NỀN TẢNG
THIẾT LẬP GIỚI
Thích Viên Giác
LỜI
NÓI ĐẦU
Con người khác với loài động vật ở chổ biết đặt vấn đề về giá trị của đời
sống; sống như thế nào thì gọi là thiện là tốt hoặc ngược lại là ác là xấu
? Làm thế nào để con người thể hiện hành vi của mình phù hợp với nhân tính
? Cần có một mục tiêu, lý tưởng để hướng dẫn con người hành động, do đó,
triết học, tôn giáo, chủ nghĩa ra đời.
Đạo Phật chú trọng đến vấn đề
giải thoát con người ra khỏi những ràng buộc, những đau khổ thông
thường cho đến vượt thoát biển khổ trầm luân sinh tử, tử sinh,
bằng cách khai thác năng lực tính Phật tiềm ẩn nơi mỗi chúng sinh
và bằng khả năng tự lực của chính mình.
Để bắt đầu, đạo Phật thiết lập giới luật để ngăn ngừa hành vi bất thiện
của dục vọng bản năng, tạo điều kiện cho tính Phật xuất hiện, phát triển
và hoàn thiện nhân cách đến chổ giải thoát hoàn toàn.
Tác dụng của giới luật trước
hết là tạo nên con người có tính cách ổn định, hướng về
điều thiện, tránh xa điều ác, biểu hiện ở chổ kiểm soát chính
mình, đối xử với mọi người và hoàn cảnh như thế nào để đem
đến sự bình an và hạnh phúc cho đời sống con người.
Sau đó, trên cơ sở đạo đức ấy, tâm lý được thanh lọc và đạt được trí tuệ,
hội nhập thực tại vô ngã giải thoát tối hậu.
Giới luật của đạo Phật không xây
dựng trên nền tảng tín điều và thiết lập giáo điều như các
tôn giáo khác thường làm để bắt buộc tín đồ phải tuân thủ,
mà xây dựng trên cơ sở thực tiển tâm lý và xã hội, trên cơ
sở quy luật của hạnh phúc hay đau khổ. Vì vậy, định nghĩa về
giới luật (Sila) rất rõ là: ngăn ngừa những điều bất thiện,
đình chỉ các điều ác (phòng phi chỉ ác); hoặc là đình chỉ các
điều ác, thực hành các điều thiện
(chỉ ác tác thiện) giới
luật còn gọi là Vinaya, tức là điều phục hành vi, ngôn ngữ
bất thiện trở nên thuần thiện; hay còn gọi là Patimokha tức là
giải thoát từng phần, giữ giới nào thì giải thoát, tự do về
giới ấy. Điều này có nghiã là tránh được điều bất thiện
nào thì điều bất thiện đó không trói buộc, không làm hại
được mình. Nói một cách tổng quát thì giới luật là
kim chỉ nam cho hành động, giúp con người giải quyết những vấn đề bất ổn
trong đời sống về mặt ứng xử, tâm lý và nhất là đối với lý tưởng giải
thoát của người phật tử.
CHƯƠNG I
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
GIỚI LUẬT
Sau khi Đức Phật thành đạo
dưới cội Bồ đề, Ngài đến vườn Lộc Uyển ở Isipatana gần
Beneres hoá độ năm anh em Kiều Trần Như, năm người bạn đồng tu
khổ hạnh với ngài trước kia. Giáo pháp được Đức Phật truyền
dạy là con đường trung đạo tránh xa hai cực đoan: hưởng thụ dục
lạc và khổ hạnh ép xác. Đồng thời Ngài cũng thuyết giảng hệ
thống bốn chân lý: chân lý về khổ
(Dukkha), chân lý về nguồn
gốc của khổ (Samudaya)Chân lý về khổ diệt
(Nirodha), chân lý về
con đường đưa đến khổ diệt (Magga). Năm Tôn giả lần lượt quán
triệt bốn chân lý ấy và được Đức Phật chấp thuận cho làm
đệ tử xuất gia. Đây là năm vị Tỳ kheo đầu tiên của Giáo hội.
Từ đây ngôi Tam Bảo được hình thành:
Đức Phật, giáo pháp và chúng Tăng, chỉ trong vòng hai tháng sau khi Ngài
thành đạo.
I. GIÁO PHÁP LÀ GIỚI:
Để trở thành Tỳ kheo, năm anh em
Kiều Trần Như chỉ giác ngộ chân lý, không cần có một thủ tục hay
giới điều nào cần phải tuân thủ. Về sau trường hợp này gọi
là:" Kiến đế đắc giới". Theo các tài liệu về sử học
còn lưu lại thì buổi ban đầu này Đức Phật chỉ nói một câu:" Đến đây, này các Tỳ kheo, giáo pháp đã được khéo
giảng, hãy sống đời phạm hạnh để đoạn tận khổ đau"
(Đức Phật Lịch Sử. Tr 164 VNCPH ấn hành)
Thuở đầu thành lập Tăng đoàn,
việc thọ giới Tỳ kheo chỉ là sự hợp thức hoá bởi chính Đức
Phật. Khi Ngài thấy được người đệ tử ấy đã lãnh hội giáo
pháp và phát nguyện xuất gia. Chưa có một giới điều nào, chưa có
ý niệm gì về sự ràng buộc của quy chế,bởi lẻ giáo pháp chính
là giới. Tính chân lý của giáo pháp cùng với năng lực vĩ đại
của Đức Phật ảnh hưởng trực tiếp lên tâm trí của một người
đã tạo nên tác dụng của giới là đình chỉ các điều ác, thực
hành các việc thiện. Giáo pháp ở đây nên hiểu là bốn chân
lý. Trong đó nguyên tắc hành trì để đạt được phạm hạnh thanh
tịnh là Bát chánh đạo, con đường đưa đến khổ diệt. Hành trì
Bát chánh đạo tự nó là giới, nếu phân biệt thì chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng là nội dung của giới. Nói một cách rộng
rãi thì lãnh hội giáo pháp là trí tuệ hiện hữu, đã có trí tuệ
thì tội lỗi không sinh. Do sự giác ngộ chân lý trực tiếp từ
lời dạy và phong cách của Đức Phật, Tăng già buổi ban đầu
không cần phải có các giới điều hay quy chế làm gì. Trong luật
tạng thời kỳ này được gọi là:"
Vô sự Tăng".
Ngoài năm anh em Kiều Trần Như, vài
tháng sau đó, Đức Phật độ cho Yasa, một thanh niên còn trẻ và
giàu có ở Benares, được xuất gia và chứng quả A La Hán. Chẳng bao
lâu, 50 bằng hữu của Yasa cũng gia nhập giáo đoàn và đều đắc A
La Hán quả. Giáo đoàn đã được 60 vị. Đức Phật và 60 Tỳ kheo an
cư lần đầu tiên tại vườn nai ở Isipatana.
Pháp và luật mà Đức Phật luôn
luôn giảng dạy, nhắc nhở là đoạn trừ ác nghiệp những lầm lỗi
ở nơi thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.
Như vậy, dù chưa chế giới nhưng nền tảng của giới cũng đã thiết lập bao
gồm Đạo đức luận và giải thoát luận.
II. BA PHÁP QUY Y LÀ GIỚI:
Sau mùa an cư đầu tiên, Đức Phật
quyết định truyền bá con đường giải thoát một cách rộng rãi;
Ngài tập trung 60 vị Tỳ kheo và dạy:" Này các Tỳ kheo hãy đi
khắp nơi vì an lạc và hạnh phúc của số đông, do lòng từ bi đối
với cuộc đời, vì lợi lạc và hạnh phúc của trời và người.
Chớ đi hai người cùng chung đường với nhau. Này các Tỳ kheo, hãy
thuyết giảng giáo pháp cao thượng ở lúc đầu,cao thượng ở lúc
giữa, cao thưọng ở lúc cuối, trong tâm trí và trong ngôn từ. Hãy
rao giảng sự viên mãn, đời sống thanh tịnh của trạng thái cao cả.
Có những kẻ mà trí óc chỉ bị che mờ bởi đôi chút bụi bặm,
nếu không nghe giảng pháp thì họ không thể đạt được giải thoát; những kẻ ấy sẽ hiểu pháp".
(Mahavagga I.12)
Thọ lãnh những huấn thị ấy của
Đức Thế Tôn, các Tỳ kheo lên đường hoằng hóa, tiếp độ chúng
nhân ngày càng đông. Từ đó nảy sinh ra một điều bất tiện là
khi có người xin xuất gia, các vị Tôn giả đều phải giới thiệu
hoặc đưa ngưòi ấy về Isipatana để xin Đức Phật cho thọ giới. Vì
thuở đó Đức Phật chưa cho phép các vị Tỳ kheo tự ý truyền
giới xuất gia. Sự bất tiện nữa là Đức Phật không thể ở yên
một trú xứ chờ đợi các đệ tử đưa người về; bản thân
của Ngài cũng vân du đây đó để hoá độ chúng sinh. Để giải
quyết vấn đề, Ngài triệu tập Tăng đoàn hội ý. Sau khi thảo luận,
Đức Phật dạy:" Này các Tỳ kheo, ta cho phép chư vị khi ở trong
những xứ sở, thôn làng xa xôi có quyền truyền tiểu giới xuất
gia (pabbajà, sadi) và đại giới xuất gia
(Upasampadà, Tỳ kheo).Việc
ấy phải thực hiện theo cách này: Trước tiên hãy cho giới tử
cạo sạch râu tóc, đắp các y vàng và phủ ra bên trái với
thượng y; hãy cho phép vị ấy quỳ xuống cung kính nghiêng mình
trước giới sư với hai tay chắp lại. Sau đó vị ấy phải được
dạy bảo lặp lại câu:" Đệ tử xin quy y Phật; đệ tử xin quy y
pháp; đệ tử xin quy y tăng." Câu này phải được lặp lại ba
lần." Này chư Tỳ kheo, ta cho phép chư vị truyền tiểu giới và
đại giới xuất gia của một tân thọ Tỳ kheo bằng cách nhận tam quy
này" (ĐP LS). Từ đó, phương pháp truyền giới và thọ giới
được thành lập. Nội dung của giới được truyền chỉ đơn giản
là ba pháp quy y;mặc dù có phân biệt tiểu giới và đại giới,
nhưng không có phân biệt về nội dung giới pháp. Đây là trường
hợp mà trong luật tạng gọi là:" Tam ngữ đắc giới"
Sau này, khi giới luật phát triển
đầy đủ, ba pháp quy y không còn đóng vai trò quan trọng và lớn lao
như vậy nữa. Có người cho rằng, ba pháp quy y không phải là giới; nhưng trên thực tế, ba pháp quy y vẫn phát sinh tác dụng của
giới. Nghĩa là ngăn ngừa điều ác, những điều kiện bất thiện
phát sinh. Ngài Thánh Nghiêm ở Trung Hoa viết trong tác phẩm Giới
Luật Học Cương Yếu rằng:" Thật ra Tam quy cũng là giới."
Bởi vì, nghĩa của giới là cấm ngăn. Sau khi quy y cũng có ba thứ
cấm ngăn:" Quy y Phật suốt đời không quy y thiên ma ngoại đạo;
Quy y pháp suốt đời chẳng quy y tà thuyết ngoại đạo; Quy y Tăng
suốt đời chẳng quy y đồ chúng ngoại đạo. Vì thế, bản thân của
quy y Tam Bảolà có bao hàm đặc chất của một loại giới."
(Tuệ
Đăng dịch).
Như vậy, sự phát triển giáo đoàn
đã thúc đẩy hình thành một quy chế truyền giới; tuy đơn giản
nhưng đó vẫn là một phương thức mang tính cách quy chế. Đối với
hàng ngũ cư sĩ tại gia, khi muốn trở thành một tín đồ Phật giáo,
phương thức nhập đạo cũng chỉ là phát nguyện Tam quy. Các cư sĩ
thường tác bạch:" Bạch Đức Thế Tôn, nay đệ tử xin quy y
Thế Tôn, quy y pháp; quy y Tăng; ước mong Thế Tôn nhận đệ tử
làm cư sĩ tại gia từ nay cho đến trọn đời"
(Trường Bộ Kinh). Không thấy truyền thọ 5 giới, có lẻ 5 giới được mặc nhiên
hành trì; vì đó là những nguyên tắc đạo đức phổ quát đương
thời được Đức Phật hệ thống lại về sau. Phương thức truyền
giới và thọ giới bằng cách đọc Tam quy chỉ dành cho các Tỳ kheo
sử dụng. Riêng Đức Phật, Ngài rất ít khi sử dụng. Ngài thương
dùng câu;" Thiện lai Tỳ kheo"," Hãy đến đây, Tỳ
kheo" (Ehi, Bhikka) là một sự vị thiện nam tử trở thành một
người xuất gia thực thụ. Cách truyền giới này chỉ có Đức Phật
sử dụng mà thôi
.III. GIỚI KINH:
Trong kinh có đề cập đến sự tập
trung Tăng chúng vào những ngày trăng tròn và không trăng để
đọc tụng giới kinh. Như vậy, dù chưa hình thành rõ nét giới bổn,
nhưng chắc chắn đã có những bài kinh gọi là giới kinh để nhắc
nhở Tăng chúng thúc liễm thân tâm và để thanh lọc thân khẩu ý.
Trong giới bổn Tỳ kheo có 7 bài kệ
của 7 Đức Phật kể từ Đức Phật Tỳ Bà Thi cho đến Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni được gọi là giới kinh. Hình thức của bài kệ
ngắn gọn, dễ thuộc, nội dung khích lệ tu tập để làm trong sạch
thân khẩu ý. Giới bản Tỳ kheo nói rõ rằng: " Đây là giới
căn bản ứng dụng cho chư Tăng Vô sự" thuở ban đầu. Sau này,
giới luật phát triển cũng chỉ làm phong phú thêm mà thôi; có
thể trích dẫn 1 trong 7 bài giới kinh như sau:
Giới kinh do Đức Thích Ca Mâu Ni dạy:
" Khéo léo mà giữ
Miệng lưỡi lời tiếng
Tự mình làm sạch
Tâm trí của mình
Và thân thể nữa
Cũng đừng làm ác
Đó là đường sạch
Của cả ba nghiệp
Khả năng đạt được
Đường sạch như vậy
Chính là đường đi
Của Bậc Đại Tiên".
" Bài tụng này là giới kinh
của Thích Ca Mâu Ni đấng Như Lai, đấng Vô Trước, đấng Chánh Biến
Tri thuyết ra cho chư Tăng không có mọi sự tội lỗi trong 12 năm
đầu. Từ đó về sau, chỉ là phân tích phong phú giới kinh này."
(Tỳ kheo giới. Trí Quang dịch 1974)
Qua bài tụng giới kinh tiêu biểu trên, chúng ta có thể thấy rằng, thanh
lọc thân khẩu ý là mục tiêu của sự hành trì giới và mục tiêu của đời sống
phạm hạnh.
Qua năm thứ ba sau ngày Đức Phật
thành đạo, giáo đoàn đã lên đến con số 1250 vị gồm 1000 đệ tử
của ba anh em Kassapa, 250đệ tử của Sàriputta và Mogallàna. Với số
lượng Tăng chúng đông đảo như vậy, để có sự ổn định, ngoài
các bài tụng giới kinh, chắc chắn Đức Phật có chế ra một ít
giới luật để ngăn ngừa những sự rắc rối xảy ra trong đời
sống tập thể và đối với quần chúng xã hội. HW Schuman, trong tác
phẩm Đức Phật Lịch Sử của ông có đề cập vấn đề này:"
Bậc đạo sư đưa ra một loạt huấn thị để dạy chư vị Tỳ kheo biết
giữ phép xã giao nhã nhặn, phải đắp y đúng luật Sa môn, cư xử
khiêm tốn trước các thí chủ và thọ thực trong im lặng.
Những trường hợp bất kính đối
với các vị thầy giáo huấn lớp tân Tỳ kheo cũng khiến Ngài ban
hành các giới luật về vấn đề này. Ngài truyền lệnh các Tỳ kheo
phải vâng lời của các giáo thọ, phải chăm sóc y phục của các
giáo thọ, phải rửa sạch bình bát và lau chùi sàng tọa của thầy
mình". (Trần Phương Lan dịch. Tr 232).
IV.NI GIỚI:
Năm 504 BC, sau khi Đức Phật thành
đạo 5 năm, trong dịp Ngài về thăm phụ vương đang bệnh nặng và sau
đó ông qua đời, đây là lần thứ 2 Ngài về hoàng cung, bà
Mahapajapati- di mẫu của Đức Phật cầu xin xuất gia. Mặc dù Đức
Phật 3 lần từ chối bà đã tự cạo đầu, khoác áo cà sa cùng
với một số cung phi trong hoàng tộc đi từ Kapilavatthu đến thành
Vaisali gặp Ngài xin xuất gia. Dù vậy, Đức Phật vẫn từ chối. Tôn
giả Ananda, đã không cầm lòng được và lên tiếng cầu xin giúp.
Cuối cùng, Đức Phật dạy:" Này Ananda,
nếu mẫu hậu Mahapajapati cam kết tuân theo tám trọng giới này thì hãy xem
đây là lễ thọ giới của bà." Bà Mahapajapati chấp nhận mọi diều kiện và trở
thành vị Tỳ kheo ni đầu tiên.
Nội dung của Bát kỉnh pháp là đề
cao vai trò của Tăng chúng, Tỳ kheo ni phải phục tùng và kính trọng
Tăng chúng. Bát kỉnh pháp quy định một Tỳ kheo ni dù đã 100 tuổi
hạ cũng phải cung kính đảnh lễ vị Tỳ kheo 1 hạ
Lý do Đức
Phật thiết lập Bát kỉnh pháp là để phòng ngừa sự quá đáng
của ni giới đối với chư Tăng về mọi mặt. Như trong kinh Tăng Chi
Phật dạy:" Này Ananda, cũng như một người vì nghĩ đến tương
lai mà lo xây đập ngăn hồ nước lớn không cho nước chảy qua. Cũng vậy, này
Ananda vì nghĩ đến tương lai ta mới ban hành Bát kỉnh pháp này cho các Tỳ
kheo ni để họ trọn đời không vượt qua".
