******Trang tiếng Việt  ******Thư Mục Tổng Quát ******Trang tiếng Anh ******

 

 

 

 

Luận văn tốt nghiệp

 

 

NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI THỂ TÀI NGÔN NGỮ TRONG KINH TẠNG
   PHẬT GIÁO

Thích Nữ Thánh Tâm

 

PHẦN MỞ ĐẦU

1.  LÝ  DO  VÀ  MỤC  ĐÍCH  CHỌN  ĐỀ  TÀI

Ngôn  ngữ  là  một  hệ  thống  tín  hiệu  đặc  biệt,  là  phương  tiện  giao  tiếp  cơ  bản  và  quan  trọng  nhất  của  các  thành  viên  trong  một  cộng  đồng  xã  hội.  Ngôn  ngữ  đồng  thời  cũng  là  phương  tiện  phát  triển  tư  duy,  truyền  đạt  truyền  thống  Văn  hoá-  Lịch  sử  từ  thế  hệ  này  sang  thế  hệ  khác.  Thông  qua  ngôn  ngữ,  con  người  đã  thông  tư  tưởng  với  nhau,  hiểu  được  các  ý  chỉ  muốn  trình  bày.  Các  loại  hình  ngôn  ngữ  rất  đa  dạng  và  phong  phú:  Ngôn  ngữ  nói,  ngôn  ngữ  viết,  ngôn  ngữ  không  lời,  ngôn  ngữ  biểu  tượng,  ngôn  ngữ  ký  hiệu…  để  hiểu  được  ngôn  ngữ  ấy,  người  nghiên  cứu  phải  có  tri  thức  tối  thiểu  về  ngôn  ngữ  học.

Đối  với  hệ  thống  ngôn  ngữ  Phật  giáo,  sự  đa  dạng  và  phong  phú  của  thể  tài  ngôn  ngữ  được  thể  hiện  thông  qua  hệ  thống  Kinh  tạng.  Ngày  nay  hầu  hết  Kinh  tạng  được  dịch  ra  nhiều  thứ  tiếng  như  :  Anh,  Pháp,  Nhật,  Trung  Hoa,  Tây  Tạng…  bên  cạnh  những  bản  kinh  cổ  ngữ  như  Pàli,  Sankrist….vì  thế,  Kinh  điển  Phật  giáo  càng  ngày  càng  trở  nên  phổ  biến  rộng  rãi.

Song  để  am  hiểu  một  bản  Kinh  một  cách  chính  xác,  không  những  ta  phải  hiểu  biết  về  hình  thức  ngôn  ngữ  phổ  thông,  mà  còn  phải  nắm  rõ  các  thể  loại  ngôn  ngữ  được  dùng  khác  nhau  theo  đặc  trưng  của  từng  loại  trong  hệ  thống  Kinh  tạng,  nắm  được  nguồn  gốc  ra  đời  và  niên  đại  phiên  dịch  để  hiểu  được  nét  đặc  thù  của  nền  văn  hoá,  văn  hoá  Phật  giáo  thời  ấy.

Tất  nhiên  công  việc  nghiên  cứu  về  ngôn  ngữ  Kinh  điển    quả  thật  không  đơn  giản,  nhất  là  đối  với  cổ  ngữ  nhưng  nếu  hiểu  được  thể  tài  ngôn  ngữ  được  dùng  trong  Kinh  thì  đây  là  khởi  điểm  giúp  cho  người  học  bước  vào  việc  nghiên  cứu  Phật  học.

Có  thể  nói  mục  đích  sử  dụng  nhiều  thể  tài  Ngôn  ngữ  khác  nhau  của  Đức  Phật  là  vì  mục  tiêu  giác  ngộ,  giải  thoát  cho  mỗi  con  người.  Các  tầng  lớp  như  người  trí  thức,  thương  gia,  nông  dân  hay  nô  lệ,  người  già  hay  người  trẻ,  người  giàu  sang  hay  kẻ  nghèo  hèn…  Ngài  đều  có  cách  nói  khác  nhau.  Trong  hoàn  cảnh  này,  địa  phương  này,  Ngài  nói  như  thế  này;  hoàn  cảnh  khác,  địa  phương  khác,  Ngài  nói  như  thế  khác.  Tất  cả  chỉ  vì  một  mục  đích  duy  nhất  là  giải  thoát.  Càng  nghiên  cứu  sâu  vào  các  loại  hình  ngôn  ngữ  mà  Đức  Phật  sử  dụng  ta  mới  khám  phá  ra  một  điều  kỳ  diệu  rằng  Đức  Phật  là  nhà  tâm  lý  học  siêu  xuất  tràn  đầy  lòng  bi  mẫn.  Bất  cứ  lúc  nào,  Ngài  cũng  dùng  lời  nói  thật  từ  ái  và  bao  dung  dù  người  đó  là  tín  đồ  Phật    giáo  hay  không  phải  Phật  giáo.  Khi  chưa  là  Đấng  Toàn  giác,  Đức  Phật  với  tư  chất  thông  minh  đĩnh  ngộ  phi  thường,  Ngài  đã  sử  dụng  được  36  thứ  ngôn  ngữ  thời  đó.  Khi  truyền  bá  chánh  pháp,  Ngài  cũng  đã  sử  dụng  ngôn  ngữ  của  từng  địa  phương,  từng  dân  tộc.  Cách  sử  dụng  phương  ngữ    của  Đức  Phật  là  một  trong  những  phương  pháp  thu  phục  nhân  tâm.  Thêm  vào  đó,  cách  sử  dụng  các  thể  tài  ngôn  ngữ  khác  nhau  phù  hợp  với  từng  căn  cơ  cũng  là  đặc  trưng  của  ngôn  ngữ  Phật  giáo,  chỉ  nhằm  mục  đích  giải  thoát  cho  nhân  loại.  Việc  tìm  hiểu  các  thể  tài  ngôn  ngữ  cũng  là  cách  xác  định  tầm  vóc  triết  lý,  tính  khoa  học…  của  Kinh  điển  Phật  giáo  đồng  thời  cũng  là  cách  tìm  hiểu  các  đặc  trưng  văn  hoá  Phật  giáo  vì  các  giá  trị  văn  hoá  truyền  thống  của  Phật  giáo  tồn  tại  song  song  với  ngôn  ngữ  của  từng  khu  vực,  từng  dân  tộc  vào  một  thời  đại.

