MỐI QUAN HỆ THẦY VÀ TRÒ TRONG
PHẬT GIÁO
Thích Nữ Đồng Quảng
A - DẪN NHẬP
- Lý do chọn đề tài
Ngày xưa, do chịu ảnh
hưởng nền giáo dục của Nho giáo nên người Việt
Nam ta rất coi trọng tư tưởng tôn Sư trọng đạo,
cho dù vị Thầy ấy là thầy dạy nghề hay là thầy
dạy chữ thì vị trí của người Thầy cũng rất được
tôn kính chỉ đứng thứ hai sau nhà Vua, trên cả
Cha Mẹ theo tinh thần Quân-Sư-Phụ. Vào các dịp
lễ tết trong năm học trò luôn đến nhà thăm viếng
kính lễ thầy để bày tỏ một chút lòng biết ơn đối
với người đã giúp cho mình những hành trang cần
thiết để bước vào đời một cách vững chải và tự
tin.
Ngày nay, xã hội văn
minh ngày càng đổi mới, con người được hưởng thụ
vật chất đầy đủ các tiện nghi hiện đại, nhưng về
mặt đạo đức của một con người thì ngày càng suy
thoái, cho nên trong xã hội nảy sinh ra những
cảnh tượng điên đảo rối ren, con thì bất hiếu
với cha, mẹ; trò thì lừa thầy phản bạn; bạn bè
thì chen vai hất cẳng, cấu xé, tàn hại lẫn nhau
không chút nhân tình, không chút xót thương, tất
cả cũng chỉ vì chút bả lợi danh mà họ đánh mất
đi lương tri vốn có của một con người. Gẫm nhân
tình thế đạo ấy, lòng người không khỏi chán ngán
lo buồn khi nghĩ đến quốc hồn, quốc tuý của dân
tộc Việt Nam với đạo nghĩa Thầy trò, bằng hữu
đương lâm vào tình trạng hấp hối chỉ còn chút
hơi tàn mà e rằng rồi đây cũng phải tắt lịm như
bóng nắng hoàng hôn..
Đối với người con Phật,
ngoài tình thầy trò ở ngoài đời, chúng ta còn có
cảm nhận sâu sắc ân nghĩa Thầy dạy đạo. Cha, mẹ
và thầy giáo thế học có công nuôi dưỡng thân
xác, đào tạo và nâng cao trình độ kiến thức cho
ta, nhưng đó chỉ là thân ngũ uẩn sanh diệt và
tri kiến thế gian. Còn thầy dạy đạo dìu dắt
hướng dẫn ta phương pháp tu học để thoát khổ,
thoát ly sanh tử, trao cho ta Giới thân Tuệ mạng
bất sanh bất diệt, trưởng dưỡng hạnh lành nâng
bước cho ta dự vào hàng Thánh. Công ơn ấy ngẫm
ra còn nặng gấp bao lần những ân tình ân nghĩa
nói trên. Hơn thế nữa, đối với những vị xuất
gia, rời khỏi gia đình, từ bỏ những trói buộc
của thế gian, phát nguyện sống đời phạm hạnh,
chí tâm cầu giải thoát thì ngôi chùa chính là
gia đình, Thầy tổ chính là cha mẹ.
Người sơ tâm xuất gia,
bước đầu gia nhập thiền môn, bắt đầu một cuộc
sống mới, hoàn cảnh môi trường hoàn toàn mới lạ
so với cuộc sống thế tục thì cũng không ít khó
khăn, phải thức khuya dậy sớm, phải tuân thủ
những thanh quy nghiêm ngặt của thiền môn, nhưng
những điều đó cũng không khó bằng phải sữa đổi
tâm tánh. Bởi vì nói “tu hành” “TU” tức là sửa
đổi những điều sai quấy “HÀNH” tức là làm những
việc đáng làm. Quá trình tu tập không chỉ tính
bằng một ngày, một tháng, một năm hay nhiều năm
mà là cả một chiều dài thời gian. Vượt qua những
thử thách gian khổ của những ngày tập sự, hành
điệu từng bước, từng bước một bước lên từng cấp
bậc để thọ lãnh giới pháp mà hành trì, cho đến
khi được thọ giới Tỳ kheo mới chính thức được
đứng vào hàng Tăng bảo.
Tục ngữ có câu: “dạy con
từ thuở còn thơ” hoặc: “nên tre nhờ uốn thuở còn
măng”. Cho nên trong suốt quá trình tu tập đó vị
thầy luôn luôn kề cận, quan sát người đệ tử
trong từng hơi thở, trong từng suy nghĩ, từng
bước đi để dìu dắt, để hướng dẫn người học trò
không đi lệch hướng. Ngoài việc dạy dỗ, rèn
luyện đức hạnh người Thầy có lúc ân cần dịu dàng
như người mẹ hiền ấp ủ cho chúng ta đỡ những lúc
gió sương, vỗ về an ủi khi vấp ngã, lỗi lầm, săn
sóc từng giấc ngủ bữa ăn, quan tâm đến những vui
buồn của chúng ta trong cuộc sống. Có khi cũng
cứng rắn, nghiêm khắc như người cha, che chở cho
ta những lúc bão giông, rầy la quở phạt khi
chúng ta sai lầm, ương bướng, khi ta bước thấp
bước cao gập ghềnh nghiêng ngã. Nhưng dù ở hình
thức nào thì cũng đều phát xuất từ tấm lòng
thương tưởng của vị Thầy dành trọn vẹn cho những
người học trò. Mong mỏi chúng ta trưởng thành để
khỏi phụ cái chí hướng ban đầu mà chính chúng ta
tự chọn. Vì vậy, Thầy tổ đối với ta nghĩa cao
như núi tình sâu như đại dương, ân nghĩa ấy
chúng ta lấy gì đền đáp? Người xưa nói: “nhất tự
vi sư, bán tự vi sư” nghĩa là “một chữ là thầy,
nữa chữ cũng là thầy”, huống chi Thầy đã cho ta
giới thân tuệ mạng, trọn vẹn một ân tình.
Mới hay: “Ân
giáo dưỡng một đời nên huệ mạng
Nghĩa ân sư
muôn kiếp khó đáp đền”
Tóm lại, với cha mẹ thì
có mối quan hệ huyết thống, giữa thầy trò luôn
có mối quan hệ khắng khít về tâm linh.Vị Thầy ân
cần khuyên bảo quan tâm đến trò, thì người trò
sẽ như được gắn thêm đôi cánh, có thêm sức mạnh
để bay cao hơn, xa hơn vào bầu trời trí tuệ.
Đồng thời người trò cũng có bổn phận chăm sóc
sức khoẻ, đỡ đần những công việc cần thiết trong
khả năng của mình mà không bao giờ câu nệ sự khó
nhọc, toan tính, so đo, từ những công việc nặng
nhọc cho đến những công việc nhẹ nhàng như dâng
thầy ly nước, đỡ nón, cất y khi Thầy đi đâu về,
trông ngóng thầy khi thầy có việc phải đi xa…
chút ít như thế cũng khiến thầy mình cảm thấy
vui vẻ và dũ sạch được những mệt mỏi sau những
chặng đường dài.
Cảm nhận được ân nghĩa
sâu dày của thầy tổ đó chính là lý do để con
chọn đề tài này, dù nét bút còn thô sơ, suy nghĩ
còn thiển cận, những lòng mong mỏi tha thiết với
lòng tri ân và muốn báo đáp ân dày. Con xin
hướng về mười phương Tam Bảo, đê đầu đảnh lễ các
vị ân sư, thiện hữu tri thức cùng với các bậc
quyến thuộc bồ đề. Những gì quý ngài đã vun vén,
sách tấn, động viên, khuyến khích hướng dẫn và
cũng không loại trừ những lời quở trách khi con
phạm sai lầm những điều đó cũng không ngoài mục
đích muốn con nên người, đi đúng con đường mình
chọn và tìm được pháp lạc trong cuộc sống của
người xuất gia.
