TÌM HIỂU TÁC PHẨM "TÌM HIỂU SỰ
THANH TỊNH NỘI TÂM CHÍNH MÌNH"
Thích Trung Hòa
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài:
Nước ta hiện nay đang
trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
mở cửa tiếp xúc rộng rãi với thế giới bên ngoài.
Hòa trong không khí ấy, Giáo hội phật giáo Việt
Nam ngày càng được hoàn thiện, từng bước phát
triển trong lòng dân tộc và mở rộng quan hệ
ngoại giao với Giáo hội Phật giáo các nước trên
Thế giới. Ngoài việc giao lưu viếng thăm qua lại
thường xuyên giữa các vị lãnh đạo trong Giáo hội
ra còn có việc giao lưu văn hóa kính tặng kinh
sách giữa nước ta và các nước trên Thế giới. Để
hiểu kinh sách của các nước Phật giáo bạn và làm
phong phú hơn nền văn hóa dân tộc Việt Nam, góp
phần phục vụ nhu cầu học tập của đông đảo Phật
giáo đồ, đòi hỏi Giáo hội Phật giáo Việt Nam
phải có tầng lớp trí thức tuyển dịch ngôn ngữ
của các nước sang ngôn ngữ dân tộc Việt. Xuất
phát từ nhận thức này, sau thời gian bốn năm học
tập dưới mái Trường Học Viện Phật Giáo Việt Nam
tại thành phố Hồ Chí Minh, con hiểu được một
chút ít kiến thức căn bản về giáo lý Phật đà và
một số từ vựng Hán ngữ hiện đại. Do đó, con
quyết định chọn quyển: “Tìm về sự thanh tịnh nội
tâm của chính mình”, do Pháp sư Huệỉ Lực viết,
dịch sang Việt văn để làm cuốn luận văn tốt
nghiệp ra trường dưới sự hướng dẫn tận tình của
Giáo sư Lâm Hữu Tài. Con mong rằng qua bản luận
văn này tạo nền tản căn bản cho con về sau này
tiến sâu trên con đường dịch thuật.
2. Mục đích và ý nghĩa
đề tài:
Sống trên cuộc đời này,
ai cũng muốn vươn tới những giá trị chân, thiện,
mỹ. Để đạt được mục đích lý tưởng này, chúng ta
phải không ngừng học tập, không ngừng rèn luyện,
quán chiếu tâm tánh của mình. Hơn nữa, chúng ta
phải có thái độ sống đúng, sống đẹp trong các
quan hệ, một lối sống vừa lợi ích cho thân và
cho xã hội. Tác phẩm “Tìm về sự thanh tịnh nội
tâm của chính mình” do Pháp sư Huệ Lực viết
không nằm ngoài mục đích ý nghĩa cao đẹp này.
Đây là một tác phẩm có nội dung phong phú, tư
tưởng chủ yếu trong tác phẩm này là những lời
dạy vừa chứa đựng triết lý cao siêu nhưng cũng
rất thực tế trong cuộc sống đời thường: Chẳng
hạn như thiện-ác, phải trái, tốt-xấu, được- mất,
hơn- thua.v.v… Dựa vào những kiến thức hiểu biết
dung thông giữa đạo-đời và kinh nghiệm tu tập
của chính mình, tác giả đã phân tích những chủ
đề rất rõ ràng dễ hiễu, có dẫn chứng minh họa
giúp cho độc giả dễ tiếp thu và ứng dụng vào
trong cuộc sống của mình. Đây là tác phẩm phù
hợp với mọi người và mọi giới.
3. Phương pháp nghiên
cứu:
Để dịch cuốn luận văn
này, con chủ yếu dựa vào các quyển từ điển để
tra cứu như: Hán Việt , Hán Hán, Phật Học. Sau
phần dịch con cũng sử dụng những kiến thức hiểu
biết bé mọn về Phật pháp của mình để bình giảng
một số bài dịch trên. Trong quá trình dịch, con
cố gắng trung thành với những ý tưởng trong
nguyên tác nhưng vẫn hướng đến việc tạo nên một
dịch phẩm dễ hiểu và hấp dẫn. Thông qua một số
bài bình giảng này, con mong muốn góp phần làm
sáng tỏ thêm phần nào trong bài dịch. Tuy nhiên,
khi dịch và bình giảng, con vẫn cảm thấy có
những đoạn chưa hài lòng lắm. Hơn nữa, vì đây là
những bài dịch đầu tay của con, cho nên không
sao tránh khỏi những điều sai sót, quan niệm
thiển cận, con rất mong người đọc, các vị Giáo
sư, các Bậc cao minh lượng thứ và rộng lượng
chỉ giáo.
4. Giới hạn phạm vi đề
tài:
Quyển “Tìm về sự thanh
tịnh nội tâm của chính mình” là một tác phẩm gồm
có 51 bài, mỗi bài trình bày về những lời dạy
khác nhau. Vì bản luận văn có quy định giới hạn
số trang nên con không thể chọn dịch hết toàn bộ
51 bài trong tác phẩm. Do đó, con chỉ chọn tiêu
biểu 12 bài trong số 51 bài đó để dịch và bình
giảng.
5. Giới thiệu khái quát
nội dung 12 bài dịch trong bản luận văn này:
Nội dung của bản luận
văn này gồm có 12 bài dịch. Sau mỗi bài dịch, có
phần bình giảng kèm theo. Trong mỗi bài đều chứa
đựng những lời dạy về sự tu hành và triết lý
sống rất thực tế. Mục đích của tác giả- pháp sư
Huệ Lực là làm sao để người đọc thấy được cái
tâm thanh tịnh xưa nay của chính mình, phá bỏ
tập khí chấp ngã và chấp pháp, góp phần vào việc
tu hành và sống một cuộc sống tốt đời đẹp đạo.
Chẳng hạn như, có bài nói về Đạo giác ngộ ở tại
trong lòng của bạn, có bài khuyên chúng ta tập
hạnh buông xả để chuyên tâm niệm Phật, có bài
khuyên dạy chúng ta sống một cuộc đời biết đủ,
có bài chỉ dạy phương cách áp dụng thiền quán
ngay trong công việc hằng ngày của chính chúng
ta.v.v…
NỘI DUNG
1.BÀI 1.