Với  những  lý  do  trên,  người  viết  không  ngần  ngại  chọn  đề  tài  :  “  Tìm  hiểu  thể  tài  ngôn  ngữ  trong  kinh  tạng  Phật  giáo”  .  Với  tiêu  chí  như  vậy,  luận  văn  này  chỉ  khẳng  định  sự  tìm  hiểu  Thể  tài  chớ  không  đi  sâu  vào  nghiên  cứu  ngôn  ngữ,  bởi  như  thế  sẽ  đi  vào  lãnh  vực  nghiên  cứu  về  ngôn  ngữ  học.  Ơũ  đây,  người  viết  chỉ  khái  quát  về  các  Thể  tài  ngôn  ngữ  để  đi  vào  các  giá  trị  nhân  văn  mà  ngôn  ngữ  đã  đem  lại  cho  con  người  đặc  biệt  là  ngôn  ngữ  Kinh  tạng.

2.    PHẠM  VI  ĐỐI  TƯỢNG  VÀ  PHƯƠNG  PHÁP  NGHIÊN  CỨU

Trong  Kinh  tạng,  người  viết  sẽ  chọn  lựa  một  số  Kinh  tiêu  biểu  rõ  nét  cho  các  Thể  tài  ngôn  ngữ.  Phương  pháp  nghiên  cứu  là  phương  pháp  phân  tích  liệt  kê,  dùng  ví  dụ  minh  hoạ  làm  rõ  vấn  đề,  làm  rõ  những  ảnh  hưởng  của  thể  tài  ngôn  ngữ  vào  mọi  khía  cạnh  của  đời  sống  xã  hội.

3.    Ý  NGHĨA  THỰC  TIỄN  CỦA  ĐỀ  TÀI:

Ngày  nay,  Phật  ngữ,  Pháp  ngữ  thực  sự  đã  đóng  góp  nhiều  vào  kho  tàng  ngôn  ngữ  thế  giới,  làm  phong  phú  cho  kho  tàng  ngôn  ngữ  nhân  loại,  hướng  con  người  đến  những  giá  trị  tinh  thần  cao  đẹp.  Con  người  tự  kiến  tạo  cuộc  sống  hạnh  phúc  cho  mình  và  người  bằng  những  lời  nói  từ  ái,  hài  hoà,  không  dùng  lời  nói  ác  gây  tổn  thương,  đau  khổ,  thù  hận  cho  người;  không  dùng  lời  nói  thêu  dệt,  tráo  trở  để  lường  gạt,  dối  trá  người…dẫu  khi  một  người  tu  tập  im  lặng,  không  nói  cũng  là  sự  im  lặng  an  lành,  hạnh  phúc  như  Phật  đã  từng  dạy:  “  Nói  năng  như  chánh  pháp,  im  lặng  như  Chánh  pháp”.  Chỉ  ngần  ấy,  ngôn  ngữ  Phật  giáo  đủ  khiến  cho  mọi  người  trở  về  nương  tựa  Tam  Bảo.  Có  thể  nói,  đây  là  sự  đóng  góp  thật  to  lớn  của  đạo  Phật  vào  đời  sống  tinh  thần  của  nhân  loại.

4.  KẾT  CẤU  LUẬN  VĂN

Luận  văn  này  được  viết  thành  3  chương,  trong  đó  ngoài  phần  dẫn  nhập  mang  tính  trường  quy,  phần  nội  dung,  luận  văn  trình  bày:

Chương  1:  Giới  thiệu  chung  về  ngôn  ngữ

Chương  2:  Các  thể  tài  ngôn  ngữ  trong  hệ  thống  Kinh  tạng

Chương  3:  Hiệu  quả  việc  sử  dụng  các  thể  tài  ngôn  ngữ  trong  việc  hoằng  dương  chánh  pháp

sau  đó  là  phần  kết  luận  và  thư  mục  tài  liệu  tham  khảo.

 

 PHẦN NÔI DUNG

 CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÔN NGỮ

1.1. BẢN CHẤT HAY VAI TRÒ CỦA NGÔN NGỮ TRONG ĐỜI SỐNG THỰC TIỄN

1.1.1.  Chức năng của ngôn ngữ

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội: Nhiều nhà khoa học đã chứng minh ngôn ngữ là một hiện tượng tự nhiên. Do ảnh hưởng thuyết tiến hoá của Đácuyn, một số người cho ngôn ngữ cũng giống như một cơ thể sống, một động vật hoặc một thực vật. Ngôn ngữ hoạt động và phát triển theo quy luật của tự nhiên, nghĩa là tất cả các ngôn ngữ ở mọi nơi và mọi lúc đều phải trải qua các giai đoạn: nảy sinh, trưởng thành, hưng thịnh, suy tàn và diệt vong. Để biện minh cho quan điểm này, người ta đã dẫn ra các hiện tượng nhiều từ cũ, nghĩa cũ đã mất đi; nhiều từ mới, nghĩa mới đã được tạo ra trong các ngôn ngữ, thậm chí một số ngôn ngữ đã trở thành những tử ngữ như tiếng Phạn, Latin.. vv…. Thật ra, quy luật phát triển của ngôn ngữ không giống như quy luật phát triển của tự nhiên. Ngôn ngữ luôn luôn kế thừa cái cũ và phát triển cái mới, không bao giờ bị huỷ diệt hoàn toàn. Một số ngôn ngữ trở thành tử ngữ hoặc là do dân tộc nói ngôn ngữ ấy bị huỷ diệt, hoặc do ngôn ngữ ấy đã được thay thế bằng những ngôn ngữ khác như tiếng Latin, tiếng Phạn và Pàli… dẫu không được dùng như sinh ngữ nhưng những ngôn ngữ trên vẫn để lại nhiều dấu tích trong nhiều ngôn ngữ hiện đại.

Ngôn ngữ là hoạt động không có tính bản năng như : ăn, khóc, cười, chạy, nhảy… của con người mà là một hoạt động huân tập. Nói cách khác, ngôn ngữ không phải là hiện tượng sinh vật vì những hiện tượng sinh vật ấy có thể phát triển ngoài xã hội, trong trạng thái cô độc, còn ngôn ngữ không thể phát triển trong điều kiện như thế. Chẳng hạn, đứa bé sơ sinh sống với loài vật thì sẽ không có những hoạt động như một em bé bình thường mà em sẽ tiếp thu những kỹ năng của đời sống động vật, em sẽ mất đi khả năng tư duy và không thể nói được, nhưng khi trở về với xã hội loài người thì khả năng tư duy và khả năng nói sẽ dần dần hồi phục. Hơn nữa, ngôn ngữ không có tính di truyền như những đặc trưng về chủng tộc như màu da, chủng tộc, tỉ lệ thân thể, cấu trúc xương sọ…một em bé VN nếu sống ở Anh sẽ nói tiếng của người Anh mà không biết tiếng Việt. Ngược lại, đứa trẻ sơ sinh người Anh sống ở VN thì sẽ nói tiếng Việt mà không biết tiếng Anh. Rõ ràng, ngôn ngữ không thuộc các hiện tượng tự nhiên.

