THERAVÀDA - PHẬT-GIÁO NGUYÊN-THỦY
LUẬT XUẤT-GIA TÓM TẮT
(PABBAJITA VINAYA SANKHEPA)
VANSARAKKHITA BHIKKHU
TỲ-KHƯU HỘ-TÔNG
PL. 2510 -
TL. 1966
TÁI BẢN PL. 2537 - TL. 1993
--- o0o ---
Thullaccaya dịch
là "Trọng tội" hay là tội xấu, nghĩa là: tội trọng hay tội xấu
hơn các tội khác (ngoài tội Bất cộng trụ và Tăng tàn).
Giải về Trọng
tội có hai điều:
1) Tỳ-khưu
không bỏ.
2) Không nên
chia tài sản trọng của tăng, nếu bỏ hoặc chia, phạm Trọng
tội,vì Phật có cấm rằng: tài sản trọng có 5 phần:
Phần thứ nhất:
1) Àràmo:
vườn, trái cây, bông cây.
2) Aràmàvatthu: đất vườn
Phần thứ nhì:
3) Vihàro:
thất, nhà.
4) Vihàravatthu: đất chùa, thất
Phần thứ ba:
5) manco:
vườn.
6) pitham: bàn nhỏ thấp dài.
7) bhisi: nệm.
8) bimbohanam: gối.
Phần thứ tư
(các vật trong phần này đều làm bằng kim loại):
9)
lohakimbhi: nồi.
10) lohabhànakam: cân
11) lohavàrako: thùng lớn
12) lohakajàham: chậu
13) vàsi: dao nhỏ
14) pharasu: búa
15) kuthàri: rìu
16) kuddàro: xuổng
17) nikhàdanam: vá
Phần thứ năm:
18) vali:
dây
19) velu: tre (dài 8 ngón tay ngón tay trở lên).
20) munjam: cỏ óng
21) pabbajjan: cỏ năn nỉ
22) tinam: các thứ cỏ để che lợp (từ 1 bó trở lên).
23) mattika: đất sét
24) dàrubhandam: vật dụng làm bằng cây
25) mattikàbhandam: vật dụng làm bằng đất.
Tất cả 25 món
ấy, món nào thí chủ đã dâng đến "Giáo hội", hoặc phát sanh trong
"Giáo hội" đều gọi là tài sản trọng của "tăng già" (garubhanda)
nghĩa là: Tăng già hoặc nhóm (2,3 Tỳ-khưu) hoặc 1 Tỳ-khưu nên
không bỏ, không nên chia, dầu bỏ dầu chia cũng không gọi là bỏ,
là chia của ấy cũng còn là của "tăng già" như cũ. Tỳ-khưu nào,vì
chấp mình làm lớn, bỏ hoặc chia của "tăng già" như thế phạm
Trọng tội (thullaccaya). Nếu cố ý bỏ, hoặc chia, cho luật sư
trừng phạt theo giá của vật. Nếu làm sanh sự lợi ích đến "tăng
già", đem đổi vật bền chắc, theo phép, hoặc vật cao giá hơn,
hoặc dùng vật thấp hèn đổi lấy gạo để ăn, hoặc để tu bổ chùa,
thất... trong cơn đói cũng nên.
Tất cả tài sản
trọng của "tăng già" một món nào chẳng hạn, Tỳ-khưu lấy dùng
riêng cho mình, nên kiếm vật khác bằng giá, hoặc cao giá hơn đem
thế lại mới nên; nồi bát tách bình trà, ô ... bằng kim loại;
đũa, thuốc nhỏ mắt ... ống khoá, chìa khoá vật bằng kim loại;
hoặc bằng cây đang làm, nên chia được, dây, tre ... đem làm việc
cho"Tăng già". Hoặc cho tháp thờ, rồi còn dư, đem dùng làm việc
cho Tỳ-khưu cũng nên.
Ðây chỉ giải vắn
tắt, nếu muốn học cho rộng, tìm thêm trong phẩm
Catutthasàmantapàsàdikà.
Lại nữa không
nên cho ai mổ trong chỗ kín, hoặc mổ gần chỗ kín cách chừng lối
2 ngón, nếu thoa thuốc không cấm.
Ðiều học này
phạm vì cố ý(sacittaka).
Không nên lõa
thể, không nên mặc y làm bằng lá tranh, bằng vỏ cây, bằng tóc
người, bằng lông đuôi của thú, bằng lông cánh chim, da cọp, y
làm bằng vỏ gai.
Không nên lạm
dụng chạm vào chỗ kín thú cái.
Không gấp làm lễ
Phát lồ (Uposatha) hoặc Tự tứ (Pavàranà) vì cố ý cho Tỳ-khưu
khác không làm được. Tỳ-khưu nào phạm các điều trên đây gọi là
phạm Trọng tội (thullaccaya.).
Tỳ-khưu không
nên mặc y phục như kẻ thế.
Không nên mặc y
màu xanh, vàng nhợt.
Không nên mặc y
may đường chỉ xuôi (không có cắt may đường ngang, nghĩa là không
có "điều").
Không nên mặc y
có bông hoa thêu thùa, không nên chỉ mặy y nội và y vai trái mà
đi, vào xóm, trừ ra có duyên cớ mới được phép để y 2 lớp lại (y
tăng dà lê);.
Không nên mang
dép đi vào xóm nếu không có bịnh.
Không nên mang
dép 2 lớp, dép rơm, guốc, giày hàm ếch, giày thêu, giày có nhiều
màu (là có màu đỏ, đen, sậm, trắng), da cọp, da beo, da
voi, da cá nược.
Không nên thoa
phấn sức dầu, soi hình trong kiến và trong nước, nếu vô bịnh.