- Phương pháp luận và
phạm vi đề tài.
Trong luận văn này người
viết sử dụng phương pháp qui nạp, diễn dịch, dẫn
chứng, giải thích và chứng minh… nhằm mục đích
lột tả được cốt yếu của mối quan hệ giưã Thầy và
Trò trong Phật giáo.
Dẫu biết rằng Phật pháp
thì vô biên, công hạnh của đức Thế tôn thì vô
lượng. Vì vậy trong phạm vi hạn hẹp này. Người
viết xin giới hạn nghiên cứu qua bộ Nikàya, các
bộ luật thông dụng và góp nhặt những lời dạy của
đức Thế tôn bàng bạc trong các kinh để minh
chứng cho vấn đề cần bàn đến. Ngoài ra còn trích
dẫn một sốn những lời hay ý đẹp của chư vị Tổ sư
để cho tập luận văn này được phong phú hơn.
Hôm nay những gì con có
được chính là công ơn lớn lao của Thầy tổ, con
biết làm sao để báo đáp thâm ân này!!! Bởi lẽ
“Ân sư chí trọng, cổ đức nan thù” cho dù con có
cố gắng làm được chút gì thì cũng như đem muối
bỏ xuống đại dương. Vì vậy thâm ân kia con xin
ghi lòng, nguyên trọn đời đi trên con đường
chánh pháp, ngõ hầu đền đáp công ơn thầy tổ
trong muôn một.
Qua đây con xin thành
kính gởi đến hết thảy bằng hữu, cộng sự tu hành
những hành giả đang trên đường tầm cầu sự giải
thoát. Chư huynh đệ! hãy nên biết quý trọng nâng
niu những gì mình đang có, hãy biết tôn trọng
những gì mình đã được, cho dù sông có cạn núi có
mòn thì tấm lòng tri ân đối với thầy tổ trong
con không thay đổi.
B - NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ
QUAN HỆ THẦY TRÒ.
Trong bất cứ xã hội nào,
cương vị của người thầy luôn luôn giữ một vị trí
quan trọng. Ở gia đình cha mẹ nuôi dưỡng con cái
thì ở trường người thầy có trách nhiệm giáo dục
học trò truyền trao những kiến thức, kinh
nghiệm, phát huy những kỹ năng sẵn có, người học
trò nhờ đó mà có một hành trang vững chắc để tự
tin mà bước vào đời.
Vì vậy, nói đến quan hệ
thầy trò tức là đề cập đến hệ thống giáo dục.
Giáo dục ở đây cũng chính là một hiện tượng của
xã hội, một hiện tượng xã hội đặc biệt của con
người. “con người được tiến bộ nhờ lao động. Do
lao động mà ý niệm xã hội được hình thành và xã
hội được thành lập, phát triển càng lúc càng đa
dạng. Kinh tế và văn hoá của con người bao gồm
những sinh hoạt vật chất và tâm linh. Những
chuyển biến, những tiến bộ trong đời sống liên
tục qua nhiều thế hệ hiển nhiên là do sự truyền
thọ, do kế thừa và do giáo dục đào tạo”. [22-3]
Như thế, nhờ giáo dục mà
văn minh và văn hoá của con người tiến bộ và
phát triển khác hẳn so với loài vật. Giáo dục đã
xuất hiện trong xã hội loài người từ hàng ngàn
năm trước, ý nghĩa tập Áo Nghĩa Thư (Upanishad)
của Bà-la-môn giáo trong Ấn Độ cổ đại cho thấy
hình ảnh “ngồi dưới chân thầy” để nghe thầy
giảng về Tự ngã. Qua thời Hy lạp cổ đại, các
trường học đã mở cửa, các triết gia, các nhà
khoa học thâu nhận học trò thành một hệ thống có
tổ chức rất quy mô. Ở Trung Hoa Khổng Tử có
3.000 học trò, cùng thời với Socrates ở Hy Lạp.
Cho nên, nói đến giáo
dục là nói đến việc dạy việc truyền thọ, kiến
thức, kinh nghiệm, kỹ năng của người dạy truyền
cho người học. Ở đây “Giáo” nghĩa là ra lệnh,
khiến cho. “Dục” là nuôi lớn làm cho trưởng
thành. Theo Từ điển Từ Hải “Giáo” tức là người
trên làm gì thì người dưới bắt chước làm theo;
“Giáo” nghĩa là dạy dỗ lấy những gì mình biết
được mà truyền thọ cho người. Lại nữa, giáo dục
là giúp loài người phát triển và thích ứng với
những tác động của thế giới, làm cho thế giới
càng ngày càng tiến hoá, khiến cho đi đúng con
đường gọi là “Giáo” làm cho lớn thêm một cách tự
nhiên gọi là “Dục”.
Tựu trung, theo ý nghĩa
khái quát: “giáo dục nghĩa là truyền thụ kiến
thức, kinh nghiệm, kỹ năng chuyên môn, hướng dẫn
tư duy, tình cảm, nếp sống để được thọ nhận,
phát triển theo chiều hướng tốt đẹp, thích nghi
với xã hội và thiên nhiên”. [22-10]
Như vậy, nói đến giáo
dục là đề cập đến mối quan hệ giữa thầy và trò.
Hình ảnh người thầy luôn là biểu tượng cao quý,
đáng được kính trọng. Những người làm thầy cống
hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giáo dục,
trực tiếp truyền trao tất cả kiến thức, kinh
nghiệm của mình cho học trò, âm thầm lặng lẽ đi
sớm về trưa, lặng lẽ bên ngọn đèn khuya! Người
học trò từ khi được truyền từ tay mẹ qua tay
thầy, ngay bài học đầu tiên, qua các âm điệu,
lời thơ, tiếng nhạc, qua ca dao tục ngữ đã hình
dung được bóng hình của núi sông, cảm nhận được
chân trời rộng mở để nối gót cha ông.
Người xưa có câu: “muốn
sang thì bắt cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu
lấy thầy”. Không những người học trò yêu kính
thầy giáo của mình mà cả đối với các bậc phụ
huynh cũng xem thầy là bậc đại ân nhân của gia
đình của dòng họ. Bởi thế, học trò khi thi đậu,
khi thành danh người đầu tiên mà họ nghĩ đến
chính là công ơn người Thầy vì nhờ thầy mà mình
mới có được công danh, địa vị trong xã hội. Đây
chính là nét đẹp văn hoá “uống nước nhớ nguồn”
trong nền giáo dục.
Mục tiêu giáo dục là
luôn hướng đến đào tạo cho mỗi cá nhân thành tài
có ích cho xã hội. Sự đào tạo không phải trong
khoảng khắc mà thành tựu, phải trải qua từng
giai đoạn, dưới sự huấn luyện của thầy, từ những
nét chữ nguệch ngoạc cho đến khi có nét bút rắn
rỏi là lúc có thể hiểu được, nhận thức được lời
hay ý đẹp, tiếp thu được vô vàn kiến thức từ
người thầy: Bác Hồ cũng từng nói: “vì lợi ích
mười năm trồng cây, vì ích nước trăm năm trồng
người” với khuynh hướng này, đòi hỏi sự nhiệt
tình của người thầy và sự nỗ lực của học trò.
Cho nên trong thầy luôn có mặt của học trò và
ngược lại, chính vì thế mối quan hệ giữa thầy và
trò luôn có sợi dây vô hình gắn chặt với nhau.