Ngôn ngữ không thuộc các hiện tượng tự nhiên, cũng không phải là hiện tượng cá nhân, vậy ngôn ngữ là hiện tượng xã hội. Trong cuốn “Hệ Tư Tưởng Đức”, MÁC và ĂNGGHEN đã viết: “ Ngôn ngữ là ý thức thực tại, thực tiễn. Ngôn ngữ sinh ra là do nhu cầu, do cần thiết phải giao dịch với người khác”. Như vậy, khẳng định  ngôn ngữ là hiện tượng xã hội, cũng có nghĩa là thừa nhận ngôn ngữ tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan của mình. Trong quá trình phát triển, ngôn ngữ luôn luôn tiếp thu các yếu tố mới ( từ mới, nghĩa mới) để phong phú và hoàn thiện thêm. Khi một nhu cầu nào đó của xã hội nảy sinh, ngôn ngữ thường mách bảo cho con người một phương tiện ngôn ngữ nào đó có thể được dùng một cách mới mẻ trong việc sử dụng từ ngữ. Vì vậy, những cái mới thường đồng thời xuất hiện ở nhiều nơi trong lời nói. Chính vì lẽ ấy, những nhà tư tưởng lớn, chính trị lớn, nhà văn lớn đã đóng vai trò chính đối với sự phát triển ngôn ngữ. Cái cống hiến to lớn của họ là ở chỗ họ làm sáng tỏ, làm bộc lộ khả năng tiềm tàng trong ngôn ngữ, cũng như khả năng ngôn ngữ được nhiều người biết đến và sử dụng, nhờ tài năng của mình, họ có thể nâng chúng lên mức hoàn thiện, chuẩn mực để mọi người noi theo. Như vậy, chẳng những họ đã hiện thực hoá những khả năng tiềm tàng của ngôn ngữ  mà còn thúc đẩy ngôn ngữ phát triển  theo khả năng đó.

Nhìn chung, ngôn ngữ phục vụ xã hội, làm phương tiện giao tiếp giữa mọi người, làm phương tiện trao đổi ý kiến trong xã hội, làm phương tiện giúp cho mọi người hiểu biết lẫn nhau, con người mới có thể thấu hiểu những tần số tình cảm của nhau, khiến cho đời sống tinh thần của con người ngày càng thăng hoa.

Ngôn ngữ là phương tiện để tư duy

Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ gắn liền với chức năng thể hiện tư duy của nó, bởi việc giao tiếp của ngôn ngữ  chỉ có thể giúp người ta trao đổi tư tưởng, tình cảm với nhau, hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau tổ chức một đời sống mà nơi đó bản thân của ngôn ngữ tàng trữ những kinh nghiệm, những tư tưởng, tình  cảm của con người. Nếu như chức năng giao tiếp của ngôn ngữ chỉ thể hiện khi có hành động giao tiếp, tức là khi người ta dùng ngôn ngữ trao đổi với nhau, thì chức năng tư duy của ngôn ngữ là người ta có thể nói một mình, đọc một mình, viết ra giấy mà không nhằm trao đổi với ai. Như vậy, chức năng thể hiện tư duy là chức năng cơ bản của ngôn ngữ , độc lập với chức năng giao tiếp.

Ngôn ngữ là biểu hiện thực tế của tư tưởng: không có từ nào, câu nào mà lại không biểu hiện khái niệm hay tư tưởng. Ngược lại không có ý nghĩ, tư tưởng nào không tồn tại dưới dạng ngôn ngữ.

Ngôn ngữ không trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng. Mọi ý nghĩ, tư tưởng chỉ trở nên rõ ràng khi được biểu hiện bằng ngôn ngữ. Quá trình đi tìm từ cần thiết để nói cũng là quá trình làm cho ý nghĩ, khái niệm trở nên rõ ràng, có thể hiểu được với người nghe cũng như với chính bản thân mình.

Cần nhớ rằng, ngôn ngữ của con người không những chỉ tồn tại dưới dạng tiếng nói mà còn tồn tại dưới dạng biểu tượng âm thanh được chứa trong tiềm thức và dạng chữ viết ra trên giấy. Khi nghe một từ thì một biểu tượng âm thanh xuất hiện, khi nói một từ thì một biểu tượng chuyển động phát âm xuất hiện, khi nhìn một từ được in hoặc viết ra thì biểu tượng thị giác của từ xuất hiện . Cho nên chức năng của ngôn ngữ với tư duy không chỉ thể hiện khi ngôn ngữ được phát thành lời mà cả khi người ta im lặng suy nghĩ hoặc viết ra giấy. Bằng những thí nghiệm cụ thể, nhà ngôn ngữ học Xô Viết Bôrôpxki đã chứng minh sự tồn tại của lời nói bên trong khi người ta im lặng suy nghĩ. Ông đã lấy điện cực hình kim bằng thép gắn vào cơ môi dưới hoặc đầu lưỡi của người được thí nghiệm rồi bảo người này tính nhẩm trong óc những phép tính và tiến hành suy nghĩ thầm lặng, kết quả là người được thí nghiệm tuy tư duy không nói ra tiếng, cũng không thấy khí quan ngôn ngữ hoạt động rõ rệt, nhưng trước sau cũng có thay đổi hoặc nhiều hoặc ít. Những biến đổi điện vị này vừa khớp với những biến đổi điện vị khi phát ra âm thanh ngôn ngữ. Điều đó chứng tỏ có sự hoạt động của lời nói bên trong. Như vậy, ngôn ngữ và tư duy thống nhất với nhau. Không có ngôn ngữ thì cũng không có tư duy và ngược lại, không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những âm thanh trống rỗng, thực chất là cũng không có ngôn ngữ. Bởi những ý tưởng xuất hiện và tồn tại được là nhờ vào ngữ liệu, là nhờ vào từ ngữ và câu. Tư duy đơn thuần tách khỏi ngữ liệu là không thể có được.

 1.1.2.  NGUỒN GỐC CỦA NGÔN NGỮ

Nguồn gốc của ngôn ngữ gắn liền với  nguồn gốc của xã hội loài người. Nó vừa là vấn đề ngôn ngữ học, vừa là vấn đề lịch sử xã hội loài người. Muốn nghiên cứu vấn đề này cũng cần có sự hiểu biết về kết cấu của ngôn ngữ cụ thể. Song chỉ chừng ấy thôi chưa đủ mà còn phải có kiến thức về lịch sử  văn hoá, lịch sử  xã hội, nhân loại học, tâm lý học, lịch sử vấn đề phát triển của tư duy…vv…

Để hiểu nguồn gốc của ngôn ngữ, cần phải làm sáng tỏ vấn đề: điều kiện nảy sinh ngôn ngữ ?

