******Trang tiếng Việt  ******Thư Mục Tổng Quát ******Trang tiếng Anh ******

 

 

 

 

Luận văn tốt nghiệp

 

 

ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC NHÀ SỬ HỌC VỀ TRẦN THÁI TÔNG

Thích Nữ Như Tâm

 

 

PHẦN DẪN NHẬP

 1.  Lý Do Chọn Đề Tài Và Mục Đích Nghiên Cứu

Xuyên suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta tự hào với 4000 năm văn hiến, với truyền thống hào hùng cha truyền con nối, chống giặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi. Ngược dòng thời gian, từ đêm mờ quá khứ, ông cha ta đã đổ bao xương máu dựng xây đất nước, bằng vào khả năng trí tuệ của chính mình với một nền văn hóa dân tộc đầy tính tự chủ. Song song đó, Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III, trải qua bao biến thiên của lịch sử với nhiều triều đại khác nhau, lúc thịnh cũng như lúc suy, lúc thăng trầm lúc vinh nhục, nhưng Phật giáo Việt Nam vẫn luôn sát cánh cùng dân tộc. Trong khoảng thời gian đó Phật giáo ở giai đoạn thời Lý – Trần đã phát triển rực rỡ và đóng vai trò chủ đạo trong mọi sinh hoạt của Đại Việt lúc bấy giờ.

Từ những quan điểm nêu trên trong phạm vi bài viết này, người viết muốn đặt trọng tâm vào Phật giáo đời Trần. Đó là thời đại vàng son nhất, oanh liệt nhất và tồn tại sâu sắc nhất trong lòng dân tộc. Ảnh hưởng đó cho đến bây giờ vẫn còn lưu danh sử sách. Đặc biệt hơn cả, người viết muốn đề cập về nhân vật  Trần  Thái Tông – người đã khai sáng ra triều đại nhà Trần.

Ngày nay, lật lại những trang sử đầy uy danh hiển hách của thời Trần, chúng ta sẽ tìm thấy những ông vua kiêm Thiền Sư, những ông vua vô ngã vị tha xem ngai vàng như đôi giày rách. Những vị vua mà đạo đời dung hợp, điển hình như vua Trần Thái Tông. Vì quê hương, Ngài tốn bao công sức làm cho đất nước, dân tộc thịnh vượng hùng cường, chống cự với kẻ thù “khổng lồ” từ phương Bắc xâm lược. Vì muốn giải thoát nỗi buồn tử sanh cho bản thân, Ngài phải chân tu thực ngộ rồi từ đó dẫn dắt mọi người vào con đường viên dung siêu thế. Với phong cách của một bậc minh quân, với bản lĩnh của một thiền sư tiêu giao vạn vật, “ có cái nhìn thấu cả 6 cõi, tấm lòng thấu suốt cả nghìn đời”. Trần Thái Tông đã vạch ra phương châm: “ đạo đời dung hợp, biến đau thương thành hành động”, hoàn thành xuất sắc đời đạo lưỡng toàn ngay giữa trần gian đau khổ này, như câu thơ của một bậc tôn túc:

“Vai mình mang nặng quê hương,

Còn mang nặng cả nỗi buồn tử sanh”

            (Thích Phước Sơn)

Điều gì đã làm nên một Trần Thái Tông hoàn thành một sự nghiệp vĩ đại siêu xuất như thế? Đó là tư tưởng E.Hubbart nói: “ tư tưởng đẹp thì hành vi đẹp”. Huyền Trân trong đặc san văn hóa Phật giáo Việt Nam viết: “Đó là một người vừa có quyền lực vừa có đạo đức và kiến thức, là mẫu người trị nước lý tưởng theo quan niệm của Socrate và Platon là hai triết gia cổ đại Hy Lạp. Hai ông này mơ tưởng cho nước họ cũng như các nước khác một ông vua kiêm triết gia như thế, nhưng đâu có được”.

Chính những đặc điểm trên mà không ít các nhà sử học từ thời phong kiến đến thời hiện đại đã đánh giá về thân thế cuộc đời và sự nghiệp của vua Trần Thái Tông. Vấn đề chủ yếu ở đây, người viết chỉ muốn nghiên cứu và dẫn chuyển những ý kiến chung cũng như riêng của các sử gia nói về Trần Thái Tông. Nhằm mục đích khơi lại trong lòng người hồi ức về hoàn cảnh lịch sử của Phật giáo đời Trần nói chung và sự đóng góp lớn lao của nhân vật lịch sử Trần Thái Tông nói riêng.

2. Cơ Sở Tư Liệu

Nói đến thời Trần không thể không trân trọng nhắc đến công lao to lớn của người khai sáng ra triều Trần. Vua Trần Thái Tông – một mẫu người tuyệt vời mà con người thời đại nào cũng cảm thấy tự hào, hãnh diện cho dân tộc mình, tổ quốc mình đã sản sanh ra một con người như vậy.

Để tự khích lệ mình, và cũng để minh chứng giá trị thiết thực của giáo lý Phật giáo, đồng thời nêu lên công lao của chư tiền bối đã quên mình vì dân vì nước, nên tôi không ngần ngại chọn ngay đề tài này cho luận văn tốt nghiệp của mình. Trong luận văn này gồm 3 phần: Phần dẫn nhập – Phần nội dung – Phần kết luận.

            Phần dẫn nhập: Lý do và mục đích chọn đề tài nghiên cứu.

            Phần nội dung: gồm 2 chương

-           Chương I: Giới thiệu khái quát về triều Trần.

-           Chương II: Đánh giá của các nhà sử học.

Phần kết: nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề trong bài viết, đồng thời nêu lên ý nghĩa thực tiễn trong xã hội hiện nay.

Để hoàn thành luận văn này, người viết đã tham khảo những đánh giá của các nhà sử gia từ thời phong kiến đến hiện đại, đồng thời dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học lịch sử kết hợp với phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu v.v. . .

Qua khảo sát cho thấy, những tác phẩm sử học điều ít nhiều có đề cập đến thân thế, cuộc đời, công hạnh hành đạo, phụng sự dân tộc và sáng tác thơ văn của Trần Thái Tông.

Ngày nay, đàn hậu học chúng ta liệu có đủ trí tuệ để tiếp nối những trang sử oai hùng đó và thẩm định tư tưởng thấu triệt của một bậc vĩ nhân như Trần Thái Tông không? Dù thế nào đi nữa chúng ta phải cố gắng hết sức mình để báo đáp phần nào thâm ân chư vị tiền bối xa xưa trong muôn một.

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1:   KHÁI QUÁT VỀ TRIỀU TRẦN

 

1.1. Vài Nét Về Các Tác Phẩm Sử Học Viết Về Thời Trần

Như chúng ta đã biết, thời Trần là một trong những điểm son nổi bật nhất trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của lịch sử Đại Việt. Trong đó, Phật giáo là một yếu tố tích cực góp phần tạo dựng cho xã hội đời Trần thành tựu rực rỡ.