Từ mối quan hệ này người
thầy chẳng những chỉ truyền trao kiến thức mà
còn kiêm cả việc trau dồi đạo đức và cách đối
nhân xử thế cho phù hợp với môi trường và xã
hội. Trong hệ thống giáo dục có 3 nghĩa chính là
đầy đủ về Trí dục, Đức dục và Mỹ dục.
Trí dục là sự phát huy
về kiến thức không ngừng học hỏi nghiên cứu dựa
vào kiến thức chung biến nó thành trí hiểu biết
của riêng mình. Người có trình độ kiến thức sẽ
có địa vị, vị trí tương xứng trong xã hội. Ngược
lại ngưòi không có trình độ học vấn, sẽ không có
kiến thức cho bản thân và xã hội. Cổ đức nói:
玉不琢不成器,人不學不知道。Nghĩa
là “ngọc có mài dũa mới thành đồ quý, người có
học mới có thể biết được đạo lý”. Vì vậy muốn xã
hội ngày một phát triển đòi hỏi mỗi cá nhân phải
có trình độ, không ngừng học hỏi ngay từ khi còn
ngồi trên ghế nhà trường. Điều này đã được Chủ
tịch Hồ Chí Minh nhắc đến trong lá thư gởi cho
thiếu nhi cả nước “…Non sông Việt Nam có trở nên
tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới
đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc
năm châu được hay không, chính là nhờ một phần
lớn nhờ công lao học tập của các cháu…”. Và nhờ
những kiến thức căn bản mới có thể phát huy sâu
và rộng hơn. Những căn bản này người học trò
được huân tập từ nơi thầy. Cho nên nói: “không
thầy đố mày làm nên” chính là muốn nhấn mạnh sự
có mặt của người Thầy rất quan trọng trên con
đường đi lên của học trò. Mặt khác, ngoài giá
trị về sự truyền trao kiến thức mà mình có,
người thầy còn luôn kích động vào tâm trí học
trò, khai mở tiềm năng của từng cá nhân. Henri
Frederic Amich nói: “chức năng cao nhất của
người thầy không phải là truyền đạt kiến thức mà
là khuyến khích học sinh yêu kiến thức và mưu
cầu kiến thức”. Nhờ sự kích động vào tâm thức,
khiến học trò luôn muốn học hỏi những điều mới
lạ phía trước, hướng đến một mục tiêu đúng đắn…
Đức dục đóng vai trò rất
quan trọng trong xã hội, đặc biệt là trong giáo
dục. Người học trò từ nơi người Thầy được trau
dồi đạo đức. Điều căn bản nhất là sự khiêm cung,
lễ phép đối với mọi người, ta thấy hầu như ở các
ngôi trường đều có câu khẩu hiệu “tiên học lễ,
hậu học văn” được bày trí ở nơi trang trọng
nhất, mỗi ngày các em đến trường điều đầu tiên
dễ nhìn thấy nhất. Điều này chứng minh cho ta
thấy ở môi trường giáo dục thì đạo đức vẫn luôn
được coi trọng và đề cao. Trong một xã hội thu
nhỏ đó là gia đình, với ông bà cha mẹ phải hiếu
thảo, với anh chị em phải biết kính nhường.Ngoài
xã hội với bạn bè nên quan tâm giúp đỡ, thương
kính tất cả mọi người. Mạnh Tử nói:愛人者人恆愛之,敬人者人恆敬之
“yêu người thì người
yêu lại, kính người thì người kính lại” [14 –
49] Thế nên người học trò khi thành tựu sự
nghiệp phải được huân đúc đầy đủ 2 mặt kiến thức
và đạo đức hay nói cách khác tài và đức phải
song song. Nếu người chỉ dụng kiến thức thì chưa
đủ để phục vụ xã hội và đem lại lợi ích thật sự
cho xã hội.
Cho nên ngài Minh Giáo
Tung đời nhà Tống dạy Đệ tử:尊莫尊乎道,美莫美乎德,
道德之所存,
雖匹夫非窮也,
道德之所不存雖王天下非通也。Nghĩa
là: “cao quý không gì cao quý bằng Đạo, đẹp
không gì đẹp bằng Đức, đạo đức mà còn, tuy làm
kẻ thất phu cũng không khốn đốn, đạo đức không
còn, tuy làm vua trong thiên hạ cũng không
thông”[24-301].Vì vậy, người có đạo đức là người
có nhân cách, nhân cách được xây dựng qua mỗi cá
nhân dựa trên hành động, lời nói và ý nghĩ:
無為其所無為,無谷其所不谷,如此而已矣。“Người có nhân cách chính là người không làm những
việc không đáng làm, không muốn những việc không
nên muốn, đạo đức ở con người như thế mà thôi”
[14-15].
Nói chung, một xã hội dù
nền văn minh có phát triển đến mức độ nào chăng
đi nữa thì nó cũng chỉ dừng lại ở giá trị vật
chất, còn duy trì được nền giáo dục đạo đức thì
đó mới chính là giá trị tinh thần. Sự tồn vong
của một quốc gia, ở mỗi dân tộc có thể được xác
định trên cơ sở đạo đức. Vì đạo đức chính là
tính nhân bản trong mỗi con người cá nhân cũng
như con người xã hội Trong Cổ văn Quan chỉ có
đoạn: “…Vua nước Sở hỏi làm sao mà dời được 9
cái đỉnh đồng này?” trả lời “nhờ ở đức vậy!” có
nghĩa là 9 cái đỉnh đồng kia là biểu tượng của
quốc gia nếu đỉnh bị mất tức nước vong, người
nào có đức cao thì có được vậy!. Cho nên biết,
trong sự nghiệp giáo dục thì vấn đề đạo đức
không thể thiếu và cũng không thể xem nhẹ được.
Học trò vốn được trau dồi nhân cách từ khi ngồi
ở ghế nhà trường đó chính là “tiên học lễ, hậu
học văn” . Muốn có một nền tảng vững chắc, bằng
kiến thức, tư duy được tích luỹ từng ngày, từng
tháng, từng năm cùng với phong cách mô phạm mà
ta được học ở chính bản thân người thầy thì
người học trò đó chắc chắn sẽ trở thành người
hữu ích cho bản thân và xã hội.
Bên cạnh Trí dục và Đức
dục là hai lãnh vực quan trọng thì cũng từ nơi
nhà trường người học trò còn phải nhận thức được
những nét đẹp trong cuộc sống đó là Mỹ dục. Mỹ
dục là nói đến cái đẹp, có những cái đẹp có tính
thực thể những cũng có những cái đẹp mang tính
chất trừu tượng, nét đẹp của tâm linh, của người
có nhân cách, có nếp sống cao thượng, hài hoà
với tất cả mọi người, có cuộc sống thích hợp với
thiên nhiên và xã hội.xứng đáng với nhân cách
của một con người.
Xã hội càng ngày càng
văn minh và có nhiều chuyển biến mới thì mỗi cá
nhân cũng không ngừng học hỏi để bắt kịp với
nhịp thở của thời đại, để có một ý chí mạnh mẽ,
một quan điểm sống lành mạnh để có thể vượt qua
những chặng đường khó khăn mà đạt đến mục đích
của mình “có chí thì nên” người xưa đã có kinh
nghiệm thế mà! Các bậc Thánh Hiền cũng đã từng
dạy học trò mình: “điều gì chưa học thì phải
học, học mà chưa biết thì phải học nữa. Điều gì
chưa hỏi thì phải hỏi, hỏi mà chưa biết thì phải
hỏi nữa. Điều gì chưa xét thì phải xét, xét mà
chưa tỏ thì phải xét nữa. Điều gì chưa làm thì
phải làm, làm mà chưa rõ thì phải làm nữa. Người
ta chịu khó một mình phải chịu khó trăm; người
ta chịu khó mười thì mình chịu khó nghìn. Nếu
được như vậy thì kẻ ngu cũng sáng, kẻ yếu cũng
mạnh”[14-57].