Ngôn ngữ bắt nguồn từ trong lao động và cùng nảy sinh với lao động, năng lực tư duy trừu tượng của con người đã lớn lên cùng với lao động, nhưng tư duy không thể tồn tại, thoát khỏi ngữ liệu, cho nên tư duy hình thành thì ngôn ngữ cũng ra đời. Do tư duy trừu tượng phát triển nên nội dung mà con người cần trao đổi với nhau ngày càng phong phú, ngược lại, nhu cầu giao tiếp càng phong phú đòi hỏi tư duy trừu tượng càng phát triển hơn.

Rõ ràng, lao động quyết định sự ra đời của ngôn ngữ. Lao động làm cho người ta cần thiết phải có ngôn ngữ để nói với nhau. Mặt khác, lao động làm cho người ta cần có ngôn ngư õ để tiến hành tư duy, diễn đạt tư tưởng, lấy nó làm nội dung giao tiếp với nhau. Như vậy, lao động quyết định nhu cầu tạo ra ngôn ngữ. Nhưng chỉ có nhu cầu thì vẫn chưa có ngôn ngữ mà con người còn phải có khả năng tạo ra ngôn ngữ nữa. Khả năng tạo ra ngôn ngữ của con người nguyên thuỷ cũng bắt nguồn từ lao động. Muốn có ngôn ngữ phải có tư duy trừu tượng và khả năng phát âm rõ ràng, có như vậy thành quả của tư duy trừu tượng mới trở thành yếu tố ngữ nghĩa của ngôn ngữ.

Tóm lại, bản thân con người cũng như tư duy trừu tượng và ngôn ngữ của nó ra đời cùng một lúc dưới tác dụng của lao động. Ngôn ngữ và tư duy trừu tượng của con người là dấu hiệu phân biệt con người với con vật. Ngôn ngữ âm thanh luôn luôn là ngôn ngữ duy nhất  của loài người.

Ngôn ngữ với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ hai phải bắt nguồn từ hệ thống tín hiệu thứ nhất ở con người. Hệ thống tín hiệu thứ nhất là tất cả những ấn tượng, cảm giác, biểu tượng thu được từ bối cảnh tự nhiên bên ngoài thông qua những phản xạ, kích thích ở dạng mọi cảm giác: thính giác, thị giác, xúc giác… hệ thống tín hiệu thứ nhất tiến hành giao tiếp trong phạm vi tư duy hình tượng, một mặt nó lấy hình tượng mà bộ máy cảm giác nhận được làm cái biểu hiện còn cái được biểu hiện là tư duy hình tượng. Sự giao tiếp như vậy rất đơn sơ vì nó không có tư duy trừu tượng, nhưng dù sao cũng vẫn có tác dụng giao tiếp. Ngôn ngữ lấy ngữ âm làm vật kích thích vật chất, lấy khái niệm làm nội dung chính của những vật kích thích ấy, cho nên chỉ bộ phận hệ thống tín hiệu thứ nhất nào có tác dụng giao tiếp lấy âm thanh làm vật kích thích mới trở thành ngôn ngữ. Ngoài ra, những bộ phận tiếng kêu trong lao động, tiếng kêu cảm thán có tác dụng giao tiếp với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ nhất, đều có thể trở thành những bộ phận cấu thành ngôn ngữ sau này.

Ngôn ngữ Kinh điển Phật giáo cũng mang những chức năng như ngôn ngữ ngoại điển là để giao tiếp và tư duy, nhưng sự tư duy, giao tiếp đó là để đi đến mục đích cuối cùng là giải thoát khỏi những đau khổ vây quanh con người. Nếu như ngôn ngữ ngoại điển hình thành, xuất phát từ trong lao động thì ngôn ngữ Phật giáo được bắt nguồn từ việc tu tập, hàng phục vọng tâm ngay giữa thực tại đời thường. Như vậy, vượt lên trên cả phương tiện giao tiếp và tư duy của ngôn ngữ thông thường, ngôn ngữ Phật giáo là cách khơi gợi, đánh thức tâm tư người nghe, người đọc trở về đối với bản tâm thanh tịnh của chính mình.

 

CHƯƠNG 2

CÁC THỂ TÀI NGƠN NGỮ TRONG HỆ THỐNG KINH TẠNG

 

 2.1.  CÁC THỂ TÀI KINH ĐIỂN

2.1.1.  Phân loại  thể tài kinh văn

Theo cách phân loại của Từ điển Phật học Hán Việt – NXB KHXH, kinh điển Phật giáo được chia thành 12 loại, tức 12 thể tài, bao gồm :

1-   Tu-Đa-La: (Hán dịch là)ụ Khế kinh (Sutta)

2-    Kỳ-Dạ: (Hán dịch là) Trùng Tụng (Gaya)

3-  Già- Đà: (Hán dịch là) Phúng Tụng (Gàthà)

4-   Ni-Đà-Na: (Hán dịch là) Nhân Duyên (Nidàna)

5-   Y-Đế-Mục-Đa: (Hán dịch là) Bổn Sanh (jàtaka)

6-    I-Ti-Vút-Ta-Ka: (Hán dịch là) Bổn Sự (Itivurtaka)

7-   A-Phù-Đạt-Ma (A-Tì-Đạt-Ma): (Hán dịch là) Vị Tằng Hữu (Adbhutadharma)

8-   A-Ba-Đa-Na:  (Hán dịch là) Thí Dụ (Avadàna)

9-   Ưu-Ba-Đề-Xá: (Hán dịch là) Luận Nghị (Upadisa).

10-  Ưu-Đà-Na: (Hán dịch là) Tự Thuyết; (Udana);

11-  Tì-Phật-Lược: (Hán dịch là)  Phương Quảng (Vaipulya)

12-  Hoà-Già-La: (Hán dịch là) Thụ Ký (Vyakarama) 

Trong 12 bộ này, 3 bộ Tu-Đa-La, Kỳ-Dạ và Già- Đà làụ thể tài trong kinh văn còn chín thể loại còn lại được phân bố theo từng loại sự việc được ghi trong kinh. Ở đây, Kỳ-Dạ có nghĩa là tảng văn và Già- Đà có nghĩa là thơ, kệ hay bài tụng theo thể thơ hoặc văn xuôi. Tuy nhiên, các thời thuyết giáo của Phật được ghi lại trong toàn bộ kinh điển, thì không thời pháp nào mà Đức Phật không dùng đến các hình ảnh, thí dụ, ẩn dụ, biểu tượng ; hoặc là nói chuyện về tiền thân (Bổn sanh, Bổn sự) của Ngài ; hoặc là nói theo cách lý luận logic (luận thuyết), hoặc là nói đến những truyền thống Phật sử (Vị Tằng Hữu) v.v... Do đó, sự phân loại thể tài ở đây chỉ có ý nghĩa về hình thức thuyết giáo của Phật được ghi lại trong kinh. Theo một cách phân loại khác được ghi lại trong kinh Ví Dụ Con Rắn (Trung Bộ kinh) thì giáo pháp của Phật được phân loại thành 9 thể tài như sau :

1. Kinh (cách gọi chung): Khế Kinh

2. Ứng tụng

3. Giải thuyết

4. Kệ tụng

5. Cảm hứng ngữ

6. Như thị ngữ

7. Bổn sinh, Bổn sự

8. Vị tằng hữu

9. Phương quảng

2.1.2.  Ý NGHĨA CỦA CÁC THỂ TÀI

1- Kinh (Sùtra) : Những điều Đức Phật dạy cho hàng đệ tử tu tập để đi đến giác ngộ, giải thoát.