Không nên đeo
vòng cà rá.
Không nên cho ai
hớt tóc hớt râu, nhổ tóc bạc.
Không nên xem
nhan sắc phụ nữ.
Không nên lấy
cây mà kỳ mình trong khi tắm.
Không nên đâu
lưng nhau mà kỳ, trong khi tắm.
Không nên máng
bát lên nhánh cây.
Không nên chứa
đốn ăn còn dư trong bát.
Không nên lấy
bát còn ước đem cất.
Không nên ngồi
chung nghế hoặc chung chiếu cùng phụ nữ, hoặc bán nam bán nữ,
hoặc kẻ thấy trai biến ra gái, thấy gái biến ra trai (có cả 2 bộ
sanh trược khí).
Không nên ngồi
chung giường chung ghế cùng Tỳ-khưu tu lâu hơn 3 hạ.
Không nên nằm
ngồi chỗ cao và rộng, chỗ có lót nệm gòn, nệm bông và tọa cụ
bằng lông cừu tốt.
Không nên dùng
gối lớn dài quá nửa mình.
Không nên ngồi
chỗ có trải lót trước, nếu chưa xem xét.
Không nên nằm
chỗ có treo bông hoa.
Không nên ngồi
chỗ của vị Tỳ-khưu lâu năm, thường hay ngồi.
Không nên lạy 10
hạng người:
1. Tỳ-khưu tu
sau mình.
2. Sa-di và kẻ thế.
3. Tỳ-khưu tu lâu năm hơm mà hành sái theo kinh luật.
4. Phụ nữ.
5. Bán nam bán nữ.
6. Tỳ-khưu phạm phép "Tăng tàn".
7. Tỳ-khưu đáng cho Giáo hội phạt lại như trước, vì đang khi
bị phạt mà lại phạm thêm phép Tăng tàn.
8. Tỳ-khưu đang sửa mình để cho Giáo hội giao thiệp lại như
trước.
9. Tỳ-khưu đang hành phạt sửa lỗi để cho Giáo hội giao thiệp
lại.
10. Tỳ-khưu đã bị hành phạt rồi, mà Giáo hội đang chứng cho
nhập vô Giáo hội lại.
Không nên lấy đồ
lót trải ngủ của Tỳ-khưu nào đem dùng nơi khác.
Không nên bảo
Tỳ-khưu nào đứng dậy trong khi vị ấy đang ăn.
Không nên đuổi
Tỳ-khưu nào có bịnh đi ra khỏi chỗ ở mà phải nên săn sóc.
Không nên cấm vị
khác ngủ đậu, nếu vị ấy có bịnh chút ít.
Không nên thọ
lãnh thịt và cá tươi.
Không ăn thịt mà
mình biết hoặc nghe hoặc thấy họ giết để cho mình ăn. Nếu có 1
trong 5 hạng người xuất gia thấy giết thì không nên ăn.
Không nên học
hoặc dạy kẻ khác những việc ngoại đạo.
Không nên nói
đạo trong chỗ đông người, nếu có mặt vị Tỳ-khưu trưởng lão mà
ngài chưa thỉnh nói.
Không nên tụng
kinh kéo dài như giọng hát.
Không nên không
cho mượn vải lọc nước (nếu có vị khác muốn mượn).
Không nên làm
cho tài vật của thí chủ bố thí ít phước (vì sự tà mạng).
Không nên đem đồ
khuất thực cho kẻ thế ăn trước mình (trừ ra cho cha, mẹ vua, kẻ
cướp, người sắp vào tu).
Không nên làm
thầy thuốc.
Không nên làm kẻ
đi thơ.
Không nên bợ đở
kẻ thế mong được lợi.
Không nên trồng
kiểng.
Không nên đánh
đờn, thổi kèn, đánh cờ.
Không nên lấy đá
cục, đá sỏi thảy mà chơi.
Không nên vô cớ
mà leo cây.
Không nên đốt
rừng.
Không nên dùng
bát làm bằng cây, thau, đồng, nhất là bát có màu xanh và đen sậm
Không nên lấy
cây dài quá 8 ngón tay, hoặc cụt hơn 4 ngón tay mà chà răng.
Không nên rù
quến người xuất gia làm điều vô đạo.
Không nên nhuộm
y bằng nước nghệ, nước cây dan, nước cây vàng lồ.
Không nên động
đến hình tượng phụ nữ, đồ nữ trang, 7 thứ lúa, 10 thứ ngọc
thạch, đờn, kèn, trống, trái còn trên cây và khí giới, nhất là
đao, gươm, súng.
Không nên cầm
lấy những vật đựng đồ mà thí chủ chưa dâng cúng.
Tỳ-khưu đi xa
mới đến, phải lột giày, sập dù, và không nên ngồi gần trưởng
thượng.
Không nên cấm vị
mới tu ngồi phải chỗ.
Không nên làm
cho nước văng đầy y các vị ngồi gần.
Không nên ra vô
lật đật, khi đi khất thực.
Không nên đứng
xa hoặc gần người dâng cơm lắm.
Không nên lật
đật thọ lãnh vật thực.
Không nên dòm,
ngó mặt người thí chủ.
Không nên quét,
giủ, đập đồ chỗ có người hoặc gần các vị khác, hoặc gần nước
uống hay phía trên gió.
Không nên dạy ai
học, hoặc tụng kinh, thuyết pháp mà chưa bạch cùng vị trưởng
thượng trong lúc ở chung.
Không nên nhúm
lữa, hoặc tắt lữa, đóng hoặc mở cửa sổ mà không bạch cùng vị
trưởng lão, trừ ra ngài có cho phép trước.
Không nên đi
đụng nhằm, hoặc phất y trúng nhằm vị trưởng lão.