Tóm lại, theo các nhà Xã
hội học nghiên cứu cho rằng mỗi cá nhân phải
trải qua 3 giai đoạn: trẻ em – gia đình; học
sinh – nhà trường; trưởng thành – xã hội. Trong
đó môi trường trường học là một thiết chế xã
hội, ở đây cung cấp cho học sinh những tri thức,
những kỹ năng để giải quyết những mối quan hệ xã
hội. Điều này có thể hiểu rằng ở gia đình trẻ em
có thể đọc thuộc lòng câu “Công cha như núi Thái
Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
nhưng thật sự thì bản thân chúng chưa hiểu hết
được ý nghĩa của câu ca dao đó. Khi đến trường
nhờ sự dạy dỗ, phân tích của thầy, cô chúng mới
hiểu được hết ý nghĩa của lời ca ngợi đó, nhờ đó
các em sẽ sống tốt hơn với gia đình với xã hội.
Ta thấy rằng quan hệ giữa thầy và trò hết sức
quan trọng, nó có khả năng hình thành một nhân
cách một con người đủ tài đức để phục vụ cho đất
nước cho loài người ngày một phát triển theo một
chiều hướng tốt nhất.
Trải qua bao thế hệ, đất
nước có nhiều thay đổi nhưng hình ảnh của người
thầy vẫn không hề thay đổi, tre già thì măng mọc
từng thế hệ nối tiếp nhau làm đẹp cho đời. Người
làm giáo dục thường được ví von như người đưa đò
– Người đưa đò suốt cả cuộc đời cống hiến cho sự
nghiệp giáo dục đào tạo những lớp người đi qua
mà không quản khó nhọc cho riêng mình.
Mới hay:
“Người đưa đò suốt đời chở
khách
Trên con sông đưa lớp lớp người qua
Chợt một hôm soi mình mặt nước
Thấy mái đầu đã tuyết pha sương”
[15-65]
Nói tóm lại, mục đích
chính của giáo dục là sự truyền thụ và đào tạo
một con người có đạo đức có kiến thức để tạo nên
một cuộc sống một xã hội thăng hoa và tươi đẹp.
Thế nhưng trong Phật
giáo mối quan hệ này có ý nghĩa sâu hơn, rộng
hơn vì không dừng lại ở mục đích là hình thành
nhân cách mà còn có mục đích là làm sao cho
người học trò nhận chân được thế gian này là tạm
bợ và tìm phương giải thoát, thoát khỏi sự ràng
buộc của tiền tài danh vọng, của thất tình lục
dục, có một cách nhận nhìn nhận vũ trụ và nhân
sinh một cách sâu sắc và xác thực mà không hề có
tư tưởng bi quan yếm thế và luôn hướng đến đỉnh
cao là cứu cánh là Niết Bàn bất tử.
Trong tam tạng Kinh điển
cho chúng ta thấy toàn bộ giáo lý của Phật giáo
cũng không ra ngoài đạo đức học, là khoa học về
hành động, đánh giá hành động và hướng mọi hành
động đến mục đích giải thoát. Cũng trong ý nghĩa
này, toàn bộ hoạt động Phật giáo là nhằm giáo
dục con người tự nhận biết chính mình và cuộc
đời để tiến đến mục tiêu duy nhất là hạnh phúc
tuỵệt đối, cứu cánh Niết Bàn.
Nội dung giáo lý của
Phật giáo cũng như trong giáo dục thế học, những
lời đức Phật dạy không hề tách rời khoa học và
cuộc sống của xã hội. Giáo lý của Ngài có tính
triết lý cao và cũng rất thiết thực với đời sống
hiện tại, mục đích duy nhất là cứu khổ chúng
sanh, đưa chúng sanh đến một cảnh giới thật sự
an lạc và hạnh phúc.
Do đó, mối quan hệ Thầy
trò trong Phật giáo là điều mà người viết chú
trọng và quan tâm nhiều hơn, Vì rằng vị Thầy là
người soi đường dẫn bước, là bậc hướng thiện, là
bậc đầy đủ Minh và Trí hình ảnh đó là chính là
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đức Phật lịch sử một
con người có thật bằng xương bằng thịt đó chính
là người sáng lập ra Phật giáo.
CHƯƠNG 2: QUAN HỆ THẦY
TRÒ TRONG PHẬT GIÁO
2.1 Đức Phật – Bậc Đạo
sư
2.1.1 Đức Phật - Nhân
vật lịch sử
Vào năm 1896, tại vườn
Lumbini các nhà khảo cổ học đã tìm thấy 1 trụ đá
cao 6m5 do Hoàng đế A Dục (Asoka) dựng năm 245
trước Công nguyên với lời ghi: “Hai mươi năm sau
khi lên ngôi, quốc vương Thiên Ái Thiện Kiến
(Devànampiya-Piyadasi) tức A Dục (Asoka) ngự đến
đây chiêm bái, vì đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc
hiền nhân của bộ tộc Thích Ca đã đản sanh tại
đây. Nhà vua ban sắc lệnh khắc một tượng bằng đá
(?) và dựng một thạch trụ. Ngài miễn thuế đất ở
làng Lumbini và giảm thuế hoa lợi từ 1/4 theo lệ
thường 1/8”. [16-40].
Dựa vào trụ đá của Vua A
Dục (Asoka) các nhà nghiên cứu Phật học đã xác
minh đức Phật đã đản sanh vào thế kỷ thứ VI
trước Công nguyên. Phụ vương của Ngài là vua
Tịnh Phạn (Suddhodam) và Hoàng hậu Ma Gia (Mayà)
tên của Ngài là Sĩ Đạt Ta (Siddhattha) và Họ là
Gotama (Gautama). Sau khi sanh Ngài được 7 ngày
thì Hoàng Hậu Ma Gia mệnh chung, nên Ngài được
Di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề (Mahapayàpati) nuôi
dưỡng cho đến trưởng thành.
Nhà Sử gia nổi tiếng
người Pháp, Will Durant nghiên cứu về nền lịch
sử văn minh của Ấn Độ cổ đại cũng đã viết: “Ở
khoảng giữa đường 2 châu thành (Kapilavattu –
Devadaha) có một khu rừng nhỏ mọc cây “Sal” gọi
là rừng Lumbini thuộc chung về 2 châu thành, dân
chúng thường đến đó dạo cảnh. Lúc đó, từ gốc cây
tới cành, cây nào cũng đầy bông, trông xa chỉ
thấy một đám bông…Hoàng hậu Ma Gia trên đường về
quê Mẹ ngang qua khu vườn này Bà muốn dừng lại
dạo cảnh một lát. Tới gốc cây “Sal” cổ thụ to
lớn, Hoàng Hậu muốn vít một cành thì cành cây tự
rủ xuống mềm mại như một cây sậy, vừa đưa tay
lên nắm cành thì thì bỗng thấy chuyển bụng, đám
hộ giá vội vàng giăng màn ở chung quanh rồi rút
lui, lúc đó Hoàng hậu còn đương đứng, tay vẫn
còn vin cành “Sal” mà hạ sanh Thái tử” [17-84]
Về sau H.W.SCHUMAN học
giả người Đức viết rằng: “Có một phiến đá có lẽ
xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ hai sau Công
nguyên được tìm ra ở Lumbini và được lưu giữ
trong một ngôi chùa nhỏ ở địa phương, phiến đá
cho thấy Hoàng hậu Ma Gia (Màụyà) sanh hoàng tử
trong lúc đang vin cành cây Sàla. Hình như sinh
con trong lúc đứng là phong tục thời ấy”.