2- Ứng tụng (Gaya) : Sự (truyền tụng) ghi lại lời Đức Phật dạy theo thể tản văn.

3- Kệ tụng (Gàthà) : Sự (truyền tụng) ghi lại lời Đức Phật dạy theo thể thơ, kệ.

4- Như thị ngữ (Itivuttaka) : Sự ghi chép lại những điều được nghe từ Đức Phật nói, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong Tiểu Bộ kinh, tập IV, HT.Thích Minh Châu đã ghi chú về ý nghĩa của "Như thị ngữ" như sau :

"...Sở dĩ được gọi là "Itivuttaka : Thuyết như vậy", là vì phần lớn các kinh này đều bắt đầu với câu : "Đây là điều đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A la hán nói đến và tôi đã được nghe", và được kết luận với câu : "Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe". Và (theo truyền thống), trong tập sớ của Dhammapàda nói rằng, có một nữ cư sĩ tên là Khujjyuttarà, nàng thường ngồi sau bức màn để nghe mọi khi Đức Phật thuyết pháp ; và do đó, đã trở thành bậc đa văn - thông tuệ. Về sau, Vua Udena đã mời nàng nói lại giáo pháp và nàng đã được Đức Phật khen ngợi là đa văn đệ nhất.

5- Bổn sanh (Jàtaka) : Sự ghi chép lại chuyện tiền thân của Đức Phật theo lời Đức Phật kể.

6- Vị tằng Hữu (Adbhutahdarma) : Sự ghi chép lại những sự việc hy hữu (hiếm có) trong đời, như chuyện các Đức Phật quá khứ v.v... do Đức Phật kể lại.

7- Cảm hứng Ngữ (Udana) - còn gọi là kinh Phật tự thuyết hay Vô vấn tự thuyết : Sự ghi chép lại những điều do Đức Phật tự nói ra trong những nhân duyên (trường hợp) đặc biệt.

8- Phương quảng (Vaipulya) : Sự ghi chép lại những cuộc thảo luận của các vị Thánh đệ tử được Đức Phật xác nhận là phù hợp với Phật ý, chánh pháp.

9- Giải thuyết (Upadisa) : Sự ghi chép lại những điều luận giải về chánh pháp của Đức Phật và các bậc A la hán.

Cách phân loại này xác thực hơn so với các thể tài. Tuy nhiên, như đã đề cập, sự phân loại thể tài thuyết giáo của Phật chỉ mang ý nghĩa khái quát về mặt thể loại văn học. Như chúng ta biết, ngôn ngữ mang nhiệm vụ truyền tin, đặc biệt, ngôn ngữ Kinh tạng Phật giáo là những thông điệp mang đến sự giác ngộ, giải thoát cho nhân loại. Khi Đức Phật thuyết pháp, mục đích cuối cùng của Ngài là mong muốn cho mọi người được an vui, sống cùng giáo pháp, thực hành nó và tạo hạnh phúc trong đời người. Trong kinh Pháp Hoa, Phật ví giáo pháp của Ngài như một trận mưa, mà căn cơ của thính chúng là rừng cây; cây lớn hấp thụ nhiều nước, cây nhỏ hấp thụ nước ít hơn… Cũng như trong hàng thính chúng, giáo pháp thấm nhuần tâm tư mỗi người tuỳ theo căn cơ của họ. Vì thế, chúng ta cần tìm hiểu cách trình bày văn bản Kinh điển, sẽ thấy được Đức Phật là vị Giáo sư tâm lý học 

2.2.  CÁCH TRÌNH BÀY VĂN BẢN KINH ĐIỂN:

a) Lý do Đức Phật nói (Duyên khởi)

b) Địa điểm Đức Phật nói (không gian)

c) Thời gian Đức Phật nói (thời gian)

d) Đối tượng nghe Đức Phật nói (đối tượng)

e) Nội dung Đức Phật nói (giáo pháp).

Về cách trình bày một bản kinh, gồm có 3 phần :

- Phần Tựa : Giới thiệu về duyên khởi, không gian, thời gian, đối tượng và đầu mối vấn đề chính...

- Phần Chánh tông : Trình bày nội dung của giáo pháp. Cách trình bày cũng được đề cập theo thứ tự, như một, hai, ba, bốn... Tuy nhiên, trong phần này các Kinh được trình bày rất khác nhau, tùy theo từng loại sự việc mà tường thuật

- Phần Lưu thông : Trình bày sự kết thúc của buổi thuyết pháp... và sự xác chứng của Phật cũng như sự hoan hỷ thực hành hoặc sự chứng ngộ của đối tượng nghe pháp.

Cụ thể của cách trình bày bản kinh tiêu biểu

A.         Mở đầu:

         Duyên khởi Kinh

         Thời gian: ví dụ “Một thời bấy giờ…”ụ

         Không gian: ví dụ: “Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika…”

          Người nói – chủ thể: Đức Thế Tôn

          Nội dung thông điệp chính:

          Người nghe- đối tượng: hàng đệ tử xuất gia - tại gia

B.         Nội Dung Chính

          Vào đề

          Lý do của vấn đề

          Giải quyết Vấn đề

          Lời tán dương, thọ ký:

C.         Xác nhận

          Xác chứng của Phật:

Sự tỏ ngộ của đối tượng: ví dụ “Bạch Đức Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và chúng Tỷ kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng” [Kinh Trung Bộ]

Sự hoan hỷ của Đại chúng: “Thật vi diệu thay, bạch Đức Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người  bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích…” [Kinh Trung Bộ]

2.3. CÁC LOẠI HÌNH NGÔN NGỮ TRONG KINH TẠNG PHẬT GIÁO

Có thể nói, sự phân loại thể tài trong Kinh tạng Phật giáo chỉ là sự khái quát về mặt hình thức và mang tính ước lệ. Bởi lẽ, mỗi một thể tài khác nhau được sử dụng nhiều loại hình ngôn ngữ tương tự. Theo thực tế, có bao nhiêu tâm lý khác nhau, có bao nhiêu trình độ khác nhau, có bao nhiêu chiều hướng tư duy khác nhau, có bao nhiêu cảm xúc khác nhau… tuỳ theo sự tiếp nhận của đối tượng mà có bấy nhiêu ngôn ngữ khác nhau. Bởi ngôn ngữ là hình thức của tư duy, là phương tiện giao tiếp. Và do đó, tuỳ theo sự tư duy, tuỳ theo hoàn cảnh giao tiếp mà ngôn ngữ được thể hiện và sẽ biểu thị sự linh hoạt của nó.

