CON NGƯỜI LÀ
CHỦ NHÂN CỦA NGHIỆP VÀ THỪA
TỰ CỦA NGHIỆP
Thích Minh Tâm
A-DẪN NHẬP
Sinh ra trong cuộc đời,
hầu như ai cũng muốn phấn đấu để đạt được cuộc
sống hạnh phúc. Hạnh phúc trong cuộc sống đời
thừơng không gì khác hơn những nhu cầu về cuộc
sống vật chất hay những địa vị quan trong xã
hội, gia đình mạnh khỏe bình yên… Thế nhưng ngay
trước mắt ta cuộc sống với bao nhiêu là nghịch
lý, những cái đối với một nhãn quan bình thường
thì cho đó là những bất công, những sự sắp xếp
của thần linh chớ ít khi họ đi tìm nguồn cội sâu
xa của vấn đề. Thế thì, nguyên nhân của sự không
bình đẳng giữa xã hội loài người là gì? Vì sao
người này lại sinh trưởng trong cảnh xa hoa, mà
bẩm tánh ngu dốt, người nọ thì bị chìm đắm trong
cảnh nghèo khó mà bẩm tánh thông minh, người thì
vừa nghèo vừa chậm chạp, kẻ nọ đã giàu lại lanh
lợi? Có người suốt cuộc đời làm gì cũng gặp trắc
trở, có người làm gì cũng thông suốt? Vì sao
người này là bậc Vĩ nhân Thánh thiện, người kia
là kẻ điêu trá sát nhân? Người này là một nghệ
sĩ tài ba, nhà toán học, nhạc sĩ từ khi mới lọt
lòng, người kia sinh ra đã mù điếc què quặt?
Người này vừa trông thấy đã có cảm tình, người
kia vừa trông thấy đã khó chịu?... Đối với những
sự sai khác không bình đẳng này, cần phải có một
hoặc nhiều nguyên nhân hay chỉ là một sự ngẫu
nhiên hoàn toàn? Không một thức giả nào lại cho
rằng sự không bình đẳng này chỉ là một sự may
rủi mù quáng hay là sự ngẫu nhiên tình cờ. Tất
cả sự hưởng thụ của một người nào cũng vậy đều
do vì nguyên nhân, và nguyên nhân này có thể ra
ngoài sự hiểu biết tầm thường của chúng ta. Cái
nguyên nhân chính đáng vô hình của những hiện
tượng hữu hình có thể không ở trong hiện tại mà
ẩn núp trong một quá khứ gần hay xa.
Nếu hạn cuộc trong phạm
vi tương đối của các giác quan, có thể rằng
những sự sai khác bất bình đẳng này chính do
nguyên nhân của sự di truyền và hoàn cảnh. Nhưng
sự di truyền và hoàn cảnh dù có thể thuộc trong
sự sinh hoạt đến mấy cũng không đủ để cắt nghĩa
những sự sai khác nhỏ nhiệm giữa người và người.
Ví dụ vì sao những anh em sinh đôi về hình thể
rất giống nhau lại được nuôi dưỡng trong một
hoàn cảnh như nhau mà tính tình, tư tưởng, học
thức, cuộc đời, lại trái ngược hẳn nhau. Phải
chăng có một đấng quyền năng tối cao nào đó ban
bố hay thưởng phạt, tạo dựng xã hội? Hay là
trong xã hội chỉ vô tình một cách ngẫu nhiên như
vậy chớ không có một lý do nào khác hơn? Hay chỉ
thuần túy theo dòng dõi giàu sang thì giàu sang,
còn kẻ bần hàn thì cứ phải chịu kiếp lầm than
trong cuộc sống!