[16-40]
Nói chung, trước đây có
rất nhiều sử sách viết về cuộc đời của đức Phật
do vì quá phô trương và cố thổi phồng câu chuyện
vô tình đã biến đức Phật thành nhân vật huyền
thoại, phi thực tế. Do đó đã tạo nên một cách
nhìn sai lệch về con người của đức Phật một nhân
vật lịch sử, đã làm nên lịch sử.
Gần đây dựa vào các công
trình nghiên cứu của các nhà khảo cổ học, sử học
và Phật học cùng với các bản kinh ghi chép lại
khẳng định đức Phật đã đản sanh tại vườn Lumbini
một khu vườn nằm giữa Devadaha và Kapilavattu.
Kapilavattu Thủ đô của bộ tộc Thích Ca (Sakiyas)
là quê hương của đức Phật, ngày nay nó trở thành
biên giới của Ấn Độ và Nepal.
Mặt khác các nhà học giả
còn xác chứng đức Phật ở Ấn Độ cùng với đức
Khổng tử ở Trung Hoa sanh cùng thời. Theo Chúng
Thánh Điển Ký mà suy tính, đức Phật đã đản sanh
vào 2476 năm trước Dân quốc Kỷ nguyên, còn năm
giáng sanh của đức Khổng tử 2463 năm trước Dân
quốc Kỷ nguyên. Điều này được ngài Thái Hư Đại
sư viết:
孔子在杏壇教之日,正釋尊在鹿菀舍
衛大轉法輪之時迨後騰籣來中國時係民元前一八四四年. “… Ngày đức Khổng tử tại Hạnh đàn giáo hoá cũng chính khi
đức Thế tôn tại vườn Lộc Uyển trong thành Xá Vệ
chuyển pháp luân. Về sau Ngài Ma Đằng và Trúc
Pháp Lan đến Trung quốc, năm ấy trước Dân quốc
Kỷ nguyên 1844 năm.”[25-219]
Tóm lại trong toàn bộ
những truyền thuyết, những câu chuyện hoang
đường, bao xung quanh đức Phật giờ đây đã được
chuyển hướng cách nhìn và có chứng cứ. Ấn Độ Cổ
đại thời đức Phật vào thế kỷ thứ 6 đã được soi
rọi trong làn ánh sáng mới mẽ, chính là nhờ vào
các cuộc nghiên cứu công phu của các nhà tư
tưởng gia trên khắp các nước.
Và giờ đây “Đức Phật
không còn được nhìn nhận như một thánh nhân đang
du hành trên hư không, ta có thể nói như vậy là
một nhà sáng lập có trí tuệ về mọi vấn đề thế
gian, đã hiểu biết hết cách tận dụng các hoàn
cảnh chính trị với tài năng lãnh đạo có kế hoạch
tinh xảo, quả thật giống như một nhân vật có thể
sánh với đệ nhất vĩ nhân trong thời hiện đại là
Mahàtma Gandhi một người đã hoàn thành sứ mạng
của mình không chỉ vì đó là một người Ấn Độ, có
đức độ thánh tín mà còn là một luật sư xuất
chúng và là một tư tưởng gia có một đầu óc thực
tiễn” [16-12].
Chiết trung lại, đức
Phật là nhân vật lịch sử trong nhân loại, có ảnh
hưởng rộng lớn và lâu dài trên toàn cầu và ngày
nay giáo lý của Ngài đã lan rộng đến các châu
lục khác và được mọi người đón nhận một cách
nồng nhiệt. Những thành quả Ngài đạt được một
mặt do ảnh hưởng thời đại Ngài sanh trưởng, mặt
khác hoàn cảnh chính trị xã hội đã tạo điều kiện
cho Ngài thực hiện sứ mạng cao cả đưa đến thành
công. những thái độ tâm lý thuộc về nội tâm ảnh
hưởng đến sự phát triển nhân cách đã giúp Ngài
mau chóng tìm ra chân lý giác ngộ giải thoát cho
chính mình và chúng sanh.
2.1.2 Sự phát triển
nhân cách của đức Phật
Khi đức Phật còn là một
Thái tử, vua Tịnh Phạn (Suddhodana) luôn luôn hy
vọng Thái tử của Ngài sẽ trở thành môt người
cường tráng đầy năng động, quan tâm đến thế sự
và tham vọng cai trị đất nước. Điều này đã làm
ngài thất vọng vì Thái tử chẳng hề quan tâm vào
các trò tiêu khiển của các hoàng nam trong cung
hay các buổi huấn luyện quân sự.v.v.. ngược lại
, Thái tử thích cô độc với khuynh hướng trầm tư.
Thay vì hưởng thụ mọi lạc thú đúng với vị trí
của một hoàng tử, chàng lại phát triển sở trường
của riêng mình và nhàm chán thế gian vì phải
chịu đựng những sự không hoàn hảo ở đời. Đồng
thời chàng luôn thao thức về cách làm thế nào có
thể vượt lên cảnh đời ấy.
Xu hướng nội tâm của
Thái tử đã thể hiện ngay từ khi còn thơ ấu.
Trong buổi lễ hạ điền do vua Tịnh Phạn tổ chức
nhằm mục đích khuyến khích các nhà nông. Đây là
cơ hội cho tất cả mọi người giàu cũng như nghèo
đều có thể ăn mặc tốt đẹp, vui chơi hỉ hả trước
khi bắt tay vào chuyện đồng áng. Lúc ấy Thái tử
cũng có mặt trong lễ hội, trái hẳn với cảnh nhộn
nhịp tưng bừng giữa buổi lễ hội, dưới bóng cây
Thái tử với tư thế ngồi kiết già trầm ngâm lặng
lẽ, chăm chú, định tâm vào hơi thở và đạt Sơ
thiền. Sự kiện này đã làm cho mọi người kinh
ngạc, nhưng với Thái tử đây là kinh nghiệm tinh
thần, cũng là chìa khoá mở đường cho Ngài tiến
đến đạo quả.
Là dòng dõi vương gia,
hiển nhiên Thái tử được thừa hưởng đời sống
vương giả như: “… Phụ hoàng cũng kiến tạo cho ta
ba toà cung điện. Một để cho ta ở mùa lạnh, một
mùa nóng và một mùa mưa. Trong bốn tháng mưa ta
lưu tại một biệt điện có đầy đủ tiện nghi, giữa
những cung tần mỹ nữ cho đến hàng nô tỳ của phụ
hoàng cũng được ăn sung mặc sướng, không phải
như các nhà khác, gia đinh chỉ được ăn cơm xấu
và thức ăn cũ” [2-145]. Nhưng dù sống trong
Hoàng cung với đầy đủ tiện nghi và có thể hưởng
tất cả các lạc thú trên của thế gian, Thái tử
với thiên tính trầm tư mặc tưởng cùng với lòng
từ bi vô lượng vô biên Thái tử không yên lòng
một mình thụ hưởng những thú vui tạm bợ của cuộc
đời. Ngài thường suy tưởng đến thực chất của đời
sống và biết rằng nhơn loại đang quằn quại khổ
đau mà không có lối thoát. Vì thế, được sống
trong nhung lụa mà Ngài nhận định được rằng đời
sống là phiền não, là vô thường.
Được chứng kiến sự thật
sanh, già, bệnh, chết của kiếp sống con người,
và đằng sau niềm hạnh phúc đã có sự khổ đau và
vô thường. Những cảm nhận này Thái tử suy niệm
luôn trong tâm trí muốn tìm một con đường thoát
khổ và suy nghĩ rằng: “chính ta phải chịu sanh
già bệnh chết và nhiễm ô, tại sao cứ mãi mê chạy
theo những điều mà bản chất vốn không thật, vì
chịu sanh lão bệnh tử phiền não và nhiễm ô ta đã
nhận thức được sự bất lợi của những điều ấy. Nay
ta thử đi tìm cái chưa thành đạt, cái tối thượng
và tuyệt đối châu toàn đó là Niết Bàn.”[4-163].
Cũng vậy bản tính trầm
lặng và khuynh hướng nội tâm, Thái tử đã chuyển
đổi con người của mình. Sự phát triển nhân cách
của Thái tử so với các Hoàng nam hoàn toàn khác
biệt. Từ nhân cách này đã đặt nền móng cho sự
nghiệp của riêng Ngài và cho cả nhân loại. Sự
giác ngộ này đã chuyển một Thái tử Siddhatha
Gotama trở thành đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc
giác ngộ hoàn toàn.
Suốt 49 năm hoằng pháp
độ sanh đức Phật đã chuyển dịch giữa khuynh
hướng thiên về nội tâm và khuynh hướng ngoại
giới. Các thời kỳ thuyết pháp thành công rực rỡ
khiến Ngài du hành từ vùng dân cư đông đúc này
đến vùng khác, cũng có lúc Ngài du hành một
mình. Nghĩa là: “Giáo pháp của Ngài hợp với
người thích độc cư chứ không phải với những
người ham quần chúng. Ngài tuyên bố như vậy”.
[5-649].
Tóm lại, mặc dù sống
trong môi trường được bao phủ bởi lợi danh và
vật chất một cách sung mãn, Thái tử hoàn toàn
không giống như những người xung quanh, đặc biệt
là nhân cách của ngài được bồi dưỡng và phát
triển theo tự tính không phụ thuộc vào hoàng
tộc. Nhìn từ góc độ khác có thể nhận xét rằng
Thái tử sống trong hoàng cung tinh thần không
được thoải mái, sự bao bọc của nhung lụa và cả
sự quyến rũ của cung tần mỹ nữ cũng không trói
buộc được lý tưởng của bậc giác ngộ.
Nhờ vào sự phát triển
nhân cách như thế đã nuôi dưỡng, tiềm ẩn một ý
chí đi tìm chân lý. Một chân lý giải thoát cho
mình và cho mọi loài. Và cho đến khi Ngài đã
hoàn toàn chứng ngộ trở thành bậc chánh đẳng
chánh giác đem chân lý tối thượng ấy hoằng hoá
chúng sanh. Ngài đã là chỗ dựa tinh thần cho
hàng đệ tử và điều phục được ngoại đạo. Mặc dù
thế Ngài vẫn không tự mãn với chính mình mà luôn
luôn nhắc nhở hàng đệ tử rằng: “Nầy các Tỳ kheo
ta không tranh chấp với đời, chính đời tranh
chấp với ta. Người thuyết pháp không tranh chấp
với bất cứ ai giữa đời”. [6-94]
Do đó, các nhà Sử học
đã tán dương Ngài là “nhà huyền bí” không tranh
chấp với cuộc đời. Như trong kinh văn cũng đã
tán thán Ngài như sau:
Bậc trí tịnh tâm thấy khắp nơi
Không còn thành kiến với người đời
Tử sanh Ngài đoạn trừ si mạn
Không chấp thủ gì, để ý ai
Lắm kẻ bận tâm chuyện thế gian
Người không vướng bận biết sao bàn
Người không chấp nhận không bài bác
Rũ sạch mọi thiên kiến không màng [16-458]
Vì không màng đến thiên
kiến của thế gian nên Ngài phủ nhận sự hiện hữu
của bản ngã, một cái mà xưa nay tất cả mọi người
đều cho là tuyệt đối, kinh nghiệm giác ngộ của
Ngài mang hình thức một sự đột phá tri kiến, chứ
không phải là sự hoà nhập vào cái huyền bí. Đó
chính là bậc tuệ giác nhận rõ thế giới này với
tất cả khổ đau (dukkha) có thể nhiếp phục và nhờ
nỗ lực mỗi người chúng ta có thể chặt đứt vòng
luân hồi sanh hồi sanh tử (samsàra). Kinh nghiệm
của Ngài về các siêu nhiên, do đó Ngài đạt được
địa vị tối tôn ở trên đời, là sự chứng đắc giải
thoát bằng cách dập tắt, tịch diệt, Niết bàn.
Trong suốt những năm hoằng pháp độ sanh, những
người có duyên đáng độ Ngài đã độ không phân
biệt giai cấp, không khinh trọng kẻ sang người
hèn, kẻ trí người ngu tất cả những người có
duyên đều được thấm nhuần giáo pháp của Ngài.
Giáo lý của ngài tuy thâm sâu và vi diệu vô cùng
nhưng cũng tuỳ căn cơ của từng đối tượng được
Ngài hướng dẫn một cách khế lý, khế cơ. Cái vi
diệu của ngài chính là sự đồng hoá con người về
một thể, cái cao siêu của Ngài chính ở chỗ cuối
cùng con người đều nhận ra được bản chất của sự
thật, nguồn gốc của khổ đau, con đường đưa đến
sự đoạn diệt của khổ đau và cuối cùng là cứu
cánh tịch diệt.
Nói chung, giáo pháp dù
cao siêu thậm thâm đến đâu thì cũng được ngài
chuyển tải đến với mọi loài một cách hài hoà và
hợp lý, nó đã đi vào tiềm thức của mỗi chúng
sanh để từ đó bổn tánh được hiển lộ họ nhận thức
được rằng cuộc đời vốn là khổ, vô thường, vô
ngã. Điều này chứng tỏ phương pháp giáo dục của
đức Phật đem lại lợi ích cho mọi loài, nhấn mạnh
được tính nghệ thuật trong giáo dục của đức
Phật.
2.1.3 Nghệ thuật giáo
dục của đức Phật.
Trong thời đức Phật, hệ
thống giáo dục Phật giáo đã bắt đầu hình thành
và tuần tự phát triển. Phong cách giáo hoá của
đức Phật không qua văn tự chữ viết mà trực tiếp
từ thân giáo, khẩu giáo, ý giáo. Quá trình giáo
dục của đức Phật tạo thành những nền tảng căn
bản cho nền giáo dục Phật giáo mang tính nghệ
thuật và khoa học rất cao. Hình ảnh đức Phật
thật sự là bậc đạo sư mẫu mực và lão luyện. Ngài
có thể thuyết phục con người thay đổi cách sống,
chấp nhận những giá trị mới và tìm kiếm những
mục đích mới bằng những lời thuyết pháp hùng hồn
và sinh động. Trong khi những bậc đạo sư đối thủ
đương thời thường dùng những hành vi ma thuật
hoặc phép mầu để lôi kéo đệ tử về phái mình,
ngựơc lại đức Phật chỉ dạy duy nhất một loại
phép lạ, đó là “phép lạ của sự giáo huấn”
(canusàsani-pàtihàriyà).
Những bài pháp thường
được Ngài trình bày chi tiết tỉ mỉ, rõ ràng và
có logic đã làm nổi bật các bài pháp dài, những
bài pháp được thuyết giảng theo chủ đích riêng.