Xã hội đời Trần là một xã hội lý tưởng, thấm đượm tinh thần từ bi, bình đẳng, một xã hội được giáo dục bằng giáo lý Phật giáo mà các vua Trần xem đó là khuôn mẫu, là một chuẩn mực sống cho toàn dân. Điều này đã được minh chứng thực tế qua các tác phẩm sử học viết về thời Trần, đại khái như: Đại Việt Sử Lược (khuyết danh), trong đó từ trang 297à303; An Nam Chí Lược của Lê Tắc, từ trang 243à250; Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, trang 7à235; Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thì Sĩ, trang 192à334 … đều trình bày trọn vẹn một cách sinh động về triều đại nhà Trần. Ngày nay, nối tiếp những tác phẩm của các bậc tiền bối, những tác phẩm Việt ngữ gần đây như: Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang, Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam của Nguyễn Khắc Thuần … cũng minh chứng hùng hồn về thời Trần. Ngoài ra còn rất nhiều tác phẩm khác của những nhà văn, nhà thơ những nhà nghiên cứu Phật học Việt Nam như: GS Minh Chỉ, Lê Mạnh Thát đã có sự luận giải rộng thêm về những nhân vật đời Trần, điển hình như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông v.v. . .

Thời gian cứ trôi qua mãi, nhưng lịch sử thì vẫn tồn tại bất hủ với thời gian. Trong bản tiểu luận này, người viết xin được góp nhặt những nhận định, chú thích và giảng giải của các bậc tiền bối trong quá khứ và hiện tại. Thư mục chính là sử liệu của thời nhà Trần, liên quan đến nhân vật lịch sử Trần Thái Tông, một vị vua sáng lập triều Trần. Trong đó, tư liệu bao gồm các sử gia từ phong kiến, cận đại cho đến hiện đại như đã kể trên. và những tư liệu liên quan đến Phật giáo như:

             Toàn Tập Trần Thái Tông

            Thiền Học Trần Thái Tông

            Nghiên Cứu Về Thiền Uyển Tập Anh

            Lịch sử Phật Giáo Việt Nam

            Việt Nam Phật Giáo Sử Lược

            Đặc San Văn Hóa Trung Ương Và Một Số Tham Luận

Góp nhặt những tinh hoa quí giá ấy, người viết muốn xuyên suốt kết thành một chuổi dài lịch sử tư tưởng nho nhỏ cho tri thức thiển cận của chính mình. Biết rằng hành trang kiến thức thì mênh mông, vô tận, song cần phải được nghiên cứu, tập hợp những cái cho riêng mình. Mục đích góp phần nêu cao công hạnh của những bậc tiền nhân, đồng thời giúp cho những tiềm năng, tiềm lực của thế hệ mai sau học hỏi và tự hào với trang sử vàng son của dân tộc Việt Nam anh hùng mà chủ yếu thông qua triều đại nhà Trần. Đây chính là bổn phận, trách nhiệm của những người nghiên cứu Phật giáo Việt Nam và lịch sử dân tộc.

1.2.   Sơ Lược Về Lịch Sử Phật Giáo Thời Trần

Pascal nói: “ Con người là 1 cây sậy nhưng là cây sậy có tư duy”. Chính tư duy đúng đắn giúp cho con người trở nên thăng hoa và bất tử.

Văn học là cội nguồn của dân tộc. Dân tộc Việt Nam tự hào với lịch sử có bề dày 4000 năm văn hiến và khi nói đến văn hóa Việt Nam thì không ai không biết đến văn hóa thời Lý – Trần, hai triều đại huy hoàng của lịch sử Việt Nam được độc lập tự do sau hơn 1000 năm đô hộ của phương Bắc. Điều đáng ghi nhớ là tư tưởng chủ đạo cho nền văn hóa văn minh thời ấy chính là Phật giáo – nổi bật hơn hết trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước là công lao to lớn của Phật giáo đời Trần.

Đạo Phật sau 10 thế kỷ du nhập đã ăn sâu và bám rễ trong lòng dân tộc Việt Nam từ vua quan cho đến nhân dân. Đạo Phật đã tìm được chỗ đứng và điểm tựa vững chắc của mình. Sau một thời gian dài bản địa hóa, đất nước Việt Nam đã bắt đầu chuyển mình, tùy duyên và bất biến vươn lên hòa nhập với luồng tư tưởng văn hóa dân tộc đã kết tinh và cho ra đời những con người đặc sắc đời Trần. Đó chính là nhờ ảnh hưởng của đạo Phật.

Trong buổi đầu lập quốc, thời kỳ các vua Lý rất cần đến các thiền sư, không những họ cần đến các vị này để liên kết nhân tâm, mà còn cần đến học thức, công tác giáo dục, công tác ngoại giao và kế hoạch của những nhà sư nữa. Đến đời Trần, tình trạng này khác hẳn, các vua Trần chẳng những học rộng hiểu nhiều mà còn rất giỏi về đạo Phật, nên liên hệ giữa vua và các thiền sư không phải là để nhờ cậy về phương diện kế hoạch và công tác nữa. Các vị vua như: Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và Anh Tông đều có căn bản vững chắc về phật học. Mỗi cá nhân ở Phật giáo đời Trần đã thực sự bước vào con đường thể nghiệm, dấn thân nhập thế. Bối cảnh lịch sử Việt Nam lúc ấy là một quốc gia độc lập, tự chủ sau ngàn năm đô hộ. Dân tộc ta cần phải có những bước ngoặc lịch sử nhất định để xác dịnh nền tự chủ, tự cường của một đất nước. Vì thế, dân tộc Việt Nam sẵn sàng chống lại bất cứ sức mạnh nào muốn phá hoại nền hòa bình hạnh phúc của mình, và Phật giáo đời Trần đã thật sự tương ứng với nguyện vọng ấy, góp phần vĩ đại vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Chiến công còn ghi lại trong sử sách là 3 lần chiến thắng Nguyên Mông – một đạo quân được xem là mạnh nhất thời bấy giờ. Phật giáo đời Trần và nhân dân đã xây dựng một quốc gia an bình thịnh vượng, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc Việt Nam.

Thế cho nên, Phật giáo đời Trần là tập hợp toàn bộ tinh hoa của Phật giáo Việt Nam. Là người Việt Nam đồng thời là một tu sĩ Phật giáo, thật khó nói hết cảm xúc của mình khi đọc và viết lại những trang sử oai hùng của dân tộc, những thời đại hoàng kim của Phật giáo, khó mà tái tạo một cách hoàn toàn khuôn mặt của các vị vua đời Trần bởi tính chất kỳ diệu nơi đó …  vừa là vua vừa là thiền sư, và lại càng không thể nói hết được những trí tuệ siêu phàm, tuyệt vời nhưng thật gần gũi. Điển hình như vua Trần Thái Tông dù không đi tu mà xem “ngai vàng như chiếc giày rách bỏ đi lúc nào cũng được”. Trần Nhân Tông – ông vua đi tu trở thành sơ tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một thiền phái hoàn toàn mới và đích thực xuất phát từ Việt Nam. Tất cả những hình ảnh, khuôn mặt và bối cảnh ấy đối với tôi dù trải qua hàng ngàn năm mà dường như vẫn sống động, vẫn linh hoạt và âm vang ngay trong hiện tại, làm thế nào với sở học còn kém cõi, một ngòi bút thô thiển và mấy mươi trang giấy nhỏ mà nói hết được những đặc sắc của Phật giáo đời Trần. Đối diện với tư tưởng chủ đạo cho dòng sinh mệnh của dân tộc ở thế kỷ XII, XIII vĩ đại, tôi bỗng thấy mình thật nhỏ nhoi và tan biến. Nhưng như một hạt bụi, tôi xin được bay trong hư không để góp phần tạo thành vật chất, thế giới, như một hạt cát bé tí tôi xin nằm một góc cạnh nào đó để tạo ra sa mạc hùng vĩ, xin được hòa mình vào hai chữ “tùy duyên” của đạo Phật để nhắc nhở đôi nét về những điểm vàng son thật sự đã trở thành “bất biến” của Phật giáo đời Trần.