Song, đặc trưng ngôn ngữ Phật giáo luôn dùng những mỹ từ pháp, ái ngữ để tiếp xúc với đối tượng nhằm mang lại sự an lạc, hạnh phúc cho mọi người. Với tiêu chí từ bi, trí tuệ, Đức Phật tránh dùng từ làm tổn thương người khác, Ngài chỉ nói những lời nói thích đáng, có lợi ích cho người, như đoạn kinh sau đây mô tả: “ Bất cứ lời nào, Đức Như Lai biết là không thật, không đúng, đưa đến tai hại, làm người khác buồn khổ không thích ý, Như Lai không nói lời ấy. Bất cứ lời nói nào, Như Lai biết là không thật, không đúng, đưa đến tai hại, nhưng dễ nghe và người khác ưa thích, Như Lai không nói lời ấy. Bất cứ lời nói nào, Như Lai biết là thật, là đúng, nhưng đưa đến tai hại, làm người khác buồn khổ không thích, Như Lai không nói lời ấy. Bất cứ lời nói nào, Như Lai biết là thật, là đúng, đưa đến lợi ích, nhưng khó nghe và làm cho người khác không  thích, Như Lai biết thời để nói lời ấy. Bất cứ lời nào, Như Lai biết là thật, là đúng, nhưng có hại, thì mặc dù vui tai và làm kẻ khác ưa thích, Như Lai không nói lời ấy. Lời nói nào, Như Lai biết là thật, là đúng, đưa đến lợi ích, dễ nghe, làm kẻ khác ưa thích, Như Lai biết thời để nói lên lời ấy”, “ có năm loại ngôn ngữ mà các người có thể dùng khi nói với người khác: đúng thời hay phi thời, chơn thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm” [ 2, 286 -287]

Và như vậy, ngôn ngữ Phật giáo chính là Tâm ngữ vì nó xuất phát từ tâm từ bi vô cùng của Đức Phật nên các loại hình ngôn ngữ Phật giáo cũng theo tiêu chí đó. Một cách khái quát, có thể đề cập đến một số loại hình ngôn ngữ được diễn đạt trong Kinh tạng như: Ngôn ngữ ẩn dụ, thí dụ; Ngôn ngữ biểu tượng; Ngôn ngữ thiền định, tư duy…

2.3.1. Ngôn ngữ ẩn dụ và thí dụ

      2.3.1.1. ngôn ngữ ẩn dụ

Aăn dụ là biện pháp tu từ liên tưởng, so sánh ngầm, nghĩa là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau giữa khách thể A được định danh với  khách thể B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A. Ví dụ: trong truyện Kiều, Nguyễn Du viết:

“Giá đành trong nguyệt trên mây

Hoa sao hoa khéo đoạ đày bấy hoa”

Hoa B mang ý nghĩa ẩn dụ, chỉ người phụ nữ có nhan sắc A

 Đức Phật đã sử dụng ngôn ngữ ẩn dụ một cách thiện xảo nhằm nói lên sự đa dạng, phong phú của trạng thái tâm thức trong đời sống con người: lúc khổ đau, khi an lạc; lúc hư nguỵ, khi chân thật… đồng thời dùng nó để diễn tả, giới thiệu một cảnh giới giải thoát tự tâm khỏi mọi hệ luỵ cuộc đời.  Đời sống tâm thức con người chính là những cặp phạm trù đối lặp: mê - ngộ; sinh - diệt; còn - mất; có - không; tốt - xấu; yêu thương - thù hận; sinh - diệt; khổ đau - hạnh phúc; mong chờ - né tránh;……tất cả các yếu tố trên tuy khác biệt hoàn toàn nhưng là những cặp song sinh thường trực trong tâm thức. Nó không ồ ạt hiện ra bên ngoài mà lặng lẽ nằm trong tàng thức. Tuỳ theo trạng thái tâm thức mà những hạt giống này biểu hiện ra bên ngoài, trạng thái ấy lại tuỳ thuộc vào ý chí, khát vọng của chúng hữu tình. Có thể nói, kinh Dhammapada (Pháp Cú) là một bộ kinh dùng loại hình ngôn ngữ “ẩn dụ” và “thí dụ” hết sức đặc sắc. Như khi để phân biệt  sự trầm luân và giải thoát, giác ngộ, Đức Phật dùng ẩn dụ bờ này và bên kia bờ:

“Ít người giữa nhân loại,

Đến được bờ bên kia.

Còn số người còn lại,

Xuôi ngược chạy bờ này.” (PC 85)

  “Những ai hành trì pháp,

Theo chánh pháp khéo dạy,

Sẽ đến bờ bên kia,

Vượt ma lực khó thoát.” (PC 86)

Đức Phật còn ẩn dụ “ái” là người làm nhà, với “đòn tay”  là thân và “kèo cột” là phiền não. Những thứ ấy đã tạo nên “cái nhà”. Cái nhà ấy chính là thân người đầy phiền phức và rối rắm bởi những vật liệu xây nên ngôi nhà đã mang những tính chất ấy rồi:

“Lang thang bao kiếp sống,

Ta tìm nhưng chẳng gặp,

Người xây dựng nhà này,

Khổ thay phải tái sanh.

Ôi! người làm nhà kia,

Nay ta đã thấy ngươi!

Ngươi không làm nhà nữa,

Đòn tay ngươi bị gãy,

Kèo cột ngươi bị tan” (PC 153-154)

Lại nữa, Đức Phật còn dùng các hình ảnh “ dòng sông yêu thương” hay “36 dòng ái” để nói lên sức tuôn chảy mãnh liệt, bền bỉ của lòng yêu thương, ái dục:

“Dòng ái dục chảy khắp  

Như dây leo mọc tràn . (PC 340)

Ba mươi sáu dòng ái,

Trôi người đến khả ái,

Các tư tưởng tham ái,

Cuốn trôi người tà kiến. (PC 339)

Chính tham ái này đưa đến tái sinh, dòng ái này cuốn phăng con người vào dòng xoắn sanh tử bất tận, sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, con người không thể chận đứng dòng xoáy ấy. Vì thế mà các kinh gọi là sanh tử triền miên, trôi lăn. Cái khát vọng trở nên, trở thành của con người thật mãnh liệt. Phật dạy: “ Khi người ta hiểu tư niệm thực, người ta sẽ hiểu được ba hình thức khát ái”. Đó là dục ái, hữu ái, vô hữu ái. Hay nói khác hơn chính là  dục vọng, ý chí muốn sống, muốn tồn tại, muốn tái sinh, muốn trở thành, muốn tăng trưởng, muốn tích luỹ không ngừng. Đó là nguyên nhân phát sinh đau khổ. Dục vọng ấy nằm trong hành uẩn, một trong năm uẩn cấu tạo nên hình hài mới chúng sanh. Cái ý chí, nhu cầu hiện hữu ấy đã thúc đẩy dòng sông ái vận hành tương tục. Tu theo đạo Phật là phải vượt qua sông ái, vượt qua dòng thác sanh tử, trầm luân.