Dù thuyết giảng cho vài người hay cho một hội
chúng, Ngài cũng đều tìm cách hướng dẫn người
nghe tiến dần từng bước đến lý tưởng mà ngài
muốn thành lập. Kinh chuyển pháp luân
(Dhammacakkapavanttana) và kinh Tứ Niệm xứ
(satipatthàma) là những bài kinh tiêu biểu có
một vài đặc điểm để nhận biết, vì ngài thường
bắt đầu bài kinh bằng lời giáo huấn gọi sự chú
tâm, chẳng hạn như: “có hai cực đoan người cần
nên tránh” hoặc “có một đường thẳng, tắt bảo đảm
đến đích.v.v.” Mặc khác đức Phật thường sử dụng
phương pháp so sánh một cách nhuần nhuyễn, được
rút ra từ nếp sống hàng ngày của quần chúng
chẳng hạn như công việc của người nông dân, được
đức Phật liên hệ rất chính xác mối tương quan
giữa công việc đồng áng với phương pháp tu tập.
Câu chuyện đức Phật và Bàlamôn hào phú
Bharadvàja đã diễn tả được sự liên hệ này. Khi
Bàlamôn Bharadvàja chia phần cơm cho nông dân,
Bàlamôn nhìn thấy đức Phật cũng có mặt trong chỗ
những người nông dân đang đợi chia phần. Ở đây
ghi lại cuộc đối thoại giữa Bàlamôn và đức Phật
như sau:
“- Tôi cày và gieo rồi
sau khi xong việc tôi mới ăn. Này Sa môn Ngài
cũng phải cày và gieo rồi sau đó mới được nhận
phần cơm.
- Này Bàlamôn ta cũng
cày và gieo, rồi khi ta làm xong ta mới ăn.
- Chúng tôi không thấy
Đạo sư Gotama dùng cái ách hay cái cày, sao Ngài
lại bảo như thế?
- Ta gieo hạt giống
chánh kiến, cây cày là trí tuệ, tinh tấn là đôi
bò kéo cày, thành quả lao động của ta là trạng
thái bất tử. Bất cứ ai làm xong việc ấy sẽ được
giải thoát khổ đau”[6-94]
Đức Phật đã gieo hạt
giống chánh pháp vào trong tâm của Bàlamôn Ngài
đã dùng ẩn dụ cách người gieo hạt nó rất thích
hợp vào hoàn cảnh của Bàlamôn Bhàravadvàja. Cách
giáo dục ấy thật có hiệu quả tức thì. Những hạt
giống bằng lời mà đức Phật đã gieo vào tâm vị
ấy, nhờ sự cảm hoá của đức Phật và niềm tin được
xây dựng sau khi tỉnh ngộ. Bàlamôn đã theo Phật
xin xuất gia và trở thành vị Tỳ kheo.
Ngoài ra, trong các cuộc
đàm thoại với cá nhân, đức Phật thường sử dụng
một vài phương pháp học thuật làm cho các cuộc
đàm thoại trở nên sinh động thường làm cho người
tranh luận trình bày rõ quan điểm của mình và
chấp nhận một lập trường tư tưởng nào đó, nhưng
đến với những vấn đề siêu hình, phi thực tế
không liên quan đến việc tu tập và thực hành đưa
đến sự giải thoát đối với những vấn đề này thì
người hỏi sẽ nhận được sự im lặng từ nơi Ngài.
Như trường hợp của du sĩ ngoại đạo Vacchagotta
đã đặt 10 câu hỏi siêu hình với đức Thế tôn
rằng: “thế giới là thường trú? là không thường
trú? là hữu biên? là vô biên? Sinh mạng và thân
thể là một hay là khác? Như Lai có tồn tại sau
khi chết? Như Lai không tồn tại sau khi chết?
Như Lai không tồn tại và không tồn tại sau khi
chết? [6-314].
Trong khi Vacchagotta tỏ
ra rất băn khoăn hầu như bị vấn đề kia ám ảnh,
thì đấng Đạo sư đầy từ bi và trí tuệ lưu tâm chú
ý đến con người này luôn tìm kiếm hoang mang
.Nếu lúc ấy Đức Phật thuyết giảng dông dài về
chân lý siêu hình như thế vô tình làm cho anh
chàng tội nghiệp kia đã hoang mang lại càng
hoang mang thêm. Vì thế Ngài dẹp các câu hỏi
sang một bên bằng cách im lặng, không giải đáp.
Không dừng ở đó, vấn đề
đã được tái diễn một lần nữa khi Vacchagotta
hoài nghi và đặt vấn nạn về trú xứ đi về của một
Alahán sau khi nhập diệt như sau: “Thưa Tôn giả
Gotama một vị Tỳ kheo được tâm giải thoát như
vậy sau khi chết sanh về đâu?[6-319] và cũng
chính vì muốn đánh tan sự hoạt náo và hí luận
hình thức và mang định kiến về cái ngã linh hồn
hay vĩnh cửu của Vaccha. Thế tôn đã sử dụng ẩn
dụ ngọn lửa để giải thoát và khai phóng tâm thức
cho Vaccha. Đức Phật dạy : “Này Vaccha ngọn lửa
này được tắt trước mặt ông, ngọn lửa ấy về hướng
nào, phương Đông, phương Tây, phương Bắc hay
phương Nam. Được hỏi như vậy Ông trả lời như thế
nào?”[6-322].
Thông qua lối ẩn dụ đầy
minh hoạ mang tính nghệ thuật và khoa học qua
cách giáo dục của đức Phật, cuối cùng
Vacchagotta đã nhận ra rằng nếu ngọn lửa cháy
lên do những nguyên liệu cấp khi nguồn nguyên
liệu ấy không còn thì phương hướng của ngọn lửa
đã tắt cũng không truy ra được phương nào. Lúc
bấy giờ du sĩ Vacchagotta đã hiểu rõ vì sao Phật
thường im lặng từ những câu hỏi phi lý của cuộc
đời, phải chăng sự im lặng vĩ đại ấy đã mang lại
hiệu quả đối với Vacchagotta hơn bất kỳ sự trả
lời hay thoả thuận nào, và cũng chính trong giây
phút thiêng liêng đáng nhớ ấy Vacchagotta đã vô
cùng kính nể đê đầu đảnh lễ tán thán Thế tôn:
“Thật vi diệu thay! Tôn giả Gotama! Như người
dựng đứng những gì đã bị quẳng ngã xuống, phơi
bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người
lạc hướng, đem đèn sáng vào trong tối để những
ai có mắt có thể thấy sắc, cũng vậy, chánh pháp
đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện
trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả
Gotama, Quy y Pháp, Quy y Tăng. Mong Tôn giả
nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng
chung con nguyện trọn đời quy ngưỡng.”[6-325]
Tóm lại, dù là thuyết
giảng, phân tích hay đàm thoại, tranh luận. Đức
Phật đều sử dụng một loạt các phương pháp giáo
dục thực hành tiêu chuẩn. Ngài nhằm vào trình độ
tri thức của người học và tuyên giảng cùng một ý
tưởng bằng nhiều phương thức khác nhau tuỳ theo
bản tánh và thể chất của người nghe. Ngài bắt
đầu bằng những điều đã hiểu biết và nhấn mạnh
vào việc ấy như một nguyên tắc căn bản trong tất
cả các lời Ngài dạy. Ngài không đề cập đến những
điều suy đoán làm lãng phí thời gian và khuyên
nhủ ta nên cố gắng “Biết về sự vật như nó thực
đương là”.