Theo đạo Phật, tất cả
những sự cách biệt sai khác, không những do sự
di truyền, hoàn cảnh chung quanh và của thức ăn
uống mà thâm sâu cốt tủy nhất là do nghiệp lực
của tự mỗi người. Nói cách khác, do gia tài
chúng ta hưởng thụ từ những nghiệp chúng ta đã
tạo ra ở quá khứ và tạo ra từng giây từng phút
trong hiện tại cộng lại. Chúng ta chịu trách
nhiệm đối với hạnh phúc hay sự đau khổ của chính
chúng ta (cá nhân và tập thể) thiên đường hay
địa ngục đều do ta tạo nên. Chúng ta là kết tinh
của tất cả những nghiệp do chúng ta đã gây
ra.Theo Phật giáo, vị trí của con người là tối
thượng. Con người là vị thầy riêng của mình, và
không có ai hay năng lực nào ngồi để phán xét số
phận của họ, vì Đức Phật đã dạy:
“Này thanh niên Bà La
Môn, chúng sinh là chủ nhân của nghiệp, là kẻ
thừa tự của nghiệp; nghiệp là thai tạng, nghiệp
là quyến thuộc, nghiệp là nhân tố phán xét”
{1,III,481}
1. Lý Do Chọn Đề Tài:
Trong vị trí con người
dù đau khổ cùng cực, dù nghiệp lực chuyển đổi
dời như ng vẫn ý thức-hồi đầu bỉ ngạn thì bờ kia
sẽ hiện tiền. “ Mê nhất kiếp ngộ nhất thời” là
tinh thần siêu việt gần như phủ định vai trò của
Nghiệp đối con người chúng ta. Vì thế đức Phật
dạy cho chúng sanh tự có trách nhiệm với nhận
thức và hành động của chính mình, giúp người có
lối sống không ỷ lại, không cầu xin, không tránh
né mà có lối sống lạc quan yêu đời, có niềm tin
vào khả năng chuyển nghiệp của mình. Vì thế mà
người viết mạo muội chọn đề tài: “Con người là
chủ nhân của nghiêp, là thừa tự của nghiệp” nhằm
sáng tỏ giáo lý nghiệp chuyển tải một vài ý thô
thiển và trí tuệ chưa sắc bén để triển khai giáo
lý nghiệp. Đây cũng là điều then chốt và điều
tâm đắc của người viết trong qúa trình học.
2. Giới Hạn Đề Tài:
Đây là Luận Văn Cấp Cử
Nhân Phật Học, số lượng trang có giới hạn nên
đối với một đề tài rộng lớn như con người là chủ
nhân của nghiệp là thừa tự của nghiệp thì không
thể khai triển được. Trong điều kiện cho phép,
luận văn này chỉ trình bày khái quát ý nghĩa và
nêu ra một số tính chất, ứng dụng cơ bản của
Nghiệp. Tuy người viết có nổ lực trình bày với
các chương mục như dàn bài đã nêu, chắc cũng chỉ
là những nét chấm phá nhỏ giữa bức tranh toàn
cảnh to lớn của Tôn gíao và Tam Tạng Thánh Điển
như Phật giáo. Tuy nhiên nhân nơi đây người viết
cố gắng tìm kiếm những cái mới mẻ bổ ích trong
khi trình bày, nhân đó làm cơ sở để phát triển
hướng nghiên cứu sau này.
Với những giá trị vô
cùng thiết thực của giáo lý nghiệp, nên người
thực hiện luận văn này cũng cố gắng sưu tầm thu
thập những tài liệu, những kiến thức sau bốn
năm được quý Hòa Thượng, Chư Vị thượng Tọa, quý
Giáo Thọ Sư đã ân cần chỉ dạy, nhằm thể hiện
những điều tiếp nhận từ nơi quý Ngài đã trao
truyền. Tuy nhiên, tìm hiểu về Giáo lý không
phải là một chuyện dễ. Vả lại, trong khả năng có
hạn của môt Tăng sinh, nên trong phạm vi của đề
tài chỉ xoay quanh đến tính Thừa Tự Của Nghiệp
và Con Người Tạo Tác Nghiệp.
B-NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ
NGHIỆP
1. Định nghĩa:
Nghiệp tiếng Phạn là
karman, Pàli Kamma. Nghiệp, theo đúng nghĩa của
danh từ, là hành động, hay việc làm. Theo tự
điển Từ Nguyên thì nói: Điều mình tạo ra làm cái
nhân (hạt) để sau chịu lấy cái qủa (trái) gọi là
Nghiệp. Nghiệp nói cho đủ là nghiệp báo Định
nghĩa cùng tột của Nghiệp là Tác ý (cetana). Tư
tưởng, lời nói, việc làm, thường khởi xuất do "ý
muốn làm" tạo động cơ. Phật Giáo gọi ý muốn làm
ấy là Tác ý (volitional action). Tất cả những
hánh động có tác ý, dù biểu hiện bằng thân,
khẩu, hay ý, đều tạo Nghiệp. Tất cả những hành
động có tác ý, thiện hay bất thiện, đều tạo
Nghiệp. Những hành động không có chủ tâm, mặc
dầu đã biểu hiện bằng lời nói hay việc làm, đều
không tạo Nghiệp.
Còn Đức Phật thì
dạy:"Nầy hỡi các Tỳ Khưu, Như Lai xác nhận rằng
chính Tác ý là Nghiệp. Do có ý muốn mới có hành
động, bằng thân, khẩu hay ý "[ 2,III,415 ].