Như vậy, ngoài những nguyên tắc đơn giản là truyền Tam quy, Ni chúng còn
được truyền Bát kỉnh pháp để trở thành Tỳ kheo ni. Về sau, giới luật của
Tỳ kheo ni cũng nhiều hơn giới luật của Tỳ kheo; đơn giản, là vì người nữ
về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội… đều phức tạp hơn nam giới.
Qua quá trình ở trên, chúng ta nhận
thấy giới luật của Tỳ kheo và Tỳ kheo ni thời kỳ này chủ yếu
là coi trọng giới thể chứ chưa đặt nặng giới tướng. Vì vậy,
khi một Tỳ kheo hay một Tỳ kheo ni được thọ giới hoặc đắc giới
có nghĩa là giới thể vô biểu phát khởi trong thân tâm của
người thọ. Đó là nột loại ấn tượng có thể tạo ra năng lực
chi phối các hoạt động của thân khẩu ý. Năng lực ấy tuy không
thấy được bằng mắt nhưng tác dụng rất rõ. Đó là ngăn ngừa
được sự bất thiện của thân, khẩu, ý.Đây chính là cốt lõi
của Tỳ kheo và Tỳ kheo ni giới.
Giới Tỳ kheo được gọi là giới Cụ túc, tiếng phạn là Upasampàda, dịch là
Cận viên, nghĩa là gần với sự viên mãn; hay nói cách khác là gần với quả
vị cao thượng của A La Hán. Đời sống của một vị A La Hán có 4 sự thanh
tịnh:
a. Biệt giải thoát luật nghi
b. Căn luật nghi
c. Mạng luật nghi
d. Chánh niệm tỉnh giác.
Đầy đủ 4 sự thanh tịnh này gọi là Cụ túc giới. Tổng kết các trường hợp đắc
giới Cụ túc, Luật tạng nêu ra 10 trường hợp:
-
Tự nhiên đắc giới:
Đây là trường hợp của Đức Phật hay Độc Giác Phật, do tự mình chứng ngộ,
không có ai truyền.
-
Kiến đế đắc giới:
Như trường hợp của năm anh em Kiều Trần Như, thấy được 4 chân lý bước
vào thánh đạo mà đắc giới.
-
Thiện lai Tỳ kheo:
được Đức Phật gọi là Thiện lai Tỳ kheo mà đắc giới.
-
Do xác nhận Phật là thầy: Đây là
trường hợp của Tôn giả Ca Diếp khi gặp Đức Phật liền tuyên bố:"
Đây là bậc đạo sư của tôi" mà đắc giới Cụ túc.
-
Do kheó trả lời: Đây là trường hợp
của Tô Đà Di mới 7 tuổi đã trả lời một cách khéo léo câu
hỏi của Phật rằng:" Nhà con ở đâu ?". Đáp:"
Ba cõi không đâu là nhà" Đức Phật cho thọ giới Cụ túc.
-
Do thọ Bát kỉnh pháp:
Đây là trường hợp bà Mahapajapati, di mẫu của Đức Thế Tôn, chấp nhân 8
phép tôn trọng đối với Tăng mà đắc Cụ túc giới.
-
Do gởi đại diện:
Đây là trường hợp của ni cô Pháp Thọ; do có sắc đẹp nổi tiếng nên khi
hay tin nàng xuất gia thọ giới, nhiều thanh niên tổ chức đón đường bắt
cóc. Phật cho phép nàng gởi người đại diện đến giữa Tăng mà thọ, sau đó
về truyền lại.
-
Do người thứ 5 là người trì luật:
Trường hợp ở biên cương không đủ túc số 10 Tăng, được cho phép chỉ đủ 5
người, nhưng 1 trong 5 người phải biết pháp yết ma truyền giới.
-
Thọ giới đủ 10 Tỳ kheo truyền:
Đây là trường hợp thông thường bắt buộc đối với vùng đô thị và nơi đủ
túc số Tăng.
-
Tam ngữ đắc giới: Đây là trường hợp
thọ Cụ túc giới bằng cách đọc 3 lần:" Quy y Phật; quy y pháp; quy y Tăng"
Cách này là cách truyền giới thuở ban đầu thành lập Tăng đoàn.
Tóm lại, giới luật trong thời kỳ
ban đầu của giáo đoàn đặt trọng tâm vào giáo pháp và đời
sống phạm hạnh. Những giới luật của người xuất gia chưa cần
phải thiết lập. Nghi thức truyền thọ Cụ túc giới cũng rất đơn
giản, ngắn gọn. Do tình hình sinh hoạt thực tế của giáo đoàn,
Đức Phật dần dần thiết lập giới. Theo Luật tạng thì cho đến năm
thứ 12 sau ngày Phật thành đạo giới luật mới chính thức được
thành lập. Năm thứ 5 sau ngày Phật thành đạo, Tôn giả Ưupali xuất
gia, vì là ngưòi có năng khiếu về phân tích giới luật, nên Đức
Phật thường giao cho Tôn giả nhiệm vụ nghiên cứu giới luật để
hình thành luật tạng.sự hình thành giới bổn kéo dài
cho đến khi Đức Phật nhập Niết bàn mới chấm dứt.
V.
GIỚI BỒN:
1. Giới của người cư sĩ tại gia:
Theo nguyên tắc, người cư sĩ tại gia phải có đủ 2 điều kiện để trở thành
một phật tử chân chính. Đó là thọ nhận 3 pháp quy y và hành trì 5 giới
cấm, 5 giới cũng được truyền và thọ đúng nguyên tắc. Tuy nhiên, thời kỳ
đầu của giáo đoàn, người cư sĩ không cần phải thọ giới hay được truyền 5
giới mà chỉ cần phát nguyện thọ Tam quy theo nghi thức rất đơn giản là
lặp lại 3 lần Tam quy.
Người cư sĩ tại gia đầu tiên của Đức Phật là hai thương gia
Tapassu và Bhallika, hai thương gia này trên đường về quê gặp được
Đức Phật vừa mới đắc đạo chưa đi hoằng hoá. Trước phong cách
đặc biệt của một vị giác ngộ, hai thương gia dừng lại thăm hỏi
đảnh lễ và cúng dường một ít mật và bột. Sau đó họ quỳ
xuống và bạch rằng:" Bạch Đức Thế Tôn, chúng con
xin quy y Phật, quy y pháp, xin Ngài thâu nhận chúng con làm thiện tín
kể từ nay cho đến ngày cuối cùng đời chúng con". Đó là 2 vị thiện tín
đầu tiên quy y nhị bảo. (Đức Phật và Phật pháp. Tr 78 Narada).
Trong thời gian đầu tiên này, Đức Phật cũng nhận nữ thiện tín đầu tiên
quy y nhị bảo. Đó là nàng Sunjata, người dâng bát sữa đầu tiên khi Đức
Phật từ bỏ con đường tu khổ hạnh.
Người cư sĩ đầu tiên quy y Tam bảo là thân phụ của Yasa. Yasa là một
thanh niên giàu có, con một, của một thương gia. Do chán đời sống gia
đình xa hoa vô nghĩa, một hôm anh ta đến vườn nai ở Isipatana gặp được
Đức Phật, nghe thuyết pháp; cuối cùng Yasa giác ngộ chân lý và muốn xuất
gia theo Đức Phật. Thân phụ của Yasa đi tìm con; ông ta đến vườn Nai hỏi
thăm Đức Phật. Đức Phật bảo ông ta ngồi xuống và thuyết pháp cho ông
nghe. Nghe xong, ông hoan hỷ xin quy y Tam bảo. Từ đó những cư sĩ muốn
trở thành đệ tử của Đức Phật thường đọc 3 lần quy y Tam bảo.
Năm giới cấm của người phật tử tại gia do Đức Phật chế và trở thành giới
điều thực sự có lẻ khoảng năm thứ 12 sau ngày thành đạo trở lên; nghĩa
là hình thành cùng khoảng thời gian hình thành giới bổn của người xuất
gia.
Thật ra, như chúng ta thấy, dù nói 5
giới là của người phật tử tại gia nhưng lại là giới nền
tảng, căn bản cho cả người xuất gia. Năm giới Đức Phật dạy
được ghi chép lại trong kinh Trung A Hàm 128 là bài kinh Ưu-bà- tắc
(bản kinh do Sanghadeva dịch ra chữ hán), tương đương với kinh gia chủ
trong Anguttava Nikàya. Kinh này Đức Phật dạy cho cư sĩ Cấp Cô Độc
cùng với 500 cư sĩ bằng hữu của Cấo Cô Độc tại tịnh xá Kỳ
Hoàn thuộc nước xá vệ (Savatthi).
Nội dung 5 giới được trình bày
rất rõ ràng và đầy đủ cả hai mặt Chỉ trì và Tác trì, nghĩa là
rất tích cực. Ví dụ, giới thứ nhất xa lià sát sinh, Phật dạy:" Bạch y thánh đệ tử xa lià sát sinh, vứt bỏ khí giới, có
tâm hổ thẹn, có tâm từ bi thường thực hành hạnh lợi ích cho
tất cả, cho đến loài côn trùng (phóng sinh, bảo vệ sinh vật).
Đấy là pháp thứ nhất mà bạch y thánh đệ tử giữ gìn và
thực hành một cách hoàn hảo".