Không nên đi vào
nhà xí mà còn chấp tôn ti thượng hạ.
Không nên đi vào
nhà xí lật đật nếu cửa đóng thì phải gõ cửa.
Không nên cởi y
ở ngoài nhà xí.
Không nên đại
tiện, rặn nghe lớn tiếng.
Không nên đại
tiện hoặc tiểu tiện phía ngoài lỗ xí.
Không nên nên
khạc nhổ, hỉ mũi ngoài lỗ xí.
Không nên dùng
cây có gai, cây mụt mà chùi.
Không nên rửa
nghe lớn tiếng.
Không nên để
nước dư trong lon, nếu nhà xí dơ quét rửa cho sạch.
Không nên đi ra
nhà xí lật đật.
Không nên chưa
mặc y mà ra khỏi nhà xí.
Không nên đi xem
hát đờn kèn.
Không nên mặc y
nội, thiếu dây lưng mà đi vào xóm.
Không nên mở cửa
mà tay còn cầm bát.
Không nên ngủ
chung cùng nhau trên chỗ có trải lót.
Không nên ăn
tỏi, không có món chi trộn chung.
Không nên đi
trên chỗ ngồi, chỗ nằm, nhất là: đi trên giường ghế và chỗ đẹp
hoặc có sơn phết, nếu chân chưa rửa hoặc còn ướt, hoặc còn mang
giày.
Không nên dựa
vách nhà có tô vôi hoặc sơn phết và nhổ nước miếng nơi ấy.
Không nên trải
tọa cụ, trước khi nằm trên chỗ ngủ sạch sẽ của Giáo hội.
Không nên để tóc
dài quá 2 ngón tay, hoặc lâu hơn 2 tháng mới cạo.
Không nên để
râu, lông mũi, móng tay, móng chân dài quá.
Không nên đánh
bóng móng tay và móng chân.
Không nên ăn vật
chi nếu chưa quán tưởng.
Không nên ăn
thịt voi, thịt ngựa, thịt chó, thịt rắn,, thịt sư tử, thịt beo,
thịt gấu, thịt chó rừng, thịt cọp.
Các Tỳ-khưu nào
đã phạm nhằm những phép đã kể trên, gọi là phạm Tác ác
(dukkata).
Tỳ-khưu không
nên mắng chửi làm cho người hổ thẹn.
Không nên chơi
với vị khác, hoặc trong bọn hay nói xiên xéo rằng "Mày là vua,
ngươi là Bà la môn, cháu là thú, anh là bậc thông minh, ngươi là
kẻ trộm cướp". Kêu danh hiệu giễu chơi như cách ấy, phạm tội ác
khẩu (Dubbhàsita) (mỗi tiếng mỗi tội).
Sau khi Phật
diệt độ 100 năm. 700 vị đại A la hán cu hội lần thứ nhì, có đại
đức Sabbakàmithero làm tọa chủ để giải quyết 10 lầm lạc sau này:
1) MUỐN ÐỂ TRONG
ỐNG BẰNG SỪNG ÐƯỢC PHÉP ĂN (kappati singilonakappo).
Luật dạy rằng:
Trong các món được phép ăn buổi sáng, nếu Tỳ-khưu thọ lãnh rồi
để dành qua ngày khác đemra ăn lại, phạm Ưng đối trị .
Các Tỳ-khưu xứ
Vajjiputtaka lại nói "muối để dành trong ống làm bằng sừng, nếu
qua ngày khác đem ra ăn với đồ lạt cũng được không phạm.
2) XẾ BÓNG 2
NGÓN TAY CÒN ĂN ÐƯỢC (kappatidvangulakappo).
Luật dạy rằng:
Trong các món buổi mai, nếu xế bóng mà Tỳ-khưu đem ra ăn, phạm
Ưng đối trị .
Các Tỳ-khưu xứ
Vajjiputtaka lại nói "Nếu chính xế qua 2 ngón tay cũng còn ăn
được không phạm".
3) ÐI VÀO XÓM
CÒN ĂN ÐƯỢC (kappatigàmantarakappo).
Luật dạy rằng:
Nếu Tỳ-khưu ăn rồi, đi khỏi nơi ấy mà còn ăn nữa, phạm Ưng đối
trị .
Các Tỳ-khưu xứ
Vajjiputtaka lại nói "Ta đi vào trong xóm, ăn nữa cũng được,
không phạm".
4) Ở CHUNG CHỒ
LÀM PHÉP "SÁM HỐI" (kappati àsàsa kappo).
Luật dạy rằng:
Chỗ ở thuộc về Giáo hội, Tỳ-khưu không nên làm phép "sám hối"
riêng (làm lễ Uposatha), nếu làm thì phạm Tác ác.
Phép sám hối ấy
cũng không kết quả chi.
Các Tỳ-khưu xứ
Vajjiputtaka lại nói "Làm như thế cũng được, không phạm".
5) LÀM PHÉP SÁM
HỐI THEO Ý MÌNH CŨNG ÐƯỢC (kappati anuma tikappo).
Luật dạy rằng:
Tỳ-khưu làm phép sám hối (làm lễ Uposatha) phải hiệp nhau nơi
chỗ của Giáo hội hành đạo vào ngồi đâu mặt nhau, nếu có vị nào
đau phải cho hay rồi mới nên hành. Bằng chẳng tuân theo đây gọi
là hành theo phe đảng, phạm Tác ác.
Các Tỳ-khưu xứ
Vajjiputtaka lại nói "Không cần phải hiệp chung cùng nhau như
thế. Ai đến trước sám hối lần lần cũng được, không phạm".
