữa cũng có thể đổi cõi đời ác trược này, trở nên cõi thanh
tịnh an vui. Nhân loại ngày nay chính cần phải tinh tấn một cách bao quát cùng
khắp. Ngài Lô Sơn Huệ Viễn bảo rằng; Thực hành theo mười thiện nghiệp này, từ cá
nhân cho đến một gia đình, một làng, rộng ra đến toàn quốc, thì phong tục được
thuần mỹ, hình phạt được trừ bỏ, chính trị được an ninh, trở thành một quốc gia
thái bình thịnh vượng v.v... như thế thì luật chính là mười thiện nghiệp, không
luận thời gian nào, nếu muốn hưởng cảnh an vui, cần phải đi vào con đường ngay
thẳng ấy. Phật dạy: “Trong bốn châu thiên hạ, Bắc-cu-lô châu là tự tại an vui
hơn cả, chính là kết quả của mười thiện nghiệp vậy”. Lại nói : “Vua Chuyển luân
thánh vương ra đời thời bốn bể thái bình, thiên hạ an lạc, nhơn gian đều tu theo
mười thiện nghiệp ...” Thế cũng đủ chứng cho lý này vậy.
3)
Thập thiện nghiệp là căn bản của Bồ-đề Niết-bàn. Hai quả chuyển y
bồ-đề niết-bàn của tam thừa thánh nhân đều lấy mười thiện nghiệp làm căn bản. Vì
mười thiện nghiệp là công năng ngăn đón các hành vi độc ác, triệt để đối trị tất
cả hành vi bất thiện, tức là giải thoát sanh tử, chứng quả niết-bàn. Đoạn trừ
hết mầm mống của mười ác nghiệp, thì công đức của mười thiện nghiệp mới phát
triển đến viên mãn. Lại đem công đức ấy lợi lạc cho tất cả thế giới chúng sanh
tức là viên mãn quả đại bồ-đề; đây cũng là một định luật. Lẽ dĩ nhiên, không thể
bỏ mười thiện nghiệp, hoặc chưa viên mãn mười thiện nghiệp, mà có thể chứng Tam
thừa thánh nhân được. Đã nói lược qua phần Khế lý, dưới đây nói phần
Khế cơ.
II
. ỨNG DỤNG CỦA KHẾ CƠ -
Đức Phật thuyết pháp, bao giờ cũng thích ứng với căn cơ chúng sanh. Nay giảng
kinh Thập thiện nghiệp đạo này cũng chính là đem phương pháp ứng theo thời cơ mà
đối trị, hầu mong cứu vãn sự khổ não thảm khốc của thế giới chúng sanh; vì rằng
muốn đối trị thống khổ đau thương trở thành an vui hạnh phúc, ngoài thập thiện
ra, không thể tìm phương pháp gì hơn nữa.
Đây cũng chia làm ba đoạn mà giảng.
1) Đối trị bệnh dong ruổi theo bề ngoài mà bỏ quên nơi mình, để trở lại tu
nơi mình. Hiện tại thế giới đang ở trong bầu không khí ác liệt, thiên
tai nhơn họa. Nhân loại đang quay cuồng trong vòng thống khổ, chưa biết đến đâu
là bờ bến. Phương pháp cứu vãn không gì hơn là thiết thực tu hành theo mười
thiện nghiệp. Ta không nên oán trời, trách người và cũng không nên dong ruỗi kêu
cầu đâu xa lạ; trách nhiệm chính ở nơi ta. Ta cũng không nên đổ lỗi cho hoàn
cảnh, hoặc cho người nào, hoặc oán trách chế độ xã hội bất lương, hoặc bắt tội
điều kiện vật chất không đầy đủ; không biết tự trách mình; cứ mong cầu ở bên
ngoài. Nếu cả thế giới mọi người đều có tư tưởng như thế thì ai là người đứng ra
chịu trách nhiệm? Nhưng dù có người trách nhiệm đi nữa mà ta không chịu đảm nhận
tự lập ở nơi ta, người nào mắc lấy bệnh này, thật không có thuốc gì chữa được.