1.1. Nguyên Văn Chữ Hán.
道﹐就在你心中
有一天﹐我心裡感到非常煩悶﹐就去見廣欽老和尚。頂禮過後﹐廣欽老和尚第一句就問說﹕
「你現在在做什麼﹖」
我就回答說﹕
「現在在研究戒律和替佛祖做一點事﹐講經說法。」
老和尚說﹕
「佛祖還要你幫他做事嗎﹖你現在是為你自己做﹐不是替佛祖做的﹗」
我當下頓悟。
六祖壇經上記載﹐有弟子問慧能大師說﹕「師父﹐什麼是道﹖」
六祖答﹕「道在汝心。」
道﹐就在你心中。你還在找什麼道﹖根本就是騎牛找牛﹐道在心。「心能做主就是道﹐心不能做主就叫外道。」
什麼叫做「外道」呢﹖
心外求法﹐就是外道。
他們不能體認出自性是什麼東西。別人如果向他們說兩三句好話﹐他整個人就像地球失去地心引力一樣﹐輕飄飄的﹐別人如果辱罵或批評他幾句﹐他就因受不了而感到痛苦。
一個明心見性的人﹐無論他遇到什麼逆境﹐都能歡喜承受。例如﹕有一個小孩端了一碗湯﹐一不小心跌倒把碗打破了﹐他的父母就一直打他。但碗已經破了﹐就算你再怎麼用力打這個小孩﹐「碗」──還是不能自動黏合的。所以﹐對於事實﹐我們就要有勇氣來承受它。
佛門強調自性的昇華﹐一切修行一定要從本性上去下功夫﹐這樣﹐碰到任何順逆自然能隨遇而安﹐他就能悟到自己了。
我們學佛如果不能運用在生活當中﹐那學佛就沒有什麼意義了.道,就在你心
中,就在日常運用中.
仁者﹐請善自體會吧
﹗
1. 2. Dịch nghĩa:
Đạo Chính Ở Trong Tâm
Bạn
Có một ngày, trong lòng
tôi cảm thấy rất buồn phiền, liền đi đến gặp Hòa
thượng Quảng Khâm. Sau khi đảnh lễ xong, câu đầu
tiên mà Hòa thượng Quảng Khâm hỏi là: “Thầy dạo
này làm gì vậy?”. Tôi liền trả lời: “Con dạo này
nghiên cứu giới luật và làm chút ít phật sự cho
Phật Tổ, giảng kinh thuyết pháp.” Hòa thượng
nói: “Phật Tổ còn phải cần thầy giúp Ngài làm
việc sao? Thầy bây giờ làm việc cho mình chứ
không phải làm việc cho Phật!” Nghe xong, tôi
liền tỏ ngộ. Trong Pháp Bảo Đàn kinh của Lục Tổ
có ghi rằng, có người đệ tử hỏi Tổ Huệ Năng
rằng: “ Bạch Thầy thế nào là Đạo?” Lục Tổ trả
lời: “Đạo ở ngay trong lòng của ông”. Đạo chính
là ở ngay trong lòng của bạn, thì bạn còn tìm
Đạo nào nữa? Vốn đã cỡi Trâu mà lại đi tìm Trâu,
Đạo tại tâm. “Tâm có thể làm chủ thì là Đạo, tâm
không thể làm chủ thì là Ngoại đạo”. Thế nào gọi
là Ngoại đạo? Cầu pháp ở ngoài tâm thì chính là
Ngoại đạo. Bởi vì chúng ta không thể nhận ra
được tự tánh của chính mình là thứ gì, cho nên,
nếu có người nào đó nói với chúng ta hai ba câu
khen thì giống như mất đi sức hút của trái đất
nhẹ nhàng bay bổng. Trái lại, nếu có người nào
đó nhục mạ hoặc phê bình ta mấy câu thì ta không
thể chịu đựng nổi, do đó mà cảm thấy đau khổ.
Nếu có người thấy rõ tâm tánh, bất luận họ gặp
nghịch cảnh nào đi nữa cũng thấy vui vẻ và chấp
nhận. Ví dụ như có một đứa bé bưng một tô canh,
nhất thời không cẩn thận trượt té làm bể nát, ba
mẹ của nó lập tức đánh nó. Nhưng tô canh đã bể
rồi, cho dù có dùng hết sức đánh nó thế nào đi
nữa thì tô bể vẫn không nguyên vẹn lại được. Cho
nên, khi đối mặt với sự thật, chúng ta phải có
một sức mạnh để chấp nhận nó. Trong nhà Phật, đề
cao sự thăng hoa của tự tánh, tất cả pháp môn tu
hành nhất định phải dựa theo bản tánh này để ra
công tu tập. Như vậy, khi gặp bất cứ hoàn cảnh
thuận hay nghịch nào đi nữa đều có thể an vui
một cách tự nhiên, thì người ấy có thể hiểu được
chính mình rồi.
Chúng ta học Phật pháp,
nếu không thể ứng dụng vào trong cuộc sống, như
thế thì học Phật chẳng có ý nghĩa gì. Đạo chính
là ở trong lòng của bạn, cũng chính ngay trong
cuộc sống đời thường. Bậc nhân đức, xin khéo léo
mà tự nhận biết vậy!
1.3. Bình giảng:
Trong chốn trần gian đầy
ảo vọng của muôn màu sắc thắm đã làm cho tâm trí
của chúng ta bị lu mờ. Bởi thế, là một con người
phàm tục, chúng ta không sao tránh khỏi tham đắm
tài, sắc, danh, thực, thùy, lợi. Chính vì sự
tham đắm này đã làm cho việc tu hành của chúng
ta trở nên bị trì trệ. Nhưng may mắn và hạnh
phúc thay! Trong kinh Pháp Hoa Đức Phật đã chỉ
rõ cho chúng ta thấy: “tất cả chúng sanh đều có
Phật tính, đều có thể thành Phật”. Đức Phật nói
câu này để chỉ cho chúng ta biết bỏ vọng tìm
chơn. Nhưng khi ta đạt đến cứu cánh rốt ráo rồi,
chúng ta xả bỏ luôn ý niệm vọng- chơn. Phật tính
mà đức Phật nói ở trên đây cũng chính là “Đạo”.