6) LÀM THEO THÓI
QUEN CŨNG ÐƯỢC (kappati ácinna kappo).
kinh luật đã dạy
phân minh chỉ cho biết: sao là trật, sao là trúng. Những việc
hành động theo ý riêng ông thầy của mình, nếu đúng theo kinh
luật thì nên hành theo, bằng không đúng tròn chẳng nên nghe.
Các Tỳ-khưu xứ
Vajjiputtaka lại nói "Trò làm theo thói quen của ông thầy cũng
được, không phạm."
7) SỮA TƯƠI ÐỂ
CHUA THIỆT CHUA DÙNG CŨNG ÐƯỢC (kappati amathitakappo).
sữa tươi để lâu
1 lát chẳng còn chất sữa như hồi mới nặn ra, như ng chưa đến nổi
chua.
luật dạy rằng:
Tỳ-khưu ngăn thực rồi, đi khỏi nơi ấy mà còn dùng sữa như vậy
thì phạm Ưng đối trị .
Các Tỳ-khưu xứ
Vajjiputtaka lại nói "Dùng được, không phạm".
8) RƯỢU MỚI,
CHƯA THIỆT MẠNH UỐNG CŨNG ÐƯỢC (kappati jalogimpàtum).
luật dạy rằng:
rượu mới bỏ men vào, chua thành rượu thiệt, nếu Tỳ-khưu uống thì
Ưng đối trị .
Các Tỳ-khưu xứ
Vajjiputtaka lại nói "Rượu ấy Tỳ-khưu uống cũng được, không
phạm".
9) TỌA CỤ KHÔNG
CÓ BÌA DÙNG CŨNG ÐƯỢC (kappati adasakam nisìdana).
luật dạy rằng:
Tỳ-khưu làm tọa cụ, phải làm cho có bìa, bằng không, phạm Ưng
đối trị .
Các Tỳ-khưu xứ
Vajjiputtaka lại nói "Không cần làm cho có bìa dùng cũng được,
không phạm".
10) CẢM XÚC VÀNG
BẠC CŨNG ÐƯỢC (kappati jàtarùparajatam).
luật dạy
rằng:Tỳ-khưu không nên thọ lãnh hoặc cảm xúc đến vàng bạc, nếu
thọ lãnh, hoặc cảm xúc, thì phạm Ưng đối trị .
luật cho phép
Tỳ-khưu cảm xúc đến 4 món vật dụng: áo ca-sa, vật thực, chỗ ở,
thuốc ngừa bịnh, nhưng cấm cảm xúc đến vàng bạc.
Các Tỳ-khưu xứ
Vajjiputtaka lại nói "Tỳ-khưu thọ lãnh hoặc cảm xúc đến vàng bạc
cũng không phạm".
* * *
Các Tỳ-khưu xứ
Vajjiputtaka khởi nói 10 điều lầm lạc này giờ nào là Phật pháp
suy đồi giờ nấy, làm cho xúc động đến tất cả chư vị A la hán.
các ngài hội hiệp lại để chỉnh đốn Phật pháp và quyết rằng 10
của các Tỳ-khưu xứ Vajjiputtaka nói trên là tà đạo, trái hẳn với
Phật pháp đã có điểm giải phân minh từ lúc ấy rồi.
Những người xuất
gia tu Phật, chẳng nên hành theo của các Tỳ-khưu xứ
Vajjiputtakađã nói trên.
1) NHỮNG VIỆC
CỦA TỲ-KHƯU XA MỚI ÐẾN PHẢI HÀNH (àgantukavatta).
Tỳ-khưu ở nơi
khác mới đến,muốn vào chùa phải làm như sau đây:
Nếu có mang giày
phải cổi ra và xách đi.
Nếu che dù thì
sập xuống.
Nếu đội khăn thì
lấy xuống và cởi y trùm mình ra (mặc vừa vai mặc) rồi mới đi
chầm chậm vào chùa, thấy các Tỳ-khưu nhóm ở nơi nào phải đi ngay
vào nơi ấy, để bát xuống và ngồi chỗ mình nên ngồi, hỏi thăm
nước uống, nước tắm. Nếu cần dùng nước uống, nước rửa thì được
phép dùng. Phải rửa chơn, một tay xối, một tay rửa: hỏi giẻ chùi
châm mà chùi, lấy giẻ khô chùi trước giẻ ước chùi sau, rồi đem
đi phơi.
Nếu thầy tu lâu
năm hơn thì mình phải lạy trước bằng mình cao hạ hơn thì vị kia
phải làm lễ mình trước.
Hỏi thăm chỗ ở,
chỗ đi khuất thực cho gần hay xa, đi sớm hay là đi trưa, chỗ nào
không nên đi (là nhà không tin Phật pháp và quen cho có 1 vá cơm
hoặc một hoặc 2 vị xin).
Hỏi cho biết có
vị nào đắc thánh, mà còn ở thế đã có Giáo hội nhận.
Hỏi thăm nhà xí.
hỏi thăm chỗ mà Giáo hội đã dạy phải vào phải ra, cho biết giờ
vô, ra đặng ngừa thú dữ người ác.
Nếu thất cất
trệt bỏ trống, thì phải gõ cửa chờ 1 chặp đã, rồi xô cửa xem xét
khắp nơi, rồi mới nên bước vào, e có sự hại. Nếu thất ấy có rác,
bụi tên gường, quét được thì phải quét.
Nếu không làm
theo đây thì phạm Tác ác.
2) NHỮNG VIỆC
TỲ-KHƯU Ở CHÙA PHẢI HÀNH (àvàsikavatta).
Tỳ-khưu ở chùa
phải lo cho có nước uống, nước tắm, ván lót, giẻ chùi chân sẵn
để cho các vị ở phương xa đến dùng.