Lại còn có những hạng người không mong cầu ở nơi người, không mong cầu ở nơi
vật, mà chỉ cầu với Thượng đế hay Quỉ thần cho đến tin Phật mà cũng không ngoài
mục đích cầu khẩn ấy; rốt cuộc chỉ là bắt bong bóng giữa hư không mà thôi. Chơn
ý nghĩa của Phật pháp là dạy cho người ta hiểu biết chơn lý nhân quả, để trở lại
cầu chính ở nơi mình. Như hồi tại thế, em Phật là A-nan, tưởng ỷ lại vào Phật là
được thành Phật, có nói rằng: ‘Thế nào Phật cũng ban cho phép tam muội’ (huệ ngã
tam muội). Không chịu tự mình tu tập, rốt cuộc không khỏi mắc nạn với nàng
Ma-đăng-già. Trong hàng đệ tử Phật, ngài A-nan là đa văn đệ nhất, mà hoàn toàn
không ỷ lại được nơi Phật. Vậy nên biết, Phật pháp hướng trách nhiệm về tự thân
cả.
Nếu xa bỏ mình, cầu cứu với trời đất quỉ thần, mà muốn cải tạo thế giới xã hội,
thì quyết định không thể nào được. Cần phải trước hết đem mười ác nghiệp ở trong
tự tâm, đổi thành hành vi thiện, vậy sau cầu Phật mới có hiệu quả. Xưa Khổng tử
bị bệnh, Tử Lộ xin cầu đảo, Khổng tử bảo: ‘Khưu này đảo đã lâu rồi vậy’. Chính
Nho học cũng thừa nhận sự ngoại cầu là vô dụng; phương pháp cốt yếu chỉ là tự
mình phát tâm chơn chánh thực hành, rồi lần lượt khuyên mọi người làm theo mười
thiện nghiệp mới mong vãn hồi được nhân tâm thế đạo.
2)
Đối trị bệnh nói suông, chuyên trọng thực hành. Hiện tại người ta cao
đàm hoạt luận thuyết này thuyết nọ. Nào là nhân quyền, nhân đạo, việt thánh siêu
phàm v.v. ... Nhưng xét hành vi thực tế, không những không đem lại cho nhân quần
một tia sáng gì gọi là siêu hiền việt thánh, trái lại càng nói lại càng làm cho
nhân loại thống khổ thêm. Thậm chí con người không có giá trị là con người nữa
là khác. Bịnh nói suông cao đàm hoạt luận này, đã thành một bịnh thông thường
cùng khắp đây đó ở dưới vòm trời. Cũng vì thế, xã hội chẳng có gì đáng gọi là
đẹp đẽ; càng hô hào, càng vang dội, sự thực hành lại càng vô lực, mà sự nguy
hiểm lại càng xấp bội hơn lên. Ông Mạnh Tử bàn về việc ông Y Doản giam ông Thái
Giáp, nói rằng: “Có chí như Y Doản thời được, không chí như Y Doản thời soán
nghịch vậy” ở đây nên thêm vào một câu: “Có tài năng như Y Doản thời được, không
có tài năng như Y Doản thời nguy vậy”.
Bởi thế chỉ có lớn lời khoe khoang không nhắm đích thực hành mà bảo rằng trị đời
thì càng trị lại càng loạn thêm. Ví như trên đầu đội tảng đá ngàn cân mà múa
nhảy, kết quả không nguy hiểm đến tánh mạng là ít lắm. Không những trị đời như
thế mà nngười học Phật cũng vậy. Như một hạng người cuồng vọng đầu miệng khoe
khoang cao đại, không kiêng kỵ gì, tự bảo mình là Phật rồi không sợ hãi gì nữa,
tha hồ đàm huyền, thuyết diệu, mà cử chỉ thì không hiệp đạo một chút nào. Muốn
dẹp trừ bịnh điên cuồng ấy, cần phải thực hành theo mười thiện nghiệp; trái lại,
dù cho có tự xưng là đại-kỹ-thuật, đại-học-vấn cũng chẳng qua ma lực làm trợ
duyên dắt dẫn làm sa rớt vào tam đồ ác đạo mà thôi, không thể nào thành được
hạnh bồ-tát chân chánh Phật tử.
3) Đối trị với hạng người hy vọng cao xa mà phước đức bạc bẽo để tô bồi
nên phước đức.