Đạo này không ngoài tâm của ta mà có. Tâm mà
thanh tịnh, trong sáng, tĩnh giác đấy chính là
Đạo. Sở dĩ chúng sanh không thấy được tâm này là
vì bị vô minh che lấp. Từ đó sinh ra sự chấp ngã
và chấp pháp. Mỗi khi 6 căn và 6 thức của chúng
ta tiếp xúc với sáu trần thì sanh ra tâm tham
đắm. Ta luôn cho rằng cái này là của ta, cái kia
là của người khác để rồi tác nghiệp. Chính do
nghiệp này dẫn dắt chúng ta đi vào luân hồi sanh
tử. Vậy muốn thoát khỏi vòng luân hồi, chúng ta
không chỉ tu tập trong sự tĩnh giác, biết rõ
trong từng sát na vạn vật trên thế gian này là
vô thường, vô ngã. Nếu chúng ta luôn ở trong sự
tỉnh giác thì cũng có nghĩa là ta đã làm chủ
được chính mình, đã trở về nương tựa nơi chính
mình, đã tìm được Đạo ở ngay nơi chính mình, tất
cả ngoại cảnh không còn chi phối được tâm ta
nữa. Để diễn tả trạng thái tâm này, trong bài Cư
trần lạc đạo phú, vua Trần Nhân Tông nói:
“Ở đời vui đạo hãy tùy
duyên,
Hễ đói thì ăn mệt ngủ
liền,
Trong nhà có báu, tìm
đâu nữa,
Đối cảnh vô tâm , chớ
hỏi thiền”. [ 25, 268 ]
Thật vậy, khi tâm ta đã
được thanh tịnh, tỉnh giác thì mọi trần duyên,
phong ba bão táp của cuộc đời như : vinh –nhục ,
hơn –thua, khen –chê.v.v… không còn chi phối tâm
ta nữa, không làm cho ta bị khổ đau nữa. Lúc
này, ta vẫn sống , vẫn làm việc, làm tất cả các
thiện pháp, phát huy hết đạo lực của chính mình
nhằm đem lại lợi cho đời, cho đạo, nhưng ta
không thấy việc ta làm, không vướng mắc vào việc
ta làm. Bởi vì sao như vậy? Bởi vì trong tâm của
người làm luôn ở trong chánh niệm, tỉnh giác,
không còn chấp trước vào người làm và việc được
làm. Điều này cũng có nghĩa là ta đã giải thoát.
Hòa thượng Thiền sư Minh Trực có làm bài kệ như
sau :
“Ta nay ý tốt vẫn an
nhiên,
Ai chửi mắng ta cũng
chẳng phiền.
Phải quấy chẳng đàm,
thường lẳng lặng,
Niết-bàn sanh tử, thấy
đồng nguyên.
Biết thấu tâm mình cội
rễ thật,
Chẳng xanh chẳng trắng
vốn tự nhiên.
Các điều vọng tưởng, ưa
phân biệt.
Biết rõ người đời chẳng
dứt yên,
Nhắn nhủ phàm phu đời
mạt kiếp,
Tận trừ tội lỗi ở tâm
điền”. [22,72 ]
Tóm lại:
Để thấy được Đạo ở ngay
nơi chính mình, đòi hỏi chúng ta phải hạ thủ
công phu rất nhiều. Đây không phải là việc nói
trên lý thuyết mà đòi hỏi phải thực hành. Nếu
thực hành tốt, đúng chánh pháp, chúng ta sẽ thấy
rõ được Đạo ở ngay nơi chính mình, cuộc sống
ngày một thăng hoa, khổ đau phiền muộn không còn
nữa. Đạo ở đây cũng chính là bản tính thanh tịnh
trong sáng xưa nay của chính mình, là Như Lai
tàng.
2. BÀI 2.
2.1. Nguyên Văn Chữ Hán.
去貪則清涼
學佛﹐就是要超越自己。但要從何下手呢﹖第一要從去「貪」下手。
「貪」也可以解釋為「執著」﹐我們執著就會有痛苦。仔細想一想﹐我們那一種痛苦﹐不是由貪延伸而來的呢﹖
貪錢、貪色、貪吃……等等﹐一切都由貪而來。
我在讀大學時﹐有一次參加夏令營﹐曾向一位修禪的法師請益。
這位法師就問我們﹕「你們這些大學生是不是來求法的﹖」
我們回答﹕「是。」
這位法師接著說﹕「我送你們一句話﹐拿去貼在牆壁上每天看﹐一定會很受用的。」
於是法師揮毫寫了五個大字﹕「去貪則清涼」。這句話讓我受用至今﹐除去心中的貪念﹐
就可以丟掉「我執」﹔沒有了「我執」﹐一切的痛苦也就不存在了。
有一位信徒告訴我﹕「師父﹐我發現自己現在不貪財了。」
我就說﹕「那是因為金錢的數目並不大。如果你能把十萬塊的現金﹐放在很多人進出的客廳裡﹐而你坐在這裡聽我演講兩個多小時﹐心裡完全不掛念那十萬塊﹐那我就真的佩服你了。」
要知道﹐人的習氣中﹐「貪」是最難去除的。所以﹐各位不妨也把這五個字「去貪則清涼」﹐寫在牆壁上。每天看、每天看﹐慢慢淡薄自己的貪念。久而久之﹐就比較不容易痛苦了。
2. 2. Dịch nghĩa:
Bỏ Tham Thì Được Trong
Sạch
Người học Phật thì phải
vượt qua chính mình, nhưng phải tu tập từ đâu
đây? Trước tiên, chúng ta phải tu tập từ bỏ cái
tham. Tham cũng được giải thích là “chấp trước”,
nếu chúng ta còn chấp trước thì còn đau khổ. Đắn
đo suy nghĩ thì nỗi khổ đó của chúng ta chẳng
phải do tham lam tạo ra sao? Tham tiền, tham
sắc, tham ăn, v.và tất cả đều do tham mà ra.
Lúc tôi đang học Đại
học, có một lần tham gia trại hè, có đến thăm
hỏi vị Pháp sư tu Thiền. Vị Pháp sư này liền hỏi
chúng tôi: “ các bạn sinh viên chẳng phải là đến
cầu pháp sao?” Chúng tôi liền trả lời: “Dạ, đúng
vậy!” Vị Pháp sư này liền tiếp lời nói: “tôi sẽ
tặng các bạn một câu, đem dán trên tường để xem
mỗi ngày, nhất định sẽ rất có ích.” Thế là vị
Pháp dùng viết lông viết năm chữ lớn: “Bỏ tham
thì trong sạch”. Câu nói này giúp tôi thọ trì
cho đến ngày hôm nay. Trừ bỏ đi niệm tham trong
lòng thì mới có thể bỏ đi chấp ngã. Nếu không có
ngã chấp thì tất cả những nỗi đau khổ trên thế
gian này cũng sẽ không tồn tại. Có một tín đồ
nói với tôi rằng: “Thưa thầy, con nhận thấy
rằng, bây giờ mình không có tham tiền tài vật
chất nữa”. Tôi liền nói: “Đó là bởi vì số tiền
không nhiều lắm, nếu như con có thể đem một trăm
nghìn đồng tiền mặt(tiền Đài Loan) để ở trong
phòng khách có rất nhiều người ra vào, con có
thể yên tâm ngồi ở đây nghe thầy giảng hơn hai
tiếng đồng hồ mà trong lòng con hoàn toàn không
nhớ nghĩ đến số tiền đó, làm được như vậy thì
thầy hết lòng khâm phục con”. Nên biết rằng,
trong cái tật của con người, tham là cái khó trừ
bỏ nhất. Cho nên, các bạn sinh viên đừng có ngăn
cản đem năm chữ này “Bỏ tham thì trong sạch”
viết ở trên tường. Ngày nào cũng xem, từ từ niệm
tham của mình được giảm dần. Lâu ngày thì nỗi
đau khổ sẽ không còn nữa.
