Ðại Tạng No. 1451
CĂN BẢN THUYẾT
NHẤT THIẾT HỮU BỘ
- Mùla-Sarvàstivàda -
TỲ-NẠI-DA TẠP SỰ
-
Mùla-Sarvàstivàda Vinaya Ksudraka Vastu -
(Cuộc đời đức Phật và các đệ tử)
Hán dịch:
Tam Tạng Nghĩa Tịnh, đời Ðường, Trung Quốc
Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh, PL 2542 - TL 1998
--- o0o ---
Thành kính đảnh lễ đức Thế
Tôn, Ngài là bậc Ứng Cúng, Ðấng Chánh Biến Tri.
Quyển thứ hai
mươi sáu
--- ooOoo ---
Tiếp theo nhiếp tụng bốn trong biệt môn sáu: Sự
việc Phật hiện đại thần thông.
Thế Tôn trú ở vườn Trúc Lâm, bờ hồ Yết Lan Ðạc
Ca, thành Vương Xá. Bấy giờ, quốc-vương, đại-thần, Bà-la-môn, cư-sĩ, nhân-dân
thương nhân trong thành phố làng xóm đều tôn trọng cung kính cúng dường Ðại-sư
Thế Tôn và chúng Bí-sô nhiều lợi dưỡng như thức ăn uống, y phục, ngọa cụ, y
dược, những vật phục vụ đời sống. Nhưng các ngoại đạo chẳng được vua, quan,
Bà-la-môn ... cung kính nên không được thức ăn cho đến vật phục vụ thân thể.
Ma vương Ba-tuần suy nghĩ: "Từ lâu ta rất phiền
muộn vì Kiều Ðáp Ma nhưng chưa hại được vậy nên dựa vào các ngoại đạo để gây não
loạn".
Khi ấy, Lục-sư Bộ Kích Noa ... chẳng phải Nhất
thiết trí, kiêu mạn xưng Nhất thiết trí, đang hoạt động tại thành Vương-xá.
Ma vương Ba Tuần hóa ra hình dáng Bộ Kích Noa,
đi đến gặp Mạt Yết Lị Cù Xá Lê Tử, hiện thần thông thân phóng nước lửa phun mưa
sấm chớp trước vị này. Mạt- Yết Lị Cù Xá Lê Tử hỏi:
- Này Bộ Kích Noa! Ngài đã thành tựu công đức
đặc biệt thù thắng như vậy à?
Ðáp:
- Tôi chứng như vậy.
Ba tuần lại lần lượt đến gặp San Thệ Di Bệ Kích
Tri Tử, A-Thị Ða Kê Xá Cam Bạt La, Khước Câu Ðà Ca Ða Diễn Na, Ny Yết Lạn Ðà
Thận Nhã Ðê Tử, đều hiện các thần thông thân phun ra nước lửa, phóng mưa sấm sét
trước mặt họ.
Ba-tuần biến thành Mạt Yết Lị Cù Xá Lê Tử đến
nơi khác hiện các thần thông thân phun ra nước lửa, phóng ra mưa sấm chớp. Họ
đều hỏi:
- Mạt Yết Lị Cù Xá Lê Tử, ngài thành tựu công
đức thù thắng đặc biệt như vậy à?
Ðáp:
- Tôi chứng.
Ba-tuần biến thành San Thệ Di Bệ Kích Tri Tử đi
đến nơi khác cũng làm ... như trước ... cho đến đáp:
- Tôi chứng.
Ba-tuần biến thành A Thị Ða Kê Xá Cam Bạt La,
cũng làm như trước ...
Ba Tuần biến thành Khước Câu Ðà Ca Ða Diễn Na,
cũng làm như trước ...
Ba Tuần biến thành Ny Yết Lạn Ðà Thận Nhã Ðê Tử
đi đến trước ... hiện các thần thông thân phun ra nước lửa, phóng mưa sấm sét.
Họ đều hỏi:
- Ngài đã chứng công đức thù thắng kỳ lạ như vậy
à?
Ðáp:
- Tôi chứng.
Thấy sự việc như vậy, từng người đều có ý nghĩ:
"Những vị kia đều có đại uy thần, sức thù thắng, chỉ riêng mình ta không có uy
đức.
Vào lúc nọ, tại Xướng tụng đường, Lục-sư đều tụ
tập cùng nhau bàn luận. Họ nói:
- Ngày trước chúng ta đều được quốc-vương,
đại-thần, Bà-la-môn, cư-sĩ, thương-chủ ... tôn trọng lễ kính cúng dường, được
nhiều lợi dưỡng như thức ăn, y phục, ngọa cụ, y dược, vật dụng cho thân thể.
Hiện nay, chúng ta không còn được cung kính cúng dường như vậy nữa, thức ăn, y
phục bị đoạn tuyệt trong khi đó Sa-môn Kiều Ðáp Ma được các vua chúa ... cung
kính cúng dường rất đầy đủ những vật dụng cần dùng. Các vị nên biết, chúng ta
nên dùng sức thần thông đạo lực gọi Sa-môn Kiều Ðáp Ma đến để đấu phép thượng
nhân với chúng ta. Nếu Sa-môn Kiều Ðáp Ma hiện một thần thông, ta sẽ hiện hai.