Hiện tại người ta lòng đã muốn so sánh với trời cao, mà phước mạng khác nào như
giấy mỏng; không chịu tự tu phước đức, khi nào cũng muốn đàn áp người khác để
nâng cao giá trị của mình. Nếu không biết thay đổi cõi lòng, vâng theo pháp thập
thiện để trau dồi đức hạnh thì hy vọng cao xa chừng nào lại càng hạ thấp mình
xuống chừng ấy. Không biết nương dựa vào đâu để cứu vớt, lòng hy vọng cao xa
không phải là xấu, nhưng cốt yếu là phải tô bồi đức hạnh cho xứng mà thôi. Vô
lượng công đức Phật quả, oai thần tự tại của hàng thiên long v.v. đều do phước
đứ tu thập thiện mà thành tựu cả.
Nếu chỉ có hy vọng cao xa mà không tu thiện nghiệp, vun trồng cội đức, thì trọn
ngày chỉ ra vào trong phiền não, quyết không thể nào kết quả tốt được mà còn đào
thêm hầm thống khổ nữa là khác. Ai là kẻ muốn cứu đời giúp người, càng nên lấy
phước đức làm căn bản. Xưa có một vị pháp sư giảng kinh rất giỏi, mà rất ít
người nghe, sau gặp một vị thánh tăng bảo rằng: “Nhà ngươi chỉ thiếu phước đức,
từ nay nên siêng tu đức hạnh, làm nhiều việc lợi ích cho người”. Pháp sư y theo
lời dạy mà làm, về sau thuyết pháp quả như lời thánh tăng dạy, rất được nhiều
người nghe theo. Vì thế, thiết tưởng ở đời muốn lập đại công, kiến đại nghiệp,
quyết phải tô bồi phước đức tu tập theo pháp thập thiện, để làm kim chỉ nam, lợi
mình và lợi người, mới hoàn toàn thỏa mãn ý muốn.
Phật thuyết kinh Thập thiện nghiệp đạo. Đời nhà Đường ngài Thiệt-xoa Nan-đà nước
Vu Điền dịch Phạn văn ra văn Trung Hoa.
Đại khái giáo điển đạo Phật chia làm ba tạng: Kinh, Luật, Luận. Đây thuộc về
Kinh tạng.
Như trên đã nói, KINH là KHẾ KINH, nghĩa là những lời giáo huấn
đúng chân lý, hợp lẽ phải, thuận căn cơ, một khuôn khổ bất di bất dịch. Kinh này
do Phật dạy nên gọi là PHẬT THUYẾT. Phật đây chính là ứng thân Phật Thích
Ca Mâu Ni giáng sanh cõi Trung Ấn Độ, đầy đủ vô lượng phước đức trí huệ, cứu
cánh viên mãn đồng như hư không, khắp cả pháp giới, ai cũng tôn kính. Thích-ca
là họ của ngài, Tàu dịch là Năng nhơn, Mâu-ni là tên của ngài, Tàu dịch là Tịch
mặc. Y theo bản nguyện, thuận theo căn cơ chúng sanh mà khai thị tiếp dẫn mới
nói kinh nầy lấy tên là THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO KINH, mười điều
thiện sẽ giảng rõ ở sau kinh văn. Chữ NGHIỆP tức là hành vi, là những
hành vi về đạo đức học, về luân lý học; theo Phật pháp có thể gọi là thiện hạnh
học. Muốn định nghĩa chữ THIỆN NGHIỆP cần phải căn cứ vào những hành vi
đối với không gian, có lợi ích cả mình lẫn người, và đối với thời gian hiện tại
vị lai đều có lợi ích. Nếu trái lại biết lợi mình, không biết nghĩ đến kẻ khác,
hoặc là tham lợi chỉ trước mắt, không nghĩ đến thiệt hại về sau, đều thuộc về ác
nghiệp cả. Lấy mục đích lợi tha thiện nghiệp làm lợi ích chung của đại chúng,
kết quả cả mình và người đều lợi; lấy mục đích hại tha ác nghiệp làm tổn hại cho
đại chúng, kết quả người và mình đều hại. Nội dung của thiện ác, đại khái như
thế. ĐẠO tức là con đường đi, THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO tức là con
đường quang minh chính đại đi đến cảnh giới an vui, không tối tăm hiểm trở như
con đường thập ác. Đi trên con đường thập thiện nghiệp, chắc chắn sẽ đến quả an
vui của cõi trời, cõi người, hơn nữa có thể đạt đến Tam thừa Thánh quả. Cho nên
gọi là “thập thiện nghiệp đạo”.