2.3.Bình giảng:
Ở đời sở dĩ con người
dối gạt, hãm hại, đấu tranh, chà đạp lẫn nhau v.
v… Tất cả đều do lòng tham dục, không biết đủ mà
ra. Kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta là lòng
tham dục. Đức Phật đã dạy rằng: “Lại nữa, do dục
làm nhân, làm duyên, làm nguyên nhân, do chính
dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lợi
tranh đoạt vơi Sát-đế-lợi. Bà-la-môn tranh đoạt
với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ,
mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ,
cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha,
anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với
chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt
với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp,
tranh luận, tranh đoạt, ho ỉcông phá nhau bằng
tay, bằng đá, bằng gậy, bằng kiếm, ở đây họ đi
tới tử vong, đau khổ gần như tử vong. Như vậy,
là sự nguy hiểm của dục. . .là nguyên nhân của
dục”. [3, 193]
Dục ở đây cũng chính là
tham dục. Tham dục được hiểu là sự luyến ái, bám
chặt vào cái được gọi là “ta”, “ của ta”. Tất cả
nghiệp dữ đều do lòng tham không đáy gây ra. Khi
bị trở ngại, lòng tham tức giận thù hằng. Ta
luôn lựa chọn hoặc vui thích với những gì vừa ý
hoặc ghét bỏ những gì phật lòng. Nếu vừa ý thì
sanh tâm luyến ái, bám víu. Trái ý thì bất mãn
xua đuổi, sân hận, oán ghét. Lòng tham thường
thúc giục ta bám víu vào dục lạc và tìm mọi cách
để được thỏa mãn dục tính. lòng tham dục là một
tập khí được huân tập rất nhiều đời trong mỗi
chúng ta, nó rất khó đoạn trừ. Chẳng hạn như:
khi thấy sắc đẹp, hình tướng mỹ lệ, nghe âm
thanh thánh thoát, nếm hương vị ngon thì chúng
ta tự nhiên mê đắm, tìm cách chiếm cho được. Vì
nhất thời muốn hưởng thụ dục lạc, người ta dùng
mọi thủ đoạn bất chính để tranh đoạt, dù biết
rằng kết qủa của việc làm đó là xấu ác, sẽ bị ân
hận suốt đời. Do sự mãnh liệt của lòng tham như
vậy, trong kinh Pháp Cú Đức Phật có dạy:
“Lửa nào bằng lửa tham!
Ngục tù nào bằng sân
hận!
Lưới nào bằng lưới si!
Sông nào bằng sông ái!”.
[14, 251]
Đồng quan điểm đó, Cổ
Đức có dạy rằng:
“Tham tâm hữu hư vô để
khanh,
Điền chi nan mãn sân hận
sanh,
Ngũ dục phân trần điên
đảo tưởng,
Si nhân bất giác pháp
khí băng”.
Dịch là:
“Lòng tham lam như hố
sâu không đáy,
Không thỏa mãn được thì
sanh sân hận,
Năm dục phừng phừng, suy
nghĩ đảo điên,
Si mê chẳng biết, pháp
khí tiêu tan”.
Quả thật, tham lam là
thứ rất nguy hiểm với chúng ta. Một khi chúng ta
còn có lòng tham thì vĩnh viễn không thể sống an
lạc được. Do đó, chúng ta cần phải biết tu tập
hạnh bố thí, phải thường xuyên quán chiếu trong
sự tỉnh giác đoạn diệt lòng tham này. Cổ Đức dạy
rằng:
“Tri túc thường lạc,
năng nhẫn tự an”.
Nghĩa là:
“Biết đủ thì an vui,
sung sướng
Biết nhường nhịn thì
mình yên thân”.
Tóm lại:
Tâm tham là một trong ba
tâm (tham, sân, si). Tâm tham đưa ta tới khổ đau
luân hồi sanh tử. Vậy muốn chuyển từ khổ đau
luân hồi sanh tử sang an vui giải thoát, ta phải
tụ tập hạnh bố thí, diệt bỏ lòng tham. Khi lòng
tham được diệt bỏ,điều này cũng có nghĩa là ta
đã xóa bỏ luôn việc chấp cái ta và cái của ta.
Khi đạt được trạng thái này, tự nhiên chúng ta
sẽ xem thường dục lạc, lần hồi chấm dứt mọi hình
thức luyến ái. Trong kinh Pháp Cú, đức Phật dạy
rằng:
“Vị ấy vui vắng lặng.
Mọi người không làm
đặng.
Hạnh phúc thay! Vô dục.
Không mong cầu, ước
vọng”.[14, 155]
3. BÀI 3
3.1. Nguyên Văn Chữ Hán.
放下一切﹐專心念佛
想修持的人﹐就要先學習「放下」。
有信徒問我﹕「師父﹐要如何修持呢﹖」
我就回答說﹕「放下﹗放下﹗先放下﹗。將心事統統放下﹐錢財統統放下﹐一切都放下﹐這樣念佛才會踏實﹔如果著於我相在念佛﹐那就事虛假的」
有時信徒反問我﹕「在家要為生活奔波﹐怎麼可能像師父一樣什麼都放下呢﹖」
我就解釋給他聽﹕「放下﹐並不是出家人的專利﹐一切境界都可以當作修行。我們應當將一切境界﹐做為磨鍊心性的材料﹐不應隨著境界漂流、沉沒﹐也就是要把一切的環境都當作道場﹔要知道道場不祇是在寺廟﹐我們的心也是一個大道場」。
我們的眼睛﹐常看到的都是別人缺點﹐要知道﹐一個人常常看到別人缺點﹐他是活在他人行為的污點當中﹐因為﹐他沒有時間檢討自己。有些信徒到寺廟拜佛、念佛的時候﹐不好好的拜他的佛﹐念他的佛﹐卻一直在議論那一個師父行為不好﹐那一個居士家的媳婦如何不孝……﹐像這種行為﹐那裡是在拜佛﹐根本就是在拜「是非」。一個真心想修持的人﹐就要放不一切。不要懷念過去美好的回憶﹐因為過去已不可追﹔也不要盼望未來﹐因為未來尚不可知。人的心境﹐每一秒鐘都在改變﹐你所能把握的就是「現在」。照顧當下﹐放下一切﹐專心念佛﹐才是最重要的。
3.2. Dịch nghĩa.
Buông Xả Tất Cả, Chuyên
Tâm Tâm Niệm Phật
Người muốn tu hành,
trước tiên phải học tập lòng xả bỏ. Có tín đồ
hỏi tôi: “Thưa thầy, phải tu hành như thế nào
đây?” Tôi liền trả lời: “Buông xả! Buông xả!”