Nếu ông ta hiện hai, ta sẽ hiện ba. Nếu ông ta hiện hai, ta sẽ hiện bốn. Nếu ông
ta hiện bốn, ta sẽ hiện tám. Nếu ông ta hiện tám, ta sẽ hiện mười sáu. Nếu ông
ta hiện mười sáu, ta sẽ hiện ba mươi hai. Khi Kiều Ðáp Ma hiện pháp thượng nhân,
ta sẽ hiện gấp hai gấp ba lần để hơn hành động của ông ta.
Ðến gặp vua Ảnh Thắng, sau khi chú nguyện cho
vua, Lục-sư thưa:
- Ðại vương nên biết, chúng tôi đủ đại thần
thông, có đại trí tuệ. Sa-môn Kiều Ðáp Ma cũng tự xưng có đủ đại thần thông, có
đại trí tuệ. Xin đại vương cho phép bậc trí tuệ và người trí tuệ dùng pháp thần
thông thượng nhân để thi đấu nhau. Khi nào Sa-môn ấy hiện một thần thông, tôi sẽ
hiện gấp hai gấp ba thần thông như vậy. Khi nào ông ấy đi đến nữa đường, chúng
tôi cũng theo ông ấy đến nữa đường để cùng đấu thần thông.
Vua Ảnh Thắng đáp:
- Này Lục-sư! Ccác vị tuy sống nhưng không khác
thây chết, vì sao có thể dùng pháp thượng nhân mà gọi đến Như Lai?
Nghe nói như vậy, họ đều từ giã.
Sau đó, vua ra khỏi thành để đi đến lễ kính đức Phật.
Giữa đường, thấy vua Ảnh Thắng, Lục-sư lại xin đấu thần thông như trước. Vua
nói:
- Ðã hai lần đến nói, ta cũng bỏ qua, nếu đến
xin nữa, sẽ đuổi các ông ra khỏi nước.
Họ im lặng bỏ đi, về đến trú xứ cùng nhau bàn
luận:
- Quý vị nên biết, đối với Sa-môn vua rất kính
tín, việc này không chờ đợi được. Ð?i vương Thắng Quang nước Ki?u Thiểm Tỳ tính
tình trung dung không có thiên lệch, ai cũng đều nghe. Nếu Kiều Ðáp Ma đi đến
thành kia, chúng ta gọi ông ta đấu sức thần thông.
Sau đó, tùy theo nhân duyên hóa độ, Thế Tôn đi
khỏi thành Vương Xá đến Thất La Phiệt, trú ở vườn Cấp Cô Ðộc. Cũng đi theo sau,
nghỉ ngơi xong, Lục-sư đến gặp vua Thắng Quang, chú nguyện xong, thưa:
- Xin đại vương biết cho, chúng tôi có đại thần
thông, đầy đủ đại trí tuệ. Sa-môn Kiều Ðáp Ma cũng thường tự xưng có đại thần
thông, đủ đại trí tuệ. Xin đại vương cho phép bậc trí tuệ so tài với người trí
tuệ bằng pháp thần thông thượng nhân. Nếu Sa-môn ấy hiện một thần thông, tôi sẽ
hiện hai như vậy cho đến gấp ba mươi hai lần ... như trước. Nếu khi ông ấy đi
đến nữa đường, chúng tôi cũng đi đến nữa đường cùng đấu thần thông.
Vua Thắng Quang thưa với Lục-sư:
- Các ngài hãy chờ tôi bạch Phật.
Ði đến gặp Thế Tôn, lạy sát hai chân rồi ngồi
qua một bên, nhà vua cung kính chắp tay thưa với Thế Tôn:
- Ngoại đạo Lục-sư muốn dùng pháp thượng nhân
thần thông mời Thế Tôn cùng đấu để so đạo đức. Con cầu xin Ngài từ bi chiến
thắng ngoại đạo để trời người vui mừng, làm cho người có tín tâm được hoan hỷ,
người không tín tâm diệt được gốc tội ác.
Nghe thưa, Ðại sư bảo vua Thắng Quang:
- Ðại vương nên biết, Ta dạy cho các đệ tử
Thanh-văn rằng này các Bí-sô không nên lai vãng đến các Sa môn, Bà-la-môn,
trưởng giả, cư sĩ để hiện pháp thượng nhân thần thông ở trước họ. Ta lại dạy cho
các đêï tử pháp như vầy, này các Bí-sô nếu có pháp thắng thiện cần phải che dấu,
có tội lỗi xấu ác phải phát lộ là việc phải làm trước.
Bấy giờ, vua Thắng Quang ba lần cầu thỉnh, Thế Tôn đều đáp như vậy.
Phật bảo:
- Ðại vương! Phật có năm việc phải làm. Ðó là:
Một: Ðối với hữu tình chưa từng phát tâm, làm
cho họ phát tâm Vô-thượng chánh-đẳng-giác.
Hai: Thọ ký cho pháp vương, quán đảnh thái tử đã trồng thiện căn từ lâu.
Ba: Làm cho cha mẹ thấy được chân-đế.
Bốn: Hiện đại thần thông nơi thành Thất La Phiệt.
Năm: Hóa độ cho chúng sinh nào mà nhờ Phật dạy thì được giải thoát.
Khi ấy, với suy nghĩ chư Phật thời quá khứ đều
hiện thần thông ở đâu, Thế Tôn thấy ở thành Thất La Phiệt. Ngài lại thấy bảy
ngày sau đại chúng vân tập. Sau khi biết như vậy, Phật bảo vua Thắng Quang:
- Vua hãy về đi, xem đúng thời cơ, Ta sẽ hành
động.