Nói chung, trong suốt
những năm còn tại thế đức Phật đã thành công
trên con đường hoá độ quần sanh truyền đạo của
Ngài thực linh động và thực tế. Sự linh động
trong Ngài làm cho con người có niềm tin với
chánh pháp, từ bỏ các lỗi lầm từ trước do sự
thực tế của Ngài đã làm cho vô số người tỉnh ngộ
xa rời tà kiến, chấp thủ mà bấy lâu nay họ mê mờ
như trong nhà tối. Và tất cả những thành công
của Ngài đều nhờ vào nghệ thuật tinh ba của Ngài
trong cách thuyết pháp tuỳ vào từng đối tượng mà
Ngài dùng cách hoá độ như trong kinh nói“Này
Kosi, ta điều phục những người đáng điều phục,
khi thì ôn hoà, khi thì cứng rắn, khi thì vừa ôn
hoà vừa cứng rắn”.[5-122] và “Có những trường
hợp Ngài trả lời trực tiếp, có những trường hợp
Ngài phân tích, cũng có những trường hợp Ngài
giải quyết bằng cách hỏi lại và cũng có những
vấn đề Ngài dẹp qua một bên”[10-94]
Và trong suốt 45 năm du
phương hành hoá, hầu hết mỗi người theo Ngài đều
tôn xưng Ngài là bậc Thầy của loài trời và loài
người (Sathà Devamanussànam) là bực điều phục
con người (Prurisa Dhammsàrathi) đây là hai
trong mười danh hiệu được sử dụng trong hình
thức tôn kính Phật. Qua các kinh điển đều tôn
xưng Ngài là bậc đạo sư vì “Đức Thế tôn là bậc
dẫn đạo đoàn lữ hành, vì Ngài đưa những người lữ
hành về đến nhà. Như một người dẫn đạo lữ hành
đưa chúng qua sa mạc, đầy những kẻ cướp, không
thức ăn, không nước uống, khiến cho chúng vượt
qua, vượt qua một cách thích nghi, đưa chúng đến
mãnh đất an ổn. Cũng thế, Thế tôn làm bậc dẫn
đạo lữ hành, người đưa kẻ lữ hành về đến nhà,
đưa chúng qua sa mạc sanh tử [11-351] và những
năm còn tại thế đức Phật đã hoá độ vô số chúng
sanh, những người đi theo Ngài xin xuất gia ngày
một đông đúc, tạo thành một giáo đoàn Tăng lữ
rất lớn mạnh, phân bố đi hoằng hoá khắp nơi.
Trong đó chưa kể đến hàng Cư sĩ tại gia luôn
luôn ủng hộ giáo hội của Ngài từ các phương tiện
vật chất, tạo điều kiện cho Tăng chúng tu học.
Vì vậy, vào thời đức Phật, giáo đoàn dưới sự
lãnh đạo của đức Thế tôn đã tạo nên một uy tín
rất mạnh mẽ, nó ảnh hưởng đến đời sống xã hội
thời ấy. Đức Thế tôn còn hết sức quan tâm và chú
ý đến đời sống hiện tại và tương lai của đồ
chúng. Mục tiêu của Ngài là đưa tất cả đệ tử
mình vượt qua bể sanh tử, tìm được sự an lạc
ngay trong cuộc sống hiện tại và vĩnh cửu trong
tương lai. Và cũng như vậy Tăng lữ thời đức Phật
luôn luôn tôn trọng Ngài là bậc dẫn đường, Người
đã đem lại chân lý giác ngộ cho quần sanh. Đây
chính là mối quan hệ tốt đẹp giữa bậc Đạo sư và
đệ tử của mình trong thời đức Phật.
2.2 Quan hệ giữa Đức
Phật và chúng đệ tử
Sau bài pháp chuyển pháp
luân của đức Phật tại vườn Lộc Uyển (Mrganika)
giáo đoàn được thành lập với 5 vị Tỳ kheo, lúc
này người Ấn Độ chưa biết gì về đức Phật. Đến
lúc giáo đoàn đông dần và các lớn đã đầy đủ khả
năng và đạo hạnh để tự mình đi hành hoá các nơi,
thì mọi người mới biết đến đức Phật. Cho đến gần
một năm sau khi đức Phật thu phục được ba anh em
Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, tiếp đến là Xá Lợi Phất
(Sariputta), Mục Kiền Liên (Moggallana) và không
lâu sau nữa là đại Ca Diếp (Mahakassapa), thì
tiếng tăm của đức Phật mới thực sự vang khắp bốn
phương.
Trong suốt cuộc đời hoá
độ, số người quy hướng về Thế tôn rất nhiều,
riêng chúng đệ tử xuất gia cả Tăng lẫn Ni cũng
lên đến hàng vạn, dĩ nhiên là không làm sao
tránh khỏi có những phần tử kém phẩm hạnh, nhưng
chỉ là những phần tử nhỏ, còn đại đa số đều là
những Phật tử chơn chánh, thuần thành, siêng
năng tu học, nhiệt tình phụng sự chúng sanh. Chư
vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni chứng quả Alahán, được
liệt vào hàng thánh chúng rất nhiều mà các Cư sĩ
tại gia chứng quả Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm cũng
không phải ít.
Nói đến chúng đệ tử của
đức Phật không thể không nhắc đến mười vị đệ tử
lớn nhất của Ngài (thập đại đệ tử) mỗi vị có một
bản lĩnh, vị này giỏi về phương diện này, vị
khác xuất sắc về phương diện kia. Như Xá Lợi
Phất (Sariputta) trí tuệ bậc nhất; Mục Kiền Liên
(Moggallana) Thần thông quảng đại bậc nhất; Phú
Lâu Na (Purna-Punna) giảng sư tài giỏi nhất; Tu
Bồ Đề (Subhuti) thể nhập diệu lý “không” hơn ai
hết; Ca Chiên Diên (Kaccayana) vị luận sư lỗi
lạc nhất; Đại Ca Diếp (Mahakassapa) vị trưởng
lão tu khổ hạnh mẫu mực nhất; A Na Luật
(Anuruddha) mặt trời thấy suốt, không gì chướng
ngại; A Nan (Ananda) vị thượng thủ nghe nhiều
nhớ kỹ nhất và la Hầu la (Rahuda) oai nghi tế
hạnh bậc nhất. Có thể nói đó là mười vị đệ tử
tiêu biểu nhất của tăng đoàn. Chính các Ngài là
những cánh tay đắc lực nhất đã giúp đức Phật hữu
hiệu nhất trong công việc hoằng pháp độ sanh làm
cho Phật pháp ngày càng hưng thịnh trên khắp
lãnh thổ Ấn Độ thời đó và còn lưu truyền mãi
cho đến ngày nay.
Nhìn vào số đệ tử của
Phật, xuất gia cũng như tại gia chúng ta có thể
thấy rõ đức bao dung, tâm bình đẳng và tình
thương yêu bao la của Ngài đối với mọi người.
Tấm lòng của Phật như biển cả, nước của trăm
sông đều chảy vào đó, chỉ trong số 10 vị đó thôi
chúng ta cũng thấy họ đại diện cho đủ mọi thành
phần trong xã hội Analuật, Anan, Lahầula vốn
thuộc dòng dõi vương tôn công tử, đầy đủ quyền
uy thống trị; Đại Ca Diếp, Ca Chiên Diên xuất
thân từ những gia đình giai cấp Bàlamôn danh
phận cao quý tột bậc giàu có nhất nước; Xá Lợi
Phất, Mục Kiền Liên đã từng là những nhà học giả
lỗi lạc, là lãnh tụ của một hệ phái ngoại đạo,
dưới trướng có hàng trăm đồ chúng. Phú Lâu Na,
Tu Bồ Đề sanh trưởng trong những gia đình giàu
có thuộc giai cấp phú thương, nghiệp chủ và sau
cùng là Ưu Ba Li xuất thân từ giai cấp nộ lệ,
nghèo khổ, thất học tất