Nếu Tỳ-khưu ở xa
mới đến, tu lâu năm hơn mình, mình phải đi rước y bát, lót chỗ
ngồi và chỉ chỗ vừa cho người nghỉ, mình phải lạy trước. Nếu vị
ở xa tu ít hạ hơn, thì bảo vị ấy để đồ xuống theo chỗ, vị ấy
phải làm lễ mình trước. Mình phải chỉ chỗ nào nên đi, chỗ nào là
nhà vị đã đắc thánh quả mà Giáo hội đã nhận, chỉ nhà xí và nơi
nhà Giáo hội đã dạy đi vô ra có giờ định.
Nếu vị ở xa cao
hạ hơn dầu mình có bận việc may y hay đang làm việc gì khác phải
dẹp lại đó, dầu đang khi quét hoặc rửa tháp cũng vậy. Nếu vị ở
xa biết điều, nên để cho mình làm việc càng tốt. đang khi làm
thuốc cho Tỳ-khưu bịnh nếu bịnh ấy vừa vừa thì để đó mà đi tiếp
rước. Nếu bịnh nặng thì lo thuốc trước đã. Nếu vị ở xa biết
điều, nên để cho mình lo thuốc. Nếu dâng nước 1 lần vị ở xa uống
hết phải đem thêm. Nếu quạt nên quạt dưới chân 1 lần. Nếu vị ở
xa dạy thôi quạt thì quạt trở xuống, nếu đến 3 lần thì để quạt
xuống.
Nhữnng lời trên
đây là dạy phận mình phải ở với vị cao hạ hơn. Nếu tu ít năm
hơn, nên chỉ nước uống, nước tắm, chỗ nào, bấy nhiêu cũng được.
3) NHỮNG VIỆC
CỦA TỲ-KHƯU RA ÐI ÐÁNG PHẢI HÀNH (gamikavatta).
Tỳ-khưu có việc
đi xa khỏi chùa, phải dẹp cất đồ trong thất của mình, dẹp
giường, ghế của Giáo hội và đóng cửa thất và giao cho Tỳ-khưu
hoặc Sa-di, hoặc người chức việc trong chùa, hay thí chủ nào
cũng được.
Nếu không có ai
thì lấy 4 cục đá làm dấu, để kê chân giường, chồng ghế lên
chiếu, gối, chồng lên ghế, cây, ván chất lại cho có chỗ, đóng
cửa sổ hết rồi mới nên đi. Nếu thất ấy dột thì lợp dặm lại, nếu
dặm không được, phải lấy đồ (chiếu, gối, mền, giường) để lên
trên 4 cục đá xa vách, chỗ không dột. Nếu thất dột gần hết phải
đem các món ấy gởi trong xóm. Nếu không cần đem gởi phải kê
giường lên trên 4 cục đá để chính giữa thất, gối, chiếu, đệm để
lên trên như trước và lấy cỏ, lá cây, đậy lên, rồi mới nên ra
đi. đây là nói thất lợp bằng lá.
4) NHỮNG VIỆC
CỦA TỲ-KHƯU Ở TRONG NHÀ ĂN PHẢI HÀNH (anumodanavatta).
đức Phật cho
phép Tỳ-khưu đọc kinh trong nhà ăn. Vị trưởng lão đọc kinh
trước, các vị ngồi kế chờ tiếp, rồi đến mấy vị sau đọc tiếp nữa,
hoặc vị cả dạy vị nhỏ đọc cũng được, mấy vị ngồi kế đó chờ. vị
cả cùng mấy vị khác đi ra trước cũng được (không cầnphải ngồi
chờ).
Nếu vị cả bảo,
thôi chúng ta đi, ngài ở lại, vị nhỏ lại bạch: dạ ngài đi đi.
Nếu vị nhỏ không trả lời các vị lớn tính ra chờ bên ngoài cũng
được. Ra ngoài rồi nên bảo trò mình, chờ vị kia đọc kinh rồi đã,
nói như vậy càng tốt. Nếu thí chủ mời 1 vị nào đọc kinh theo ý
họ, vị ấy đọc cũng vô lỗi. Nếu thí chủ thỉnh thuyết pháp, thì
nên bạch cho vị cả hay trước. Một nữa, các vị ngồi chờ ấy, muốn
đi đại tiện hay tiểu tiện phải từ giả vị ngồi gần mình, rồi mới
nên đi.
5) NHỮNG VIỆC
TỲ-KHƯU CHỊU MỜI ĂN PHẢI HÀNH(bhattaggavatta):
Nếu có thí chủ
mời trai tăng, Tỳ-khưu mặc y cho đúng phép, mang bát theo đi
thong thả không nên đi trước vị lớn.
Phải mặc y cho
kín giữ theo 75 điều ưng học pháp, đi đứng cho tề chỉnh, ngồi
cho nghiêm trang không nên ngồi khoanh tay,(không nên ngồi gần
đụng vị cả, chỗ ngồi ngang nhau). Nếu chỗ ngồi rộng rãi, phải
ngồi chừa cách 1, 2 chỗ ngồi xa hơn vị cả. Nếu chiếu chật
hẹp,không dám ngồi gần,vị cả nên cho phép ngồi. Nếu vị cả không
nói, nên bạch rằng: chỗ ngồi đây trọng lắm.Nếu đã nói như vậy,
mà vị cả không trả lời, sẽ ngồi không lỗi, chỉ một mình vị cả
lỗi thôi. Nếu vị nhỏ không bạch mà vẫn ngồi là phạm phép.
Không nên ngồi
trên y 2 lớp.
Nếu thí chủ dâng
nước rửa bát, phải 2 tay bợ mà thọ lãnh nước theo phép (nếu tay
không dính cơm). Phải rửa bát cho tử tế không nên động khua nghe
tiếng. Nếu có ống nhổ thì đổ vào đó cho êm ái bằng không thì đổ
xuống đất cho dè dặt, sợ e văng nước trúng nhằm vị khác.
Không nên thọ
lãnh cơm đầy bát, để dành chỗ đựng đồ ăn .
Vị cả phải dạy
thí chủ nên đem cơm chia ra cho đủ. Nếu đổ ăn vừa đủ 1, 2 vị thì
nên làm thinh. Khuất thực chỉ phải nhìn xem trong bát (lãnh 2
phần đồ ăn, 2 phần cơm). Nếu thí chủ chia vật thực chưa đủ cho
các vị, vị cả chưa nên ăn. Ðây nói về nhà ăn chật hẹp.
Nếu nhà ăn rộng
rãi vừa cho các vị ngồi ăn, các Tỳ-khưu ngồi 1 bên, thí chủ ngồi
1 bên, phải ăn thong thả, theo 75 điều ưng học pháp. Nếu tay dơ,
không nên cầm chém nước mà uống. Nếu các Tỳ-khưu ăn chưa xong,
vị cả không nên lãnh nước rửa bát, đến khi đi ra khỏi nhà ăn vị
nhỏ phải ra trước (vị lớn ra sau) bởi nhà ăn chật hẹp. Khi ra
khỏi rồi, phải đứng chờ vị cả, phải theo phép, (lớn trước, nhỏ
sau). Không nên đi gần nhau lắm, đi chừa cách khoảng 1 người qua
lọt.
Không nên vừa đi
vừa chơi. Phải giữ theo 75 điều ưng học pháp cho đến khi về tới
chùa.
6) NHỮNG VIỆC
CỦA TỲ-KHƯU ÐI KHUẤT THỰC PHẢI HÀNH (pindacàrikavatta).
Tỳ-khưu lúc ra
đi khuất thực phải mặc y cho đúng, theo phép như đã nói trên,
lấy bát mang vào xóm, đi chậm rải, trùm mình cho kín, giữ theo
75 điều Ưng học pháp, đi ngay hàng. Khi đến xóm phải nghĩ rằng:
"Mình đi vào phía này, ra phía này".
Không nên đi vô,
ra lật đật, không nên đứng xa hoặc gần thí chủ lắm. Không nên
quay mình lật đật, xem chủ nhà thọ thí cơm hay không. Nếu họ
thôi làm việc và đứng dậy, bưng thau cơm, hoặc mời thì hiểu rằng
họ chịu dâng, nên đứng chờ. Nếu họ để cơm thì phải dùng tay trái
đở y, tay mặt bợ bát đưa ra và dở nắp bát bằng tay trái và bợ
bát luôn. Không nên xem mặt thí chủ, chỉ biết họ chịu dâng cùng
không. Nếu họ cầm thau cơm, hoặc vá cơm, họ mời mình đứng lại
thì rõ họ chịu dâng. Nếu họ để bát rồi thì đậy bát lại, bỏ y
xuống quanh mình đi cho tề chỉnh, giữ theo 75 điều ưng học pháp.
Vị nào trở về
chùa trước phải trải lót nhà ăn, lo rửa chân, giẻ chùi chân, rửa
chén dành để đồ ăn, nước uống, nước rửa cho đủ sẳn. Ði khuất
thực trở về hiệp nhau rồi ăn, đổ bỏ đồ ăn dư nơi trống, hoặc đổ
xuống nước nào không có côn trùng (sợ nó chết). Quét nhà ăn cho
sạch, vị nào thấy nước uống, nước xài, hoặc nước trong nhà xí
không có, nên gánh đổ cho đầy, gánh 1 mình không nổi, gọi vị
khác tiếp với.
7) NHỮNG VIỆC
CỦA TỲ-KHƯU ẨN TU TRONG RỪNG PHẢI HÀNH (àrannikavatta).
Tỳ-khưu ẩn tu
nơi rùng phải thức cho sớm, sửa soạn mang bát vào xóm, mang y
vai trái, đóng cửa thất rồi ra đi. Gần đến xóm, nếu có mang dép,
phải lột ra gỏ đất cho tử tế, trùm mình cho kín theo phép. Ðến
khi trở về, nếu ngoài xóm không có nước thì ăn trong xóm. Nếu có
nước ngoài xóm, nên ăn ngoài xóm, rồi rửa bát cho sạch, mang bát
và đắp y vai trái, mang dép vào mà đi (đây nói trong rừng vắng
vẻ không ai thấy, nếu đi vào xóm thì không nên). Mặc như vậy,
trong phải có lót mồ hôi, rồi trở về rừng.
Lại nữa, Tỳ-khưu
ở trong rừng phải xách nước uống, nước xài để dành nếu không có
lu, lấy ống tre mà đựng và phải nhúm lửa để dành (ngừa khi hữu
sự), có ống quẹt thì không cần, ở rừng hoặc đi đàng xa cũng phải
vậy. Nếu có bạn, không có lửa cũng không cần, chỉ có gậy, phải
biết xem phương hướng (ngừa sự lạc đường).
8) NHỮNG VIỆC
CỦA TỲ-KHƯU Ở THẤT PHẢI HÀNH (senàsanavatta).
Tỳ-khưu ở chùa,
ở thất, nếu dơ phải quét. Khi quét phải lấy y bát để có nơi và
đem tọa cụ, chiếu, nệm, giường ra ngòai cho tử tế. Nếu trong
thất có rác, váng nhện, phải quét ở tên trước, vách cửa làm bằng
cây có sơn phết, nên rửa chùi cho sạch, đổ rác cho có nơi. Không
nên đập quét bụi bay gần thất vị khác, gần nước uống, nước xài,
không nên giũ đập trên gió; đệm có đóng móc phải phơi cho hết
rồi đem vào để chỗ cũ. Giẻ chùi chân cũng phải đem phơi, phải
chùi giũ giường, ghế cho sạch; chiếu gối tọa cụ cũng vậy.
Ðem y bát cất
cho có nơi, gió thổi bụi vào phía nào đóng cửa phía ấy. Mùa lạnh
trưa phải mở cửa, tối phải đóng; mùa nóng khi ngủ mở cửa cho
mát. Sân nhà ăn, nhà bếp có rác nhiều phải quét cho sạch. Không
có nước uống nước sài phải gánh cho có, nước rửa nhà xí cũng
vậy. Trong thất có Tỳ-khưu lớn tuổi, nếu muốn đọc kinh, nói
kinh, hoặc làm việc khác (trừ ra mở cửa cái) phải bạch với vị
trưởng lão mới nên làm. Bạch 1 lần mà vị cả cho phép, không cần
bạch nữa cũng được.
9) CÔNG VIỆC
PHẢI HÀNH Ở NHÀ BẾP (jantaghararavatta).
Tỳ-khưu nào nhóm
lữa trong nhà bếp, nếu có vị trưởng lão cấm không cho chất củi
nhiều mà chẳng vâng theo thì phạm Tác ác. Không nên đóng cửa nhà
bếp và ngồi chờ, nếu không vâng lời thì phạm Tác ác. Vị nào đến
nhà bếp trước thấy tro nhiều phải hốt đổ . Có rác phải quét cho
sạch. Thiếu nước phải đổ cho đầy rồi mới nên vào nhà bếp. Không
nên ngồi gần đụng vị trưởng lão; nếu siêng bóp mình cho ngài. Ði
ra nên lấy ghế đem ra, đóng cửa trước, sau rồi mới nên đi. Không
nên tắm trước vị trưởng lão và tắm phía trên gió; không nên đi
trước ngài, nhà bếp dơ phải quét rồi tắt lữa rồi mới nên đi ra.
Phật cho phép hơ
mình nếu có bịnh.
10) CÔNG VIỆC
PHẢI HÀNH TRONG NHÀ XÍ (vaccakutivatta).
Phật dạy
Tỳ-khưu, đi đại tiểu tiện mà không rửa thì phạm Tác ác. Nếu có
nước mà không có chỗ kín, thì múc nước đem đến chỗ kín mà rửa.
Không có đồ múc phải lấy bát mà múc. Không có bát thì mới gọi là
không đồ múc. Nếu nơi ấy trống trải lắm thì đi kiếm nơi kín
khác. Ði tới trước mà không có nước, gần đến giờ khuất thực nên
kiếm cây mà chùi, rồi đi khất cũng được.
Lại nữa Tỳ-khưu
vào nhà xí, không nên câu chấp tôn ti, thượng hạ, câu chấp phạm
Tác ác. Phật cho phép ai đến trước vào trước, đến sau vào sau.
Ði đến nhà xí phải lên tiếng (tằn hắn hoặc ho). Nếu có ai ở
trong phải tằn hắn trả lời. Vào nhà xí phải máng y khuất đà la
tăng ở ngoài.
Không nên đi vào
lật đật.
Không nên cổi y
trước khi vào.
Không nên rặn
lớn tiếng.
Không nên đại
tiểu tiện và xỉa răng.
Không nên đại
tiện hay tiểu tiện ngoài lỗ xí.
Không nên khạc
nhổ, hỉ mũi ngoài lỗ xí.
Không nên dùng
cây nhọn, cây mục, cây gai, cây có lỗ mà chùi.
Không nên bỏ cây
chùi vào lỗ xí, chùi đứng dậy mặc y lại không nên đi ra lật đật.
Không nên chưa
mặc y mà đi.
Không nên để dư
nước lại trong ống, nếu có uống thuốc xổ để giành nước trong ống
thì không sao.
Nhà xí dơ phải
quét cho sạch, có nước không có đồ múc, hoặc có đồ múc mà không
có nước mới gọi là không có chi. Nếu có giỏ đựng cây chùi thì
đem đi đổ. Nhà xí hàng ba, hoặc sân nhà xí dơ, phải quét cho
sạch, phải gánh nước để trong nhà xí.
11) BỔN PHẬN TRÒ
ÐỐI VỚI THẦY HOÀ THƯỢNG (upajjhàyavatta).
Tỳ-khưu hoặc
Sa-di phải giữ cho tròn bổ phận đối với ông thầy hoà thượng. Sớm
mai thức dậy, nếu có mang dép lột ra và mặc y chừa vai trái, lấy
tăm xỉa răng, nước rửa mặt dâng cho thầy, dọn dẹp chỗ ngủ và chỗ
ngồi.
Có cháo phải đem
cho thầy dùng: phải dâng và dọn dẹp đồ ăn, phải thủ lễ theo phép
(không nên khua chén bát) và dâng nước rửa. Thầy muốn đi vào
xóm, phải lấy y vai trái, y 2 lớp và dây lưng đem dâng. Thầy
muốn cho trò đi theo, trò phải mặc y theo phép và đi theo sau.
Không nên đi theo gần hoặc xa lắm, đi vừa cho thầy kêu nói. Bát
của thầy đầy cháo hoặc cơm, phải đổi bát cho mình.
Thầy đang nói
chuyện không nên nói xía vào. Thầy nói gần phạm lỗi, phải nhắc
thầy bằng cách này: "Bạch thầy! Nói vậy có phạm lỗi chăng?"