“Tỳ Kheo tát thuyền này.

Thuyền không nhẹ đi mau.

Trừ tham diệt sân hận,

Tất chứng đạt Niết Bàn. (PC 369)

“Đoạn năm, từ bỏ năm,

Tu tập năm tối thượng.

Tỳ kheo vượt năm ái.

Xứng danh vượt bộc lưu” ( PC 370)

2.3.1.2. Ngôn ngữ thí dụ

Ngôn ngữ “thí dụ” là ngôn ngữ diễn đạt về một hình ảnh cụ thể, một trường hợp cụ thể để minh hoạ cho vấn đề được nêu ra. Trong các thời thuyết giảng của Đức Phật đều có những thí dụ cụ thể để minh hoạ cho pháp môn tu tập của Ngài. Kinh tạng Phật giáo có thể là đặc trưng cho loại hình ngôn ngữ này bởi có quá nhiều “ví dụ” mà Đức Phật đã dùng được tóm lược thành bách dụ như Kinh Bách Dụ. Kinh Pháp Cú cũng là bản kinh nổi bật về ngôn ngữ thí dụ. Có những thí dụ dễ hiểu, gần gũi, có liên quan đến sự việc, hiện tượng có ảnh hưởng trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của con người như: người chăn bò, gậy gộc, hoa lài (vassika), vầng trăng, mây, muổng canh, ruộng vườn, cỏ, voi…

“ Với gậy người chăn bò.

Lùa bò ra bãi cỏ,

Cũng vậy, già và chết

Lùa người đến mệnh chung” (PC 135)

“Như hoa Vassikà,

Quăng bỏ cánh úa tàn;

Cũng vậy vị Tỳ kheo,

Hãy giải thoát tham sân. (PC 377)

“Cỏ làm hại ruộng vườn,

Tham (sân, si, dục…) 

làm hại người đời…”

( PC 356,357, 358,359)

“Tỳ kheo tuy tuổi nhỏ.

Siêng tu giáo pháp Phật,

Soi sáng thế gian này,

Như trăng thoát khỏi mây” ( PC 382)

Trong Kinh tạng Nikàya, đặc biệt là kinh Trung Bộ, Đức Phật đã sử dụng rất nhiều ngôn ngữ ẩn dụ để làm sáng tỏ điều mà Ngài cần đề cập, có thể đó là ẩn dụ liên quan đến loài vật, có thể đó là ẩn dụ liên quan đến sự việc, hiện tượng… để ẩn dụ cho đời sống Sa môn hạnh, phạm hạnh. Ví dụ Ngài đã dùng tiếng hống của Sư Tử – bậc Chúa Sơn Lâm-  để liên hệ đến giáo pháp của Ngài là: Mười lực của Như Lai, Bốn Vô uý và những đức thù thắng khác. Nhờ thành tựu những pháp trên, Như Lai tự nhận địa vị Ngưu Vương – rống tiếng Sư tử giữa các hội chúng và chuyển bánh xe pháp [2,161]. Khi nói về sự nguy hiểm của các “dục”, Đức Thế Tôn đã thuyết các “dục” giống như khúc xương, như miếng thịt, như bó đuốc cỏ khô, như hố than hừng, như giấc chiêm bao, như vật dụng cho mượn, như trái cây chín, như lò thịt, như gậy nhọn, như Rắn hai đầu, vui ít khổ nhiều, não nhiều, nguy hiểm càng nhiều hơn.  Để chỉ cho giáo pháp của Ngài là phương tiện chứ không phải là cứu cánh, Đức Phật dùng hình ảnh chiếc bè dùng để qua sông chứ không phải để thờ phượng, mang vác [2, 295] 

Phật cũng trả lời cho một câu đố của một vị Trời: có gò mối ban đêm phun khói, ngày chiếu sáng, một Bà La Môn bảo kẻ Trí hãy cầm gươm đào lên. Kẻ trí làm theo lời Bà La Môn, tuần tự đào lên  và lấy những vật sau đây: 1 Then cửa, một Con nhái, một cái chỉa, một cái lọc, một con rùa, một cái dao phay, một miếng thịt. Cuối cùng gặp một con Rắn hổ, Bà La Môn bảo kẻ trí hãy để yên con Rắn và đãnh lễ nó? Phật đã giải ẩn ngữ trên như sau: Gò Mối là thân tứ đại, đêm phun khói là suy nghĩ, ngày chiếu sáng là thực hiện những gì ban đêm đã suy nghĩ, Bà La Môn là Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Giác, kẻ trí là Tỳ kheo bậc hữu học, cây gươm là trí tuệ bậc thánh, đào là tinh tấn; tinh cần, then cửa là vô minh, đem then cửa lên là từ bỏ vô minh, con nhái là phẩn nộ hiềm hận, cái chỉa hai ngã là nghi hoặc, đồ lọc là 5 triền cái, con rùa là ngũ thủ uẩn,  dao phay là 5 dục trưởng dưỡng, miếng thịt là hỷ tham, đào lên có nghĩa là từ bỏ tất cả những thứ ấy, cuối cùng con Rắn hổ là vị đã diệt tận lậu hoặc, đang đảnh lễ [2, 323].

Phật còn dùng ví dụ những thợ bẫy nai để biểu thị cho Tỳ Kheo và những chướng ngại họ gặp phải trong khi nỗ lực thoát khỏi sự khống chế của Ma vương. Thợ săn nai đặt mồi ngon cho nai đến không phải vì thương bầy nai mà vì muốn hại, cũng như thế là cạm bẫy ngũ dục mà Thiên ma đặt để dụ người tu hành. Phật đưa ra hình ảnh 4 đàn Nai: Đàn thứ nhất tham ăn sa ngay vào mồi nên bị kẻ giăng bẫy tóm gọn, dụ cho những Sa môn, Bà la môn tham đắm ngũ dục thế gian, bị ác ma tóm. Đàn nai thứ hai tránh vào rừng sâu, thiếu cỏ nước một thời gian dài không chịu nổi, trở ra vì đói khát tham ăn, không canh chừng nên cũng sa vào cạm bẫy như đàn nai đầu, dụ cho những Sa Môn, Bà La Môn do tu khổ hạnh ép xác quá độ nên kiệt sức, không còn tinh tấn, do không còn tinh tấn, tâm giải thoát cũng bị kiệt quệ, họ cũng sa vào thế lực của ác ma như đàn đầu tiên. Đàn thứ ba rút kinh nghiệm làm một chỗ ẩn núp gần nơi giăng mồi để đến ăn một cách chừng mực rồi rút về ở ẩn, người giăng bẫy không bắt được đàn Nai, ra sức bao vây cuối cùng cũng tìm được nơi ẩn náu của chúng, dụ cho những Sa môn, Bà la môn không bị phóng dật theo Ngũ dục như hai đàn trước, nhưng lại có tà kiến về thế giới thường, vô thường, hữu biên vô biên, Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi chết..vv…tà kiến ấy ví như một chỗ nấp mà thợ săn có thể tìm thấy, như vậy họ cũng không thoát khỏi thế lực ác ma. Đến lượt bầy nai thứ tư, làm một chỗ nấp mà thợ săn không  thể đến được, đến ăn mồi vừa phải rồi rút đi an toàn, dụ cho Tỳ kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú 4 thiền, bốn định Vô sắc, diệt thọ tưởng, khiến ác ma không tìm thấy được đường đi lối về của mình vì vị ấy không còn tham đắm bất cứ gì trên đời [2, 343].

Kế tiếp, Phật dùng hình ảnh người thợ rừng theo dấu một con Voi lớn để giải thích làm cách nào để đệ tử đạt đến sự xác tín hoàn toàn đối với chân lý Ngài dạy      “ Vị Thánh đệ tử sau khi thực hành pháp, chứng Tứ Thiền, Tam Minh, vị ấy liễu tri: sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui đời sống này nữa”. Vị ấy kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, pháp được Thế Tôn khéo giảng, chúng Tăng khéo hành trì” [2, 391].

Để tiếp tục về ẩn dụ “Dấu chân voi” theo kinh Trung Bộ ghi lại, tôn giả Xá Lợi Phất đã khởi đầu bằng tuyên bố về Bốn Chân Lý. Bốn Chân Lý là pháp thiện lớn nhất trong tất cả thiện pháp như Dấu chân voi lớn nhất trong các dấu chân [2, 409].

Vương Tử Jayasena đến xin Sa Di Aciravata dạy lại cho mình pháp ông đã được nghe, theo đó một Tỳ kheo nhiệt tâm tinh cần có thể đắc Định. Sa di từ chối, nhưng trước sự van xin của Vương tử, Sa di bằng lòng nói pháp mà ông đã được nghe và học, nhưng Vương tử không hiểu ý nghĩa thì cũng không được hỏi, Vương tử bằng lòng. Sau khi Sa di nói pháp, Vương Tử bảo làm gì có chuyện một Tỳ kheo không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần lại có thể đắc định và Vương tử ra về. Sa di đến hầu Phật thuật lại mọi sự. Phật dạy dĩ nhiên vì Jayasena đang sống trong dục lạc, bị dục lạc nhai nghiến nên không thể hiểu những gì mà người cần phải xa lìa các dục mới hiểu được. Rồi Phật lấy ví dụ con voi chưa được thuần hoá không thể đạt đến địa vị chỉ có thể đạt bởi voi thuần; và ví dụ về người đang đứng trên núi tả phong cảnh trên đỉnh cho một kẻ đang đứng dưới chân núi, kẻ sau này vì bị ngọn núi che tầm mắt nên không thể thấy gì, sẽ cho rằng người trên đỉnh nói không thật. Cũng vậy Vương tử đối với Sa di như con voi rừng đối với voi đã luyện, như người đứng dưới chân núi với kẻ đứng trên đỉnh. Khi người ở dưới cũng leo lên đến đỉnh thì sẽ thấy như bạn mình đã thấy, hiểu mình đã bị chướng ngại nên không  thấy được. Nhưng chướng ngại của Vương tử còn nặng nề hơn nhiều, vì ông ta bị đống vô minh che khuất trong khi sống với dục lạc, làm sao có thể thấy những gì cần được thấy nhờ ly dục? Phật lại giảng rộng thêm về ẩn dụ luyện voi để ví với sự đào luyện một người từ địa vị  phàm phu đến chứng đắc quả vị thánh, như con voi rừng được điều phục bỏ những thói rừng rú, kham nhẫn với điều kiện khắc nghiệt trở thành voi được thuần hoá. Cũng vậy, một Tỳ kheo sau khi xuất gia từ bỏ gia đình , được Phật huấn luyện giữ giới, hộ trì căn, tiết độ ăn uống, chú tâm cảnh giác, gột sạch tâm khỏi  chướng ngại pháp, chánh niệm tỉnh giác trong các oai nghi, tu tập thiền định gột trừ 5 triền cái, quán tứ niệm xứ điều phục tham ưu, chứng tứ thiền, chứng quả Alahán. Vị Tỳ kheo ấy nhẫn chịu được sự nóng lạnh đói khát, từ bỏ tham, sân, si, xứng đáng sự lễ bái cúng dường của thế nhân, như con voi không được điều phục khi còn sống thì khi chết, nó sẽ đón nhận một cái chết không được điều phục bất kể con voi ấy trẻ hay già, một Tỳ kheo cũng vậy [3, 338 – 352]. 

 Các thí dụ trong Kinh tạng Nam truyền dễ hiểu đơn giản, gần gũi với sự việc hiện tượng trong đời sống sinh hoạt của con người. Ngược lại, các thí dụ trong Kinh tạng Bắc truyền triết lý, sâu xa, và hết sức thâm thuý uyên áo. Một khi độc giả đã quen với cách sử dụng các thí dụ trong hệ Kinh tạng Nam truyền mới có thể dần dần hiểu được ý chỉ của các thí dụ trong hệ Kinh tạng Bắc truyền, điển hình thí dụ trong kinh Pháp Hoa, nếu không có sự tìm hiểu, thâm nhập, thực nghiệm thì hành giả khó có thể nắm bắt được.

Trong Kinh Pháp Hoa có đến 9 Dụ:

1.   Dụ Nhà lửa ( phẩm Thí dụ thứ 3)

2.    Dụ Chàng Cùng tử ( phẩm Tín giải thứ 4)

3.    Dụ Cỏ thuốc ( phẩm Dược thảo dụ thứ 5)

4.    Dụ Hoá thành ( phẩm Hoá thành Dụ thứ 7)

5.     Dụ Cột Châu chéo áo ( phẩm Ngũ Bá Đệ tử Thọ ký thứ 8)

6.   Dụ Cao Nguyên đào giếng ( phẩm Pháp sư thứ 10 )

7.   Dụ Viên Minh Châu trong Búi Tóc ( phẩm An Lạc hạnh thứ 14 )

8.   Dụ Cha Trẻ Con Già ( phẩm Tùng Địa Dõng Xuất thứ 15 )