Người dịch : (Ghi chú của Hòa Thượng)
Kinh nầy Phật thuyết dưới Long cung chép bằng Phạn văn. Đời nhà Đường, ngài
Thiệt-xoa Nan-đà nước Vu Điền dịch qua văn Trung Hoa. Nước Vu Điền tức là tỉnh
Tân Cương bây giờ, về đời Đường chưa thuộc bản đồ Trung Quốc. Ngài thông cả tam
tạng, đã từng dịch kinh ‘Bát thập Hoa nghiêm’ đồng thời có ngài Nghĩa Tịnh Tam
tạng cũng dịch kinh này đặt tên là ‘Phật thuyết Hải long cung Đại tạng kinh’. Do
đó ta có thể tin chắc chắn kinh này, đối với lịch sử đúng sự thật do Phạn văn
dịch lại.
B. GIẢI THÍCH KINH VĂN
Tôi nghe như vầy,
một thời Phật ở tại Long cung Ta-kiệt-la, cùng tám ngàn chúng Đại tỳ kheo, ba
vạn hai ngàn các vị Bồ-tát Ma-ha-tát đông đủ.
Đoạn văn này là lời tín sử bằng chứng cho kinh này là ai nói, nói tại chỗ nào,
về thời kỳ nào, và vì ai mà nói; do ngài A-nan sau khi kiết tập kinh điển đã ghi
chép lại.
TÔI NGHE tức là ngài A-nan tự xưng, nghĩa là tự Ngài thân hành trực tiếp
trước Phật mà nghe, chứ không phải nghe người khác nói lại. NHƯ VẦY chính
là chỉ cho kinh nầy. MỘT THỜI tức là thời gian thích hợp Phật cần phải
dạy kinh nầy, người nói và người nghe đều được hiệp ý. Ở đây không ghi lại năm,
tháng, ngày giờ, là vì tứ phương quốc độ niên lịch bất đồng, nên giảm mà không
nói. LONG CUNG chính chỗ Phật nói kinh nầy. PHẬT là chỉ cho đức
Thích-ca Mâu-ni. Ngài là giáo chủ đời hiện tại, chính ngài nói kinh nầy.
TA-KIỆT-LA Tàu dịch là Hàm hải, ở dưới bể nước mặn, có cung điện Long vương,
chúa của loài rồng ở đó. Trong kinh Phật thường nói đến loài long, khác với loài
long thông thường người ta nói, có thể làm mây làm mưa được. Ở trong kinh Phật,
loài long có nhiều loài: loài ở trên không, loài ở trên cạn, loài ở dưới biển
v.v... Long cung ở đây tức là loài long ở dưới biển vậy. Thông thường người ta
cho rằng: long là một loài động vật có đủ thần thông biến hóa; các nhà sinh vật
học khảo cứu các loài động vật ở trên lục địa về cổ thời, cũng thừa nhận là có
loài long; cũng có thời đại người ta cho loài long là chủ-nhân-ông của nhân
loại. Hiện nay ở châu Phi, thỉnh thoảng người ta còn trông thấy một vài di tích
của loài long ở trên cạn, cho nên ta tin chắc thế nào cũng có loài long. Nhưng
chỉ vì loài long phần nhiều hoặc ở giữa hư không, hoặc ở dưới đáy biển, toàn là
những chỗ mà năng lực người ta chưa đi đến, cho nên không thể nào trực tiếp biết
được. Đức Phật ngày xưa và chúng Thanh văn đại đệ tử, có năng lực tùy loại
thuyết pháp, cho nên chỗ thuyết pháp của Phật, thường thường hoặc là Thiên cung,
hoặc Long cung, hoặc Nhân gian, hoặc trong Thiền định v.v... Nếu gặp trường hợp
tương ưng, đức Phật đều có thể thuyết pháp được cả. Chính như kinh này, Phật
thuyết tại long cung của Ta-kiệt-la, đồng thời có tám ngàn đại chúng tỷ kheo và
ba vạn hai ngàn các vị đại bồ-tát ở khắp cả mười phương đều đến dự thính. Có
chúng thính pháp đông đúc như vậy, đó là chứng cứ cần phải tin.