Căn cứ vào bài kinh trên trên
chúng ta có thể rút ra vài nhận định như sau. Đối tượng mà
Đức Phật thuyết giảng 5 giới là cư sĩ hết sức ủng hộ và sùng
kính Đức Phật cũng như giáo đoàn. Đây là lần đầu tiên Đức
Phật thuyết về 5 giới như là những tiêu chuẩn đạo đức cho
người cư sĩ tại gia.
Thời gian thuyết kinh này khoảng từ
năm thứ 10 đến thứ 12 sau ngày thành đạo. Cấp Cô Độc có duyên
gặp Phật rất sớm vào năm thứ 3 sau ngày thành đạo và ông đã
dâng cúng tịnh xá Kỳ Hoàn ở Xá Vệ
(Savatthi) năm sau đó, tức
khoảng 526-527 BC. Nhưng Đức Phật không ở Kỳ Hoàn cho đến 515
(hơn
10 năm sau) Ngài mới an cư lần đầu tiên tại đây. Từ đó cho
đến cuối đời, phần lớn các mùa an cư Đức Phật đều ngụ tại
tịnh xá Kỳ Hoàn, theo sử ghi lại khoảng 19 lần Ngài an cư tại nơi
này. Ngài Narada viết trong tác phẩm Đức Phật và Phật pháp rằng:" Đức Phật an cư 19 lần ở jetavana. Đa số các bài pháp liên
quan đến hàng cư sĩ là do Đức Phật giảng cho Cấp Cô Độc".
Trong phần duyên khởi của kinh nói Cấp Cô Độc đến thăm ngài Xá Lợi Phất
chuyển hoá các cư sĩ chưa hiểu đạo này. Điều cần nói thêm ở đây là mối
giao tình giữa ngài Xá Lợi Phất và Cấp Cô Độc rất đặc biệt.Ngài Xá Lợi
Phất dẫn dắt 500 cư sĩ đến trình diện Đức Thế Tôn với thâm ý là Đức Thế
Tôn trực tiếp giảng dạy họ. Đức Phật nhận thấy rằng, đây là cơ hội để
chính thức dạy cho hàng ngũ cư sĩ thực hành 5 giới như là những nguyên
tắc cơ bản của một cư sĩ theo Phật. Việc Cấp Cô Độc dẫn dắt số lượng cư
sĩ đã khá mạnh, nhu cầu tu học đã cao. Điều đó cũng nói lên sự bắt rễ
vững chắc của giáo đoàn ở Savatthi.
Thời gian đầu của Đức Phật ở
tại Savatthi, ngoài sự hộ trì của cư sĩ Cấp Cô Độc, Đức Phật
và giáo đoàn còn được sự hộ trì của một nữ cư sĩ nổi
tiếng là Visàkhà. Cô là con gái triệu phú Dhanàrjaya, lúc lên 7
tuổi, cô đã có cơ duyên gặp Phật nhân dịp Ngài du hành đến
Bhaddiya, quê hương của cô. Sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, cô
trở thành một phật tử thuần thành.
(Sách ghi là cô chứng quả
Tu Đà Hoàn) khoảng năm 17 tuổi cô lấy chồng, cũng con một triệu
phú, tên là Punnavadhana. Về nhà chồng ở Savatthi, được gần gủi
Đức Phật và chư Tăng, cô rất vui mừng và hết lòng ủng hộ
Phật pháp. Cô đã chuyển hóa cha chồng từ một đệ tử đắc lực
của giáo phái Nigantha trở thành đệ tử của Đức Phật. Bà đã
cúng dường Đức Phật và chúng Tăng đầy đủ đến suốt đời
theo tâm nguyện của mình. Đặc biệt, Visàkhà dâng cúng Đức Phật
một tịnh xá tên là Pubbàràma(Đông Viên Trùng Các) cách tịnh xá
Jetavana không xa.
Đức Phật đã an cư tại đây 6 mùa mưa. Bà là người nữ cư sĩđược Đức Phật
dạy rất nhiều bài kinh liên quan đến đời sống của người cư sĩ, đặc biệt
là pháp Bát Quan Trai Giới.
Bát Quan Trai Giới mà các phật tử ngày nay thọ trì tu tập khởi nguyên là
Đức Phật dạy cho Visàkha. Nội dung Bát Quan Trai được ghi chép lại trong
kinh A Hàm IV, kinh Trì Trai 202. Từ bài kinh này ta có thể rút ra một
vài nhận định sau:
Bát Quan Trai Giới đã được Đức
Phật thuyết lần đầu cho Visakha tại Đông Viên Trùng Các, vào dịp an
cư mùa mưa. Có lẽ là sau thời gian thuyết 5 giới cho Cấp Cô Độc.Visàkhà thường đến tịnh xá để hầu thăm Đức Phật vào những
ngày trăng tròn. Nàng phát nguyện trì trai trọn ngày;
nhân đó Đức Phật dạy cho Visàkhà về phương pháp trì trai chân chính gọi
là Tám Chi Thánh Trai.
Nội dung tám giới, 5 giới đầu
tương tự 5 giới của người cư sĩ mà Đức Phật dạy cho Cấp Cô
Độc, trừ giới thứ 3 thêm là không dâm dục. Những giới còn
lại là không nằm giường cao rộng lớn, xa lìa trang sức, ca vũ
nhạc và không ăn phi thời. Ba giới sau tương đương với giới của
sa di, nghĩa là giới của người xuất gia. Chứng tỏ giới sa di cũng
được thiết lập hoàn chỉnh. Mục đích của Bát Quan Trai là tạo cơ
hội cho hàng ngũ cư sĩ có diều kiện tu tập giải thoát, nâng cao
đời sống tâm linh và trí tuệ, ít nhất là thực hành hạnh xuất
gia. Trong kinh Trì Trai Đức Phật coi Tám Thánh Trai này tương đương
với phẩm hạnh của một vị A La Hán; có thể lấy một giới để ví
dụ, như giới thứ ba:" Này nữ cư sĩ, Đa văn thánh đệ tử
khi trì trai tư duy như vầy:" A La Hán cân nhân rọn đời xa lià
phi pham hạnh, đoạn trừ phi phạm hạnh, tu hành phạm hạnh, chí tâm
thanh tịnh, sống không xú uế, ly dục, đoạn dâm. Đối với phi phạm
hạnh, nay tôi tịnh trừ tâm ấy". Ta coi chi này như của A La Hán
ngang nhau không khác, do đó gọi là trai (Kinh Trì Trai tương đương
Tăng Chi III. Phẩm Ngày Trai Giới).
Như vậy tuy gọi là 5 giới hay 8 giới của người cư sĩ tại gia nhưng vẫn
là giới luật nền tảng của người xuất gia. Bởi lẻ mục tiêu giải thoát là
một và con đường đi đến giải thoát cũng là một.
Qua trình bày trên, chúng ta có thể
tạm kết luận quá trình hình thành giới của người phật tử tại
gia đến khi hoàn chỉnh ở vào thời điểm giáo đoàn hưng thịnh hàng
ngũ cư sĩ đông đảo đã có nhu cầu tu học cao; tức là thời gian
từ năm thứ 12 cho đến thứ 15 sau ngày thành đạo. Hai vị cư sĩ
nổi bật là Cấp Cô Độc và Visàkhà được xem như là khởi
nguyên giới luật của người phật tử tại gia. Nội dung của các
giới điều ấy rất cụ thể, mang tính tích cực và phù
hợp với đời sống con người xã hội và lý tưởng giải thoát.
2. Giới của người xuất gia:
Như chúng ta đã biết, buổi ban sơ của giáo đoàn chưa thiết lập giới. Chúng
Tỳ kheo dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Đức Phật rất thanh tịnh. Theo luật
tạng, thời gian này kéo dài 12 năm. Tuy nhiên, khoảng năm thứ 6 trở đi
những huấn thị của Đức Phật về những điều nên làm thuộc về phép xả giao,
sự khiêm tốn, đối xử với các thầy giáo thọ phải săn sóc và lễ độ … đã được
hình thành.
Đối với người xuất gia, giới nhỏ nhất là sa di giới gồm có 10 giới. Người
được coi là vị sa di đầu tiên của giáo hội là La Hầu La, Ngài theo Phật từ
lúc Đức Phật về thăm hoàng cung lần đầu tiên kể từ khi bỏ thành ra đi,
khoảng năm 526 BC. Bấy giờ, La Hầu La đã được 9 tuổi. Đức Phật giao La Hầu
La cho Tôn giả Xá Lợi Phất dạy dỗ. Tôn giả Xá Lợi Phất chỉ hướng dẫn La
Hầu La những đức hạnh căn bản của người xuất gia và phương pháp luyện tâm
đơn giản, tuân thủ lý tưởng tu tập bản thân như một vị tỳ kheo; chưa có gì
khác biệt chỉ ở chổ tuổi tác, chưa đủ 20 tuổi thì chưa thành Tỳ kheo được.
Mười giới sa di chưa hình thành vào
thời kỳ này, lúc khoảng 15 tuổi, La Hầu La vi phạm lỗi nói dối,
Đức Phật đích thân dạy La Hầu La phương pháp kiểm soát, kiềm chế
thân khẩu ý (Xem kinh Giáo Giới La Hầu La, Trung Bộ Kinh
II"; không thấy Đức Phật đề cập đến lỗi nói dối như là đã vi phạm giới thứ
tư của người sa di. Ngay cả giới không được uống rượu cho đến 520 BC mới
được quy định, tức năm thứ 8 sau ngày thành đạo.