Ngoại trừ những hành động của chư Phật và chư vị
A La Hán, mỗi hành động có tác ý đều gọi là
Nghiệp. Mặc dầu chư Phật và chư vị A La Hán vẫn
còn chịu ảnh hưởng của những nhân đã gieo trong
quá khứ, các Ngài không còn tạo Nghiệp mới nữa
vì các Ngài đã thoát ra ngoài cái lành và cái
dữ, đã tận diệt vô minh và ái dục là hai nguồn
gốc của Nghiệp. Ratana Sutta (Tam Bảo Kinh) ghi
rằng: "Mầm giống (Khina-bija) đã bị tận diệt,
những ham muốn vị kỷ không còn khởi sanh."
[18,624]
Như vậy không có nghĩa
là chư Phật và chư vị A La Hán sống một cách thụ
động. Các Ngài luôn luôn tích cực hoạt động để
tạo an lành hạnh phúc cho chúng sanh. Hành động
của các ngài, thường được coi là thiện, không có
năng lực tạo Nghiệp. Am hiểu tận tường thực
tướng của vạn pháp, các Ngài phá tan mọi thằng
thúc trói buộc chúng sanh trong vòng luân hồi,
những chuỗi dài nhân và quả.
Giáo lý Nghiệp báo hay
Nghiệp nhân qủa báo của đạo Phật đã được truyền
bá vào Việt Nam rất sớm từ đầu thế kỷ thứ II Tây
lịch. Giáo lý đó đương nhiên trở thành nếp sống
tín ngưỡng hết sức sáng tỏ đối với con người
Việt Nam có hiểu biết , có suy nghĩ. Mọi người
dù chưa trở thành tín đồ đạo Phật về mặt nghi lễ
nhập đạo nhưng họ biết luật nhân qủa nghiệp báo
thì đương nhiên họ là tín đồ Phật giáo. Thậm chí
trẻ con trên mười tuổi cũng tự nhiên biết câu:
ác giả ác báo. Chúng phát biểu rất đúng hoàn
cảnh sự việc xảy ra cho đối phương hay chạy trời
cũng không khỏi nắng. Và tiến sâu hơn một chặng
đường, nghiệp nhân qủa báo đối với tâm thức hay
sự hiểu biết bình dân mang tính chất hai mặt
là: Họ coi nghiệp nhân như một định mệnh và sự
hiểu biết tự sửa chữa lỗi cũ, cải ác tùng thiện.
Một vài hệ thống tín
ngưỡng cũng nhìn nhận rằng mọi chênh lệch trong
xã hội đều do Nghiệp, nhưng khi đề cập đến
Nghiệp, lại chủ trương rằng mọi hành động, có
tác ý hay không, đều tạo Nghiệp.
Theo chủ trương ấy, một
người giết cha, giết mẹ dầu cố tâm hay vô ý, đều
phạm trọng tội như nhau. Cũng như đối với lửa,
dầu vô tình hay cố ý thọc tay vào lửa thì phải
bị phỏng như nhau, không hơn không kém.
Lập luận như vậy dĩ
nhiên sẽ đưa đến một định thức phi lý. Đứa bé
trong bào thai, vô tình làm cho mẹ đau đớn, hay
bà mẹ vô ý làm đau đứa con trong lòng mình, hẳn
cũng tạo Nghiệp bất thiện? Vả lại, nêu ra một sự
kiện để giải thích một sự kiện tương tợ, như
trường hợp của người thọc tay vào lửa và một
người hành động ác là một luận cứ không thể đứng
vững. “Hơn nữa, cũng theo luận điệu trên, một
hành động ác không có tác ý có thể còn tai hại
hơn một hành động ác có tác ý. Nói cách khác, cố
ý làm ác bị hại ít hơn là vô tình, vì theo ví dụ
người thọc tay vào lửa, biết rằng lửa nóng người
cố tâm ắt phải dè dặt hơn nên ít bị nóng. Người
vô tình, vì không định ý trước, không kịp ngăn
ngừa, ắt bị phỏng nhiều hơn”. [18,316-317 ]
Trong sự báo ứng của
Nghiệp, Tâm là yếu tố tối quan trọng. Tất cả
những việc làm, lời nói và tư tưởng đều do tâm
ảnh hưởng. Khi không điều phục được tâm tức
nhiên không thể kềm chế được việc làm, lời nói,
và tư tưởng. Điều phục tâm tức kềm chế thân,
khẩu, ý.
Kinh Pháp cú có câu:
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau,
Như xe, chân vật kéo.
PC: 1
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau,
Như bóng, không rời
hình. PC: 2
Ta có thể thắc mắc vì
sao một vật vô hình như tâm lại có thể gây ra
những xáo trộn cho thế gian vật chất. Thật ra
không có gì khó hiểu. Chính các bộ máy cực kỳ
hùng mạnh và có khả năng làm đảo lộn thế gian
hiện đại chỉ là sản phẩm của những bộ óc phong
phú. Cái tâm vô hình tạo nên tất cả những tác
động báo ứng của Nghiệp.
Nghiệp không nhất thiết
chỉ là những hành động trong quá khứ, mà bao
trùm quá khứ và hiện tại. Như vậy, nói một cách
khác, chúng ta như thế nào trong hiện tại là tùy
thuộc trong quá khứ chúng ta đã hành động như
thế nào, và trong tương lai chúng ta sẽ hành
động như thế nào tùy thuộc nơi hành động của
chúng ta như thế nào trong hiện tại. Hiểu một
cách khác nữa, ta phải hiểu
thêm rằng trong hiện
tại chúng ta như thế nào không hoàn toàn bởi vì
trong quá khứ ta đã như thế và trong tương lai
chúng ta sẽ như thế nào cũng không hoàn toàn tùy
thuộc nơi chúng ta như thế nào trong hiện tại.
Hiện tại chắc chắn là con đẻ của quá khứ, đồng
thời cũng là mẹ sanh của tương lai. Nhưng trong
sự báo ứng vô cùng phức tạp của Nghiệp, ta không
thể nhìn vào hiện tại mà quả quyết quá khứ và
tương lai. Thí dụ như tên cướp sát nhân ngày hôm
nay có thể là một người hiền như Bậc Thánh Nhân
ngày mai. Một người hiền lương đạo đức ngày hôm
qua có thể hôm nay trở nên hư hèn hung dữ.
Như đã định nghĩa,
Nghiệp là hành động có tác ý (volitinan
action). Nói cách khác, nghiệp luôn luôn được
bắt nguồn từ những tạo tác của tâm, thông qua
những hoạt động của thân, miệng, và ý, gọi chung
là tam nghiệp. “Do đó, một hành động (tạo tác),
nếu không phát sinh từ tâm (ý) thì không thể gọi
là nghiệp, mà hành động chỉ được gọi là hành
động hay hành động duy tác (kriyà). Và như vậy,
định nghĩa của nghiệp là: hành động có tác ý,
hay hành động được phát sinh từ tâm”.[28,165]
1.1. Nguyên Lý Căn Bản
Của Nghiệp:
Tự tác hoàn tự thọ là
nghiệp nhân do chính mình gieo ra trong đời sống
hiện giờ hay qúa khứ về việc làm tốt hay xấu
cuối cùng ta lãnh qủa báo cay đắng hay sung
sướng. Không có thế lực nào hay thần linh nào
trừng phạt cho hành động ấy hay ân hưởng cho
hành độnh ấy cả. Trong kinh Pháp cú, câu 19 có
nói: “Khi nghiệp nhân đã gieo thì chắc chắn sẽ
lãnh thọ, không thể trốn vào đâu được, dù kẹt
núi biển cả hay trên hư không.” Như vậy trên
nền tảng nguyên lý là có nhân thì ắt có quả, tất
yếu không sai chạy như ta nói hai với hai là
bốn. Thì đó là nguyên lý, chưa đi sâu vào hiện
thực thì còn nhiều chi tiết phải được liệt kê
ra. Hai con bò và hai củ khoai thì không thể nào
thành bốn con bò được mà phải đồng loại hai củ
khoai cộng với hai củ khoai mới thành bốn được,
con bò cũng vậy. Nghiệp nhân cũng vậy dù là nhân
ắt có quả nhưng nó còn phải trải qua nhiều điều
kiện hội đủ mới trổ quả được.
1.2. Cội Nguồn Xuất Phát
Của Nghiệp Nhân Là Tâm.
Trong Pháp cú kinh, câu
1 có nói: “Tâm dẫn đầu mọi hành động. Tâm làm
chủ. Tâm tạo tác tất cả. Nếu ta nói hay làm với
tâm ác thì sự đau khổ sẽ theo như bánh xe lăn
theo dấu chân con bò kéo xe” và nếu ta nói hay
làm với tâm trong sạch thì hạnh phúc sẽ theo như
bóng theo hình( câu 2 ). Đó là sự thật ròng rã
quay đều khắp càn khôn vũ trụ. Mộ qủa bom hạt
nhân quăng xuống giết bao hạng người há không
phải xuất phát từ tâm kẻ chế tạo là gì ? Cái
tâm, ý, suy tưởng, vô hình nhưng nó lại tạo ra
hết thảy báo ứng của nghiệp. Tác ý là đơn vị
nhỏ nhất của một tâm niệm. Biết rõ chỗ cội nguồn
ấy nên ta biết giử tâm ý để hướng nó vào thiện
nghiệp, hầu gặt hái kết qủa tốt cho đời sống của
ta và y nên ta biết giử tâm ý để hướng nó vào
thiện nghiệp, hầu gặt hái kết qủa tốt cho đời
sống của ta và mọi người xung quanh.
1.3. Nguồn Gốc Của
Nghiệp:
Vô minh và ái thủ. Vô
minh là thiếu hiểu biết đúng đắn sáng tỏ về lẽ
sống, là tham dục trên đời này. Trong đời sống,
ta cứ hành tác theo chiều bản năng 99% ấy thì đó
là ta tự se sợi dây nghiệp thức cực chắc để tự
buộc cổ mình vào bánh xe luân hồi tái sinh. Cứ
như thế mà ta trôi dạt thênh thang trong sáu cõi
buồn tênh ảm đạm. Nhứ thế để chấm dứt khổ lụy
tái sanh là phải biết tu tập xả ly, cắt đứt dần
mọi động tác ngu tối, bám víu qúa mạnh vào ham
thích dục lạc tạm thời trong đời nay.
1.4. Phân loại nghiệp:
Thông thường, nghiệp
được tạo tác trên cơ sở của thân, khẩu và ý. Tất
nhiên, cả ba nghiệp trên đều xuất phát từ ý hay
còn gọi là tâm. Như thế, khi xét đến nghiệp của
một con người là xét đến thân nghiệp, khẩu
nghiệp và ý nghiệp. Ngoài ba nghiệp này, không
còn một cái nghiệp nào khác. Tuy nhiên, nghiệp
có những tính chất và chức năng khác nhau nên
chúng được phân làm nhiều loại và có nhiều tên
gọi khác nhau.
1.4.1 Phân loại 1 (theo
tên gọi):
Theo trình tự trước hết
giáo lý về nghiệp được chia thành hai loại:
- Nghiệp thiện: Tư duy
và hành động về các điều lành như thực hành Ngũ
giới và Thập thiện giới.
-Nghiệp ác: Tư duy hành
động về các điều lành như thực hành những điều
trái ngược với Ngũ giới và Thập thiện giới.
Từ hai loại nghiệp trên,
chúng ta phải xét đến quá trình tạo tác, tư duy
và hành động để hình thành nên nghiệp (thiện hay
ác). Do đó, nếu xét về tiến trình của nghiệp thì
nghiệp được chia thành hai loại nữa:
- Nghiệp nhân: Những tư
duy, hành động tạo nghiệp chưa đưa đến một kết
quả.
- Nghiệp quả: Những tư
duy, hành động tạo tác sau một tiến trình đã tạo
thành nghiệp, còn gọi là nghiệp quả hay nghiệp
báo.
Trong thực tế, khi nói
đến nghiệp, hàng Phật tử thường chú trọng đến
nghiệp báo (nghiệp quả) hơn là nghiệp nhân. Và
đây là chỗ thiếu sót của chúng sanh khi đối diện
với nghiệp. Và cũng chính điều này khiến cho
chúng sanh quan tâm đến quả báo hơn là gieo
nhân. Nghiệp quả hay nghiệp báo còn được gọi là
quả dị thục.
1.4.2. Phân loại 2 (theo
tiến trình):
Xét theo tiến trình (từ
nhân đến quả) của nghiệp thì có hai loại nghiệp
cơ bản:
-Định nghiệp:
Là nghiệp được lưu
chuyển trong thời gian ổn định và từ nhân đến
quả thống nhất với nhau. Ví dụ, trứng gà sau khi
được ấp trong một thời gian sẽ nở ra con gà. Nói
chung, các nghiệp nhất định sẽ đưa đến kết quả
(như ăn thì sẽ no) thì được gọi là định nghiệp.
- Bất định nghiệp:
Là nghiệp không dẫn đến
kết quả, hoặc kết quả sẽ thành tựu trong thời
gian bất định, hoặc có thể giữa kết quả và
nguyên nhân không hoàn toàn thống nhất với nhau,
thì được gọi là bất định nghiệp.
1.4.3. Phân loại 3 (theo
thời gian):
Nếu căn cứ theo thời
gian, chúng ta nhận ra hai loại nghiệp, một đã
chín muồi và một đang và sẽ diễn tiến trong dòng
nghiệp tạo tác:
- Nghiệp cũ:
Là nghiệp đã được tích
lũy từ nhiều đời sống quá khứ, và hiện tại nó đã
chín muồi. Chẳng hạn thân thể của ta (cao, thấp,
mập, ốm, thông minh, ngu đần, hạnh phúc hay bất
hạnh v. v...) ngày nay là do cái nghiệp đã được
gieo từ trong vô thủy. Các nghiệp quả (y báo và
chánh báo) của thân này là quả dị thục của các
nghiệp từ vô thủy. Ngoài thân này, không hề có
một cái nghiệp riêng lẻ, cũ xưa nào khác.
- Nghiệp mới:
Nếu như thân thể này là
nghiệp cũ thì mọi tạo tác đang làm và sẽ làm của
ta ngày hôm nay là do các tạo tác trước đó. Và
sự thành đạt của ngày mai như thế nào sẽ tùy
thuộc vào tư duy và hành động của ngày hôm nay.
Đức Phật dạy: "Mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân và ý là nghiệp cũ. Các hành động
của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý trong hiện
tại là nghiệp mới". [3,IV,223-224 ]
Trong Truyện Kiều, thi
hào Nguyễn Du đã chỉ rõ cái nghiệp cũ và mới của
con người:
"Sư rằng phúc họa đạo
trời
Cõi nguồn cũng ở lòng
người mà ra
Có trời mà cũng có ta
Tu là cội phúc, tình là
dây oan"
Họa và Phúc (thiện, ác)
là đạo trời, nhưng cái đạo trời ấy cội nguồn của
nó chính là ở tại lòng người (tâm, ý) mà sinh
ra. Và trời ở đây là nghiệp cũ, còn ta chính là
nghiệp mới.
1.4.4. Phân loại (theo
tính chất):
Như đã trình bày, nghiệp
báo là sự chín muồi (quả dị thục) của các nghiệp
thuộc về bất thiện. Do đó, khi nói đến nghiệp
báo (nghiệp quả) là nói đến tiến trình nhân -
quả của nghiệp. Theo giáo lý về nghiệp, một nhân
không thể tạo thành một quả, mà phải có các
duyên phụ trợ. Cho nên, nói đủ phải nói là nhân
- duyên - quả. Duyên là các nhân phụ làm cho
nhân chính thành quả; như nước, phân, đất, sự
cần mẫn chăm bón của con người (là các duyên)
làm cho hạt giống thành tựu nảy nở. Vì thế, khi
tìm hiểu về quả dị thục (sự chín muồi) của
nghiệp, ta phải tìm hiểu về 3 đặc tính sau:
- Dị thời nhi thục: Thời
gian chín muồi của nghiệp quả khác với thời gian
tạo nghiệp (nghiệp nhân). Ví dụ như trái xoài,
thời điểm khi sinh ra cho tới khi nó chín muồi
là khác nhau (khác thời mà chín).
- Dị loại nhi thục:
Kết quả bị biến chất (dị loại) so với thời gian
mới tạo nghiệp. Ví dụ, trái xoài khi nhỏ thì
chua nhưng khi chín thì ngọt (biến chất rồi mới
chín).
- Biến di nhi thục:
Kết quả bị biến thái và biến tướng (biến dị) so
với thời gian mới tạo nghiệp. Ví dụ trái xoài
non thì màu xanh, đến khi chín thì màu vàng.
1.4.5. Phân loại 5 (theo
năng lực):
Năng lực của nghiệp được
hình thành theo từng loại nghiệp khác nhau trong
một tiến trình tâm lý rồi đưa đến sự hình thành
các đặc tính của nghiệp.
- Tập quán nghiệp: Là
nghiệp được huân tập bởi một thói quen trong đời
sống hàng ngày. Có thể đó là thói quen thuộc tâm
lý, hành vi, cách ứng xử v.v...Ví dụ, hút thuốc
lá là một Tập quán nghiệp.
-Tích lũy nghiệp: Là các
nghiệp được tích lũy dần như rót nước vào thùng,
có thể xem thân của ta như là một tích lũy
nghiệp từ vô thủy.
-Cực trọng nghiệp: Là
các nghiệp gây hiện tượng xấu ác cực mạnh và sâu
trong tâm lý của con người như phạm các tội ngũ
nghịch (giết cha, mẹ, giết A La Hán, làm thân
Phật ra máu, phá hòa hợp Tăng). Phạm những tội
không sám hối được.
- Cận tử nghiệp: Là
nghiệp lúc sắp chết hay những sức mạnh tâm lý
của con người trước lúc tắt thở. Nghiệp này cực
kỳ hệ trọng trong việc hướng dẫn nghiệp thức đi
tái sinh. Những tư tưởng cuối cùng của người
chết sẽ tạo nên một cận tử nghiệp (thiện hoặc
bất thiện). “Một người có thể suốt đời làm ác,
nhưng trước lúc tắt thở, nỗ lực sinh khởi về
thiện pháp, về những điều thiện trong đời, và
nhờ ý lực đó có thể tái sinh vào cõi tốt đẹp
(tương tự như vậy đối với các trường hợp ngược
lại). Từ đó, qua những kinh nghiệm cận tử, chúng
ta cần huân tập các thiện nghiệp trong đời sống
của mình để tạo thành một sức mạnh (ý lự) đoạn
trừ các ác nghiệp ngay trong đời sống hàng ngày
và cả đến giờ phút lâm chung”. [ 26,297 ]
1.5. Tính chất của
nghiệp: Nghiệp có thiện tánh, ác tánh, vô ký
tánh. Tuy nhiên chỉ có ác và thiện tánh mới là
nghiệp, chứ vô ký tánh không đủ sức mạnh tạo
thành quả nên không gọi là nghiệp. Nhưng sao
gọi rằng thiện, ác, vô ký?
Luận Bà Sa cuốn 11 nói:
"Nếu pháp gì hay chiêu cảm quả khả ái, khả lạc
thì gọi là thiện, nếu chiêu cảm quả báo không
khả ái, không khả lạc thì gọi là ác; trái với cả
hai sự đó thì gọi là vô ký". [ 31,55 }
Luận Câu Xá nói: "Nghiệp
an ổn hay chiêu cảm quả báo khả ái, và Niết-bàn,
tạm thời và vĩnh viễn xa lìa thống khổ gọi là
thiện. Nghiệp không an ổn hay chiêu cảm quả báo
bất khả ái gọi là ác. Còn nghiệp trái hai tánh
trên gọi là vô ký”. Đây là căn cứ vào sự cảm quả
để phân biệt ba tánh thiện, ác, vô ký.
Nghiệp là một cái gì đó
tuy gần gũi nhưng cũng là một vấn đề bí nhiệm vô
cùng. Chính vì những tính chất phức tạp của
nghiệp nên hàng phàm phu khó có thể liễu tri tất
cả. Thế nhưng mọi hành vi hay tất cả những gì
trong đời sống con người đều do nghiệp chi phối
cả: “Hữu tình lấy nghiệp làm tự thể, là sự tương
tục của nghiệp, lấy nghiệp làm mẫu thai, lấy
nghiệp làm quyến thuộc, lấy nghiệp làm sở vi,
phàm sự phân biệt như thế đều là do nghiệp phân
phối” [7,890]. Trong vòng luân chuyển bất tận
của đời sống chúng sanh, chính nghiệp là vai trò
quyết định trong đời sống tái sanh của một kiếp
mới. Và chính nghiệp cũng quyết định cho việc
hình thành những cá tính đặc thù riêng biệt của
một hữu tình. Chính vì sự chi phối cũng như sự
sai khác của nghiệp mà đời sống của những chúng
sanh ấy có những bất đồng trong mọi cách sống
ngay cả trong tư duy hoặc trong hành động. Chính
vì sự thọ nghiệp một cách bất tận như thế nên
chúng sanh bị trôi cuốn trong vòng xoáy của luân
hồi: “Thế gian y vào nghiệp mà chuyển, hữu tình
bị nghiệp trói buộc, cũng như bánh xe y vào cái
trục mà quay”. [11,654]
Trong kinh Tạp A Hàm Đức
Phật dạy: "Gieo giống nào, gặt giống nấy". Thế
thì liệu chúng ta có phải gặt hái tất cả những
nhân đã gieo không? Không nhất thiết phải như
thế. Vì nếu như tất cả những nghiệp mà chúng ta
đã tạo ra mà chúng ta phải chịu thọ nhận thì
không thể nào thoát khỏi sanh tử luân hồi được.
Và chúng sanh cũng không thể nào có can đảm để
tu tập suốt cả lộ trình tu học để hoàn thành tâm
nguyện của mình trong suốt thời gian lâu dài.
Đức Phật dạy: "Nếu có ai
cho rằng con người phải gặt hái trọn hậu quả
theo tất cả những hành động trong quá khứ thì
không thể có đời sống đạo đức, và con người cũng
không thể có cơ hội tận diệt phiền não, nhưng
nếu nói rằng quả phải gặt tương xứng với nhân đã
gieo thì ắt có đời sống đạo đức và con người sẽ
có cơ hội dập tắt phiền não". [2,294 ] Như vậy,
theo Phật Giáo có thể uốn nắn, chuyển hóa cái
nghiệp được. Phật dạy:
“Không trên trời, giữa
biển
Không lánh vào động núi
Không chỗ nào trên đời
Trốn được quả ác
nghiệp”. PC: 127
Nếu như phải trả quả của
tất cả những nghiệp đã tạo trong quá khứ thì
chúng sanh ắt phải chịu vĩnh viễn sống trong đau
khổ và không thể mong có ngày giải thoát.
Dầu không hoàn toàn làm
chủ cái Nghiệp - vì nhân đã gieo - nhưng ta cũng
không tuyệt đối phải bó tay chịu làm nô lệ. Dù
con người xấu xa đê tiện nhất cũng có thể cố
gắng trở nên trong sạch đạo đức. Chúng ta luôn
luôn biến đổi và luôn luôn trở thành một cái gì
mới, và cái mới ấy tùy thuộc chính ta, tùy thuộc
nơi hành động của chính ta. Từng giây, từng phút
ta có thể tự cải hoán, làm cho ta trở nên tốt
đẹp hơn, cũng như xấu xa hơn. Dù người tội lỗi
hư hèn nhất cũng không đáng khinh.
Trái lại, ta nên tạo cho
họ một niềm tin tưởng nơi sự cố gắng cải thiện
bẩm chất bình sanh của họ. Nên thương và thông
cảm cho họ, biết đâu một lúc nào trong quá khứ
ta cũng cùng ở trong tình trạng với hạng người
hư hèn ấy và ta đã tiến bộ. Hôm nay ở một vị trí
thấp kém, họ cũng có thể cố gắng theo ta và có
khi tiến triển hơn ta.
Ai biết được cái nghiệp
đã tích trữ của một người khác?
“Angulimala, tên sát
nhân lừng danh khét tiếng một thời, đã giết chết
cả ngàn anh em đồng loại, trở thành một vị A La
Hán và thoát khỏi quả dữ của những hành động tàn
ác ấy.
Cô Ambapali, một gái
giang hồ biết hồi tâm tu hành cũng đắc Quả A La
Hán.
Alavaka, dạ xoa hung tợn
thường ăn thịt người, từ bỏ thói dữ và cố gắng
tu tập, cũng đắc Quả Tu Đà Hoàn.
Vua Asoka (A-Dục) có
tiếng là hung ác bạo tàn, trở thành một đấng
minh quân, đổi những trận giặc xâm lăng khốc
liệt ra những chiến dịch truyền bá đạo lý cao
siêu thâm diệu và giáo huấn từ bi của Đức Phật,
để mưu cầu hạnh phúc cho một phần nhân loại, và
những đóng góp về tư liệu của A-dục là một tư
liệu hết sức quý giá cho những nhà nghiên cứu
lịch sử Phật gíao Ấn Độ nói chung hay lịch sử
Đức Phật Thích Ca nói riêng”. [19,20]
Đó là một vài trường hợp
hiếm hoi chỉ rằng nhờ ý chí hùng dũng, con người
có thể đổi hẳn tâm tánh, từ xấu ra tốt, từ dữ ra
lành.
Trong một vài trường hợp
khác, cũng có thể quả của một nhân yếu mà tái
sanh tròn đủ, còn quả của một nhân mạnh lại được
lắng dịu.
Đức Phật dạy: "Hỡi nầy
các Tỳ khưu, người kia không biết khép mình vào
kỹ cương của thân, của đạo lý, của tâm, của trí
tuệ, người kém đạo đức, kém giới hạnh và do đó,
sống đau khổ”. Dù một hành động tầm thường của
người ấy cũng đủ tạo quả đưa vào cảnh khổ.
"Hỡi nầy các Tỳ khưu,
người nọ có nếp sống kỹ cương về phương diện vật
chất cũng như về mặt tinh thần đạo đức, và trí
tuệ, người đạo đức cao thượng, biết làm điều
thiện và lấy tâm Từ vô lượng đối xử với tất cả
mọi chúng sanh”.
"Người như thế, dù có
một hành động lầm lạc tầm thường như kể trên,
hành động ấy không tạo quả trong hiện tại hay
trong kiếp vị lai.
"Tỷ như có một người kia
sớt một muổng muối vào bát nước. Nầy hỡi các Tỳ
khưu, các thầy nghĩ như thế nào? Nước trong bát
có thể trở nên mặn và khó uống không?
- Bạch Đức Thế Tôn, có.
- Tại sao?
- Bạch Đức Thế Tôn, vì
nước trong bát thì ít mà cho vào một muổng muối
thì phải mặn.
- Bây giờ, tỷ như người
kia đổ muổng muối ấy xuống sông Hằng (Ganges),
nầy hỡi các Tỳ khưu, các thầy nghĩ sao? Nước
sông Hằng có vì muối ấy mà trở nên mặn và khó
uống không?
- Bạch Đức Thế Tôn,
không?
- Tại sao?
- Bạch Đức Thế Tôn, vì
sông Hằng rộng lớn, nước nhiều, chỉ bấy nhiêu
muối ấy không đủ làm mặn.
- Cũng dường thế ấy, có
trường hợp người kia vì phạm một lỗi nhỏ mà chịu
cảnh khổ. Người khác cũng tạo một lỗi tương tợ
nhưng gặt quả nhẹ hơn và sau khi chết, quả kia
không trổ sanh nữa, dù trổ một cách nhