******Trang tiếng Việt  ******Thư Mục Tổng Quát ******Trang tiếng Anh ******

 

 

 

 

Luận văn tốt nghiệp

 

MỐI QUAN HỆ THẦY VÀ TRÒ TRONG PHẬT GIÁO

Thích Nữ Đồng Quảng

 

A - DẪN NHẬP

- Lý do chọn đề tài

Ngày xưa, do chịu ảnh hưởng nền giáo dục của  Nho giáo nên người Việt Nam ta rất coi trọng tư tưởng tôn Sư trọng đạo, cho dù vị Thầy ấy là thầy dạy nghề hay là thầy dạy chữ thì vị trí của người Thầy cũng rất được tôn kính chỉ đứng thứ hai sau nhà Vua, trên cả Cha Mẹ theo tinh thần Quân-Sư-Phụ. Vào các dịp lễ tết trong năm học trò luôn đến nhà thăm viếng kính lễ thầy để bày tỏ một chút lòng biết ơn đối với người đã giúp cho mình những hành trang cần thiết để bước vào đời một cách vững chải và tự tin.

Ngày nay, xã hội văn minh ngày càng đổi mới, con người được hưởng thụ vật chất đầy đủ các tiện nghi hiện đại, nhưng về mặt đạo đức của một con người thì ngày càng suy thoái, cho nên trong xã hội nảy sinh ra những cảnh tượng điên đảo rối ren, con thì bất hiếu với cha, mẹ; trò thì lừa thầy phản bạn; bạn bè thì chen vai hất cẳng, cấu xé, tàn hại lẫn nhau không chút nhân tình, không chút xót thương, tất cả cũng chỉ vì chút bả lợi danh mà họ đánh mất đi lương tri vốn có của một con người. Gẫm nhân tình thế đạo ấy, lòng người không khỏi chán ngán lo buồn khi nghĩ đến quốc hồn, quốc tuý của dân tộc Việt Nam với đạo nghĩa Thầy trò, bằng hữu đương lâm vào tình trạng hấp hối chỉ còn chút hơi tàn mà e rằng rồi đây cũng phải tắt lịm như bóng nắng hoàng hôn..

Đối với người con Phật, ngoài tình thầy trò ở ngoài đời, chúng ta còn có cảm nhận sâu sắc ân nghĩa Thầy dạy đạo. Cha, mẹ và thầy giáo thế học có công nuôi dưỡng thân xác, đào tạo và nâng cao trình độ kiến thức cho ta, nhưng đó chỉ là thân ngũ uẩn sanh diệt và tri kiến thế gian. Còn thầy dạy đạo dìu dắt hướng dẫn ta phương pháp tu học để thoát khổ, thoát ly sanh tử, trao cho ta Giới thân Tuệ mạng bất sanh bất diệt, trưởng dưỡng hạnh lành nâng bước cho ta dự vào hàng Thánh. Công ơn ấy ngẫm ra còn nặng gấp bao lần những ân tình ân nghĩa nói trên. Hơn thế nữa, đối với những vị xuất gia, rời khỏi gia đình, từ bỏ những trói buộc của thế gian, phát nguyện sống đời phạm hạnh, chí tâm cầu giải thoát thì ngôi chùa chính là gia đình, Thầy tổ chính là cha mẹ.

Người sơ tâm xuất gia, bước đầu gia nhập thiền môn, bắt đầu một cuộc sống mới, hoàn cảnh môi trường hoàn toàn mới lạ so với cuộc sống thế tục thì cũng không ít khó khăn, phải thức khuya dậy sớm, phải tuân thủ những thanh quy nghiêm ngặt của thiền môn, nhưng những điều đó cũng không khó bằng phải sữa đổi tâm tánh. Bởi vì nói “tu hành” “TU” tức là sửa đổi những điều sai quấy “HÀNH” tức là làm những việc đáng làm. Quá trình tu tập không chỉ tính bằng một ngày, một tháng, một năm hay nhiều năm mà là cả một chiều dài thời gian. Vượt qua những thử thách gian khổ của những ngày tập sự, hành điệu từng bước, từng bước một bước lên từng cấp bậc để thọ lãnh giới pháp mà hành trì, cho đến khi được thọ giới Tỳ kheo mới chính thức được đứng vào hàng Tăng bảo.

Tục ngữ có câu: “dạy con từ thuở còn thơ” hoặc: “nên tre nhờ uốn thuở còn măng”. Cho nên trong suốt quá trình tu tập đó vị thầy luôn luôn kề cận, quan sát người đệ tử trong từng hơi thở, trong từng suy nghĩ, từng bước đi để dìu dắt, để hướng dẫn người học trò không đi lệch hướng. Ngoài việc dạy dỗ, rèn luyện đức hạnh người Thầy có lúc ân cần dịu dàng như người mẹ hiền ấp ủ cho chúng ta đỡ những lúc gió sương, vỗ về an ủi khi vấp ngã, lỗi lầm, săn sóc từng giấc ngủ bữa ăn, quan tâm đến những vui buồn của chúng ta trong cuộc sống. Có khi cũng cứng rắn, nghiêm khắc như người cha, che chở cho ta những lúc bão giông, rầy la quở phạt khi chúng ta sai lầm, ương bướng, khi ta bước thấp bước cao gập ghềnh nghiêng ngã. Nhưng dù ở hình thức nào thì cũng đều phát xuất từ tấm lòng thương tưởng của vị Thầy dành trọn vẹn cho những người học trò. Mong mỏi chúng ta trưởng thành để khỏi phụ cái chí hướng ban đầu mà chính chúng ta tự chọn. Vì vậy, Thầy tổ đối với ta nghĩa cao như núi tình sâu như đại dương, ân nghĩa ấy chúng ta lấy gì đền đáp? Người xưa nói: “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” nghĩa là “một chữ là thầy, nữa chữ cũng là thầy”, huống chi Thầy đã cho ta giới thân tuệ mạng, trọn vẹn một ân tình.

Mới hay:           “Ân giáo dưỡng một đời nên huệ mạng

Nghĩa ân sư muôn kiếp khó đáp đền”

Tóm lại, với cha mẹ thì có mối quan hệ huyết thống, giữa thầy trò luôn có mối quan hệ khắng khít về tâm linh.Vị Thầy ân cần khuyên bảo quan tâm đến trò, thì người trò sẽ như được gắn thêm đôi cánh, có thêm sức mạnh để bay cao hơn, xa hơn vào bầu trời trí tuệ. Đồng thời người trò cũng có bổn phận chăm sóc sức khoẻ, đỡ đần những công việc cần thiết trong khả năng của mình mà không bao giờ câu nệ sự khó nhọc, toan tính, so đo, từ những công việc nặng nhọc cho đến những công việc nhẹ nhàng như dâng thầy ly nước, đỡ nón, cất y khi Thầy đi đâu về, trông ngóng thầy khi thầy có việc phải đi xa… chút ít như thế cũng khiến thầy mình cảm thấy vui vẻ và dũ sạch được những mệt mỏi sau những chặng đường dài.

Cảm nhận được ân nghĩa sâu dày của thầy tổ đó chính là lý do để con chọn đề tài này, dù nét bút còn thô sơ, suy nghĩ còn thiển cận, những lòng mong mỏi tha thiết với lòng tri ân và muốn báo đáp ân dày. Con xin hướng về mười phương Tam Bảo, đê đầu đảnh lễ các vị ân sư, thiện hữu tri thức cùng với các bậc quyến thuộc bồ đề. Những gì quý ngài đã vun vén, sách tấn, động viên, khuyến khích hướng dẫn và cũng không loại trừ những lời quở trách khi con phạm sai lầm những điều đó cũng không ngoài mục đích muốn con nên người, đi đúng con đường mình chọn và tìm được pháp lạc trong cuộc sống của người xuất gia.

- Phương pháp luận và phạm vi đề tài.

Trong luận văn này người viết sử dụng phương pháp qui nạp, diễn dịch, dẫn chứng, giải thích và chứng minh… nhằm mục đích lột tả được cốt yếu của mối quan hệ giưã Thầy và Trò trong Phật giáo.

Dẫu biết rằng Phật pháp thì vô biên, công hạnh của đức Thế tôn thì vô lượng. Vì vậy trong phạm vi hạn hẹp này. Người viết xin giới hạn nghiên cứu qua bộ Nikàya, các bộ luật thông dụng và góp nhặt những lời dạy của đức Thế tôn bàng bạc trong các kinh để minh chứng cho vấn đề cần bàn đến. Ngoài ra còn trích dẫn một sốn những lời hay ý đẹp của chư vị Tổ sư để cho tập luận văn này được phong phú hơn.

Hôm nay những gì con có được chính là công ơn lớn lao của Thầy tổ, con biết làm sao để báo đáp thâm ân này!!!  Bởi lẽ “Ân sư chí trọng, cổ đức nan thù” cho dù con có cố gắng làm được chút gì thì cũng như đem muối bỏ xuống đại dương. Vì vậy thâm ân kia con xin ghi lòng, nguyên trọn đời đi trên con đường chánh pháp, ngõ hầu đền đáp công ơn thầy tổ trong muôn một.

Qua đây con xin thành kính gởi đến hết thảy bằng hữu, cộng sự tu hành những hành giả đang trên đường tầm cầu sự giải thoát. Chư huynh đệ! hãy nên biết quý trọng nâng niu những gì mình đang có, hãy biết tôn trọng những gì mình đã được, cho dù sông có cạn núi có mòn thì tấm lòng tri ân đối với thầy tổ trong con không thay đổi.

B - NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ QUAN HỆ THẦY TRÒ.

Trong bất cứ xã hội nào, cương vị của người thầy luôn luôn giữ một vị trí quan trọng. Ở gia đình cha mẹ nuôi dưỡng con cái thì ở trường người thầy có trách nhiệm giáo dục học trò truyền trao những kiến thức, kinh nghiệm, phát huy những kỹ năng sẵn có, người học trò nhờ đó mà có một hành trang vững chắc để tự tin mà bước vào đời.

Vì vậy, nói đến quan hệ thầy trò tức là đề cập đến hệ thống giáo dục. Giáo dục ở đây cũng chính là một hiện tượng của xã hội, một hiện tượng xã hội đặc biệt của con người. “con người được tiến bộ nhờ lao động. Do lao động mà ý niệm xã hội được hình thành và xã hội được thành lập, phát triển càng lúc càng đa dạng. Kinh tế và văn hoá của con người bao gồm những sinh hoạt vật chất và tâm linh. Những chuyển biến, những tiến bộ trong đời sống liên tục qua nhiều thế hệ hiển nhiên là do sự truyền thọ, do kế thừa và do giáo dục đào tạo”. [22-3]

Như thế, nhờ giáo dục mà văn minh và văn hoá của con người tiến bộ và phát triển khác hẳn so với loài vật. Giáo dục đã xuất hiện trong xã hội loài người từ hàng ngàn năm trước, ý nghĩa tập Áo Nghĩa Thư (Upanishad) của Bà-la-môn giáo trong Ấn Độ cổ đại cho thấy hình ảnh “ngồi dưới chân thầy” để nghe thầy giảng về Tự ngã. Qua thời Hy lạp cổ đại, các trường học đã mở cửa, các triết gia, các nhà khoa học thâu nhận học trò thành một hệ thống có tổ chức rất quy mô. Ở Trung Hoa Khổng Tử có 3.000 học trò, cùng thời với Socrates ở Hy Lạp.

Cho nên, nói đến giáo dục là nói đến việc dạy việc truyền thọ, kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng của người dạy truyền cho người học. Ở đây “Giáo” nghĩa là ra lệnh, khiến cho. “Dục” là nuôi lớn làm cho trưởng thành. Theo Từ điển Từ Hải “Giáo” tức là người trên làm gì thì người dưới bắt chước làm theo; “Giáo” nghĩa là dạy dỗ lấy những gì mình biết được mà truyền thọ cho người. Lại nữa, giáo dục là giúp loài người phát triển và thích ứng với những tác động của thế giới, làm cho thế giới càng ngày càng tiến hoá, khiến cho đi đúng con đường gọi là “Giáo” làm cho lớn thêm một cách tự nhiên gọi là “Dục”.

Tựu trung, theo ý nghĩa khái quát: “giáo dục nghĩa là truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng chuyên môn, hướng dẫn tư duy, tình cảm, nếp sống để được thọ nhận, phát triển theo chiều hướng tốt đẹp, thích nghi với xã hội và thiên nhiên”. [22-10]

Như vậy, nói đến giáo dục là đề cập đến mối quan hệ giữa thầy và trò. Hình ảnh người thầy luôn là biểu tượng cao quý, đáng được kính trọng. Những người làm thầy cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giáo dục, trực tiếp truyền trao tất cả kiến thức, kinh nghiệm của mình cho học trò, âm thầm lặng lẽ đi sớm về trưa, lặng lẽ bên ngọn đèn khuya! Người học trò từ khi được truyền từ tay mẹ qua tay thầy, ngay bài học đầu tiên, qua các âm điệu, lời thơ, tiếng nhạc, qua ca dao tục ngữ đã hình dung được bóng hình của núi sông, cảm nhận được chân trời rộng mở để nối gót cha ông.

Người xưa có câu: “muốn sang thì bắt cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”. Không những người học trò yêu kính thầy giáo của mình mà cả đối với các bậc phụ huynh cũng xem thầy là bậc đại ân nhân của gia đình của dòng họ. Bởi thế, học trò khi thi đậu, khi thành danh người đầu tiên mà họ nghĩ đến chính là công ơn người Thầy vì nhờ thầy mà mình mới có được công danh, địa vị trong xã hội. Đây chính là nét đẹp văn hoá “uống nước nhớ nguồn”  trong nền giáo dục.

Mục tiêu giáo dục là luôn hướng đến đào tạo cho mỗi cá nhân thành tài có ích cho xã hội. Sự đào tạo không phải trong khoảng khắc mà thành tựu, phải trải qua từng giai đoạn, dưới sự huấn luyện của thầy, từ những nét chữ nguệch ngoạc cho đến khi có nét bút rắn rỏi là lúc có thể hiểu được, nhận thức được lời hay ý đẹp, tiếp thu được vô vàn kiến thức từ người thầy: Bác Hồ cũng từng nói: “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì ích nước trăm năm trồng người” với khuynh hướng này, đòi hỏi sự nhiệt tình của người thầy và sự nỗ lực của học trò. Cho nên trong thầy luôn có mặt của học trò và ngược lại, chính vì thế mối quan hệ giữa thầy và trò luôn có sợi dây vô hình gắn chặt với nhau.

Từ mối quan hệ này người thầy chẳng những chỉ truyền trao kiến thức mà còn kiêm cả việc trau dồi đạo đức  và cách đối nhân xử thế cho phù hợp với môi trường và xã hội. Trong hệ thống giáo dục có 3 nghĩa chính là đầy đủ về Trí dục, Đức dục và Mỹ dục.

Trí dục là sự phát huy về kiến thức không ngừng học hỏi nghiên cứu dựa vào kiến thức chung biến nó thành trí hiểu biết của riêng mình. Người có trình độ kiến thức sẽ có địa vị, vị trí tương xứng trong xã hội. Ngược lại ngưòi không có trình độ học vấn, sẽ không có kiến thức cho bản thân và xã hội. Cổ đức nói: 玉不琢不成器,人不學不知道。Nghĩa là “ngọc có mài dũa mới thành đồ quý, người có học mới có thể biết được đạo lý”. Vì vậy muốn xã hội ngày một phát triển đòi hỏi mỗi cá nhân phải có trình độ, không ngừng học hỏi ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến trong lá thư gởi cho thiếu nhi cả nước “…Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn nhờ công lao học tập của các cháu…”. Và nhờ những kiến thức căn bản mới có thể phát huy sâu và rộng hơn. Những căn bản này người học trò được huân tập từ nơi thầy. Cho nên nói: “không thầy đố mày làm nên” chính là muốn nhấn mạnh sự có mặt của người Thầy rất quan trọng trên con đường đi lên của học trò. Mặt khác, ngoài giá trị về sự truyền trao kiến thức mà mình có, người thầy còn luôn kích động vào tâm trí học trò, khai mở tiềm năng của từng cá nhân. Henri Frederic Amich nói: “chức năng cao nhất của người thầy không phải là truyền đạt kiến thức mà là khuyến khích học sinh yêu kiến thức và mưu cầu kiến thức”. Nhờ sự kích động vào tâm thức, khiến học trò luôn muốn học hỏi những điều mới lạ phía trước, hướng đến một mục tiêu đúng đắn…

Đức dục đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội, đặc biệt là trong giáo dục. Người học trò từ nơi người Thầy được trau dồi đạo đức. Điều căn bản nhất là sự khiêm cung, lễ phép đối với mọi người, ta thấy hầu như ở các ngôi trường đều có câu khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” được bày trí ở nơi trang trọng nhất, mỗi ngày các em đến trường điều đầu tiên dễ nhìn thấy nhất. Điều này chứng minh cho ta thấy ở môi trường giáo dục thì đạo đức vẫn luôn được coi trọng và đề cao. Trong một xã hội thu nhỏ đó là gia đình, với ông bà cha mẹ phải hiếu thảo, với anh chị em phải biết kính nhường.Ngoài xã hội với bạn bè nên quan tâm giúp đỡ, thương kính tất cả mọi người. Mạnh Tử nói:愛人者人恆愛之,敬人者人恆敬之

 “yêu người thì người yêu lại, kính người thì người kính lại” [14 – 49] Thế nên người học trò khi thành tựu sự nghiệp phải được huân đúc đầy đủ 2 mặt kiến thức và đạo đức hay nói cách khác tài và đức phải song song. Nếu người chỉ dụng kiến thức thì chưa đủ để phục vụ xã hội và đem lại lợi ích thật sự cho xã hội.

Cho nên ngài Minh Giáo Tung đời nhà Tống dạy Đệ tử:尊莫尊乎道,美莫美乎德,

道德之所存, 雖匹夫非窮也, 道德之所不存雖王天下非通也。Nghĩa là: “cao quý không gì cao quý bằng Đạo, đẹp không gì đẹp bằng Đức, đạo đức mà còn, tuy làm kẻ thất phu cũng không khốn đốn, đạo đức không còn, tuy làm vua trong thiên hạ cũng không thông”[24-301].Vì vậy, người có đạo đức là người có nhân cách, nhân cách được xây dựng qua mỗi cá nhân dựa trên hành động, lời nói và ý nghĩ: 無為其所無為,無谷其所不谷,如此而已矣。“Người có nhân cách chính là người không làm những việc không đáng làm, không muốn những việc không nên muốn, đạo đức ở con người như thế mà thôi” [14-15].

Nói chung, một xã hội dù nền văn minh có phát triển đến mức độ nào chăng đi nữa thì nó cũng chỉ dừng lại ở giá trị vật chất, còn duy trì được nền giáo dục đạo đức thì đó mới chính là giá trị tinh thần. Sự tồn vong của một quốc gia, ở mỗi dân tộc có thể được xác định trên cơ sở đạo đức. Vì đạo đức chính là tính nhân bản trong mỗi con người cá nhân cũng như con người xã hội Trong Cổ văn Quan chỉ có đoạn: “…Vua nước Sở hỏi làm sao mà dời được 9 cái đỉnh đồng này?” trả lời “nhờ ở đức vậy!” có nghĩa là 9 cái đỉnh đồng kia là biểu tượng của quốc gia nếu đỉnh bị mất tức nước vong, người nào có đức cao thì có được vậy!. Cho nên biết, trong sự nghiệp giáo dục thì vấn đề đạo đức không thể thiếu và cũng không thể xem nhẹ được. Học trò vốn được trau dồi nhân cách từ khi ngồi ở ghế nhà trường đó chính là “tiên học lễ, hậu học văn” . Muốn có một nền tảng vững chắc, bằng kiến thức, tư duy được tích luỹ từng ngày, từng tháng, từng năm cùng với phong cách mô phạm mà ta được học ở chính bản thân người thầy thì người học trò đó chắc chắn sẽ trở thành người hữu ích cho bản thân và xã hội.

Bên cạnh Trí dục và Đức dục là hai lãnh vực quan trọng thì cũng từ nơi nhà trường người học trò còn phải nhận thức được những nét đẹp trong cuộc sống đó là Mỹ dục. Mỹ dục là nói đến cái đẹp, có những cái đẹp có tính thực thể những cũng có những cái đẹp mang tính chất trừu tượng, nét đẹp của tâm linh, của người có nhân cách, có nếp sống cao thượng, hài hoà với tất cả mọi người, có cuộc sống thích hợp với thiên nhiên và xã hội.xứng đáng với nhân cách của một con người.

Xã hội càng ngày càng văn minh và có nhiều chuyển biến mới thì mỗi cá nhân cũng không ngừng học hỏi để bắt kịp với nhịp thở của thời đại, để có một ý chí mạnh mẽ, một quan điểm sống lành mạnh để có thể vượt qua những chặng đường khó khăn mà đạt đến mục đích của mình “có chí thì nên” người xưa đã có kinh nghiệm thế mà! Các bậc Thánh Hiền cũng đã từng dạy học trò mình: “điều gì chưa học thì phải học, học mà chưa biết thì phải học nữa. Điều gì chưa hỏi thì phải hỏi, hỏi mà chưa biết thì phải hỏi nữa. Điều gì chưa xét thì phải xét, xét mà chưa tỏ thì phải xét nữa. Điều gì chưa làm thì phải làm, làm mà chưa rõ thì phải làm nữa. Người ta chịu khó một mình phải chịu khó trăm; người ta chịu khó mười thì mình chịu khó nghìn. Nếu được như vậy thì kẻ ngu cũng sáng, kẻ yếu cũng mạnh”[14-57].

Tóm lại, theo các nhà Xã hội học nghiên cứu cho rằng mỗi cá nhân phải trải qua 3 giai đoạn: trẻ em – gia đình; học sinh – nhà trường; trưởng thành – xã hội. Trong đó môi trường trường học là một thiết chế xã hội, ở đây cung cấp cho học sinh những tri thức, những kỹ năng để giải quyết những mối quan hệ xã hội. Điều này có thể hiểu rằng ở gia đình trẻ em có thể đọc thuộc lòng câu “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” nhưng thật sự thì bản thân chúng chưa hiểu hết được ý nghĩa của câu ca dao đó. Khi đến trường nhờ sự dạy dỗ, phân tích của thầy, cô chúng mới hiểu được hết ý nghĩa của lời ca ngợi đó, nhờ đó các em sẽ sống tốt hơn với gia đình với xã hội. Ta thấy rằng quan hệ giữa thầy và trò hết sức quan trọng, nó có khả năng hình thành một nhân cách một con người đủ tài đức để phục vụ cho đất nước cho loài người ngày một phát triển theo một chiều hướng tốt nhất.

Trải qua bao thế hệ, đất nước có nhiều thay đổi nhưng hình ảnh của người thầy vẫn không hề thay đổi, tre già thì măng mọc từng thế hệ nối tiếp nhau làm đẹp cho đời. Người làm giáo dục thường được ví von như người đưa đò – Người đưa đò suốt cả cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp giáo dục đào tạo những lớp người đi qua mà không quản khó nhọc cho riêng mình.

Mới hay:            “Người đưa đò suốt đời chở khách                       

            Trên con sông đưa lớp lớp người qua

            Chợt một hôm soi mình mặt nước

            Thấy mái đầu đã tuyết pha sương”

                        [15-65]

Nói tóm lại, mục đích chính của giáo dục là sự truyền thụ và đào tạo một con người có đạo đức có kiến thức để tạo nên một cuộc sống một xã hội thăng hoa và tươi đẹp.

Thế nhưng trong Phật giáo mối quan hệ này có ý nghĩa sâu hơn, rộng hơn vì không dừng lại ở mục đích là hình thành nhân cách mà còn có mục đích là làm sao cho người học trò nhận chân được thế gian này là tạm bợ và tìm phương giải thoát, thoát khỏi sự ràng buộc của tiền tài danh vọng, của thất tình lục dục, có một  cách nhận nhìn nhận vũ trụ và nhân sinh một cách sâu sắc và xác thực mà không hề có tư tưởng bi quan yếm thế và luôn hướng đến đỉnh cao là  cứu cánh là Niết Bàn bất tử.

Trong tam tạng Kinh điển cho chúng ta thấy toàn bộ giáo lý của Phật giáo cũng không ra ngoài đạo đức học, là khoa học về hành động, đánh giá hành động và hướng mọi hành động đến mục đích giải thoát. Cũng trong ý nghĩa này, toàn bộ hoạt động Phật giáo là nhằm giáo dục con người tự nhận biết chính mình và cuộc đời để tiến đến mục tiêu duy nhất là hạnh phúc tuỵệt đối, cứu cánh Niết Bàn.

Nội dung giáo lý của Phật giáo cũng như trong giáo dục thế học, những lời đức Phật dạy không hề tách rời khoa học và cuộc sống của xã hội. Giáo lý của Ngài có tính triết lý cao và cũng rất thiết thực với đời sống hiện tại, mục đích duy nhất là cứu khổ chúng sanh, đưa chúng sanh đến một cảnh giới thật sự an lạc và hạnh phúc.

Do đó, mối quan hệ Thầy trò trong Phật giáo là điều mà người viết chú trọng và quan tâm nhiều hơn, Vì rằng vị Thầy là người soi đường dẫn bước, là bậc hướng thiện, là bậc đầy đủ Minh và Trí hình ảnh đó là chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đức Phật lịch sử một con người có thật bằng xương bằng thịt đó chính là người sáng lập ra Phật giáo.

 

CHƯƠNG 2: QUAN HỆ THẦY TRÒ TRONG PHẬT GIÁO

 2.1 Đức Phật – Bậc Đạo sư

2.1.1 Đức Phật - Nhân vật lịch sử

Vào năm 1896, tại vườn Lumbini các nhà khảo cổ học đã tìm thấy 1 trụ đá cao 6m5 do Hoàng đế A Dục (Asoka) dựng năm 245 trước Công nguyên với lời ghi: “Hai mươi năm sau khi lên ngôi, quốc vương Thiên Ái Thiện Kiến (Devànampiya-Piyadasi) tức A Dục (Asoka) ngự đến đây chiêm bái, vì đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc hiền nhân của bộ tộc Thích Ca đã đản sanh tại đây. Nhà vua ban sắc lệnh khắc một tượng bằng đá (?) và dựng một thạch trụ. Ngài miễn thuế đất ở làng Lumbini và giảm thuế hoa lợi từ 1/4 theo lệ thường 1/8”. [16-40].

Dựa vào trụ đá của Vua A Dục (Asoka) các nhà nghiên cứu Phật học đã xác minh đức Phật đã đản sanh vào thế kỷ thứ VI trước Công nguyên. Phụ vương của Ngài là vua Tịnh Phạn (Suddhodam) và Hoàng hậu Ma Gia (Mayà) tên của Ngài là Sĩ Đạt Ta (Siddhattha) và Họ là Gotama (Gautama). Sau khi sanh Ngài được 7 ngày thì Hoàng Hậu Ma Gia mệnh chung, nên Ngài được Di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề (Mahapayàpati) nuôi dưỡng cho đến trưởng thành.

Nhà Sử gia nổi tiếng người Pháp, Will Durant nghiên cứu về nền lịch sử văn minh của Ấn Độ cổ đại cũng đã viết: “Ở khoảng giữa đường 2 châu thành (Kapilavattu – Devadaha) có một khu rừng nhỏ mọc cây “Sal” gọi là rừng Lumbini thuộc chung về 2 châu thành, dân chúng thường đến đó dạo cảnh. Lúc đó, từ gốc cây tới cành, cây nào cũng đầy bông, trông xa chỉ thấy một đám bông…Hoàng hậu Ma Gia trên đường về quê Mẹ ngang qua khu vườn này Bà muốn dừng lại dạo cảnh một lát. Tới gốc cây “Sal” cổ thụ to lớn, Hoàng Hậu muốn vít một cành thì cành cây tự rủ xuống mềm mại như một cây sậy, vừa đưa tay lên nắm cành thì thì bỗng thấy chuyển bụng, đám hộ giá vội vàng giăng màn ở chung quanh rồi rút lui, lúc đó Hoàng hậu còn đương đứng, tay vẫn còn vin cành “Sal” mà hạ sanh Thái tử” [17-84]

Về sau H.W.SCHUMAN học giả người Đức viết rằng: “Có một phiến đá có lẽ xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ hai sau Công nguyên được tìm ra ở Lumbini và được lưu giữ trong một ngôi chùa nhỏ ở địa phương, phiến đá cho thấy Hoàng hậu Ma Gia (Màụyà) sanh hoàng tử trong lúc đang vin cành cây Sàla. Hình như sinh con trong lúc đứng là phong tục thời ấy”. [16-40]

Nói chung, trước đây có rất nhiều sử sách viết về cuộc đời của đức Phật do vì quá phô trương và cố thổi phồng câu chuyện vô tình đã biến đức Phật thành nhân vật huyền thoại, phi thực tế. Do đó đã tạo nên một cách nhìn sai lệch về con người của đức Phật một nhân vật lịch sử,  đã làm nên lịch sử.

Gần đây dựa vào các công trình nghiên cứu của các nhà khảo cổ học, sử học và Phật học cùng với các bản kinh ghi chép lại khẳng định đức Phật đã đản sanh tại vườn Lumbini một khu vườn nằm giữa Devadaha và Kapilavattu. Kapilavattu Thủ đô của bộ tộc Thích Ca (Sakiyas) là quê hương của đức Phật, ngày nay nó trở thành biên giới của Ấn Độ và Nepal.

Mặt khác các nhà học giả còn xác chứng đức Phật ở Ấn Độ cùng với đức Khổng tử ở Trung Hoa sanh cùng thời. Theo Chúng Thánh Điển Ký mà suy tính, đức Phật đã đản sanh vào 2476 năm trước Dân quốc Kỷ nguyên, còn năm giáng sanh của đức Khổng tử 2463 năm trước Dân quốc Kỷ nguyên. Điều này được ngài Thái Hư Đại sư viết: 孔子在杏壇教之日,正釋尊在鹿菀舍

衛大轉法輪之時迨後騰籣來中國時係民元前一八四四年. “… Ngày đức Khổng tử tại Hạnh đàn giáo hoá cũng chính khi đức Thế tôn tại vườn Lộc Uyển trong thành Xá Vệ chuyển pháp luân. Về sau Ngài Ma Đằng và Trúc Pháp Lan đến Trung quốc, năm ấy trước Dân quốc Kỷ nguyên 1844 năm.”[25-219]

Tóm lại trong toàn bộ những truyền thuyết, những câu chuyện hoang đường, bao xung quanh đức Phật giờ đây đã được chuyển hướng cách nhìn và có chứng cứ. Ấn Độ Cổ đại  thời đức Phật vào thế kỷ thứ 6 đã được soi rọi trong làn ánh sáng mới mẽ, chính là nhờ vào các cuộc nghiên cứu công phu của các nhà tư tưởng gia trên khắp các nước.

Và giờ đây “Đức Phật không còn được nhìn nhận như một thánh nhân đang du hành trên hư không, ta có thể nói như vậy là một nhà sáng lập có trí tuệ về mọi vấn đề thế gian, đã hiểu biết hết cách tận dụng các hoàn cảnh chính trị với tài năng lãnh đạo có kế hoạch tinh xảo, quả thật giống như một nhân vật có thể sánh với đệ nhất vĩ nhân trong thời hiện đại là Mahàtma Gandhi một người đã hoàn thành sứ mạng của mình không chỉ vì đó là một người Ấn Độ, có đức độ thánh tín mà còn là một luật sư xuất chúng và là một tư tưởng gia có một đầu óc thực tiễn” [16-12].

Chiết trung lại, đức Phật là nhân vật lịch sử trong nhân loại, có ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài trên toàn cầu và ngày nay giáo lý của Ngài đã lan rộng đến các châu lục khác và được mọi người đón nhận một cách nồng nhiệt. Những thành quả Ngài đạt được một mặt do ảnh hưởng thời đại Ngài sanh trưởng, mặt khác hoàn cảnh chính trị xã hội đã tạo điều kiện cho Ngài thực hiện sứ mạng cao cả đưa đến thành công. những thái độ tâm lý thuộc về nội tâm ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách đã giúp Ngài mau chóng tìm ra chân lý giác ngộ giải thoát cho chính mình và chúng sanh.

2.1.2  Sự phát triển nhân cách của đức Phật

Khi đức Phật còn là một Thái tử, vua Tịnh Phạn (Suddhodana) luôn luôn hy vọng Thái tử của Ngài sẽ trở thành môt người cường tráng đầy năng động, quan tâm đến thế sự và tham vọng cai trị đất nước. Điều này đã làm ngài thất vọng vì Thái tử chẳng hề quan tâm vào các trò tiêu khiển của các hoàng nam trong cung hay các buổi huấn luyện quân sự.v.v.. ngược lại , Thái tử thích cô độc với khuynh hướng trầm tư. Thay vì hưởng thụ mọi lạc thú đúng với vị trí của một hoàng tử, chàng lại phát triển sở trường của riêng mình và nhàm chán thế gian vì phải chịu đựng những sự không hoàn hảo ở đời. Đồng thời chàng luôn thao thức về cách làm thế nào có thể vượt lên cảnh đời ấy.

Xu hướng nội tâm của Thái tử đã thể hiện ngay từ khi còn thơ ấu. Trong buổi lễ hạ điền do vua Tịnh Phạn tổ chức nhằm mục đích khuyến khích các nhà nông. Đây là cơ hội cho tất cả mọi người giàu cũng như nghèo đều có thể ăn mặc tốt đẹp, vui chơi hỉ hả trước khi bắt tay vào chuyện đồng áng. Lúc ấy Thái tử cũng có mặt trong lễ hội, trái hẳn với cảnh nhộn nhịp tưng bừng giữa buổi lễ hội, dưới bóng cây Thái tử với tư thế ngồi kiết già trầm ngâm lặng lẽ, chăm chú, định tâm vào hơi thở và đạt Sơ thiền. Sự kiện này đã làm cho mọi người kinh ngạc, nhưng với Thái tử đây là kinh nghiệm tinh thần, cũng là chìa khoá mở đường cho Ngài tiến đến đạo quả.

Là dòng dõi vương gia, hiển nhiên Thái tử được thừa hưởng đời sống vương giả như: “… Phụ hoàng cũng kiến tạo cho ta ba toà cung điện. Một để cho ta ở mùa lạnh, một mùa nóng và một mùa mưa. Trong bốn tháng mưa ta lưu tại một biệt điện có đầy đủ tiện nghi, giữa những cung tần mỹ nữ cho đến hàng nô tỳ của phụ hoàng cũng được ăn sung mặc sướng, không phải như các nhà khác, gia đinh chỉ được ăn cơm xấu và thức ăn cũ” [2-145]. Nhưng dù sống trong Hoàng cung với đầy đủ tiện nghi và có thể hưởng tất cả các lạc thú trên của thế gian, Thái tử với thiên tính trầm tư mặc tưởng cùng với lòng từ bi vô lượng vô biên Thái tử không yên lòng một mình thụ hưởng những thú vui tạm bợ của cuộc đời. Ngài thường suy tưởng đến thực chất của đời sống và biết rằng nhơn loại đang quằn quại khổ đau mà không có lối thoát. Vì thế, được sống trong nhung lụa mà Ngài nhận định được rằng đời sống là phiền não, là vô thường.

Được chứng kiến sự thật sanh, già, bệnh, chết của kiếp sống con người, và đằng sau niềm hạnh phúc đã có sự khổ đau và vô thường. Những cảm nhận này Thái tử suy niệm luôn trong tâm trí muốn tìm một con đường thoát khổ và suy nghĩ rằng: “chính ta phải chịu sanh già bệnh chết và nhiễm ô, tại sao cứ mãi mê chạy theo những điều mà bản chất vốn không thật, vì chịu sanh lão bệnh tử phiền não và nhiễm ô ta đã nhận thức được sự bất lợi của những điều ấy. Nay ta thử đi tìm cái chưa thành đạt, cái tối thượng và tuyệt đối châu toàn đó là Niết Bàn.”[4-163].

Cũng vậy bản tính trầm lặng và khuynh hướng nội tâm, Thái tử đã chuyển đổi con người của mình. Sự phát triển nhân cách của Thái tử so với các Hoàng nam hoàn toàn khác biệt. Từ nhân cách này đã đặt nền móng cho sự nghiệp của riêng Ngài và cho cả nhân loại. Sự giác ngộ này đã chuyển một Thái tử Siddhatha Gotama trở thành đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc giác ngộ hoàn toàn.

Suốt 49 năm hoằng pháp độ sanh đức Phật đã chuyển dịch giữa khuynh hướng thiên về nội tâm và khuynh hướng ngoại giới. Các thời kỳ thuyết pháp thành công rực rỡ khiến Ngài du hành từ vùng dân cư đông đúc này đến vùng khác, cũng có lúc Ngài du hành một mình. Nghĩa là: “Giáo pháp của Ngài hợp với người thích độc cư chứ không phải với những người ham quần chúng. Ngài tuyên bố như vậy”. [5-649].

Tóm lại, mặc dù sống trong môi trường được bao phủ bởi lợi danh và vật chất một cách sung mãn, Thái tử hoàn toàn không giống như những người xung quanh, đặc biệt là nhân cách của ngài được bồi dưỡng và phát triển theo tự tính không phụ thuộc vào hoàng tộc. Nhìn từ góc độ khác có thể nhận xét rằng Thái tử sống trong hoàng cung tinh thần không được thoải mái, sự bao bọc của nhung lụa và cả sự quyến rũ của cung tần mỹ nữ cũng không trói buộc được lý tưởng của bậc giác ngộ.

Nhờ vào sự phát triển nhân cách như thế đã nuôi dưỡng, tiềm ẩn một ý chí đi tìm chân lý. Một chân lý giải thoát cho mình và cho mọi loài. Và  cho đến khi Ngài đã hoàn toàn chứng ngộ trở thành bậc chánh đẳng chánh giác đem chân lý tối thượng ấy hoằng hoá chúng sanh. Ngài đã là chỗ dựa tinh thần cho hàng đệ tử và điều phục được ngoại đạo. Mặc dù thế Ngài vẫn không tự mãn với chính mình mà luôn luôn nhắc nhở hàng đệ tử rằng: “Nầy các Tỳ kheo ta không tranh chấp với đời, chính đời tranh chấp với ta. Người thuyết pháp không tranh chấp với bất cứ ai giữa đời”. [6-94]

 Do đó, các nhà Sử học đã tán dương Ngài là “nhà huyền bí” không tranh chấp với cuộc đời. Như trong kinh văn cũng đã tán thán Ngài như sau:

Bậc trí tịnh tâm thấy khắp nơi

Không còn thành kiến với người đời

Tử sanh Ngài đoạn trừ si mạn

Không chấp thủ gì, để ý ai

Lắm kẻ bận tâm chuyện thế gian

Người không vướng bận biết sao bàn

Người không chấp nhận không bài bác

Rũ sạch mọi thiên kiến không màng         [16-458]

Vì không màng đến thiên kiến của thế gian nên Ngài phủ nhận sự hiện hữu của bản ngã, một cái mà xưa nay tất cả mọi người đều cho là tuyệt đối, kinh nghiệm giác ngộ của Ngài mang hình thức một sự đột phá tri kiến, chứ không phải là sự hoà nhập vào cái huyền bí. Đó chính là bậc tuệ giác nhận rõ thế giới này với tất cả khổ đau (dukkha) có thể nhiếp phục và nhờ nỗ lực mỗi người chúng ta có thể chặt đứt vòng luân hồi sanh hồi sanh tử (samsàra). Kinh nghiệm của Ngài về các siêu nhiên, do đó Ngài đạt được địa vị tối tôn ở trên đời, là sự chứng đắc giải thoát bằng cách dập tắt, tịch diệt, Niết bàn. Trong suốt những năm hoằng pháp độ sanh, những người có duyên đáng độ Ngài đã độ không phân biệt giai cấp, không khinh trọng kẻ sang người hèn, kẻ trí người ngu tất cả những người có duyên đều được thấm nhuần giáo pháp của Ngài. Giáo lý của ngài tuy thâm sâu và vi diệu vô cùng nhưng cũng tuỳ căn cơ của từng đối tượng được Ngài hướng dẫn một cách khế lý, khế cơ. Cái vi diệu của ngài chính là sự đồng hoá con người về một thể, cái cao siêu của Ngài chính ở chỗ cuối cùng con người đều nhận ra được bản chất của sự thật, nguồn gốc của khổ đau, con đường đưa đến sự đoạn diệt của khổ đau và cuối cùng là cứu cánh tịch diệt.

Nói chung, giáo pháp dù cao siêu thậm thâm đến đâu thì cũng được ngài chuyển tải đến với mọi loài một cách hài hoà và hợp lý, nó đã đi vào tiềm thức của mỗi chúng sanh để từ đó bổn tánh được hiển lộ họ nhận thức được rằng cuộc đời vốn là khổ, vô thường, vô ngã. Điều này chứng tỏ phương pháp giáo dục của đức Phật đem lại lợi ích cho mọi loài, nhấn mạnh được tính nghệ thuật trong giáo dục của đức Phật.

2.1.3  Nghệ thuật giáo dục của đức Phật.

Trong thời đức Phật, hệ thống giáo dục Phật giáo đã bắt đầu hình thành và tuần tự phát triển. Phong cách giáo hoá của đức Phật không qua văn tự chữ viết mà trực tiếp từ thân giáo, khẩu giáo, ý giáo. Quá trình giáo dục của đức Phật tạo thành những nền tảng căn bản cho nền giáo dục Phật giáo mang tính nghệ thuật và khoa học rất cao. Hình ảnh đức Phật thật sự là bậc đạo sư mẫu mực và lão luyện. Ngài có thể thuyết phục con người thay đổi cách sống, chấp nhận những giá trị mới và tìm kiếm những mục đích mới bằng những lời thuyết pháp hùng hồn và sinh động. Trong khi những bậc đạo sư đối thủ đương thời thường dùng những hành vi ma thuật hoặc phép mầu để lôi kéo đệ tử về phái mình, ngựơc lại đức Phật chỉ dạy duy nhất một loại phép lạ, đó là “phép lạ của sự giáo huấn” (canusàsani-pàtihàriyà).

Những bài pháp thường được Ngài trình bày chi tiết tỉ mỉ, rõ ràng và có logic đã làm nổi bật các bài pháp dài, những bài pháp được thuyết giảng theo chủ đích riêng. Dù thuyết giảng cho vài người hay cho một hội chúng, Ngài cũng đều tìm cách hướng dẫn người nghe tiến dần từng bước đến lý tưởng mà ngài muốn thành lập. Kinh chuyển pháp luân (Dhammacakkapavanttana) và kinh Tứ Niệm xứ (satipatthàma) là những bài kinh tiêu biểu có một vài đặc điểm để nhận biết, vì ngài thường bắt đầu bài kinh bằng lời giáo huấn gọi sự chú tâm, chẳng hạn như: “có hai cực đoan người cần nên tránh” hoặc “có một đường thẳng, tắt bảo đảm đến đích.v.v.” Mặc khác đức Phật thường sử dụng phương pháp so sánh một cách nhuần nhuyễn, được rút ra từ nếp sống hàng ngày của quần chúng chẳng hạn như công việc của người nông dân, được đức Phật liên hệ rất chính xác mối tương quan giữa công việc đồng áng với phương pháp tu tập. Câu chuyện đức Phật và Bàlamôn hào phú Bharadvàja đã diễn tả được sự liên hệ này. Khi Bàlamôn Bharadvàja chia phần cơm cho nông dân, Bàlamôn nhìn thấy đức Phật cũng có mặt trong chỗ những người nông dân đang đợi chia phần. Ở đây ghi lại cuộc đối thoại giữa Bàlamôn và đức Phật như sau:

“- Tôi cày và gieo rồi sau khi xong việc tôi mới ăn. Này Sa môn Ngài cũng phải cày và gieo rồi sau đó mới được nhận phần cơm.

- Này Bàlamôn ta cũng cày và gieo, rồi khi ta làm xong ta mới ăn.

- Chúng tôi không thấy Đạo sư Gotama dùng cái ách hay cái cày, sao Ngài lại bảo như thế?

- Ta gieo hạt giống chánh kiến, cây cày là trí tuệ, tinh tấn là đôi bò kéo cày, thành quả lao động của ta là trạng thái bất tử. Bất cứ ai làm xong việc ấy sẽ được giải thoát khổ đau”[6-94]

Đức Phật đã gieo hạt giống chánh pháp vào trong tâm của Bàlamôn Ngài đã dùng ẩn dụ cách người gieo hạt nó rất thích hợp vào hoàn cảnh của Bàlamôn Bhàravadvàja. Cách giáo dục ấy thật có hiệu quả tức thì. Những hạt giống bằng lời mà đức Phật đã gieo vào tâm vị ấy, nhờ sự cảm hoá của đức Phật và niềm tin được xây dựng sau khi tỉnh ngộ. Bàlamôn đã theo Phật xin xuất gia và trở thành vị Tỳ kheo.

Ngoài ra, trong các cuộc đàm thoại với cá nhân, đức Phật thường sử dụng một vài phương pháp học thuật làm cho các cuộc đàm thoại trở nên sinh động thường làm cho người tranh luận trình bày rõ quan điểm của mình và chấp nhận một lập trường tư tưởng nào đó, nhưng đến với những vấn đề siêu hình, phi thực tế không liên quan đến việc tu tập và thực hành đưa đến sự giải thoát đối với những vấn đề này thì người hỏi sẽ nhận được sự im lặng từ nơi Ngài. Như trường hợp của du sĩ ngoại đạo Vacchagotta đã đặt 10 câu hỏi siêu hình với đức Thế tôn rằng: “thế giới là thường trú? là không thường trú? là hữu biên? là vô biên? Sinh mạng và thân thể là một hay là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết? Như Lai không tồn tại sau khi chết? Như Lai không tồn tại và không tồn tại sau khi chết? [6-314].

Trong khi Vacchagotta tỏ ra rất băn khoăn hầu như bị vấn đề kia ám ảnh, thì đấng Đạo sư đầy từ bi và trí tuệ lưu tâm chú ý đến con người này luôn tìm kiếm hoang mang .Nếu lúc ấy Đức Phật thuyết giảng dông dài về chân lý siêu hình như thế vô tình làm cho anh chàng tội nghiệp kia đã hoang mang lại càng hoang mang thêm. Vì thế Ngài dẹp các câu hỏi sang một bên bằng cách im lặng, không giải đáp.

Không dừng ở đó, vấn đề đã được tái diễn một lần nữa khi Vacchagotta hoài nghi và đặt vấn nạn về trú xứ đi về của một Alahán sau khi nhập diệt như sau: “Thưa Tôn giả Gotama một vị Tỳ kheo được tâm giải thoát như vậy sau khi chết sanh về đâu?[6-319] và cũng chính vì muốn đánh tan sự hoạt náo và hí luận hình thức và mang định kiến về cái ngã linh hồn hay vĩnh cửu của Vaccha. Thế tôn đã sử dụng ẩn dụ ngọn lửa để giải thoát và khai phóng tâm thức cho Vaccha. Đức Phật dạy : “Này Vaccha ngọn lửa này được tắt trước mặt ông, ngọn lửa ấy về hướng nào, phương Đông, phương Tây, phương Bắc hay phương Nam. Được hỏi như vậy Ông trả lời như thế nào?”[6-322].

Thông qua lối ẩn dụ đầy minh hoạ mang tính nghệ thuật và khoa học qua cách giáo dục của đức Phật, cuối cùng Vacchagotta đã nhận ra rằng nếu ngọn lửa cháy lên do những nguyên liệu cấp khi nguồn nguyên liệu ấy không còn thì phương hướng của ngọn lửa đã tắt cũng không truy ra được phương nào. Lúc bấy giờ du sĩ Vacchagotta đã hiểu rõ vì sao Phật thường im lặng từ những câu hỏi phi lý của cuộc đời, phải chăng sự im lặng vĩ đại ấy đã mang lại hiệu quả đối với Vacchagotta hơn bất kỳ sự trả lời hay thoả thuận nào, và cũng chính trong giây phút thiêng liêng đáng nhớ ấy Vacchagotta đã vô cùng kính nể đê đầu đảnh lễ tán thán Thế tôn: “Thật vi diệu thay! Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng những gì đã bị quẳng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong tối để những ai có mắt có thể thấy sắc, cũng vậy, chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, Quy y Pháp, Quy y Tăng. Mong Tôn giả nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung con nguyện trọn đời quy ngưỡng.”[6-325]

Tóm lại, dù là thuyết giảng, phân tích hay đàm thoại, tranh luận. Đức Phật đều sử dụng một loạt các phương pháp giáo dục thực hành tiêu chuẩn. Ngài nhằm vào trình độ tri thức của người học và tuyên giảng cùng một ý tưởng bằng nhiều phương thức khác nhau tuỳ theo bản tánh và thể chất của người nghe. Ngài bắt đầu bằng những điều đã hiểu biết và nhấn mạnh vào việc ấy như một nguyên tắc căn bản trong tất cả các lời Ngài dạy. Ngài không đề cập đến những điều suy đoán làm lãng phí thời gian và khuyên nhủ ta nên cố gắng “Biết về sự vật như nó thực đương là”.

Nói chung, trong suốt những năm còn tại thế đức Phật đã thành công trên con đường hoá độ quần sanh truyền đạo của Ngài thực linh động và thực tế. Sự linh động trong Ngài  làm cho con người có niềm tin với chánh pháp, từ bỏ các lỗi lầm từ trước do sự thực tế của Ngài đã làm cho vô số người tỉnh ngộ xa rời tà kiến, chấp thủ mà bấy lâu nay họ mê mờ như trong nhà tối. Và tất cả những thành công của Ngài đều nhờ vào nghệ thuật tinh ba của Ngài trong cách thuyết pháp tuỳ vào từng đối tượng mà Ngài dùng cách hoá độ như trong kinh nói“Này Kosi, ta điều phục những người đáng điều phục, khi thì ôn hoà, khi thì cứng rắn, khi thì vừa ôn hoà vừa cứng rắn”.[5-122] và “Có những trường hợp Ngài trả lời trực tiếp, có những trường hợp Ngài phân tích, cũng có những trường hợp Ngài giải quyết bằng cách hỏi lại và cũng có những vấn đề Ngài dẹp qua một bên”[10-94]

Và trong suốt 45 năm du phương hành hoá, hầu hết mỗi người theo Ngài đều tôn xưng Ngài là bậc Thầy của loài trời và loài người (Sathà Devamanussànam) là bực điều phục con người (Prurisa Dhammsàrathi) đây là  hai trong mười danh hiệu được sử dụng trong hình thức tôn kính Phật. Qua các kinh điển đều tôn xưng Ngài là bậc đạo sư vì “Đức Thế tôn là bậc dẫn đạo đoàn lữ hành, vì Ngài đưa những người lữ hành về đến nhà. Như một người dẫn đạo lữ hành đưa chúng qua sa mạc, đầy những kẻ cướp, không thức ăn, không nước uống, khiến cho chúng vượt qua, vượt qua một cách thích nghi, đưa chúng đến mãnh đất an ổn. Cũng thế, Thế tôn làm bậc dẫn đạo lữ hành, người đưa kẻ lữ hành về đến nhà, đưa chúng qua sa mạc sanh tử [11-351] và những năm còn tại thế đức Phật đã hoá độ vô số chúng sanh, những người đi theo Ngài xin xuất gia ngày một đông đúc, tạo thành một giáo đoàn Tăng lữ rất lớn mạnh, phân bố đi hoằng hoá khắp nơi. Trong đó chưa kể đến hàng Cư sĩ tại gia luôn luôn ủng hộ giáo hội của Ngài từ các phương tiện vật chất, tạo điều kiện cho Tăng chúng tu học. Vì vậy, vào thời đức Phật, giáo đoàn dưới sự lãnh đạo của đức Thế tôn đã tạo nên một uy tín rất mạnh mẽ, nó ảnh hưởng đến đời sống xã hội thời ấy. Đức Thế tôn còn hết sức quan tâm và chú ý đến đời sống hiện tại và tương lai của đồ chúng. Mục tiêu  của Ngài là đưa tất cả đệ tử mình vượt qua bể sanh tử, tìm được sự an lạc ngay trong cuộc  sống hiện tại và vĩnh cửu trong tương lai. Và cũng như vậy Tăng lữ thời đức Phật luôn luôn tôn trọng Ngài là bậc dẫn đường, Người đã đem lại chân lý giác ngộ cho quần sanh. Đây chính là mối quan hệ tốt đẹp giữa bậc Đạo sư và đệ tử của mình trong thời đức Phật.

 2.2  Quan hệ giữa Đức Phật và chúng đệ tử

Sau bài pháp chuyển pháp luân của đức Phật tại vườn Lộc Uyển (Mrganika) giáo đoàn được thành lập với 5 vị Tỳ kheo, lúc này người Ấn Độ chưa biết gì về đức Phật. Đến lúc giáo đoàn đông dần và các lớn đã đầy đủ khả năng và đạo hạnh để tự mình đi hành hoá các nơi, thì mọi người mới biết đến đức Phật. Cho đến gần một năm sau khi đức Phật thu phục được ba anh em Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, tiếp đến là Xá Lợi Phất (Sariputta), Mục Kiền Liên (Moggallana) và không lâu sau nữa là đại Ca Diếp (Mahakassapa), thì tiếng tăm của đức Phật mới thực sự vang khắp bốn phương.

Trong suốt cuộc đời hoá độ, số người quy hướng về Thế tôn rất nhiều, riêng chúng đệ tử xuất gia cả Tăng lẫn Ni cũng lên đến hàng vạn, dĩ nhiên là không làm sao tránh khỏi có những phần tử kém phẩm hạnh, nhưng chỉ là những phần tử nhỏ, còn đại đa số đều là những Phật tử chơn chánh, thuần thành, siêng năng tu học, nhiệt tình phụng sự chúng sanh. Chư vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni chứng quả Alahán, được liệt vào hàng thánh chúng rất nhiều mà các Cư sĩ tại gia chứng quả Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm cũng không phải ít.

Nói đến chúng đệ tử của đức Phật không thể không nhắc đến mười vị đệ tử lớn nhất của Ngài (thập đại đệ tử) mỗi vị có một bản lĩnh, vị này giỏi về phương diện này, vị khác xuất sắc về phương diện kia. Như Xá Lợi Phất (Sariputta) trí tuệ bậc nhất; Mục Kiền Liên (Moggallana) Thần thông quảng đại bậc nhất; Phú Lâu Na (Purna-Punna) giảng sư tài giỏi nhất; Tu Bồ Đề (Subhuti) thể nhập diệu lý “không” hơn ai hết; Ca Chiên Diên (Kaccayana) vị luận sư lỗi lạc nhất; Đại Ca Diếp (Mahakassapa) vị trưởng lão tu khổ hạnh mẫu mực nhất; A Na Luật (Anuruddha) mặt trời thấy suốt, không gì chướng ngại; A Nan (Ananda) vị thượng thủ nghe nhiều nhớ kỹ nhất và la Hầu la (Rahuda) oai nghi tế hạnh bậc nhất. Có thể nói đó là mười vị đệ tử tiêu biểu nhất của tăng đoàn. Chính các Ngài là những cánh tay đắc lực nhất đã giúp đức Phật hữu hiệu nhất trong công việc hoằng pháp độ sanh làm cho Phật pháp ngày càng hưng thịnh trên khắp lãnh thổ   Ấn Độ thời đó và còn lưu truyền mãi cho đến ngày nay.

Nhìn vào số đệ tử của Phật, xuất gia cũng như tại gia chúng ta có thể thấy rõ đức bao dung, tâm bình đẳng và tình thương yêu bao la của Ngài đối với mọi người. Tấm lòng của Phật như biển cả, nước của trăm sông đều chảy vào đó, chỉ trong số 10 vị đó thôi chúng ta cũng thấy họ đại diện cho đủ mọi thành phần trong xã hội Analuật, Anan, Lahầula vốn thuộc dòng dõi vương tôn công tử, đầy đủ quyền uy thống trị; Đại Ca Diếp, Ca Chiên Diên xuất thân từ những gia đình giai cấp Bàlamôn danh phận cao quý tột bậc giàu có nhất nước; Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên đã từng là những nhà học giả lỗi lạc, là lãnh tụ của một hệ phái ngoại đạo, dưới trướng có hàng trăm đồ chúng. Phú Lâu Na, Tu Bồ Đề sanh trưởng trong những gia đình giàu có thuộc giai cấp phú thương, nghiệp chủ và sau cùng là Ưu Ba Li xuất thân từ giai cấp nộ lệ, nghèo khổ, thất học tất