1.3. Vài Nét Về Trần Thái Tông

Trần Thái Tông tên húy là Trần Cảnh, con Trần Thừa, người ở làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường. Tổ tiên vốn là người tỉnh Phúc Kiến nước Trung Quốc. Đến đời ông tổ là Trần Kinh sang, ở nước ta. Trần Kinh sinh ra Trần Hấp, Trần Hấp sinh ra Trần Lý, Trần Lý sinh ra Trần Thừa, Trần Thừa sinh ra Trần Thái Tông. Vua là con thứ của Trần Thừa, mẹ họ Lê, sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần, Kiến Gia thứ 8 (1218).

Năm lên 8 tuổi, Trần cảnh được Lý Chiêu Thánh Hoàng Đế nhường ngôi đó là Trần Thái Tông, trở thành vị khai nguyên đời trần. Vì còn nhỏ tuổi nên mọi việc đều do thái sư Trần Thủ Độâ đảm trách.

Năm 1237, khi Trần Thái Tông 20 tuổi, Hoàng hậu Chiêu Thánh cũng đồng tuổi với ông, cả hai chưa có con để kịp bảo đảm cho gia đình thống trị, nên Trần Thái Tông bị chú họ là Trần Thủ Độ ép bỏ Chiêu Thánh để cưới Thuận Thiên, vợ của người anh ruột là Trần Liễu, Thuận Thiên cũng là chị ruột của Chiêu Thánh lúc ấy đang mang thai. Trần Thủ Độ bất chấp luân thường đạo lý cùng tình cảm riêng tư. Vì uy thế của Trần Thủ Độ quá mạnh, dù Trần Thái Tông không chấp nhận, phản đối nhưng vẫn vô hiệu quả. Trần Thái Tông đành giáng chiếu cho Chiêu Thánh xuống làm công chúa, lập Thuận Thiên lên làm Hoàng hậu. Vì quá bất mãn nên vào tháng giêng năm Bính Thân (1236) Trần Liễn dấy binh nổi loạn. Cuối cùng Trần Liễu thua cuộc, lòng tràn đầy uất hận. Tâm hồn cùa Trần Thái Tông thật buồn và chán nản, sự khổ đau tột cùng vì mất người mình yêu thương, lại nghịch lý lấy chị dâu làm vợ, sự buồn khổ này nhen nhúm mãi trong lòng, ông biết tỏ cùng ai. Không chịu đựng được nỗi oan khiên, nên vào lúc 10 giờ đêm mồng 3 tháng 4 năm 1236 (Bính Thân). Vua trốn lên núi Yên Tử, định bỏ ngai vàng xuất gia tìm đường giải thoát.

Khi đến chùa Hoa Yên, Ngài vào bái yết Đại Sa Môn Trúc Lâm. Theo Thiền Tông Chỉ Nam, với vẻ ung dung, mừng rỡ, Đại Sa Môn nói với Trần Thái Tông:

- “Lão tăng ở chốn núi rừng đã lâu ngày, xương khô, mặt gầy, chỉ có ăn rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước suối, quen vui với cảnh núi rừng, lòng nhẹ như đám mây nổi theo gió mà đến đây. Nay Bệ Hạ bỏ địa vị thân chủ, nghĩ đến cảnh quê mùa, núi rừng, hẳn là muốn tìm cầu gì mới khổ công đến đây!”

Lời thăm hỏi của Phù Vân Quốc Sư như khơi dậy trong lòng nhà vua nỗi buồn, nước mắt trào dâng, nghẹn ngào Trần Thái Tông thưa:

- “Trẫm còn thơ ấu đã sớm mất mẹ cùng cha, chơ vơ đứng giữa sĩ dân, không nơi nương tựa. Trẫm thấy sự nghiệp Đế Vương đời trước phế hưng không thường. Vì thế Trẫm vượt suối băng ngàn, đến đây chẳng cầu gì khác, chỉ muốn cầu thành Phật.”

Đại Sa Môn Phù Vân đáp:

- “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta, nếu tâm vắng lặng, trí tuệ xuất hiện. Chính đó là Phật. Nếu Bệ Hạ giác ngộ được tâm tức khắc thành Phật.”

Hay tin vua Thái Tông đã lên núi Yên Tử, Trần Thủ Độ đích thân dẫn các quan và xa giá đi đón Vua về kinh đô. Vua nói:

-           “Trẫm hãy còn thơ ấu, chưa đảm đang được việc trọng đại, Vua cha (Trần Thừa) lại vội từ trần, thành ra Trẫm sớm mất nơi nương tựa, không dám để nhơ nhuốc đến xã tắc.”

Thủ Độ nhiều lần cố mời và năn nỉ nhà Vua không được. Trần Thủ Độ ra lệnh các quan:

-           “Xa giá Vua ở đâu tức là triều đình ở đấy.”

Nói rồi, liền cắm cột giăng dây chia thành hàng ngũ ở trong núi, dựa theo kích thước cung vua ở kinh đô, bắt thợ xây dựng. Thấy tình thế không ổn, Đại Sa Môn Trúc Lâm tâu với vua:

-           “Xin Bệ Hạ sớm quay loan giá về kinh đô, không nên để họ làm hại đến núi rừng của đệ tử này.”

Ngài Trúc Lâm thân mật nắm lấy tay Vua năn nỉ tiếp:

- “Tâu Bệ Hạ, Phàm làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, và lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay ai ai cũng muốn Bệ Hạ trở về, Bệ Hạ không về coi sao được? Tuy nhiên, ngoài lo việc nước, việc dân, việc chính trị, Bệ Hạ chớ quên nghiên cứu giáo lý tham thiền.”

Qua lời khuyên của Đại Sa Môn Trúc Lâm, nhà Vua bất đắc dĩ phải trở về, trước tình cảnh này phải tính sao khi nước đang cần.

“Thời Trần, Đại Việt là một trong những quốc gia hùng cường, có uy danh lừng lẫy, ngoại xâm phải kinh sợ, lân bang phải kính nể. Thời Trần là thời của hàng loạt những nhân vật lịch sử sáng chói. Về chính trị thì có các vị vua sáng giá như: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông . . .” [21, 54]

Trần Thái Tông lên ngôi vua trong thời gian đầu, vì tuổi còn nhỏ không đủ sức quản lý triều đình. Thực quyền lúc bấy giờ trong tay Trần Thủ Độ và một số nhân vật khác của quý tộc họ Trần.