Trước tiên là phải buông xả. Buông xả tất cả
những việc trong lòng, buông xả tất cả tiền của,
tất cả đều buông xả, niệm Phật với cái tâm buông
xả như vậy mới là nhận thức đúng đắn. Còn nếu
chấp vào ngã tướng mà niệm Phật, đó là việc làm
giả dối. Có khi đệ tử hỏi ngược lại tôi: “Con ở
nhà phải bôn ba vì cuộc sống gia đình, làm sao
có thể giống như thầy cái gì cũng buông xả
được?” Tôi liền giải thích cho họ nghe: “ Buông
xả, không phải là lợi thế riêng của người xuất
gia, trong mọi hoàn cảnh đều có thể dùng để tu
hành. Chúng ta nên xem tất cả cảnh giới làm đối
tượng để rèn luyện tâm tánh, không nên chìm đắm,
trôi nổi trong cảnh giới, nên xem tất cả cảnh
giới đều là đạo tràng, cần phải biết đạo tràng
không phải là chỉ ở trong chùa mà trong tâm của
chúng ta cũng là một đạo tràng lớn. Những điều
mà mắt của chúng ta thường nhìn thấy chính là
khuyết điểm của người khác. Cũng nên biết rằng,
một người thường để ý khuyết điểm của người khác
thì anh ta luôn sống trong sự ô nhiễm của hành
vi người khác. Bởi vì, anh ta không có thời giờ
để xem xét chính mình. Có một số tín đồ, khi đến
chùa lạy Phật, niệm Phật không thích lạy ông
Phật của mình, niệm ông Phật của mình, ngược lại
cứ luôn luôn bàn luận đến việc làm không tốt của
một thầy nào đó, hoặc giả bàn luận đến con dâu
của một vị cư sĩ nào đó bất hiếu ra sao.v.v… Nếu
lạy Phật bằng loại hành vi này, ở nơi đó tuy là
đang lạy Phật nhưng vốn là đang lạy sự thị phi.
Một người thật tâm muốn tu hành thì phải buông
xả tất cả, không nên nhớ lại những kỷ niệm tốt
đẹp đã qua, bởi vì quá khứ đã không thể truy
tìm, cũng không nên ước vọng tương lai, bởi vì
tương lai chưa đến, nên không thể biết. Tâm của
con người từng phút, từng giây đều đang biến
đổi, những điều mà bạn có thể nắm giữ được chính
là hiện tại. Chú ý tập trung ngay nơi đây, xả bỏ
tất cả, chuyên tâm niệm Phật mới là việc làm
quan trọng.
3.3. Bình giảng:
Có thể nói rằng người
xuất gia cũng như người tại gia, ai cũng muốn
tâm của mình được an nhàn, tự tại, giải thoát.
Muốn có được kết quả này, đòi hỏi chúng ta phải
tập hạnh buông xả. Sở dĩ chúng ta tập hạnh buông
xả là vì chúng ta là phàm phu, tâm luôn bị ngoại
cảnh chi phối. Khi sáu căn và sáu thức tiếp xúc
với 6 trần, chúng ta sanh ra tâm chấp trước, rồi
chạy theo ngoại trần, tạo ra nghiệp khổ đau.
Tuệ Trung Thượng Sĩ có
câu: “phản quang tự kỷ vi bổn phận”. Nghĩa là
“Bổn phận duy nhất của người tu là sự trở về
thấy được tâm mình, không chạy theo ngoại cảnh
nữa”. Tuệ Trung Thượng Sĩ nói như vậy là vì ông
thấy rằng tất cả các pháp đều do nhân duyên sanh
ra nên vô thường, vô ngã, không thật có. Trái
lại, chúng ta tưởng lầm vô thường là thường, vô
ngã là ngã. Từ đây tiếp tục chấp có thật ngã và
có thật pháp rồi chạy theo các pháp quên mất bản
tâm mình. Ví dụ như chúng ta nghe tiếng khen là
vui sướng, nghe tiếng chê là buồn, hoặc thấy
cảnh đẹp là thích, thấy cảnh không tốt là buồn.
Sự vui buồn sướng thích này chỉ là giả tạm do
căn tiếp xúc với trần sanh ra, còn sự an vui nội
tại mới là thật. Để thoát khỏi sự vui buồn theo
thế gian thường tình, chúng ta phải tập hạnh
buông xả. Buông xả ở đây không phải là chúng ta
thấy mọi thứ vô thường huyễn hóa rồi buông xuôi
tất cả. Đây là một quan niệm sai lầm. Buông xã
là chúng ta phải biết nhìn sự vật như chúng đang
là, không mong cầu tương lai không truy tìm quá
khứ, an trú tâm ở trong hiện tại. Kinh Nhất Dạ
Hiền Giả có bài kệ rằng:
“Quá khứ không truy tìm,
Tương lai không ước
vọng;
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến.
Chỉ có phá hiện tại,
Tuệ quán chính ở
đây…”.[469, 5]
Một người tu tập tâm
buông xả được thuần thục, dùng tâm này để niệm
Phật thì rất dễ đưa đến nhiếp tâm bất loạn. Bởi
lẽ, lúc niệm phật tâm không còn các tạp niệm
chấp trước về ngã pháp xen vào. Khi người ấy
đứng trước những ngang trái của cuộc đời, gặp
cảnh đau buồn cùng cực xảy đến, họ vẫn là hòn
đảo bình yên, không xao động hỗn loạn, bi ai
thảm thiết như những người ngu muội. Lúc nào ta
cũng thấy ở họ toát ra một uy lực nội tại thâm
hậu, thuần khiết rất đáng khâm phục.