Chẳng nên cãi bằng lời vô lễ. Lúc trở về, trò phải về trước dọn
dẹp chỗ ngồi, múc nước rửa chân, kiếm cây kê để rửa chân. Thầy
về đến phải ra rước bát, lấy y đem cho thầy đổi và đem ra hong 1
lát rồi xếp cất; phải xếp vắn 1 lớp, lớp sau xếp cho bằng lại
(bìa 1 bên, xếp qua chừa 4 ngón tay, rồi xếp lớp sau cho bằng
nhau). Lấy dây lưng xế để vào y vai trái.
Nếu có cơm mà
thầy muốn ăn, phải dâng nước rồi mới dâng đồ ăn và ngồi xem
chừng, ngừa thiếu thốn. Thầy ăn rồi dọn bát cất cho có nơi không
nên động khua. Lấy nước rửa chùi cho khô, đem phơi 1 lát đừng
phơi lâu và đem y, bát cất cho tử tế. Thầy đi ra khỏi rồi dọn
dẹp chỗ ăn. Thầy muốn tắm, phải lo cho có sẳn nước. Thầy muốn
tắm nước lạnh phải có nước lạnh, nước nóngphải có nước nóng.
Thầy muốn vào nhà bếp, đem ghế cho thầy ngồi, lấy y cất cho có
nơi và đi theo vào bếp. Phải đấm bóp cho thầy. Lúc thầy trở ra
cũng phải làm y theo phép (xem trong việc nhà bếp). Thầy tắm
phải xối nước, kỳ cho thầy tắm rồi lấy y dâng lên, chùi lau cho
thầy, dâng y cho thầy, lấy ghế đem cất, xem chừng nước rửa
chân,giẻ chùi chân có sẵn. Nếu muốn học chữ Phạn, phải bạch thầy
cho, thất của thầy có rác, phải quét cho sạch.
Thầy buồn muốn
hoàn tục, phải khuyên thầy đi chỗ này chỗ nọ cho thầy giải buồn
hoặc nói kinh cho thầy nghe. Nếu thầy bất bình phải khuyên lơn
thầy, hoặc kiếm Tỳ-khưu khác khuyên dùm cũng được. Thầy làm theo
tà kiến phải thức tỉnh thầy hoặc cậy các Tỳ-khưu khác khuyên
dùm. Thầy phạm lỗi nặng (Tăng tàn), bị phạt cấm phòng hoặc phạm
lỗi nhỏ, phải lo tính chừng để cho Giáo hội đuổi thầy. Tính cho
thầy ở lại, xin Giáo hội phạt tội nhẹ. Nếu Giáo hội phạt rồi nên
liệu tính cho thầy hành đạo cho mau được tấn hoá, đừng để cho
Giáo hội phạt nữa.
Y dơ thì giặc
cho sạch, nhuộm, giủ, chải. Khi nhuộm phải trở qua, trở lại cho
đều, phơi phải xem chừng, khô đem cất. Muốn đem y bát hoặc vật
gì cho 1 vị nào, hoặc muốn cạo tóc cho ai, đều phải bạch cho
thầy hay trước. Không nên thọ lãnh y, bát hoặc vật gì của ai mà
mình chưa bạch cùng thầy hay biết. Không nên theo 1 bên vị nào
khác cũng chẳng nên để cho ai theo 1 bên mình. Không nên đem đồ
ăn cho ai. Không nên đi theo ai nghịch với thầy mình. Muốn vào
xóm phải bạch với thầy, rồi mới nên đi. Không đi lâu. Ði khuất
thực, phải bạch với thầy, thầy cho phép mới nên đi.
Những việc nói
trên đây, thầy cho phép thì việc chi cũng được, bằng không cho,
phải nài nỉ đến 3 lần, thầy cho thì đi bằng không thì thôi. Lại
nữa, nếu thầy dốt nát không thông đạo lý, trò muốn học chữ Pali
hoặc phép tham thiền mà thầy không biết, chỉ biết ngăn cấm, thầy
như vậy, dầu có cấm đến đâu, cãi lời cũng được. Thầy đau phải
nuôi cho trọn đời, không nên bỏ thầy. Nếu có vị khác ở nuôi,
phải đi kiếm thuốc cho vị ấy, để chữa bịnh cho thầy.
12) BỔN PHẬN CỦA
THẦY HÒA THƯỢNG PHẢI Ở CÙNG TRÒ (saddhimvihàrikavatta).
bổn phận của
thầy phải đối với trò là phải dạy cho trò học kinh luật, học
phép thiền định. Phải thường khuyên lơn nhắc nhở trò. Nếu y, bát
hoặc các vật dụng nào mà thầy có dư phải chia cho trò. Phải giúp
đở cho trò mau được tấn hoá trên đường đạo đức. Trò có bịnh,
thầy phải hết lòng chăm nom, y như lúc trò chăm sóc cho thầy
vậy. Trừ ra khi đi ra khỏi chùa không cần phải cho trò hay.
13) BỔN PHẬN CỦA
TRÒ PHẢI Ở CÙNG VỊ A XÀ LÊ LÀ THẦY NƯƠNG TỰA (àcariyavatta).
Trò phải làm cho
tròn bổn phận cùng thầy mà mình nương tựa, y theo các mà mình
cùng ông thầy hoà thượng vậy.
14) BỔN PHẬN CỦA
VỊ A XÀ LÊ Ở CÙNG TRÒ (Antevàsikavatta).
ông thầy mà mình
nương tựa cũng phải ở cùng trò, như hòa thượng đối với trò vậy.
Trong 14 phép
hành kể trên, nếu vị nào không tuân theo, thì phạm điều Tác ác
(phạm nhằm 1 điều là 1 tội).