Khi ấy, Đức Phật đến xứ Kosambi,
hành vi củc các Tỳ kheo ở đây thường bị chỉ trích. Nổi bật là
tỳ kheo Sagata, sau khi uống rượu say nằm trước cổng thành Kosambi,
các Tỳ kheo khác phải khiêng về, Nhân đó, Đức Phật ban hành
luật cấm Tăng chúng uống rượu và ra điều luật nếu sa di uống
rượu sẽ bị bát bỏ quyền thọ cụ túc giới
(sđd T.28).
Ap lực hình thành giới luật ngày
càng mạnh, vì Tăng chúng ngày mỗi đông, những thành phần phức
tạp xen lẫn vào Tăng đoàn nên phải bổ sung những điều giới phù
hợp bảo đảm sự thanh tịnh của giáo đoàn. Những diều giới của
người xuất gia được hình thành sớm hơn của người tại gia, ban
đầu gồm 10 giới (Sau gọi là giới sa di):
-
Không sát sinh hại mạng.
-
Không lấy của không cho.
-
Không dâm dục.
-
Không nói dối.
-
Không uống rượu.
-
Không thọ thực sau giờ ngọ.
-
Không tham dự các buổi ca vũ nhạc kịch.
-
Không dùng trành hoa hương liệu, son phấn vàng ngọc trang sức.
-
Không dùng sàng toạ cao sang rộng lớn.
-
Không nhận tiền, vàng, bạc
Mười giới trên là giới của người xuất gia, sa di hay tỳ kheo cũng phải giữ
như vậy; mục đích là giữ sự thanh tịnh của Tăng đoàn, tránh xa các hành vi
phù phiếm thế tục để dễ dàng tu tập chánh niệm. Giới bổn quy định rõ 10
giới trên là của sa di, có lẽ từ năm thứ 12 khi mà giới luật Tỳ kheo được
thành lập.
Quá trình hình thành giới Tỳ kheo
trải qua thời gian khá dài. Đức Phật không chủ trương thiết lập
hệ thống giới luật để kiềm chế chúng Tăng, do tình hình thực tế
và thuận theo nhu cầu của Tăng mà thiết lập giới. Khi một Tỳ kheo
phạm vào một bất thiện pháp nào, Đức Phật họp tăng và chế
giới ấy. Sự tình chế giới có lẽ vào năm thứ 5 kéo dài đến
cuối đời Ngài. Luật tạng thực sự được thành lập phải là
thời kỳ kết tập thứ nhất sau khi Phật diệt độ 3 tháng. Luật
tăng Kỳ ghi lại sự kiện Tôn giả Xá Lợi Phất thấy sự cần
thiết phải có khung giới luật hoàn chỉnh, nên yêu cầu Đức Phật
chế giới đầy đủ. Đức Phật từ chối, ngài dạy:" này Xá
Lợi Phất, trong chúng của ta chưa từng có pháp hữu lậu. Trong
chúng này của ta, người nhỏ nhất cũng đắc quả Tu Đà Hoàn. Các
Đức Phật Như Lai không vì chưa có pháp hữu lậu mà kết giới cho
các đệ tử". Vậy cho thấy, giới luật của Đức
Phật khôngmang tính cưỡng chế.
Trường hợp chế giới Tỳ kheo, theo
luật tăng kỳ thì giới đầu tiên là giới bất dâm, được thiết
lập vào năm thứ 5 sau ngày thành đến năm thứ 12 thì giới tỳ
kheo đã lên đến 120 điều. Luật chép:" Đức Thế Tôn ở
thành Tỳ Xá Ly, sau khi thành đạo được 5 năm, nữa tháng thứ 5
của mùa đông, ngày 12 sau khi thọ trai xong bóng mặt trời ngã về
hướng tây một người rưỡi, Đức Phật chế giới này cho con trai
của một trương giả Da xá ca lan Đà". Giới thứ hai là giới
trộm cắp, Phật chế ở thành vương xá vào năm thứ sáu, chế cho
người thợ gốm tên là Đạt Ni Ca. Điều thứ ba là giới sát sinh,
Đức Thế Tôn ở thành Tỳ Xá Ly vào năm thứ sáu, nhân các Tỳ
kheo tu bất tịnh quán, nhàm chán xác thân nên nhờ Lộc Trượng
giết, Lộc Trượng (Migalandika) là một tỳ kheo,
trước kia là ngoại đạo trà trộn vào chúng Tỳ kheo, có biện tài chặt đứt
đầu một cách nhanh chóng những người muốn tự sát, bấy giờ ngài liền chế
giới này. Giới thứ tư là Đại Vọng Ngữ, Đức Thế Tôn ở tại Xá Vệ, năm thứ
sáu, nhiều Tỳ kheo đi vàolàng xưng là A La Hán. Như vậy, các trọng giới
của Tỳ kheo đã được chế trong vòng 2 năm. Đó là theo quan điểm của luật
Tăng Kỳ. Vấn đề lịch sử về quá trình hình thành giới luật rất phức tạp,
khó mà chính xác được.
Luật tạng gồm các bộ luật ghi chép
các giới điều ngăn cấm và phương cách xử lý khi có ai vi phạm
giới tướng của Tỳ kheo giới có 250 điều, Tỳ kheo ni có 348 điều.
Sau khi Đức Phật diệt độ, lần kết tập thứ nhất Tôn giả Ưu Ba Ly
đã đọc tụng 80 lần mới hoàn thành, nên gọi là:" Bát Thập
Tụng Luật". Sau này thời kỳ phân phái luật tạng chia ra nhiều
bộ nữa. Luật tạng được hình thành không theo hệ thống mà dựa
theo các sự kiện thực tế. Ngài Ưu Ba Ly sắp xếp theo mức độ
nặng nhẹ tuần tự 8 phần như sau
-
Baladi
(Paràjika) có 4 tội: Hành dâm, đạo tặc,
sát nhân và đại vọng ngữ. Gọi là Baladi nghiã là thất bại, sẽ
bị tẩn xuất ra khỏi giáo hội (Ni có 8 tội).
-
Tăng già bà thi sa
(Sanghàdisesa): nghiã là yêu
cầu hội họp tănh chúng. Giới này Tăng có 13, Ni có 17.
Vị nào phạm các giới này, người có tội phải thú nhận trước cuộc họp tăng
chúng.
-
Bất định
(Aniyatà): Những sự vi phạm giới này là trường hợp cần phải diều
tra để quyết định xem chúng thuộc một hay hai. Cách xử phạt sẽ khác nhau
tuỳ theo trường hợp. Có 2 giới bất địng cho Tỳ kheo.
-
Ni tát kỳ ba dật đề
(Nissaggaya- Pàcittiya): Nghĩa
là:" Xả đoạ" người phạm phải đem tài vật ấy xả cho tăng rồi đến
trước Tăng sám hối. Có 30 giới cho tăng và Ni.
-
Ba dật đề
(pàcittiya) nghĩa là cần phải chuộc
tội. Đây là giới luật nếu vi phạm là không thanh tịnh cần phải
chuộc tội bằng cách thú nhận trước chúng Tăng hay trước vị Tỳ kheo. Có
90 giới cho Tỳ kheo và 166 giới cho tỳ kheo ni.
-
Ba la đề xá ni
(Pàtidesaniya) nghĩa là cần phải
thú nhận sám hối trước một vị tăng.
Có 4 giới cho Tăng và 8 giới cho Ni.
-
Pháp chúng học
(Sekhiya) là những nguyên tắc
xử thế, những phép cư xử lịch sử của Tăng ni về y phục, thái
độ lúc đi khất thực, vệ sinh cá nhân. Không có hình phạt chính
thức nào dành cho vi phạm.Có 100 pháp cho Tăng
và Ni.
-
Pháp diệt tránh
(Adhikarama) nghĩa là ổn định
thanh chấp, là các giới lu\iên hệ đến phương cách ổn định các
mối tranh chấp và loại trừ các sự sai biệt về ý kiến. Có 7
phương pháp (tham khảo Đức Phật lịch sử VNCPPHVN ấn hành).
Luật bát Thập Tụng được truyền
trì nghiêm cẩn qua 5 Tôn giả: Ca Diếp (Mahakassapa), Anan
(Ananda), Mạc
Diền Địa (Mad- hyàntika), Thương Na Hoà Tu
(Sànavàsa), Ưu Ba Cúc Đa (Upagupta), Tạng luật vãn không có gì thay đổi. Nhưng Ưu Ba Cúc Đa
có 5 đệ tử, mỗi người đều có dị kiến về luật mà chia thành
5 bộ. Về sau kiến giải về luật tạng còn phong phú hơn.
Nhưng nhìn chung, nội dung của giới điều mà Đức Phật đã dạy từ thời nguyên
thuỷ vẫn nguyên vẹn, những dị biệt chỉ là tiểu tiết.
CHƯƠNG II
GIỚI LUẬT- CƠ SỞ CỦA ĐẠO
ĐỨC
I. KHÁI NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC:
" Đạo đức là một trong những hình thài ý
thức xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng điều
chỉnh hành vi của con người tronh mọi lãnh vực của đời sống xã
hội" (Từ điển triết học). Vậy, đạo đức là vấn đề
liên hệ đến giá trị tốt xấu,thiện ác của đời sống con người. Dựa vào các quan niệm, các nguyên tắc đạo đức, con người
có thể điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với đạo lý xã hội. Điều đó được biểu hiện qua những hình thức khác nhau như
lương tâm, trách nhiệm, bổn phận
Đạo đức được hình thành tự phát bởi nhu cầu
và lợi ích xã hội được mọi người chấp nhận.
Đạo đức khác với pháp luật ở chổ người có thực hiện đạo đức được mọi người
xung quanh kiểm định là một con người có thực hiện đạo đức không gắn liền
với một quyền hạn thực sự nào.
Đạo đức có đặt tính thực tiển, gắn liền với
sinh hoạt của con người, đặt ra những nguyên tắc ứng xử,
những quan niệm về các mối quan hệ xã hội như đối với bản thân, gia đình, dòng họ, xã hội và thiên nhiên. Vì vậy, tính thiết
yếu của đạo đức khá mạnh mẽ; nó tác động thuận hay nghịch
vào quá trình xây dựng hạnh phúc và phát triển của xã hội.
Giải quyết vấn đề đạo đức, con người thường dựa vào phong tục, tập quán,
tôn giáo triết học … để chọn cho mình một lối sống, một cách ứng xử tốt
đẹp nhất.
II. Ý THỨC ĐẠO ĐỨC:
Ý thức đạo đức chính là tiến nói lương tri của
con người, là những hoạt động tâm lý liên hệ dến giá trị tốt, xấu, nên hay không nên làm của ngôn ngữ hành vi và cả tư duy.
Biểu hiện của ý thức đạo đức gồm có 3 lãnh vực.
1. Lãnh vực nhận thức:
Khả năng tri thức nhận biết
những giá trị cao thượng của đời sống như nhận thức về chân lý, biết cái
đúng cái sai … nó giúp con người thẩm định giá trị và chọn lựa một hành
ộng hợp đạo lý.
2. Lãnh vực tình cảm:
Ý thức đạo đức được biểu lộ qua tình cảm của
con người. Như khi ta làm một điều thiện, trong lònh vui vẻ, thanh
thản; khi làm một điều xấu ác, cảm thấy lòng xấu hổ, nặng nề, tâm lý tàm quý, ân hận, sợ hãi tội lỗi
hoặc tỏ ra
không hài lòng, không kính trọng một người vì hành vi của họ và
ngược lại. Đó là biểu hiện tình cảm của đạo đức.
3. Lãnh vực hành vi:
Một biểu hiện khác của ý thức đạo đức là hành
vi. Hành động thể hiện ý chí đoạn trừ điều ác thực hành các
điều thiện. Khi ý thức đạo đức mạnh mẽ thì hành vi được
hướng dẫn để đi đúng hướng.
Tóm lại, ý thức đạo đức là sự
nhận biết một tâm niệm, một quyết định, một hành vi là tốt hay xấu để chọn
lựa thái độ phù hợp với giá trị đạo đức.
III. CÁC QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC QUA CÁC TÔN GIÁO VÀ
TRIẾT HỌC ĐÔNG TÂY:
1. Nho giáo: Nho giáo do Khổng Tử sáng lập.
Đạo đức luân lý Nho giáo là thuyết Trung dung, hoạt động của con
người tuỳ thuận theo Thiên mệnh hay Thiên lý, có thể hiểu là
những quy luật khách quan của vũ trụ nhân sinh. Từ chổ hiểu
được Thiên mệnh, người nquân tử xây dựng lòng nhân, thương
người và hoà hợp với trời đất. Từ nhân, các đức tính
nghiã, lễ, trí, tín
được thiết lập. Chữ nhân của Khổng
Tử rất bao quát, có thể hiểu là hiếu để hay lòng nhân ái.
Trong luận ngữ, Khổng Tử nói:" Người có đức nhân là bản
thân mình muốn đứng vững trong cuộc sống, bản thân mình muốn
thành đạt thì cũng nên giúp người khác thành đạt. Mọi việc
đều có thể từ mình mà nghĩ đến nghĩ người khác có thể nói
đó là biện pháp thực hiện đạo nhân".
Muốn đạt được nhân từ thì phải tu nhân, muốn tu
thân thì phải chánh tâm. Muốn chánh tâm thì phải nhờ vào Lễ và
Nhạc. Nhờ lễ mà định chính được lòng người giữ đạo Trung
Dung. Lễ ký viết:" Lễ là định thân sơ, quyết sự hiềm nghi,
phân biệt cái giống nhau khác nhau, làm rõ cái phải trái".
Nhạc có thể cảm hoá được lòng người, lòng người xúc động
mà thành nhạc, lòng vui thì nhạc vui, lòng buồn thì nhạc buồn.
Ngược lại, nhạc vui thì lòng vui, nhạc buồn thì lòng buồn. Nên
tác dụng của nhạc là cảm hoá được lòng người. Khổng Tử
nói:" Xét cho cùng thì cái lẽ về nhạc là làm lòmg người
trở nên từ ái, thành tín, giản dị, chánh trực, tự nhiên
(Nhạc ký) Lễ và Nhạc có mục đích chung là cùng sửa đổi
tâm tính con người cho được trung chính, bồi dưỡng tình cảm con
người cho được nhân hậu. Nhạc tác động bên trong, Lễ tác
động bên ngoài; nhờ vậy mà có sự hoà thuận".
2. Lão giáo: Lão giáo do Lão Tử sáng lập. Tư
tưởng của Lão Tử nằm trong tác phẩm Đạo Đức Kinh.
Vạn vật sinh ra và biến đổi nhờ có.
"Đạo" Con người sống thuận theo tính tự nhiên là
hợp với đạo, nghiã là sống vô dục mới nhận được chổ
huyền diệu của đạo. Đạo đức kinh viết:" Thường vô dục dĩ
quan kỳ diệu, thường hữu dục dĩ quan kỳ hiếu"
(nghiã là
thường sống không tư dục mới nhân được chổ huyền diệu của
đạo, thường sống với tư dục nên chỉ thấy chổ chia lìa của đạo).
Sống không tư dục cũng có nghiã là sống tri túc, tri chỉ, như nói:
"Thậm ái tức thậm phí
Đa tàng tất hậu vong
Tri túc bất nhục
Tri chỉ bất đãi
Khả dĩ trường cửu
(Thương nhiềi thì tổn nhiều
Chứa nhiều tất mất nhiều)
Biết đỉ tức không nhục
Biết dừng tức không nguy
Như vậy mới tồn tại lâu dài"
Trên cơ sở ấy, cách xử sự của ngưòi biết đạo
là dùng:" Vô vi" mà xử sự, dùng vô ngôn mà dạy dỗ
(Xử vô vi chi sự hành vô ngôn chi giáo Đạo đức kinh) biểu
hiện hành động cụ thể trong cuộc sống là:" Hậu kỳ thân nhi
thân tiên, ngoại kỳ thân nhi thân tồn"
(Để thân ra sau mà thân ở trước để thân ra
ngoài mà thân đặng còn).
Tóm lại, đạo lý của Lão Tử nằm ở chổ vô dục
vô tranh, như Đạo Đức kinh viết:" Phù vi vô tranh cố vô
vưu", ôi vì không tranh nên không sao lầm lỗi !
3.Cơ Đốc Giáo: Cơ Đốc Giáo được khai sáng
bởi Jesus. Đạo đức cơ đốc giáo, căn bản là lòng bác ái,đầy tính nhân đạo. Jesus đặc biệt quan tâm đến tầng lớp nghèo
khổ, ghét kẻ tâm địa giả dối và cậy quyền thế của giới
thượng lưu. Nguyên tắc:" mến chúa yêu người" là nền
tảng của đạo đức cơ đốc. Người có lòng yêu chúa mà không
yêu yêu người là kẻ gian dối. Thánh Jean nói một câu rất hay là:" Cái thấy được mà còn chưa yêu thì làm sao yêu được cái
mình không thấy". Theo Jesus thì thượng đế là cha của nhân loại; vì vậy cha yêu thương con là thiên tính, nên con phải tin tưởng
vào cha của mình. Jesus rao giảng những nguyên tắc đạo đức như
đừng ghét, đừng giận, đừng dâm loạn, đừng làm chứng dối, đừng tham của cải người khác, phải nhu hoà yêu thương, khiêm
tốn, thành thật, và bao dung tha thứ
Những quy phạm đạo
đức của Cơ Đốc Giáo mang tính phổ quát. Tuy nhiên, sự giới hạn
của đạo đức của con người khó vượt qua là tôị tổ tông. Con
người muốn đạt được đạo đức cao thượng phải có niềm tin
tuyệt đối vào Thượng đế và được sự mặc khải của thượng
đế, chỉ Thượng đế mới có đạo đức utyệt đối.Phẩm
hạnh đạo đức cao nhất của con người là niền tin và niềm hy vọng vô điều
kiện và sự ban ơn của chúa trời.