Hòa thượng Thiền sư
Minh Trực, có kệ rằng:
“Mến tiếc làm chi tứ đại
thân,
Mà sanh quyến luyến cuộc
hồng trần,
Khá buôn xả hết điều
nhục dục,
Thoát khoải lao lung,
nẻo khổ tâm”. [11, 22 ]
Tóm lại: Các pháp thế
gian đêu do nhân duyên giả hợp tạo thành nên
chúng là vô thường, là vô ngã. Trong kinh Kim
Cang, Đức Phật dạy rằng:
“Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào,
ảnh
Như lộ, diệt như điện
Ưng tác như thị quán”.
Dịch nghĩa:
“Tất cả các pháp hữu vi,
Như mộng, huyễn, bọt,
bóng,
Như sương cũng như điện,
Nên khởi quán như vậy”.[
247, 16 ]
Chính vì lẽ đó, chúng ta
phải tỉnh giác, quán chiếu thấy cho được điểm
quan trọngnày để làm nền tảng tu tập tâm buông
xả. Buông xả ở đây bao gồm cả tà pháp và chánh
pháp. Đức Phật dạy rằng: “Chánh pháp còn buông
xả, huống chi là tà pháp”. Qua câu nói này cũng
cho ta thấy rằng giáo pháp của Đức Phật nói ra
như là một chiếc bè đưa người ta qua sông. Khi
qua sông rồi phải bỏ bè, không được đội bè lên
đầu mang đi. Nói một cách khác, tất cả kinh kệ
bằng văn tự chi là phương tiện giúp chúng ta
hiểu ý nghĩa đểụ tu tập. Chúng ta không nên
vướng mắc vào văn tự, xem văn tự là cứu cánh.
4. BÀI 4
4.1. Nguyên Văn Chữ Hán.
知足則幸福常存
每一個人都在追求幸褔﹗但什麼是真正的幸福呢﹖我覺得唯有「內心安適﹐俯仰無愧」的人才有真正的幸福。因為心如不安﹐幸褔要從何建立呢﹖
那麼要如何﹐心才會安呢﹖
古人說﹕「無所為而為﹐善而不居﹐能得心安。」這是教導我們行善時﹐不要想「我有在作善事」喔﹗我有在幫助人喔﹗真正的「純善」﹐是犧牲而不是獲得﹐是奉獻而不是﹑佔有。
由犧牲奉獻當中你才會懂得﹐幫助別人是真正的幸福之道。只有透過與別人的分享﹐你的成就才有意義﹐你的自私才得以融解﹐你才會知足、感恩﹐心也才會安啊﹗
心安的人﹐自然能控制自己的欲望﹐「欲望」可以推動你向上的一股力量﹐也可以是主宰你墮落的源頭。
人生的浮浮沉沉﹐欲望乃是最大的濫觴﹔因此﹐自我控制的層次﹐亦可視為個人修持成就之指標。不能控制六根欲望的人﹐當然就得不到安祥。
嘴巴喜歡說是非的人﹐朋友遠離﹐沒人尊重。欲望太高﹐喜歡涉足不正當場所的人﹐內心無法清淨﹐怎能安祥﹖耳朵整天只聽是非﹐不懂得聽聞佛法﹐那麼幸福又從何而來﹖心猿意馬的人﹐專心都談不上了﹐那談得上有什麼修行的成就﹖
所以﹐一定要「宰制官能﹐懲治我慾」。
人﹐就是欲望太多﹐才會生生世世在六道中輪迴。我們如果能在每一個剎那﹐自我觀照﹐自我控制﹐長養智慧與安祥。沒有憂慮、沒有恐懼、沒有攀緣﹐離開一切執著﹐則能擁有統一和諧的心靈﹐幸福也就掌握在你的手中。
4.2. Dịch nghĩa:
Biết Đủ Thì Luôn Được
Hạnh Phúc
Mỗi người trong chúng ta
đây chẳng phải đang đi tìm hạnh phúc đó sao!
Nhưng hạnh phúc chân thật là thế nào đây? Tôi
cảm thấy rằng, chỉ có người mà nội tâm được an
vui, cúi xuống ngẩng lên không có hổ thẹn với
trời đất mới đúng là người có hạnh phúc chân
thật. Bởi vì trong tâm không bao giờ an vui thì
hạnh phúc sẽ được xây dựng lên từ đâu? Thế thì
phải làm như thế nào trong tâm mới có sự an vui
hạnh phúc? Người xưa có nói: “làm mọi việc mà
khong vướng mắc, giỏi ma không thấy mình giỏi”.
Đây là dạy chúng ta khi làm việc thiện không nên
nghĩ rằng ta đang làm việc thiện, tôi đang giúp
đỡ người khác, sự thuần thiện chân chính là hy
sinh mà chẳng cần đền đáp, phụng hiến mà không
phải chiếm hữu. Chính ngay trong sự hy sinh,
phụng hiến bạn mới có thể hiểu được việc giúp đỡ
người khác là con đường đạt đến hạnh phúc chân
chính. Chỉ có thể xuyên qua sự chia sẻ niềm vui
với người khác thì sự thành công của bạn mới có
ý nghĩa. Sự tự tư tự lợi của bạn mới được tan
biến đi, bạn mới có thể biết đủ, cảm ơn, trong
lòng mới có thể được an vui. Người mà trong lòng
được an vui thì tự nhiên có thể làm chủ được
lòng ham muốn của mình, lòng ham muốn nó cũng là
một sức mạnh để thúc đẩy bạn đi lên, nhưng nó
cũng có thể là cội nguồn tác động cho bạn bị đọa
lạc khổ đau.
Sự chìm nổi của kiếp
người, dục vọng chính là nguồn gốc lớn nhất; do
vậy, tùy theo cấp độ phá trừ tự ngã mà có thể
thấy được mức độ thành tựu về sự tu hành của
người ấy. Người không khống chế được dục vọng
của sáu căn đương nhiên sẽ không có được sự an
vui hạnh phúc. Người thích nói chuyện thị phi,
bạn bè sẽ rời xa, không có ai kính trọng. Lòng
ham muốn quá nhiều, thích tham gia vào những
điều không đúng trong lòng sẽ không được thanh
tịnh, làm thế nào mà có được hạnh phúc? Lỗ tai
suốt ngày chỉ thích nghe chuyện thị phi, không
biết lắng nghe Phật pháp, như thế thì hạnh phúc
do đâu mà có được? Người mà tâm viên ý mã thường
xuyên bàn chuyện không ngớt, nói mãi thì có gì
gọi là sự thành công của việc tu hành? Cho nên,
nhất định phải làm chủ và chế ngự các căn, trừng
trị lòng ham muốn. Con người chính vì dục vọng
quá nhiều mới bị luân hồi trong lục đạo. Nếu
chúng ta ở trong mỗi sát na biết quán chiếu đến
tự ngã của mình, khống chế tự ngã, nuôi dưỡng
trí tuệ và sự an vui hạnh phúc. Không có sự lo
âu phiền muộn, không có sự sợ hãi, không có chạy
theo các trần duyên, rời xa tất cả chấp trước
thì có thể có một tâm linh thống nhất và hài
hòa, hạnh phúc cũng có thể nắm chắc trong lòng
bàn tay của bạn.