Vua thưa:
- Sẽ vào lúc nào?
Ðáp:
- Ðợi bảy ngày sau.
Vua lạy sát chân Phật, từ giã ra về, đi đến gặp
ngoại đạo, nói:
- Quý vị nên biết, sau bảy ngày nữa, Như Lai sẽ
vì mọi người mà hiện đại thần thông. Các vị cần làm việc gì thì tùy ý.
Nghe nói xong, ngoại đạo bàn bạc với nhau: "Có
thể Sa-môn Kiều Ðáp Ma chạy trốn hoặc tìm đồng bọn, chúng ta phải làm sao đây?
Sa môn chắc chắn tìm đồng bọn, chúng ta cũng nên tìm bạn hữu".
Bấy giờ, tại thành Câu Thi Na có một ngoại đạo
tên là Hiền-Thiện, già đến 120 tuổi. Những tráng sĩ trong thành này đều cung
kính tôn trọng chí tâm cúng dường Thiện Hiền, cho là bậc A-la-hán.
Sau khi mưu tính, Lục-sư đến gặp Thi?n Hiền,
thưa:
- Thiện Hiền! Ngài là người đồng phạm hạnh với
chúng tôi.
Chúng tôi muốn gọi sa môn Kiều Ðáp Ma cùng đấu
thần thông hiện pháp thượng nhân, ngài hãy tương trợ.
Ðáp:
- Các vị thật không nên có hành động cùng đấu
thần thông với Sa môn ấy.
- Vì sao?
- Vị ấy có uy đức lớn, thế lực lớn. Làm sao biết
được, vì có lý do.
Hỏi:
- Lý do gì?
Ðáp:
- Khi đại Sa-môn ấy chưa xuất thế, ta nhớ có lần
trú bên bờ hồ lớn Mạn Ðà Chỉ Nhĩ để tịnh tọa. Vào sáng sớm sau khi khất thực, ta
đến bờ ao Vô Nhiệt im lặng thọ thực. Khi ấy thiên thần trú ở hồ này đích thân
mang nước đến cung cấp cho ta. Sau khi Sa-môn Kiều Ðáp Ma xuất thế, đệ tử số một
trong hàng thanh văn là Xá Lợi Phất. Cầu tịch Chuẩn Ðà đệ tử của vị ấy mang y
phấn tảo đến ao Vô Nhiệt để giặt. Chư thiên bên hồ lấy y ấy giặt rồi đem lại vị
kia, rất thành kính lấy nước giặt y rưới lên thân mình. Theo ta suy nghĩ, ta
không bằng đệ tử của đệ tử vị ấy. Nay, các vị muốn gọi Ðại sư của họ đến đấu
thần thông, thật không phải là việc tốt.
Nghe như vậy, họ bàn nhau: "Ðây cũng là bè đảng
của sa môn ấy, hãy tìm vị khác cùng nhau mưu tính".
Giả dạng cung kính, từ tạ ra đi, đến nơi vắng
vẻ, Lục-sư bàn nhau: "Bbiết tìm đồng bọn của chúng ta ở đâu đây?".
Một người nói:
- Thành kia có một vị chứng ngũ-thông, hãy đến
đó bàn tính với họ, tất được tương trợ.
Một người nói:
- Người ấy không đủ sức hiện các thần thông
nhưng tại chỗ yên tịnh ở Tuyết Sơn nơi rừng rậm, ao trong, hoa trái xum xuê, gió
tùng reo vi vu, chim đẹp đua hót, có năm trăm tiên nhân sống ở đó, phần đông đã
chứng đắc ngũ thông. Chúng ta nên đến đó bàn với họ.
Ðến nơi, sau khi chào hỏi, họ thưa:
- Quý vị cùng chúng tôi đồng tu phạm-hạnh. Hiện
nay, chúng tôi muốn gọi Sa-môn Kiều Ðáp Ma cùng thi đấu pháp thần thông thượng
nhân, quý vị có thể hỗ trợ không?
Ðáp:
- Ðấy là việc tốt. Chúng tôi xin tham dự. Khi
thi đấu, nên hiện tướng trạng lạ. Thấy tướng trạng ấy chúng tôi sẽ đến tương
trợ.
Cung kính vâng lời, Lục-sư từ giã.
Một hôm, vương tử Ca La em khác mẹ với vua Thắng
Quang mặc y phục đàng hoàng trang sức hương thơm, vòng hoa, anh lạc, đi ngang
qua cạnh cung vua bên thành. Trên lầu cao, thấy vương tử đi qua, quá yêu mến sắc
đẹp Ca La nên nội nhân của vua ném vòng hoa trên người vương tử. Những người
khác đều thấy, có kẻ oán ghét đem thưa với đại thần, đại thần tâu vua:
- Vương tử Ca La có giao hảo tư tình với nội
nhân của vua.
Nghe tâu, vội vàng không xét kỹ, vua ra lệnh đại
thần chặt tay chân vương tử. Tuân lệnh vua, họ dẫn vương tử ra chợ, khiến đồ tể
chặt tay chân. Bấy giờ, thân tộc vương tử và nhân dân bu quanh thương xót kêu
khóc rất đau khổ. Có ngoại đạo đi ngang qua, thân tộc vương tử thưa thỉnh:
- Vương tử Ca La bị vua nỗi giận chặt hết tay
chân. Các ngài có thể dùng năng lực của lời nói thật làm cho tay chân bị chặt
của vương tử bình phục như xưa không?