4. Phật giáo: Đạo đức Phật giáo không chỉ
là những nguyên tắc đạo đức đáp ứng nhu cầu xây dựng hạnh
phúc ổn định cho cá nhân và thượng siêu việt và giải thoát;hay
nói cách khác là đưa con người ta ra khỏi con ngươi để vươn tới
lý tưởng giải thoát. Nguyên tắc đạo đức Phật giáo được
gói gọn trong Bát Chánh Đạo,là Đạo đế trong Tứ Diệu Đế. Bát
Chánh Đạo gồm có: Chánh kiến (hiểu biết chính xác), Chánh tư duy
(suy nghĩ đúng đắn), Chánh ngữ (ngôn ngữ đúng đắn), Chánh
nghiệp (hành vi đúng đắn), Chánh mạng
(phương tiện mưu sinh chân
chính), Chánh tinh tấn (nổ lực đúng đắn), Chánh định
(tập trung
tâm đúng đắn). Tám chi thánh đạo này có tác dụng
thanh lọc ngôn ngữ, hành vi và tâm lý của con người. Theo Tứ Diệu Đế, con
người đau khổ vì con tham lam sân hận và si mê, từ đó tạo ra ngôn ngữ và
hành vi bất thiện, nghiã là tạo ác nghiệp để rồi gặt hái hậu quả khổ đau.
Mục tiêu của đạo Phật là chấm dứt khổ đau, đem đến an lạc và giải thoát.
Khổ đau theo đạo Phật có 2 lĩnh vực:
Một là khổ đau thông thường như
già, bệnh, chết, thất bại, khốn cùng … nghiã là những đau khổ thuộc về tâm
lý, sinh lý, hoàn cảnh vật lý.
Hai là nổi đau khổ do luân hồi
sinh tử trong ba cõi.
Giải quyết đau khổ thông tục, Đức Phật dạy:"
Đừng làm các điều ác, hãy làm các việc lành".
(Chư ác
mạc tác chúng thiện phụng hành). Muốn thực hiện điều này cần
phải giáo dục về mặt nhận thức, tư duy, nhận rõ điều ác,
điều thiện (qua Chánh kiến, Chánh tư duy) cần phải giữ gìn ngôn
ngữ như không nói dối, không nói đâm thọc, không nói độc ác, không nói lời phù phiếm vô ích; Cần phải giữ gìn hành vi như
không được giết hại, không được trộm cắp, không được tà
dâm; giữ gìn phương tiện mưu sinh chân chính như không lường gạt
trong nghề nghiệp, không hàng nghề độc ác như buôn bán vũ khí,
chất độc rượu, buôn người, đồ tể
Những giới điều
này được đúc kết thành 5 giới của người phật tử:
Không được sát sinh, không được trộm cắp, không được tà dâm, không được
nói dối, không được uống rượu, ma túy.
Giải quyết nổi khổ vì bị luân hồi sinh tử, đạo
phật cho rằng phải thanh lọc tâm ý chấp ngã thành vô ngã, đoạn
trừ hoàn toàn tham, sân, si, bằng ba Thánh đạo:
Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định để đưa đến Chánh trí, Chánh giải
thoát.
Đạo đức Phật giáo mang tính phổ quát, là cơ sở
đạo đức cho xã hội. Hành vi đạo đức Phật giáo mang tính tự
giác, không ép buộc bởi Thượng đế hay một áp lực nào, chỉ
vì nhu cầu hạnh phúc và an ổn cho đời sống cá nhân và cộng
đồng một cách lâu dài. Đó là những nguyên tắc đạo đức cho
bất cứ người nào, thời đại hay xã hội nào.
Đây là tính ưu việt của đạo đức Phật giáo.
5. Socrate (649 – 399 BC):
Là một nhà hiền triết rất nổi tiếng thời Hy Lạc cổ đại. Đối với vấn đề đạo
đức, ông cho rằng:" Một nền đạo đức thực tiển không thể căn cứ vào một
giáo lý mơ hồ, ta có thể tạo dựng một nền luân lý hoàn toàn không lệ thuộc
thần học, hoàn toàn thích hợp với ngườicó tôn giáo cũng như không có tôn
giáo thì xã hội có thể được ổn định mà không cần thần học" (Will Durant
Câu chuyện triết học). Ông cho rằng tinh hoa của một nền
luân lý chính là nhận thức sáng suốt về quyền lợi chính đáng,
thấu triệt được luật nhân quả, kiểm soát được lòng ham muốn
mọi tội lỗi đều do nhu si mà ra. Ông phân biệt hai hạng
người: Một là hạng người vô minh; Hai là hạng người trí tuệ.
Người có trí tuệ cũng bị cám dỗ bởi tham sân si nhưng họ biết dùng trí tuệ
để chế ngự sự cám dỗ và không rơi vào vòng tội lỗi.
Theo Socrate, bản tính con người là thiện. Khi người
ta biết điều thiện thì người ta sẽ làm điều thiện.
Cho nên, sự phân biệt thiện ác rất quan trọng trong đời sống của con
người, người có trí tuệ chính là người biết rõ thiện ác.
6. Platon (427- 347 BC): là học trò của Socrate.
Vấn đề đạo đức ông cho rằng đó là sự công bằng hay là sự
thăng bằng:" Mỗi cá nhân là một sự phối hợp các ước
muốn, các tình cảm, các suy nghĩ. Nếu các yếu tố được điều
hoà thì cá nhân sẽ được tồn tại thành công nếu các yếu tố
ấy không làm đúng phận sự của mình, nếu để tình cảm hướng
dẫn hành động con người sẽ mất thăng bằng, thăng bằng là sự
ổn cố của tâm hồn. Tất cả những sự xấu xa
trên đời đều do sự thiếu điều hoà, nghĩa là thiếu sự thăng bằng giữa con
người và vũ trụ, giữa con người với con người, giữa con người với xã hội".
Ông nhấn mạnh sự thăng bằng hay công bằng là một sự quan hệ giữa cá nhân,
tuỳ thuộc vào tổ chức xã hội.
Tuy nhiên, ông công nhận sự đau
khổ của con người xuất phát từ trong tâm hồn của con người. Ông cho rằng
con người không được hạnh phúc vì:" Do lòng tham và sự xa hoa.Con người
không chịu bằng lòng với một đời sống giản dị, họ luôn muốn chiếm đoạt,
muốn ao ước, muốn ganh đua, muốn ghen ghét. Họ bất mãn với những gì họ có
và chạt theo những gì họ chưa có, họ chỉ muốn những gì thuộc về kẻ khác (Câu
chuyện Triết học).Ông cũng chủ trương như thầy của ông là hành vi con người có
giá trị khi tham, sân, si được hướng dẫn chuyển hoá bởi trí
tuệ. Ông chủ trương cải hoá lòng người bằng âm nhạc
Điều này tương tự như chủ trương của Khổng Tử
ở Trung Hoa. Ông nói:" Cần phải dạy cho dân chúng biết âm
nhạc. Nhờ âm nhạc mà tâm hồn con người ý thức được sự
điều hoà và nhịp điệu, do đó mà ý thức được công lý".
7. Aristote (384-322): Ông là học trò xuất sắc
của Platon. Ông chủ trương thuyết Trung Dung dạy con người hành động
hợp lý giữa các thái cực. Cũng như các bậc thầy của ông vấn
đề đạo đức vẫn đặt trên nền tảng lý trí:" Đạo đức
tuỳ thuộc vào sự suy luận chính xác, sự kiểm soát tinh thần,
sự quân bình của lòng ham muốn. Thói quen suy luận đưa người ta
đến chỗ thánh thiện. Một người hành động chính đáng không
phải vì lý do họ là một người có đạo đức nhưng ngược lại
vì họ có đạo đức do sự huấn luyện suy tư, công phu mà họ hành
động chính đáng". (sđd) Điều đó có nghĩa là sự thánh
thiện đạo đức của một con người không phải tự nó có mà
phải do tập luyện hành trì lâu ngày trở thành thói quen. Đặt
biệt, Aristote hướng đạo đức đến cứu cánh của ó là hạnh
phúc cho đời sống của con người. Ông nói:" Mục đích trực
tiếp của cuộc đời không phải cái hay cái đẹp mà chíng là hạnh
phúc". Định nghĩa về hạnh phúc, ông nói:" Hạnh phúc là
sự phát triển hoàn toàn đầy đủ các đức tính của con người.
Đức tính nổi bậc nhất của loài người là khả năng suy luận,
chính nhờ đức tính này mà loài người đứng trên tất cả các
loài khác. Chính vì vậy mà khả năng suy luận một khi được phát
triển hoàn toàn đầy đủ sẽ đem đến hạnh phúc hoàn toàn cho con
người".
Tóm lại, trên đây chỉ nêu tiêu biểu và sơ lược
về quan niệm đạo đức của một số tôn giáo, Triết học Đông
Tây. Nếu cần thiết có thể tham khảo rộng
hơn và đủ hơn qua các tác phẩm chuyên môn. Nhìn chung quan niệm về đạo đức
là:
-
Con người phải có lòng từ bi
nhân ái bao, bao dung.
-
Phải có trí tuệ biết rõ thiện ác
-
Phải bớt dục vọng, biết tri
túc khiêm tốn.
-
Đạo đức là những đức tính mang
tác dụng chuyển hoá con người bản năng thành con người tự chủ, con người
đau khổ thành con người hạnh phúc.
IV. MỤC TIÊU CỦA ĐẠO ĐỨC:
Các tiêu chuẩn đạo đức và các
hành vi đạo đức nhằm mục đích đem đến cho con người và xã hội một cuộc
sống hạnh phúc. Banzeladze, một tư tưởng gia phương tây viết:" Vân đề lý
tưởng tối cao và ý nghĩa của cuộc sống thực chất là vấn đề hạnh phúc. Con
người là giá trị cao nhất, là cơ sở, là ngọn nguồn của mọi giá trị, mọi
thứ đều là phương tiện cho con người và cuộc sống của con người". (Đạo
Đức Học NXB Hà Nội)
Những quan điểm và hành vi đạo đức nếu không
đáp ứng được mục tiêu hạnh phúc cho con người thì không thể
coi là đạo đức được; không thể chấp nhận các tiêu chuẩn
đạo đức mà đưa đến sự áp bức, hảm hại, bất công và đau
khổ. Như vậy, mục tiêu của đạo đức là hạnh phúc. Hạnh phúc
là gì ? Một vấn đề khá phức tạp.Có người quan niệm rằng hạnh
phúc đến từ vật chất như tài sản, sắc đẹp, danh vọng hoặc
đến từ sức khoẻ của cơ thể; đến từ tình yêu
(một mái nhà
tranh hai quả tim vàng chẳng hạn) hoặc đến từ cảm thụ thẩm mỹ
nghệ thuật hoặc sự ân sủng của Thượng đế
Mặc dù quan niệm về hạnh phúc khác nhau nhưng có một
kinh nghiệm chung về hạnh phúc, đó là một cảm thọ có điều kiện, nghĩa là cảm giác thoải mái sung sướng vui tươi do các điều kiện
phù hợp có mặt. Những cảm giác ấy Đạo Phật gọi là Lạc thọ, đó là một trong 3 cảm giác: Lạc, Khổ, và Trung tính, đã là
cảm thọ thì nó vô thường. Vì vậy có
những cảm thọ thoáng qua nhanh, có những cảm thọ tồn tại lâu dài, có những
cảm giác hạnh phúc nhưng nó lại là nguyên nhân của cảm giác khổ đau, có
những cảm giác hạnh phúc là nền tảng cho những cảm giác hạnh phúc cao hơn.
Nhìn chung thì hạnh phúc đến từ yếu tố tinh thần
được nhiều người chấp nhận hơn, ít người cho rằng hạnh phúc
đến từ vật chất. Aristote, Triết gia cổ đại Hy Lạp cho rằng:"
Mặc dù tiện nghi vật chất cần thiết cho đời sống hạnh phúc nhưng
yếu tố chính là sự sáng suốt của tâm hồn. Những khoái lạc
giác quan không phải là chìa khoá của hạnh phúc. Hạnh phúc phải
là sự khoái lạc của tâm trí". (Câu chuyện triết học) Ông ta
công nhận giá trị của vật chất nhưng coi hạnh phúc thuộc giá trị
tinh thần cao hơn, đây là cái nhìn được nhiều triết gia chia xẻ.
Banzeladze viết:" Tronh lãnh vực khoái cảm vật chất, khoái cảm
càng mạnh thì càng ngắn ngủi. Cường độ khoái cảm tỷ lệ nghịch
với độ dài thời gian của nó
trong lãnh vực những khoái
cảm về tinh thần nhân tố thời gian có một giai trò hoàn toàn khác, thời gian tác động có lợi cho con người. Ở đây, không có
quy luật tỷ lệ nghịch, ngược lại cường độ khoái cảm càng cao
trong lãnh vực này thì nó càng kéo dài".
(Đạo đức Phật giáo – T. Chơn
Thiện)
Đức Phật có lần so sánh hạnh phúc của vua Bimbisara
và hạnh phúc của ngài, Ngài dạy rằng hạnh phúc mà vua Bimbisara
hưởng thụ không kéo dài trong một ngày một đêm, còn hạnh phúc
mà ngài hưởng thụ một cách thuần tuý kéo dài 7 ngày 7 đêm vì
đó là hạnh phúc của tâm linh (thiền
định) (Kinh tiểu khổ uẩn
Trung bộ I). Đức Phật thường dạy đệ tử phải
biết rõ bản chất của lạc thọ (cảm giác hạnh phúc) sau khi biết
rõ hãy an trú vào nội lạc (hạnh phúc tâm
linh) (Kinh Trung Bộ)
Đề cập đến haạnh phúc của một
con người bình thường trong xã hội, Đức Phật dạy có 4 loại hạnh phúc:
1.Hạnh phúc khi có được tài
sản sở hữu hợp pháp.
2.Hạnh phúc của sự hưởng thụ hợp lý tài sản
ấy.
3.Hạnh phúc của sự không
vướng mắc nợ nần của ai.
4.Hạnh phúc của sự không có tội lỗi
(tâm hồn trong sáng thanh thản)
(Kinh tăng Chi – chương 4
pháp)
Hạnh phúc thứ tư được coi là căn bản và cao nhất, nếu hạnh phúc tinh thần này không có mặt thì 3 loại hạnh phúc
trên trở nên vô nghĩa. Một người có nhiều tội
lỗi không thể sống hạnh phúc được, ngược lại một người không có gây tạo
tội lỗi thì có thể sống hạnh phúc, nghĩa là tâm hồn thanh thản, lương tâm
trong sạch không có lo âu sợ hãi ân hận… một người như vậy phải là một
người sống có đạo đức, sống không bị chi phối, thúc bách của tham lam, sân
hận và tà kiến.
Quan niệm hạnh phúc theo Phật giáo nó đồng nghĩa với
giải thoát. Như vậy toàn bô hệ thống giáo lý Phật giáo noi chung
và hệ thống giới luật nói riêng đều là con đường đi vào đạo
đức và hạnh phúc. Sự giải thoát hay hạnh phúc của một con
người nhiều hay ít, cao hay thấp tuỳ thuộc vào hành vi đạo đức
của người ấy, nghĩa là tuỳ thuộc vào sự chế ngự dục vọng
nhiều hay ít, nhất htời hay triệt để.
Người phật tử xuất gia hay tại gia không phải sống hai lối sống khác nhau
mà chính là sống trên một trình giải thoát khỏi dục vọng và đau khổ, tuỳ
theo điều kiện và cấp độ tu tập mà có sự khác nhau giữa hai đời sống xuất
gia và tại gia.
V. GIỚI LUẬT LÀ CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC:
Mục tiêu của đạo đức là hạnh phúc hay nói cách
khác, muốn sống có hạnh phúc thì phải sống có đạo đức. Đạo
đức phải được xây dựng trên cơ sở những tiêu chuẩn phù
hợp với thực tiển của con người và hoàn cảnh xã hội mà con
người đang sống. Có những tiêu chuẩn được coi là đạo đức
nhưng nó không thực sự cần thiết và thực sự phù hợp với quy
luật hạnh phúc. Có những tiêu chuẩn đạo đức chỉ phù hợp
với một giai đoạn lịch sử nào đó.
Tóm lại nó không có tính phổ
quát, không đạt chuẩn mực đạo đức toàn diện.
Vì vậy, thiết lập nền tảng đạo đức phải mang tính
phổ quát, phù hợp với chân lý và thực tiển đời sống con
người. Đạo Phật có thể cung cấp một hệ thống đạo đức như vậy.
Một người muốn trở thành một phật tử, tự
nguyện đặt mình vào kỷ luật tâm linh mà Đức Phật đã thiết lập, họ phải tuân thủ 5 giới, 10 giới hay nhiều giới hơn nữa như 250
giới của Tỳ kheo, 48 giơi của Bồ tát
Những giới luật ấy
là những nguyên tắc hành trì, để sống có phẩm chất hơn, có
tác dụng hướng thượng và hướng thiện tâm lý và hành vi của
cin người chứ không phải những nguyên tắc bất di bất dịch hoặc
cứng nhắc giáo điều. Giới luật ấy giúp con
người nhận ra được một cách sâu sắc hơn về bản chất của cuộc sống và rút
ra được hệ quả đạo đức, nuôi dưỡng những niền tin vào cuộc sống hiện tại
và hướng đi của tương lai.
Nếu một người hành trì các nguyên tắc đạo đức
hay những giới luật này mà họ không cảm thấy một sự bình an,
thanh thản nào thì họ đã không hiểu và hành trì đúng.
Trong thực tế, có những phật tử tuân thủ các nguyên tắc của giới nhưng đời
sống của họ vẫn thiếu đạo đức, mối tương hệ của họ với tha nhân bất ổn,
các mối quan hệ khác bị khủng hoảng, Đức Phật dạy đấy là rơi vào giới cấm
thủ, một trong những kiết sử, những ức chế tâm lý.
Nguyên tắc hành trì mà Đức Phật
thiết lập cho các đệ tử khép mìng vào đó để làm đình chỉ dục vọng bản năng
có thể nói đó là những nguyên tắc khách quan và phổ quát. Đó là 5 giới của
người phật tử:
-
Không giết hại.
-
Không trộm cắp.
-
Không quan hệ tình dục phi
pháp.
-
Không dối gạt hại người.
-
Không rượu chè say sưa.
Một nhà trí thức phương tây nhận định:" Năm
giới này cho thấy 5 hướng chính mà người phật tử tự mình kiểm
soát để (hành trì) tri hành. Đó là giới thứ nhất r