4.3. Bình giảng:
Có thể nói nhờ sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật, thế giới ngày càng tạo
ra nhiều của cải vật chất. Đây là việc khiến cho
chúng ta vừa mừng và vừa lo. Mừng là nhờ đó cuộc
sống của chúng ta được phong phú, thoải mái và
tiện lợi; Lo là vì con người không làm chủ được
chính mình trước cảnh vật chất phồn hoa, dẫn đến
bị đắm chìm trong đó, đánh mất bản tâm của chính
mình. Mặt dù, họ đang sống trong hạnh phúc mà
không có hưởng được hạnh phúc. Lý do đơn giản là
vì họ quá tham lam, không biết bao nhiêu là đủ.
Từ đó, họ bất chấp tất cả đạo đức miễn sao có
được nhiều tiền của càng tốt. Nếu nhìn sơ qua,
ta thấy họ vẫn có hạnh phúc nhưng đó chỉ là hạnh
phúc tạm bợ, giả hợp do tâm vọng động và cảnh
trần tiếp xúc với nhau mà có. Tâm vô thường,
cảnh cũng vô thường nên hạnh phúc cũng là vô
thường. Họ cứ tưởng rằng vô thường là thường,
nên đằng sau cái hạnh phúc của thế gian thường
tình là một chuỗi ngày dài đau khổ. Vua Trần
Nhân Tông có bài kệ nói về những thủ đoạn do
lòng tham gây ra như sau:
“Khoét vách đào tường
chí những đâu,
Ngàn muôn trăm kế luống
tham cầu,
Của người nay có đời này
được,
Đời khác luôn luôn kiếp
ngựa trâu”. [25,268]
Chúng ta thấy rằng đời
xưa cũng như đời nay, lòng tham không đáy của
con người không bao giờ đem lại hạnh phúc chân
thật cả. Bởi lẽ, con người không bao giờ biết
đủ, không bao giờ biết an trú vàonhững gì hiện
tại mình đang có, cho nên cảm thấy bị nỗi khổ
bức bách hoài. Dân gian việt nam có câu “Tham
thì thâm”. Để có được một hạnh phúc chân thật
đúng nghĩa không những đòi hỏi chúng ta phải
biết tri túc mà còn phải biết phản quang tự kỷ.
Nếu Làm được như vậy thì cho dù sống trong mọi
hoàn cảnh, tâm của ta vẩn được an vui, thoát
khỏi sự cám dỗ của dục vọng. Trong kinh Pháp Cú,
đức Phật dạy:
“Đại nhân tánh vô dục,
An trú nơi quang minh,
Dù gặp cảnh khổ vui,
An nhiên trí hiện
tiền”.[14,148]
Tóm lại:
Tâm biết đủ là điều kiện
tiên quyết để chúng ta có được hạnh phúc lâu
dài, là nền tảng vững chắc tiến lên con đường
giác ngộ giải thoát. Một người không biết đủ cho
dù sống trong sự giàu có cũng luôn bị khổ đau;
còn một người tâm biết đủ cho dù sống trong bất
cứ hoàn cảnh nào cũng cảm thấy vui. Trong kinh
Di Giáo, Đức Phật có dạy rằng: “Người biết đủ dù
nằm trên đất nhưng cũng thấy an vui. Người không
biết đủ dù sống trên thiên đường vẫn không vừa
ý”.
[ 11, 29 ]
5.BÀI 5
5.1.Nguyên Văn Chữ Hán.
萬法唯心造
有一位在家居士去拜訪廣欽老和尚。老和尚問他說﹕「你有沒有在修行啊﹖」
居士回答﹕「有啊﹗我每天早上拜佛一個鐘頭﹐晚上也拜一個鍾頭,
每天要拜佛好幾百拜﹐念佛好幾百聲。」
廣欽老和尚為了破他的執著﹐就告訴他﹕「你在跟佛祖算賬啊﹗」
修行用功不只是一種形式﹐而是要以放下、不執著的角度來實行。
就像我們必須瞭解﹐吃素不代表修行﹐而只是修行的助緣而已。如果吃素是修行﹐牛也吃草﹐甚至牠吃得還比人類更清淨﹐那麼﹐牠也在修行嗎﹖
修行﹐是在修我們的心。但錯誤的方法﹐不當的精進﹐就不是在用功了﹐反而成了一種執著。我們任何一個人﹐要往生西方極樂淨土﹐也是這個心﹐要造業下地獄也是這個心﹐苦、樂、善、惡、主觀、客觀、煩惱、菩提、有為、無為皆是這個心。如果我們慈悲喜捨﹐就是佛菩薩﹔相反的﹐造業、執著﹐就成了畜牲種、地獄客。所以﹐學佛要進步﹐就必須從心地上下功夫。
心﹐也可以是個模糊、不確定的名詞。加一個善就是善心﹔加一個惡就是惡心﹔加上菩提就是菩提心﹔加上煩惱﹐又成了煩惱心。另外﹐在楞嚴經中﹐心所指的是如來藏﹔在唯識裡是八識﹔在我們世間是指靈魂﹔以心理學的看法即成潛意識。
心,加上不同的名詞,就成不同的心。
我們也常聽到人們如此說:「善、惡在一念間。」依佛法的究竟義來說,一切萬法唯心所造。因此,修行不在外表與事相上而已﹔一定要開發自己本性內在的般若智慧﹐遠離分別執著﹐也才談得上「修行」。
5.1.Dịch nghĩa:
Vạn Pháp Do Tâm Tạo
Có một vị cư sĩ tại gia
đi thăm viếng Hòa thượng Quảng Khâm, Hòa thượng
hỏi anh ta rằng: “Con có đang tu hành không
vây?” Vị cư sĩ trả lời: “Dạ có ! Con mỗi ngày
sáng sớm lạy Phật một tiếng đồng hồ, buổi tối
con cũng lạy một tiếng đồng hồ, mỗi ngày con
phải lạy Phật tới mấy trăm lạy, niệm Phật cũng
mấy trăm tiếng”. Hòa thượng Quảng Khâm vì muốn
phá sự vướng mắc này của anh ta, Ngài liền
nóivới anh ta: “con đang tính toán với Phật Tổ
à!”. Dụng công tu hành không chỉ là một loại
hình thức mà là dù ở góc độ nào cũng phải lấy sự
xả bỏ không chấp trước để thục hành. Chúng ta
cần phải hiểu rằng ăn chay không phải thay thế
được sự tu hành mà nó chỉ là sự trợ duyên cho
việc tu hành mà thôi. Nếu nói ăn chay là tu hành
thì con trâu cũng ăn cỏ, thậm chí nó ăn còn
trong sạch hơn con người ăn nữa, như thế thì nó
đang tu hành phải không? Tu hành, chính là tu
sửa cái tâm của mình. Nhưng do phương pháp không
đúng, sự tinh tấn cũng không đúng thì cho dù tốn
hao công sức tu hành nhưng trái lại cũng trở
thành một loại chấp trước. Bất cứ người nào
trong chúng ta muốn vãng sanh về thế giới Tây
phương Cực lạc cũng là do tâm này, muốn tạo
nghiệp xuống địa ngục cũng là tâm này, khổ vui,
thiện ác, chủ quan khách quan, phiền não Bồ-đề,
hữu vi hay vô vi đều là do tâm này. Nếu chúng ta
từ bi hỷ xả ấy là Phật và Bồ-tát, còn ngược lại,
chấp trước tạo nghiệp sẽ trở thành loài súc
sanh, khách của địa ngục. Cho nên, học Phật muốn
tiến bộ thì phải ra sức công phu theo tâm này.
Tâm cũng có thể là một danh từ mơ hồ không xác
định được. Thêm một chữ Thiện thì gọi là Tâm
Thiện, thêm một chữ Ác thì gọi là Tâm ác, thêm
vào chữ Bồ-đề thì gọi Là Tâm Bồ-đề, thêm vào chữ
Phiền não lại trỏ thành Tâm phiền não. Ngoài ra,
ở trong kinh Lăng Nghiêm gọi tâm là “Như Lai
tàng”, ở trong Duy thức học gọi là “Bát thức tâm
vương”, ở trong thế gian thì gọi là “Linh hồn”,
theo cách nhìn của Tâm lý học thì cho rằng đó là
“Tiềm ý thức”.
Nếu thêm vào chữ tâm
những danh từ khác nhau thì trở thành tâm khác
nhau. Chúng ta cũng thường nghe những người khác
nói như thế này: “Thiện ác ở ngay trong một
niệm”. Theo ý nghĩa rốt ráo của Phật pháp mà
nói, tất cả vạn pháp là do tâm tạo ra. Do đó, tu
hành không phải dựa vào sự tướng và hình thức
bên ngoài mà nhất định phải khai mở được cái trí
tuệ Bát nhã ở bên trong bản tánh của chính mình,
xa rời các phân biệt chấp trước mới có thể nói
được hai chữ “Tu hành”.
5.3. Bình giảng:
Giáo pháp của Đức Phật
nói ra có vô lượng pháp môn, chẳng hạn như: ăn
chay, niệm phật, ngồi thiền, trì chú. v. v… Các
pháp môn này đều có chung mục đích chuyển mê
thành ngộ. Nếu căn cơ của chúng sanh thích hợp
với pháp môn nào thì tu theo pháp môn đó, miễn
làm sao ta có thể khống chế được tâm vọng đôỉng
chạy theo ngoại cảnh trở về tánh thanh tịnh
trong sáng xưa nay. Cái bản tính thanh tịnh xưa
nay này là chỗ phát sinh ra hết thảy vạn vật.
Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật nói rằng:
“Ai mà muốn biết phật ba
đời,
Pháp giới tánh xem thấu
mọi nơi.
Cả thảy duy tâm đều tạo
hết,
Thánh phàm cầm thú tại
tâm người”.
[ 24, 60 ]
Đồng quan điểm trên,
trong kinh Lăng Nghiêm Đức Phật có dạy: “Này A
Nan! tất cả sơn hà, đại địa, cỏ cây, hoa lá. v.
v… đều là vật hiện lên trong thâm tâm của ông.
Tất cả nhân quả thánh phàm, các pháp thế gian và
xuất thế gian đều do tâm mà thành thể”. [ 10, 72
]
Qua hai đoạn kinh trên,
Đức Phật muốn nói đến sự diệu dụng của tâm. Đây
hoàn toàn không phải là giáo lý duy tâm. Bởi lẽ,
vật chất tồn tại khách quan, nó tồn tại như
chính nó đang là. Nhưng khi tâm ta tiếp xúc với
chúng liền khởi lên sự phân biệt giữa chủ thể
nhận thức và khách thể được nhận thức. Sau đó,
ta đặt cho chúng cái tên A hay B gì đó để phân
biệt với nhau. Hơn nữa, khi tâm ta vui thì ta
thấy cảnh vật vui; tâm ta buồn thấy cảnh vật
buồn theo. Điều này cũng có nghĩa là ta đã làm
mất đi sự hiện hữu bình thường của vạn vật.
Trong truyện Kiều, Nguyễn Du có diễn tả ý này
bằng hai câu thơ :
“Cảnh nào cảnh chẳng
đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui
đâu bao giờ”ụ. [ 26, 112 ]
Chữ tâm ở đây là đứng
trên phương diện tục đế mà nói. Cho nên, ta mới
nói có thánh – phàm, buồn – giận, thương – ghét,
Phật – Chúng sinh, có – không .v.v... Do đó, cổ
Đức nói rằng:
“Từ nay cõi Thánh bước
lần,
Bồ đề thêm lớn muôn phần
cao xa.
Được vào trong pháp
vương gia,
Đủ duyên đủ phước nghe
qua pháp mầu”.[ 12,16]
Nếu đứng trên phương
diện chân đế mà nói, thế giới này là nhất chân,
không có sự đối đãi phân biệt, vượt ra ngoài các
ý niệm ngôn ngữ, không có pháp tu, pháp chứng,
không có phiền não, không có Niết bàn.v.v... Tất
cả mọi sự vật đều do duyên sinh mà có, nên chúng
vô thường, vô ngã, vô tướng. Chính vì các pháp
là duyên sinh- vô ngã- vô tướng nê