Nghe hỏi, ngoại đạo im lặng không đáp.
Thấy Tôn giả A Nan Ðà khất thực ngang qua đó,
thân tộc ấy hỏi:
- Vương tử Ca La bị chặt tay chân, thánh giả có
thể làm cho bình phục như xưa không?
Ðáp:
- Quý vị ở đây, chờ tôi bạch Phật rồi trở lại cho biết.
Nghe nói, mọi người rất hoan hỷ nói:
- Bây giờ vương tử đã được mạng sống.
Vội vàng trở về, vào rừng Thệ Ða, thu xếp bát
cơm xong, A Nan Ðà đến gặp Thế Tôn thưa lại việc trên. Phật bảo A Nan Ðà:
- Ông hãy đến đó, bảo quyến thuộc sắp xếp tay
chân vương tử lại như cũ, sau đó mới dùng lời nói chân thật để chú nguyện. Nên
chú nguyện bằng lời chân thật thế này: "Trong các chúng sinh loài không chân,
hai chân, nhiều chân, loài có sắc hay không sắc, loài có tưởng hay không tưởng
hay chẳng phải không tưởng, đức Như Lai là tối thượng. Trong các pháp hoặc hữu
vi hoặc vô vi, pháp vô-dục-nhiễm là tối thượng. Trong các tập thể, đại chúng,
đám đông, chúng Thanh-văn của Phật là tối thượng. Trong các giới cấm tinh cần
khổ hạnh, tu tập phạm hạnh, thánh-giới thanh tịnh là tối thượng. Nếu lời này là
chân thật không hư dối sẽ khiến cho tay chân của vương tử Ca-La đã bị cắt bình
phục như xưa".
Nghe Phật dạy xong, sau khi bạch Phật rằng: "Thế
Tôn, con sẽ làm như vậy", A Nan Ðà lạy sát chân Phật, đi đến chỗ Ca La. Tôn giả
bảo quyến thuộc xếp đặt tay chân vương tử lại như cũ rồi làm đúng như lời Phật
dạy, dùng lời nói chân thật chú nguyện:
- Trong các chúng sinh loài không chân, hai chân
... như trên cho đến ... thánh-giới thanh tịnh là tối thượng. Nếu thánh
ngôn này không hư dối thì có thể làm cho tay chân bị chặt của vương tử bình phục
như xưa.
Khi Tôn giả chú nguyện xong, tay chân vương tử
bình phục như cũ. Thấy sự việc như vậy, mọi người đều hớn hở reo mừng vang dậy
tán thán việc hy hữu là Tôn giả A Nan Ðà thắng các ngoại đạo và đưa vương tử đến
gặp Phật, lạy sát chân Ngài, đứng hết qua một bên, bạch rằng:
- Ðại đức Thế Tôn! Ðây là vương tử Ca La.
Vương tử lễ sát chân Phật rồi ngồi qua một bên.
Thuận theo sự sai khác về căn tính sở thích của vương tử, Thế Tôn giảng dạy pháp
yếu. Nghe pháp xong, vương tử chứng quả Bất-hoàn và đắc thần thông.
Nghe vương tử Ca La nhờ Tôn giả A Nan Ðà dùng
năng lực thật ngữ chú nguyện nên tay chân bình phục như xưa, vua Thắng-Quang đến
xin lỗi vương tử: khanh hãy tha thứ cho ta.
Ðáp:
- Xin vâng.
Vua nói:
- Ca La nên trở về nhà.
Ðáp:
- Ðại vương, tôi đã ly dục, nay ở lại đây phục
vụ Như Lai không trở về nữa.
Vua nói:
- Lành thay, hành động tùy ý.
Nhà vua làm một nơi kinh hành trong rừng cho
vương tử cư trú. Vì các chi thể của vương tử được nối lại từng phần nên gọi rừng
này tên là rừng Từng Phần.
Vua Thắng Quang đến gặp Phật, đảnh lễ sát chân, thưa:
- Thế Tôn! Nếu Ngài cho phép, con sẽ làm nhà
hiện thần thông từ cửa thành đến rừng Thệ Ða.
Phật dạy:
- Tùy ý.
Vua liền làm nhà tô trát đàng hoàng, dựng trăm
ngàn cờ lọng rực rỡ, rưới nước thơm chiên đàn, rãi hoa quý vô giá, treo các
phướng màu gió thổi rất hấp dẫn, vàng ngọc chiếu sáng, chuông báu kêu vang, đốt
hương hải-ngạn khói tỏa thành lọng, như vườn Hoan Hỷ ở cõi trời Ðao Lợi, làm bảo
tọa sư tử vi diệu xinh đẹp cho Phật Thế Tôn bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, mã
não trang trí bằng các loại hiếm có trên đời.
Các đệ tử ngoại đạo của Lục sư cũng tùy theo sức
mình làm sáu tòa ngồi cho thầy mình. Các ngoại đạo đều hộ vệ theo, Lục-sư ngồi ở
trước, sai sứ đến tâu vua: đại vương nên biết, chúng tôi đã đến, hãy gọi sa môn
Kiều Ðáp Ma.
Nghe họ thông báo, vua cùng nội cung, đại thần,
nhân dân khắp nơi trong thành đều đi đến nhà hiện thần thông. Vua bảo sứ giả Ma
Nạp Bà:
- Ngươi đến lễ Phật và thưa lại lời của ta, thăm
hỏi Thế Tôn có khỏe mạnh, sinh hoạt an ổn, sức lực bình thường không và bạch
rằng các ngoại đạo đều đã tập trung, xin Phật biết để định liệu.