Năm 1230, nhà Trần đã cho biên soạn bộ Quốc Triều Thông Chế và coi đó là cơ sở khảo xét để xây dựng cơ chế hành chính cho triều đại mình. Cũng năm đó bộ Quốc Triều Thường Lễ ra đời.

Năm 1242, Trần Thái Tông tiến hành phân chia lại khu vực hành chính địa phương trong cả nước. Vào cuối thời Lý, nước ta có tất cả 24 lộ, nay nhà Trần cho hợp nhất các lộ nhỏ lại nên cả nước chỉ còn 12 lộ. Các đơn vị hành chánh chính thống thuộc lộ như: châu, huyện, cả xã cũng từng bước được củng cố. Trên hình thức, bộ máy hành chính của nhà Trần không khác bao nhiêu so với bộ máy hành chính thời Lý. Nhưng trong thực tế, trình độ tổ chức quy củ và chặt chẽ hơn nhiều. Nhà Vua nắm quyền lực tối cao, quyết định tất cả. Nhưng để tránh tình trạng vua còn nhỏ tuổi, nhà Trần đặt ra chế độ Thái thượng hoàng: Các vị vua thường truyền ngôi sớm cho con nhưng vẫn trông coi chính sự. Khác với thời Lý, tất cả các chức vụ cao cấp trong triều đình nhà Trần đều nằm trong tay các quý tộc tôn thất.

Về phương thức tuyển dụng quan lại, bên cạnh chế độ nhiệm tử vốn đã thịnh hành từ trước, nhà Trần cũng mở rộng chế độ khoa cử. Khoa cử thời Trần vì thế mà phát triển hơn thời Lý rất nhiều. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi dần về thành phần xuất thân của quan lại. Chế độ khoa cử cho phép những người không phải quý tộc nếu đỗ đạt vẫn tham gia guồng máy chính quyền. Tất nhiên là ở buổi đầu, phần lớn sĩ tử tham dự các kỳ thi cũng đều là con em các gia đình quyền quý.

Để thăng thưởng quan lại, nhà Trần đã cho áp dụng phép khảo công; nghĩa là xét thành tích để thăng hoặc giáng chức.

Năm 1246, Trần Thái Tông định lệ cứ 15 năm khảo công 1 lần. Trong khoảng 15 năm đó, nếu có chức nào bị khiếm khuyết thì cho người ở chức trên kiêm nhiệm hoặc cho người ở cấp dưới gần nhất được quyền đảm nhiệm. Về tổ chức quân đội, chủ yếu bao gồm cấm quân và quân các lộ. Ngoài 2 bộ phận chính nói trên còn có lực lượng vũ trang tư nhân, do quý tộc tự ý tuyển lựa, huấn luyện và chỉ huy gọi đó là quân Vương Hầu. Đồng thời, ở các làng xã, nhân dân cũng có lực lượng bán vũ trang do họ tổ chức, đó là các đội dân binh. Chính các đội dân binh này cũng đã từng có nhiều đóng góp lớn lao cho sự nghiệp giữ nước.

Vậy là sau sự kiện đêm mùng 3 tháng 4 năm Bính Thân (1236) vua Trần Thái Tông đã chính thức đứng ra nắm  quyền  điều hành đất nước. Nhà vua ban hành một loạt các biện pháp chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao và văn hóa xã hội, nhằm nâng cao tiềm lực chiến đấu và sẳn sàng chiến đấu của dân tộc, chuẩn bị đối phó với những biến động long trời lở đất đang xảy ra ở bên kia biên giới phía Bắc của Đại Việt do một đế quốc hùng mạnh đang ào ạt tiến về phương Nam, tiêu diệt những tàn dư cuối cùng của triều đại Tống. Và chúng ta không phải chờ đợi lâu để thấy đế quốc hùng mạnh này xuất hiện ở biên giới phía Bắc và ngang nhiên tiến quân vào đất nước Đại Việt, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ. Ấy là ngày 12 tháng 12 năm Đinh Tỵ, Nguyên Phong thứ 7, tức ngày 17 tháng giêng năm 1258 cuộc đọ sức giữa đế quốc Nguyên – Mông và quân dân Đại Việt chính thức bắt đầu. Cuối cùng thắng lợi đã thuộc về nhân dân Đại Việt dưới sự lãnh đạo thiên tài của vua Trần Thái Tông.

Chủ trương chung của nhà Trần trong việc xây dựng lực lượng vũ trang là: “Quân quý hồ tinh quý hồ đa” (nghĩa là quân cốt ở tinh nhuệ chứ không phải ở số lượng). Do đó những người không đỗ đạt nhưng có tài vẫn có thể cân nhắc trọng dụng.

Năm 1283, chuẩn bị chống ngoại xâm, vua Trần Thái Tông giao cho Trần Quốc Tuấn đốc suất hầu chiêu mộ binh lính, sắm sửa vũ khí tham gia kháng chiến. Trong cuộc duyệt binh lớn năm 1284 ở Vạn Kiếp chuẩn bị chống quân Nguyên, riêng quân địa phương của các hầu đã lên tới 20 vạn.

Trước khi xâm lược biên giới nước ta, tướng Mông Cổ (Ngột Lương Hợp Thai) nhiều lần cho sứ sang dụ hàng, vừa hù dọa vừa dụ dỗ triều đình nhà Trần. Nhưng Trần Thái Tông chẳng những không một chút hoang mang mà còn ra lệnh bắt sứ giả tống giam vào ngục tối, đồng thời đặt người dân cả nước trong tình trạng sẳn sàng chiến đấu.

Tháng 12 năm 1258, 3 vạn kỵ binh Mông Cổ đã men theo sông Hồng để tiến sâu vào nước ta. Ngay lập tức, chúng bị chặn đánh quyết liệt. Ngày 17 tháng 1 năm 1258, một trận ác chiến đã diễn ra tại Bình Lệ Nguyên, Trần Thái Tông trực tiếp chỉ huy quân đội Đại Việt trong trận đọ sức đầu tiên này.

 “Tháng 12 ngày12, tướng Nguyên Ngột Lương Hợp Đải (có sách phiên âm là Ngột Lương Hợp Thai) xâm phạm Bình Lệ Nguyên (nay là huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc)

Vua thân hành đốc chiến xông pha tên đạn. Quan quân hơi núng, vua ngoảnh trông tả hữu, chỉ có Lê Phụ Trần (tức Lê Tần) một mình một ngựa ra vào trận giặc,sắc mặt bình thản như không.” [8, 22]

Trước thế tấn công ào ạt của giặc, vua Trần đã kịp thời nhận được một ý kiến kiệt xuất của Lê Tần : “Nếu bây giờ bệ hạ làm như vậy thì chỉ như người dốt hết túi tiền cho một canh bạc mà thôi. Tôi tưởng hãy quên tạm lánh đi, không nên coi thường quân Mông Co.ă” [8, 22]

Ý kiến đó được Trần Thái Tông chấp thuận và cho quân tạm rút lui, thuyền về Phù Lỗ. “Kế hoạch vườn không nhà trống” cũng được thực hiện, việc rút lui tạm thời của quân ta và để ngỏ kinh thành làm cho một vài tướng lĩnh dao động. Trần Nhật Hiệu khuyên vua nên hàng Tống, nhưng ý chí quyết chiến vẫn thắng, tiêu biểu là câu nói của thái sư  Trần Thủ Độ: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo.”

Giặc hùng hổ tràn vào Thăng Long, nhưng không tiêu diệt được đối phương lại đóng binh ở nơi vườn không nhà trống, chổ yếu hiểm nhất của quân xâm lăng bộc lộ rõ rệt và ngày một sâu sắc: Chúng thiếu lương thực.

Đúng vào lúc khốn quẫn nhất, giặc bị ta ồ ạt phản công. Trận đánh quyết liệt đã diễn ra tại khu vực Đông Bộ Đầu vào ngày 29 tháng1 năm 1258, quân ta đánh bật chúng ra khỏi thành Thăng Long, giặc buộc phải quay ngựa chạy tháo thân về Vân Nam. Trên đường rút lui, quân Mông Cổ không còn hồn vía, để nghĩ đến việc cướp bóc, đốt phá. Người dân địa phương đã mỉa mai gọi chúng là “Giặc Phật”

Vua Trần Thái Tông đã lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ I. Đó là những năm Nguyên Phong oanh liệt của đời ông (1251 – 1258) được đánh dấu bằng những thành tựu vĩ đại trong xây dựng đất nước cũng như những chiến công hiển hách chống ngoại xâm.

Đánh đuổi quân giặc ra khỏi đất nước, trăm họ yên vui, thái bình như cũ. Tháng 2 ngày 24, vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho Hoàng Thái Tử Hoảng – tức vua Trần Thánh Tông, rồi lên làm Thái Thượng Hoàng cùng trông coi chính sự. Sau đó ông trở về với đạo, quyết tâm từ bỏ ngai vàng như “trút bỏ một đôi giày rách”, từ bỏ mọi vinh hoa, phú quý của bậc vương giả để vào núi ăn chay niệm Phật.

Từ đó, ông để hết tâm lực vào nghiên cứu đạo thiền, viết nhiều sách để giúp mọi người hiểu đạo và thực hành đạo. Ông đã viết những tác phẩm Phật giáo như: Thiền Tông Chỉ Nam, Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, Kim Cương Tam Muội Kinh Chú Giải, Bình Đẵng Lễ Sám Văn, Khóa Hư Lục v.v. . .

Ngày mồng 1, tháng 4 năm Đinh Sửu (1277), Thượng hoàng Trần Thái Tông băng hà, thọ 60 tuổi.

Trần Thái Tông đã để lại cho đời tấm gương sáng của một ông vua đã hết lòng làm tròn trách nhiệm đối với đời cũng như đối với đạo. Ngay giữa lòng xã hội phong kiến, ông hiện ra như một mẫu người hoàn mỹ mà muôn đời sau thế nhân còn ngưỡng mộ – hình thành và phát huy tối đa năng lực bản thân để cống hiến và tô điểm cho đời, cho đạo, cho dân và cho đất nước.

 

 

Chương 2:   ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC NHÀ SỬ HỌC

2.1. Đánh Giá Của Các Sử Gia Phong Kiến

 

Trong bất cứ thời đại nào, quốc gia nào, con người bao giờ cũng là nhân tố cực kỳ quan trọng trên mọi lĩnh vực trong xã hội. Quan trọng hơn cả, cái được xem là tinh thần của thời đại chính là hình ảnh con người tự tin, hào hùng, phóng khoáng và trong sáng mà đời sau khó gặp lại, dù trình độ văn minh có ngày càng cao hơn. Ngay giữa lòng xã hội phong kiến, những mẫu người tuyệt vời mà muôn đời sau thế nhân vẫn ngưỡng mộ – đã hình thành và phát huy tối đa năng lực bản thân để cống hiến và tô điểm cho đời, cho dân và cho đất nước.

Trong cuộc trường chinh dựng nước và giữ nước, những sự kiện lịch sử bao giờ cũng gắn liền với những nhân vật lịch sử, nói đến thắng lợi cần phải nhắc tới những con người làm nên lịch sử đó. Những anh hùng muôn đời nằm xuống vì dân tộc, các nhà lãnh đạo kỳ tài xuất chúng, những ông vua trí tuệ siêu phàm xuất chúng nhưng giản dị như Trần Thái Tông – một ông vua thiền sư đời đạo lưỡng toàn – người đã khai sáng ra triều đại nhà Trần, một điểm son quá khứ mà dân tộc ta muôn đời còn hãnh diện.

Vì lẽ đó, mà các nhà sử học từ cổ chí kim đã không ngừng ca ngợi tôn vinh về con người này. Ở đây người viết chỉ nhằm mục đích nêu lên những đánh giá của các sử gia viết về Trần Thái Tông.

Trần Thái Tông là người đã khai sáng ra một triều đại oanh liệt của dân tộc, một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự tài ba của đất nước. Ông đã cùng với Trần Thủ Độ đặt nền móng cho sự ra đời của triều đại nhà Trần, mở đầu một giai đoạn lịch sử vẻ vang với những chiến công hiển hách của dân tộc. Điều này qua mấy trăm năm lịch sử đã được đánh giá và khẳng định.

Cuộc đời Trần Thái Tông được nhiều sử sách ghi lại, mà khởi đầu là bộ Đại Việt Sử Lược đã viết như sau:

“Thái Tông tên Trần Cảnh, con Trần Thừa, người ở làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường. Tổ tiên vốn là người tỉnh Phúc Kiến nước Trung Quốc. Đến đời ông tổ là Trần Kinh sang ở nước Nam ta. Trần Kinh sinh ra Trần Hấp, Trần Hấp sinh ra Trần Lý, Trần Lý sinh ra Trần Thừa và Trần Thừa sinh ra vua Thái Tông.

Thái Tông nhận ngôi vua của Chiêu vương ở ngôi vua 33 năm, làm Thái Thượng Hoàng 19 năm, hưởng thọ 60 tuổi.” [31, 297]

Như chúng ta đã biết, Trần Thái Tông là con tinh thần của Trần Thủ Độ, do một tay Thủ độ gầy dựng, săn sóc. Từ thuở ấu thơ mới vừa lên bảy tám, Thủ Độ đã thận trọng lắm khi chọn lựa trong các con của Trần Thừa để lấy người con thứ là Trần Bồ tức Cảnh sau khi đã xem tướng kĩ càng biết có thể gánh vác được nghiệp lớn.

 “Mỗi khi nghĩ đến tìm người hiền lương quân tử tính đi tính lại một mình, duy chỉ thấy được có Trần Cảnh, có văn có chất rực rỡ, thật có cái thể cách hiền lương, uy nghi đường hoàng tài kiêm văn lẫn võ.” [11, 185]

Sử gia Lê Tắc, cũng viết về Trần Cảnh rằng:

“Con giữa của Thái Tổ tính tình khoan dung, thông tuệ, văn võ toàn tài, lấy tư cách con rể nhà Lý kế vị Quốc Vương…”

Thế nên, việc lên ngôi của vua Trần Thái Tông, nhà sử học Ngô Sĩ Liên viết như sau:

“Thái Tông Hoàng đế họ Trần, tên húy là Cảnh, trước tên là Bồ, làm Chi hậu chính triều Lý, được Chiêu Hoàng nhường ngôi, ở ngôi 33 năm (1226-1258), nhường ngôi 19 năm thọ 60 tuổi (1218-1277) băng ở cung Vạn Thọ, táng ở Chiêu Lăng. Vua khoan nhân đại độ có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập kỷ dựng cương, chế độ nhà Trần thực to lớn vậy. Song quy họach việc nước đều do Trần Thủ Độ làm và chốn buồng the cũng có nhiều điều hổ thẹn.” [8,7]

Sử gia Ngô Thời Sĩ tuy nặng về luân lý Nho giáo, nhưng khi luận về lịch sử Trần Thái Tông cũng viết:

“Mấy năm đầu vua Thái Tông có tính dâm  tà đều do Thủ Độ xui bảo cả, đến mấy năm sau để ý học vấn, tấn tới nhiều, lại càng nghiên cứu cái học nội tâm, có làm ra sách “Khóa Hư Lục” mến cảnh sơn lâm, coi sinh tử như nhau, tuy ý hơi giống đạo Phật không hư, nhưng mà chí thì khoáng đạt, sâu xa cho nên bỏ ngôi báu coi như trút giày rách thôi.” [11, 184]

Nói về dòng dõi và tuổi trẻ của vua Trần Thái Tông, các bộ sử của ta cụ thể như: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Đại Việt Sử Lược, Việt sử Tiêu Án, Khâm Định việt Sử Thông Giám Cương Mục… đều thống nhất chép lại, không có gì thêm bớt mới lạ.

Thế nên, có nhiều người cho rằng vua Trần Thái Tông lên ngôi nhằm để thỏa mãn ước vọng và yêu cầu của một tập đoàn đang đại diện cho quyền lợi đi lên của dân tộc, chứ bản thân vua Trần Thái Tông không trực tiếp tham gia vào quyết định ấy. Dẫu sao đi nữa, tình thế đưa đẩy đã tạo cơ hội cho sự xuất hiện một nhân vật sẽ trở thành một anh hùng dân tộc, một nhà lãnh đạo chính trị đa tài của một giai đọan lịch sử nước nhà.

Vai trò của vua Trần Thái Tông trong 10 năm đầu ở ngôi cho đến lúc 18 tuổi, đúng theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã ghi nhận, với mọi chính sách và chiến lược quốc gia phần lớn đều do Trần Thủ Độ quyết định hoàn toàn. Đặc biệt khi vua đã lớn, cụ thể là sự kiện đêm mùng 3 tháng 4 năm Bính Thân. Sự kiện  này liên hệ đến việc vua Trần Thái Tông phải lấy chị dâu của mình là công chúa Thuận Thiên lúc ấy đang có thai với anh ruột mình là Trần Liễu. Thủ độ cùng Thiên Cực công chúa mưu riêng với nhà vua nên nhận liều lấy để có lợi về sau, vì thế mới đem Lý thị vào ở cung. Trần Liễu tức giận, tụ tập nhiều người ở sông Cái, nổi loạn. Sự việc này Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục - Quyển thứ VI - trang 457 ghi rất rõ.

Sử gia Phan Phu Tiên nói: “Tam cương ngũ thường là luân lý lớn của loài người. Thái Tông là ông vua khai sáng cơ nghiệp, đáng lẽ phải dựng phép tắc để truyền lại cho đời sau, lại nghe mưu gian của Thủ Độ, cướp vợ của anh làm hoàng hậu, chẳng phải là bỏ cái luân thường, mở mối dâm loạn đó ư? Liễu từ đó sinh ra hiềm khích, cả gan làm loạn, là do Thái Tông nuôi nên tội ác cho Liễu vậy. Có người bảo Thái Tông không giết anh thế là nhân, nhưng tôi thì cho rằng cướp vợ của anh,tội ác đã rõ ràng, không giết anh là vì lẽ trời chưa mất mà thôi, sau gọi đó là nhân? Xét ra sau này Trần Dụ Tông dâm loạn làm càn chưa hẳn không do Thái Tông đầu têu vậy.” [32, 459]

Và sử thần Ngô Sĩ Liên cũng nói: “Thái Tông mạo con của anh là con mình. Sau này Dụ Tông và Hiến Từ đều cho Nhật Lễ làm con của Cung Túc Vương, đến nỗi cơ nghiệp nhà Trần suýt nữa bị sụp đổ, há chẳng phải là không có ngọn nguồn của nó sao?” [8,17]

Vì việc này nhà vua áy náy không yên, ban đêm âm thầm rời khỏi thành, lên núi Yên Tử vào chùa của Phù Vân Quốc Sư ẩn dật, nhưng sự việc không thành, cuối cùng phải quay trở về hoàng cung theo ý Trần Thủ Độ.

Tuy nhiên, bắt đầu từ thời điểm ấy, vua Trần Thái Tông tự mình làm chủ và ấn định mọi việc của bản thân cũng như của triều đình. Chàng thanh niên 20 tuổi đang ngồi trên ngai vàng lộng lẫy mà phải chịu sự dày vò, ray rứt thâu đêm, nhiều nỗi khổ tâm đã thúc đẩy ông đến với đạo Phật để tìm sự an lạc, giải thoát cho tự thân.

Lần đầu đến tham kiến với Thiền Sư Trúc Lâm, Thái Tông nói:

- “ Trẫm còn thơ ấu, đã sớm mất me cha,ỉ chơ vơ đứng trên sĩ dân, không có nơi nào để nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường cho nên mới vào đây chỉ muốn cầu thành Phật, chứ chẳng muốn tìm gì khác.”

Câu nói này chứng tỏ sự tìm cầu học đạo của Thái Tông xuất phát từ sự cảm nhận sâu xa cái lẽ biến dịch vô thường của trần thế, cái huyễn ảo của kiếp nhân sanh. Đây không phải là sự trốn chạy mang theo lòng phẫn uất, bất mãn với triều chính, mà sự ra đi đêm ấy của Thái Tông như là sự lìa cành của một quả chín, nổi uẩn khúc kia chỉ là một tăng thượng duyên làm đậm thêm xu hướng thoát trần của bậc thượng sĩ. Dĩ nhiên, không thể nào trong thoáng chốc hoa liền kết trái, mà hạt giống bồ đề đã nẩy mầm trong vườn thượng uyển từ rất lâu. Trong bài tựa quyển Thiềân Tông Chỉ Nam, Thái Tông viết: “ Thuở Trẫm còn niên thiếu, có chút ít hiểu biết, vừa nghe lời dạy của Thiềân Sư  thì tâm bỗng dưng thanh tịnh, nên để tâm nơi nội giáo, tham cứu Thiền Tông, dốc lòng tìm thấy chí thành mộ đạo. Tuy ý hồi hương đã nảy mầm mà cơ cảm xúc chưa thấu suốt.”

Thái Tông vì  thấu rõ chơn lý của Phật, ông có sáng tác nhiều tác phẩm văn học Phật giáo, hiện chỉ còn:

            Tựa Kim Cang Tam Muội Chú Giải

            Thiền Tông Chỉ Nam Tựa (1 bài tựa)

            Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi

            Bình Đẳng Lễ Sám Văn

            Khóa Hư Lục

            Thái Tông Thi Tập

Vấn đề là nó quý ở chỗ vua chúa mà chứa đựng đạo lý nên viết được những tác phẩm thấm nhuần giáo lý thâm uyên của Phật Đà, một giáo lý mà người bình thường khó có thể lãnh hội được.

Với thời gian trên 10 năm, vua Thái Tông ngự ở trên ngai vàng, vừa lo cho quốc gia, vừa lo nghiên cứu và tu tập thật xứng đáng cho người viết sử ghi chép lại đức hạnh của Ngài.

Trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên nói:

“ Năm Kiến Hưng thứ 7 (1231) Thái Tông sắc cho nhân gian phải vẽ hình Phật ở các nơi như công quán hay các chỗ hội họp.

Mặc dù nghiên cứu Phật học, thâm tình mang nặng giáo lý đạo Phật, những ông vẫn tôn trọng Khổng và Lão giáo. Năm thiên ứng Chính Bình thứ 16 (1247), vua cho mở khoa thi tam giáo. Năm Nguyên Phong thứ 6 (1256), vua sắc đúc 330 quả chuông.” [23, 87]

Suốt cả đời trọn 60 tuổi,vua Trần Thái Tông đã làm bao nhiêu điều mà nhân dân và đất nước cần, để rồi công hạnh của Ngài sử sách còn lưu lại cho đến ngày nay. Nối tiếp những sử gia phong kiến, sử gia cận đại cũng tiếp tục cuộc hành trình lịch sử, để tìm hiểu và đánh giá qua cuộc đời của các bậc tiền nhân nói chung và của Trần Thái Tông nói riêng.

2.2.       Đánh Giá Của Các Sử Gia Cận Đại

Cuộc thay đổi triều đại, chuyển chính quyền từ dòng họ Lý sang họ Trần diễn ra trong hoàng cung và triều đình mà hầu như không có tác động gì xáo trộn xã hội, không một ảnh hưởng gì lan xa. Tập đoàn quí tộc họ Trần rất khôn khéo, dần dần từng bước vững chắc và cuối cùng nắm giữ chính quyền nhanh gọn. Cả họ Lý bị suy yếu, tê liệt, không một phản ứng gì đáng kể.

Nối tiếp đời Lý, ngay sau khi ra đời, nhà Trần đã nhanh chóng khắc phục những hậu quả do cuộc khủng hoảng cuối đời Lý gây ra, bắt tay ngay vào công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh. Khuyến khích nông dân khai hoang, chăm lo việc trị thủy, theo đuổi tư tưởng “khoan thử sức dân”… Những chính sách đó đã có tác dụng thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển. Lại thêm biết chăm lo đến việc xây dựng pháp luật, giữ gìn trật tự an ninh xã hội, chăm lo đến việc học hành và thi cử, nên đất nước mau chóng đạt đến sự thịnh trị. Đặc biệt do biết đến đoàn kết toàn dân, phát huy đến cao độ lòng yêu nước, tinh thần kiên quyết chống giặc ngoại xâm của dân chúng và có sự tổ chức, chỉ đạo kháng chiến một cách khôn khéo, tài tình, đã dẫn đến những chiến công  hiển hách: 3 lần chiến thắng quân Mông – Nguyên xâm lược, bảo vệ vững chắc nền độc lập của đất nước.

Công lao to lớn đó phải kể đến vua Trần Thái Tông, Người mở nghiệp nhà Trần. Tuy nhiên, trong những tháng năm vua còn nhỏ tuổi, Trần Thủ Độ quán xuyến mọi việc. Sử cũ ghi Thủ Độ tuy không có học vấn nhưng tài lược hơn người, làm quan triều Lý được mọi người suy tôn. Thái Tông lấy được thiên hạ đều là mưu sức của Thủ Độ cả, cho nên nước nhà phải nhờ cậy, quyền hơn cả vua. Vì khi đặt Thái Tông lên làm vua chỉ mới được 8 tuổi, việc quân, quốc chánh tập quyền đều ở nơi tay Thái sư Trần Thủ Độ.

“Thủ Độ cho Trần Cảnh ngày đêm chơi đùa với Chiêu Hoàng, được Chiêu Hoàng mến lắm. Một hôm Thủ Độ đem hết gia thuộc thân thích vào cung cấm, bắt đóng hết cửa thành không cho các quan vào chầu, rồi cho biến báo cái tin Chiêu Hoàng kết hôn với Trần Cảnh. Khi các quan vào triều bái tạ thì Thủ Độ thác chiếu của Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Bấy giờ là tháng 1 năm 1225. Thế là nhà Lý đã vì những cuộc nổi dậy của nông dân mà suy sụp, họ Trần đã lợi dụng cơ hội ấy mà cướp lấy ngôi vua, để khôi phục quyền lực và tiếp tục phát triển cơ nghiệp của nhà nước phong kiến tự chủ.” [1, 218]

Trần Thái Tông là vị vua đầu tiên của nhà Trần. Vua khoan dung, nhân từ, đại độ có lượng của bậc đế vương cho nên có thể khai sáng nghiệp lớn để lại thống truyền, lập ra kỷ cương phép tắc, hình thành một chế độ nhà Trần vĩ đại, nếu cuộc đời Trần Thái Tông hoàn toàn vừa lòng hạnh phúc với ngôi vị thì chắc chắn trong cuộc sống vương giả không thể nào đưa ông đến với đạo Phật. Tất cả những ngòi bút viết về lịch sử đời Trần đều nói đến nổi khổ đau, bất lực và dằn vặn nội tâm của tuổi trẻ Trần Thái Tông.

“Để đảm bảo dòng dõi nhà Trần, thấy Chiêu Hoàng đã 19 tuổi mà chưa có con, Thủ Độ bắt Trần Cảnh hạ Chiêu Hoàng làm công chúa và cướp lấy vợ của Trần Liễu là chị ruột của Chiêu Hoàng, tức Thuận Thiên công chúa, đã có mang sẳn. Muốn giữ cho đại quí tộc là rường cột của nhà nước phong kiến được thuần nhất và để ngăn ngừa nạn ngoại thích cướp ngôi, Thủ Độ đặt lệ phàm người tôn thất nhà Trần phải kết hôn lẫn nhau. Cơ sở tinh thần của chế độ phong kiến là nho giáo, nhưng giai cấp quí tộc chỉ dùng nho giáo để buộc chặt bọn thần hạ và nhân dân vào trật tự phong kiến, còn chính họ khi cần bảo vệ quyền vị thì dù những điều loạn luân bại lý, trái ngược nho giáo họ cũng làm bừa.” [1, 220]

Việc “Di hoa tiếp mộc” này thực sự cổ kim chưa hề có, vì thế đã gây nên nhiều sự bất mãn cho sĩ phu đương thời vốn nặng đầu óc với nền luân lý Khổng – Mạnh. Sự kiên này thực sự đã làm chấn động mãnh liệt đối với tâm lý của ông vua trẻ không ít. Một vị vua mà không có quyền hành, ngay cả quyền quyết định cho đời sống hạnh phúc cá nhân của mình, mặc dù đây là sự mong muốn của Trần Thủ Độ cần ông có con để bảo đảm cho sự liên tục của dòng dõi gia đình thống trị.