Vâng lệnh vua, sứ giả Ma Nạp Bà đến gặp Phật,
sau khi thăm hỏi, ngồi qua một bên, bạch:
- Thế Tôn! Ðại vương Thắng Quang đảnh lễ dưới
chân Phật, thăm hỏi Thế Tôn có khỏe mạnh, sinh hoạt an ổn, sức lực bình thường
không!
Phật đáp:
- Xin chúc đại vương và ngài thân thể khỏe mạnh
an lạc.
Ma Nạp Bà thưa:
- Ðại vương Thắng Quang thưa rằng các ngoại đạo
đều đã tập trung, xin Phật biết để định liệu.
Phật bảo Ma Nạp Bà:
- Ngài có thể đi về.
Bấy giờ, Thế Tôn dùng sức thần thông gia bị Ma
Nạp Bà, như vua nhạn xòe hai cánh, bay lên hư không đến nhà hiện thần thông.
Thấy đức Phật từ hư không bay đến, mọi người đều
vui mừng tán thán việc chưa từng có.
Thấy việc kỳ lạ, lòng thêm kính tín, vua bảo các
ngoại đạo:
- Như Lai đại sư đã hiện thần biến. Các vị hãy
tuần tự hiện việc kỳ lạ.
Họ đáp:
- Ðại vương! Có vô biên đại chúng đang vân tập,
giả như hiện thần thông, không biết cái nào là của Sa môn hay của chúng tôi.
Khi ấy, Vương tử Ca La dùng thần lực đi đến núi
Hương Túy lấy các loại cây rừng hoa trái xum xuê kỳ lạ có chim đẹp hót vang đi
theo cây, đem an trí ở phía bắc của nhà hiện thần thông.
Thấy như vậy, vua càng thán phục, bảo với ngoại
đạo:
- Như Lai đại sư đã hiện thần biến, các vị cũng
nên tuần tự biến hiện.
Họ đáp:
- Ðại vương! Chẳng phải trước đây chúng tôi đã
nói rằng hiện nay có vô biên đại chúng vân tập, giả như hiện thần biến chẳng
biết là của ai.
Tiếp theo Trưởng giả giúp người nghèo Tô Ðạt Ða
dùng sức thần thông lấy cây Như Ý ở cõi trời Ba-mươi-ba đem an trí nơi mặt Bắc
nhà hiện thần thông.
Thấy như vậy, vua càng hoan hỷ, bảo các ngoại
đạo:
- Như Lai đại sư đã hiện thần thông, các vị hãy
làm đi.
Ngoại đạo đáp:
- Mọi người quá đông, biết ai hơn thua, giữa tôi
và Sa-môn không thể phân biệt được.
Khi ấy có trăm ngàn nhân dân các nước xa gần đều
tập họp đến. Trên hư không có trăm ngàn ức chư thiên thích xem thần thông cũng
vân tập đến.
Thế Tôn ra khỏi phòng một lúc, rửa sạch chân
xong lại vào trong phòng, an tọa nhập vào định Hỏa Quang. Từ lỗ khóa phòng của
Thế Tôn, lửa phun ra rực rỡ bay đến chụp lấy các nhà hiện thần thông.
Các ngoại đạo nói:
- Thần thông của Sa-môn hiện ra làm cho nhà cửa
đều bị lửa thiêu đốt, hãy gọi sa môn ấy đến diệt lửa.
Nghe nói, vua im lặng không biết nói gì nên rất
buồn bã.
Phu nhân Thắng Man, phu nhân Hành Vũ, đại thần
Tiên Thọ, Cố-cựu, trưởng giả Cấp Cô, Mẹ Tỳ Xá Khư và những người tịnh tín khác
và những người chưa tin hẳn đều rất kinh ngạc.
Trong khi đó, thấy lửa cháy lớn, ngoại đạo sư và
đệ tử của họ đều rất vui mừng.
Bấy giờ, ngọn lửa cháy khắp các nhà hiện thần
thông, thiêu đốt các trần cấu làm cho thanh tịnh. Quang minh rất sáng rực nhưng
không làm hại gì cả, rồi tự nhiên lửa tắt, do thần lực của Phật và chư thiên.
Thấy vậy, nhà vua vui mừng như chết đi sống lại
nên ra lệnh ngoại đạo:
- Như Lai đại sư đã hiện thần thông, các vị hãy
hiện thần biến của mình đi.
Họ đành im lặng, cúi đầu không đáp.
Khi ấy, Thế Tôn tác ý, đạp chân phải lên Hương
điện (phương Tây gọi ngôi nhà mà đức Phật ở là Kiền Ðà Câu Tri. Kiền-đà là
hương, câu-tri là nhà, đây có nghĩa là hương thất, hương đài, hương điện. Không
thể trực tiếp xúc phạm tôn danh của Phật nên chỉ gọi cái điện mà Ngài trú, như
xứ này gọi vua là Ngọc-bệ, Bệ-hạ ... Nhưng đây gọi là Phật Ðường, Phật Ðiện,
không thuận với ý nghĩa ở phương Tây.)
Bấy giờ, mặt đất chấn động sáu cách, rung nhẹ,
rung vừa, rung cực mạnh; động nhẹ, động vừa, động cực mạnh. Phía Ðông nổi lên,
Tây chìm xuống; Tây nổi lên Ðông chìm xuống; Bắc nổi lên Nam chìm xuống; Nam nổi
lên Bắc chìm xuống; trung tâm nổi lên chung quanh chìm xuống; chung quanh nổi
lên trung tâm chìm xuống. Do mặt đất chấn động nhiều cách như vậy, năm trăm tiên
nhân ở núi Tuyết thấy hiện tượng lạ này đều kinh ngạc bảo nhau rằng các vị đồng
phạm hạnh ấy đã hiện tướng lạ này, chúng ta nên đi.
Trong lúc họ lên đường, Thế Tôn vì sự hóa sinh
của họ, nên phóng ra ánh sáng vi diệu màu hoàng kim chiếu đến các vị tiên nhân.
Trong khoảng cách này đều sáng rực lên.
Các tiên nhân trông thấy Thế Tôn, với hào quang
viên mãn xinh đẹp như núi báu chúa trang nghiêm, như đầy đủ cả ngàn mặt trời
trong sáng, kim thân rực rỡ với 32 tướng, trang sức tự thân với 80 vẻ đẹp.
Sau khi trông thấy tướng hảo của Thế Tôn, tâm
các vị tiên trở nên trong sáng lặng yên như tu tập thiền định đã lâu, như người
không con được con, người nghèo được của báu, người thích làm vua được nhận lễ
quán đảnh lên ngôi, cũng như người đã trồng căn lành nhiều đời lần đầu tiên thấy
Phật. Gặp đức Phật, các vị tiên nhân lạy sát chân Ngài rồi ngồi qua một bên.
Thế Tôn tùy theo căn cơ khác nhau của họ, thuyết
pháp thuận theo lý Tứ-đế. Họ nghe pháp xong, dùng trí tuệ như kim cương chử phá
núi 20 thân kiến, chứng quả Dự-lưu. Sau khi kiến đế, họ đứng dậy chắp tay cung
kính bạch Phật:
- Thế Tôn! Chúng con xin được xuất gia với Phật
và thọ Cận-viên thành tựu tánh Bí-sô, tu tập phạm hạnh với Ðại sư.
Thế Tôn bảo:
- Lành thay đến đây Bí-sô, hãy tu tập phạm hạnh.
Lời nói của Phật vừa xong, râu tóc họ tự rụng
như đã cạo qua bảy ngày, thân mang pháp-phục, bình-bát nơi tay, đầy đủ uy nghi
như Bí-sô trăm tuổi hạ. Theo như giáo pháp đã thọ, họ tự siêng năng tinh tấn
không ngừng, phá tan vòng luân hồi của năm nẻo, đoạn trừ các phiền não, chứng
quả A-la-hán ... nói đủ như chỗ khác ... cho đến ... là nơi cung kính tôn
trọng của chư Thiên Ðế Thích.
Bấy giờ, Thế Tôn cùng năm trăm Bí-sô La hán tiên
nhân và các Bí-sô khác, trời rồng bát bộ vây quanh trước sau đi đến nhà hiện
thần thông, an tọa trên tòa sư tử trước đại chúng.
Có Ô-Ba-Tư-Ca tên Thần Tiên Mẫu đến gặp Phật,
thưa:
- Thế Tôn! Xin Ðại sư chớ làm mệt tinh thần, tự
con cùng các ngoại đạo kia đấu thần thông hiện pháp thượng nhân, chiến thắng họ
làm cho trời người vui mừng, làm người có tâm kính tín được hoan hỷ, người chưa
tin được kết thiện duyên.
Phật bảo Thần Tiên Mẫu:
- Không làm phiền đến ý con. Tuy con có khả năng
thi triển thần thông chiến thắng ngoại đạo nhưng họ sẽ nói rằng:
- Sa-môn Kiều Ðáp Ma không thể hiện thần thông,
pháp thượng nhân như vậy chỉ do nữ Thanh văn biến hiện. Con hãy ngồi yên.
Khi ấy trưởng giả người nghèo Tô Ðạt Ða cùng cầu
tịch Chuẩn Ðà, cầu tịch nữ Tổng Kế, Bí-sô ny Liên Hoa Sắc, lại có vô lượng vị có
thần thông, đều đến trước Thế Tôn cùng nhau thưa thỉnh xin phép. Cũng đáp như
trước, Phật bảo họ hãy an tọa.
Mục Kiền Liên chắp tay thưa với Phật:
- Thế Tôn! Xin Ngài đừng lo, con cùng ngoại đạo
đấu thần thông, hiện pháp thượng nhân chiến thắng họ, tăng trưởng trời người.
Phật bảo Mục Liên:
- Tuy biết ông có thần lực chiến thắng được
ngoại đạo nhưng họ sẽ nói rằng Sa môn Kiều Ðáp Ma không có khả năng hiện thần
thông, chỉ có Thanh-văn Mục Kiền Liên có uy đức này hiện thần thông đấu cùng ta.
Ông hãy ngồi yên.
Phật hỏi vua Thắng Quang:
- Ai thỉnh Như Lai cùng các ngoại đạo đấu thần
thông?
Vua liền đứng dậy, bày vai áo bên phải, chắp tay
hướng Phật bạch:
- Thế Tôn! Con xin thỉnh Phật cùng các ngoại đạo
hiện pháp thần thông thượng nhân để chiến thắng họ làm cho trời người hoan hỷ,
người kính tín tăng thêm tín tâm, người chưa tín gây nhân tín tâm, Sa môn,
Bà-la-môn trời người trong tương lai đều được lợi ích, mãi mãi an lạc.
Thấy Phật im lặng nhận lời mình thỉnh cầu, nhà
vua trở lại chỗ ngồi.
Bấy giờ, Thế Tôn nhập vào Thắng Tam-ma-địa, đang
trên tòa bỗng nhiên biến mất rồi hiện ra trên hư không ở phương Ðông, đi đứng
nằm ngồi, nhập định Hỏa Quang phóng ra nhiều loại ánh sáng màu xanh vàng đỏ
trắng hồng, dưới thân phóng lửa trên thân phun nước, trên thân phóng lửa dưới
thân phun lửa, hiện thần biến như vậy ở khắp các phương Ðông, Nam, Tây, Bắc. Sau
khi hiện thần biến, Thế Tôn thu nhiếp trở lại ngồi nơi tòa sư tử như cũ, bảo
vua:
- Thần thông này chư Phật và chúng Thanh văn đều
có. Ðại vương, ai thỉnh Như Lai hiện vô thượng đại thần thông trước các ngoại
đạo và chúng nhân thiên?
Vua lại rời chỗ ngồi, làm lễ như trước và thưa:
- Con xin thỉnh Thế Tôn vì các đại chúng hiện vô
thượng đại thần thông để chiến thắng ngoại đạo ... như trước.
Biết Phật im lặng nhận lời, vua trở lại chỗ
ngồi.
Thế Tôn lấy tay thí vô úy có tấm lưới căng chữ
vạn kiết tường hình bánh xe rất đẹp, tướng hảo trang nghiêm này do vô lượng
phước sinh ra, đặt trên mặt đất, khởi tâm thế tục với ý nghĩ làm sao các rồng
mang hoa sen đẹp lớn như bánh xe đủ ngàn cánh, vật báu làm đài, kim cương làm
nhụy đến đây.
Thường pháp của chư Phật là khi dùng tâm thế
tục, cho đến côn trùng cũng biết ý Phật. Nếu khi Phật dùng tâm xuất thế thì
Thanh-văn, Duyên-giác cũng không thể biết, huống chi cầm thú và các loài rồng
làm sao biết được ý nghĩ của Ngài.
Biết được ý của Phật, Long vương suy nghĩ: "Vì sao Thế Tôn đặt tay xuống
đất?".
Biết Phật Ðại sư muốn hiện thần biến cần loại
hoa-sen này, Long vương liền mang hoa sen lớn như bánh xe đủ ngàn cánh, đài bằng
vật báu, nhụy bằng kim cương, vọt lên khỏi mặt đất. Thấy vậy, Thế Tôn liền an
tọa trên hoa sen này. Ngay hai bên và sau lưng đều có vô lượng hoa sen đẹp báu
giống như hoa kia vọt lên. Trên mỗi hoa đều có vị hóa Phật an tọa. Bên phải và
sau lưng các đức hóa Phật ngồi trên hoa sen ấy, đều có hoa sen vọt lên và vị hóa
Phật an tọa ở trên, trùng trùng lớp lớp hoa sen nối nhau đến tận cõi trời Sắc
Cứu Cánh. Các vị Phật ấy, thân xuất Hỏa-quang, hoặc tuôn mưa, hoặc phóng ánh
sáng, hoặc thọ ký, hoặc vấn đáp, hoặc đi đứng nằm ngồi hiện bốn uy nghi. Do thần
lực của Phật nên đến như trẻ con cũng thấy được hình ảnh Như Lai.
Khi Thế Tôn đã hiện thần thông, vua Thắng Quang
cùng nội cung, vương tử, đại thần cùng vô số vô lượng trăm ngàn người trong
thành phố xóm làng và khách ở xa cũng đều vân tập đến chiêm ngưỡng thần thông
mắt chăm chú nhìn mãi. Trên không trung cũng có vô lượng trăm ngàn đại chúng
thiên tử lặng yên không cử động, cùng nhau quan sát thần thông, cung kính cúng
dường, lòng không nhàm chán, khắp nơi đều có tiếng trống nhạc vang rền, tiếng
thổi ốc kéo dài, ca múa nhiều cách, cho đến cầm thú cũng đều vui mừng phát ra âm
thanh, ngựa hí, voi rống, lạc đà gầm, bò kêu, khổng-tước, oanh-ương đều hót vang
tiếng hay. Trời người đại chúng thấy thần biến của Phật đều thán phục.
Khi ấy, chư Thiên trên hư không tấu nhạc trời,
tung hoa sen trời đủ màu xanh, vàng, đỏ, trắng, rãi khắp nơi bột hương thơm
chiên đàn trầm thủy cõi trời, thả xuống thiên y đẹp và vải lụa thượng hạng ở
nhân gian.
Khi hiện đại thần thông như vậy xong, vì muốn
điều phục giáo hóa hữu tình nên Như Lai nói kệ:
Ngươi nên cầu xuất ly,
Cần tu theo lời Phật,
Chiến thắng quân sinh tử,
Như voi phá nhà cỏ,
Ngay trong pháp luật này,
Thường sống không phóng dật,
Làm khô biển phiền não,
Xóa hết biên giới khổ.
Ngoài ra, các vị hóa Phật đồng thanh nói kệ:
Khi mặt trời chưa mọc,
Ánh đuốc sáng lập lòe,
Nhật Luân lên hư không,
Làm mất ánh sáng đuốc,
Ánh sáng Phật chưa chiếu,
Lời ngoại đạo còn lạ,
Phật Quang chiếu khắp nơi,
Chiến thắng thầy trò họ.
Khi ấy, Thế Tôn bảo các Bí-sô:
- Các ông hãy ghi nhớ thần biến này, đại thần
thông đang sắp chấm dứt.
Phật nói xong, thần biến không còn nữa.
Vua Thắng-quang bảo Lục-sư:
- Ðại sư Thế Tôn đã hiện thần biến, các vị hãy
hiện thần thông đi.
Ngoại đạo Bộ Kích Noa im lặng không đáp được,
lấy cùi chỏ thúc vào Mạt Yết Lị Cù Xá Lê Tử. Như vậy, lần lượt thúc nhau, hết cả
sáu người không ai dám ứng đối. Vua nhắc họ hiện thần thông đến ba lần nhưng Lục
sư chỉ thúc nhau, im lặng rụt cổ cúi đầu như nhập vào thiền định không đáp gì
cả.
Chúa đại dược xoa Kim Cương Thủ suy nghĩ: "Sáu
vật ngu si này gây phiền phức cho Thế Tôn đã lâu, nên làm cho họ sửa lỗi trước,
không còn gây ra nữa, đều phải bỏ đi".
Sau khi suy nghĩ, Dược-xoa liền phóng ra mưa to
gió lớn thổi sập ngã một số nhà hiện thần thông. Ngoại đạo tà đồ đều ly tán,
hoặc kinh sợ chạy vào hang núi, rừng cây, bụi rậm ẩn núp, hoặc chạy vào miếu thờ
trời, ôm bụng buồn rầu. Chỉ riêng căn nhà hiện thần thông mà Phật đang trú thì
không sao cả.
Thấy sự việc này, Thế Tôn nói kệ:
Mọi người vì lo sợ,
Thường quy y các núi,
Vườn cây, gốc đại thọ,
Ðền miếu, rừng hoang vu.
Quy y này không thắng,
Quy y này không tôn,
Không nhờ quy y này,
Mà giải thoát các khổ.
Ai quy y Phật Ðà,
Chánh-pháp và Tăng già,
Thường dùng tuệ quán sát,
Ngay trong Bốn Thánh-đế,
Biết khổ, biết khổ tập,
Biết thoát hẳn các khổ,
Biết Thánh đạo tám ngành,
Ðến Niết-bàn an ổn.
Quy y này tối thắng,
Quy y này tối tôn,
Nhờ quy y nơi này,
Chắc chắn thoát các khổ.
Bấy giờ, quán sát căn cơ khác nhau, tùy-miên bất
đồng của mọi người, Thế Tôn thuyết pháp cho họ. Ðược nghe pháp rồi, vô lượng
trăm ngàn đại chúng được kiến giải thù thắng, hoặc chứng Sơ quả, Nhị quả, Tam
quả, A-la-hán quả, hoặc có người phát tâm Thanh-văn Bồ-đề, hoặc có người phát
tâm Ðộc-giác Bồ-đề, hoặc có người phát tâm Vô-thượng bồ-đề. Những chúng sinh
trong đại chúng đều chí tâm quy hướng Tam-bảo. Sau khi thuyết pháp làm cho họ
được thấy pháp lợi ích hoan hỷ,Thế Tôn rời khỏi tòa ra đi.
Bấy giờ, đang ngồi chung với Bộ Kích Noa ...,
những học trò của hỏi:
- Thế nào là thật?
Sinh tâm dối trá bịa đặt khéo léo, cả Lục sư
cùng nhau nói rằng thế gian là thường tồn, đấy là sự thật.
Lại có người nói rằng vô thường là thật.
Lại có người nói vừa thường vừa vô thường.
Lại có người nói chẳng phải thường, chẳng phải vô thường là sự thật.
Lại có người nói hữu biên hay vô biên.
Lại có người nói vừa hữu biên vừa vô biên.
Lại có người nói chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên.
Lại có người nói mạng trong thân.
Lại có người nói mạng ngoài thân.
Lại có người nói sau khi chết có ngã.
Lại có người nói sau khi chết không có ngã.
Lại có người nói sau khi chết vừa có ngã vừa không có ngã.
Lại có người nói chẳng phải có ngã chẳng phải không có ngã. Chỉ đây là sự thật,
ngoài ra đều hư vọng.
Tuy họ nói như vậy nhưng trong lòng rất xấu hổ,
cúi đầu cam chịu, lửa buồn rầu đốt cháy trong tâm, muốn tìm nước uống nên đi đến
ao. Trên đường, thấy họ, một hoàng-môn nói kệ:
Ông đi một mình muốn đến đâu?
Dáng như trâu thua bị gãy sừng,
Không biết diệu pháp Phật Thích Ca.
Thì như trâu hoang chạy vô định.
Nghe nói vậy, Bộ Kích Noa nói kệ đáp:
Cái chết bên ta, đi về trước,
Thân ta lê bước không còn sức,
Luân hồi các hữu thọ khổ vui,
Ta đang bỏ hết cầu nơi an.
Mặt trời sáng chói nắng nóng bức,
Thân tâm của ta đều mệt mỏi.
Ngươi hãy thật lòng chỉ cho ta,
Nơi nào có ao nước trong mát?