“Làm loạn luân như thế, thì tự thượng cổ mới có là một. Trần Liễu tức giận, đem quân làm loạn. Vua Thái Tông bị Thủ Độ hiếp chế như thế, trong bụng cũng không yên, đến đêm trốn ra lên ở chùa Phù Vân, trên núi Yên Tử (huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên). Trần Thủ Độ biết tin ấy, đem quần thần đi đón Thái Tông về. Thái Tông không chịu về, nói rằng: “Trẫm còn nhỏ dại, không kham nổi việc to lớn, các quan nên chọn người khác để cho khỏi nhục xã tắc”. Thủ Độ nói mãi không nghe, ngoảnh lại bảo bách quan rằng: “Hoàng thượng ở đâu là triều đình ở đấy!”. Nói đoạn, truyền sắp sửa xây cung điện ở chùa Phù Vân. Quốc sư ở chùa ấy thấy thế, vào van lạy Thái Tông về triều; Thái Tông bất đắc dĩ truyền xa giá về kinh.” [5,126]

Không thể chịu đựng được sự ức chế của tâm lý, sự đau khổ dằn vặt của nội tâm, ông vua trẻ vào 10 giờ đêm ngày mùng 3 tháng 4 năm 1236, đã bỏ ngai vàng ra đi tìm đến núi Yên Tử để tham kiến Quốc sư Trúc Lâm. Điều đáng nói nhất là khi tìm về đạo Phật, thái độ nhìn về nhân tình thế thái của Trần Thái Tông rất bi quan nếu không nói rằng quá đau khổ, mẫu đối thoại đầu tiên của vua với Quốc sư đã nói lên điều đó. “.... Trẫm còn thơ ấu đã sớm mất mẹ cha, chơ vơ đứng trên sĩ dân không có nơi nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường, cho nên Trẫm mới vào đây chỉ muốn cầu thành Phật, chứ chẳng muốn tìm cầu gì khác.”

Đứng trên lập trường nhân chủ của một nước, vua không thể từ bỏ sĩ dân khi nhiệm vụ chưa hoàn thành và Thủ Độ sẳn sàng lập kinh đô thành quách ở Yên Tử. Vì thế, ông phải quay về triều nhưng chắc chắn tư duy đã hoàn toàn đổi mới, khác hẳn tâm tư đau khổ lúc đăng sơn. Sự khai thị về trí tuệ phản tỉnh của Quốc sư đã ảnh hưởng đậm nét trong đời sống, hành động và trước tác của ông về sau.

“Mùa xuân năm Mậu Ngọ (1258), Thái Tông nhường ngôi cho thái tử là Trần Hoảng để dạy bảo mọi việc về cách trị nước, và để phòng ngày sau anh em không tranh nhau. Triều đình tôn Thái Tông lên làm Thái thượng hoàng để cùng coi việc nước.

Thái tông trị vì được 33 năm, làm Thái thượng hoàng được 19 năm thì mất, thọ 60 tuổi.” [5, 133]

Nhìn chung, thật khó mà tìm được trong lịch sử các triều đại phong kiến một ông vua sống giữa cung vàng điện ngọc mà không hưởng lạc thú giữa các phi tần cung nữ, sắc tửu cầm ca, lại chí thú lo cho dân cho nước. Một ông vua mà an trụ pháp vô ngã giữa triều đình thì làm sao nước nhà không được thái bình và vững mạnh. Cho nên sức mạnh của đời Trần là sức mạnh của đạo đức hướng dẫn bằng trí tuệ do vị vua đầu tiên thực hiện.

2.3. Đánh Giá Của Các Sử Gia Hiện Đại

Lịch sử đã sang trang và thời gian đã trôi qua gần mười thế kỷ, con người hôm nay ở thế kỷ 21 bàn về con người quá khứ của đời Trần không phải chỉ để ca ngợi hay phê phán mà còn phải nhận được cái lõi hiện thực của con người đời Trần. Mặc dù thời gian vô thường đã bao lần thay đổi, nhưng giá trị hiện thực sinh động vẫn châu lưu trong không gian vô tận và thời gian vô cùng. Điều cần thiết là chúng ta phải nhận xét được cái gì là tinh hoa, là tư tưởng chủ đạo của mỗi con người trong thời đại đó để kế thừa và phát huy sự nghiệp của các bậc tiền bối hữu công đã làm thạnh hưng “Đạo pháp và dân tộc”. Đặc sắc tiêu biểu đó, người viết muốn tôn vinh ở đây là Trần Thái Tông – vị hoàng đế đầu tiên của triều Trần.

“Năm 1224, bệnh điên của Lý Huệ Tông trở nên trầm trọng. Do không có con trai, Lý Huệ Tông buộc phải truyền ngôi cho con gái thứ hai là Lý Phật Kim lúc ấy mới 6 tuổi, Lý Huệ Tông bỏ triều đình đi tu. Cơ hội họ Trần mong đợi từ lâu đã đến. Do sự bố trí của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh (con vua Trần Thừa, lúc này mới 6 tuổi) đã được tuyển vào cung để phục dịch cho Lý Phật Kim (tức Lý Chiêu Hoàng). Cuối tháng chạp năm Ất Dậu (1225), cũng do sự bố trí của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng kết hôn cùng Trần Cảnh rồi nhường ngôi cho Trần Cảnh.

Trần Cảnh lên ngôi, đó chính là Trần Thái Tông (1226 – 1258), Hoàng đế đầu tiên của triều Trần. Địa vị lịch sử của họ Lý đượckhẳng định từ năm 1010, trải hơn hai thế kỷ, đến đây bị xóa bỏ bởi họ Trần. Họ Trần chiếm giữ vũ đài chính trị của nước nhà từ năm 1226 (tính theo dương lịch) và kéo dài đến năm 1400 mới bị lật đổ.” [19, 156-157]

Trần Thái Tông được vợ (Lý Chiêu Hoàng) nhường ngôi cho từ năm ông mới tám tuổi. Trong gần mười năm đầu làm vua, nhờ được cha là Trần Thừa làm Thượng hoàng nhiếp chính, ông có điều kiện trau dồi văn võ, học tập chính trị, quân sự, học cách cai trị nhân dân và bảo vệ đất nước. Đặc biệt ông để nhiều tâm trí nghiên cứu đạo Phật. Được nghe các Thiền sư thường lui tới trong triều thuyết giảng, ông càng thêm thấm thía nghĩa lý uyên thâm của đạo Phật và càng thấy mình có thể lúc nào cũng sẳn sàng thoát sang cửa thiền. Trong bài viết tựa cuốn Thiền Tông Chỉ Nam của ông, ông đã viết:

“Vả Trẫm lúc tuổi nhỏ mới biết, nghe thoáng thầy thiền dạy bảo thì ý lắng nghe hết lo, trong sạch chút ít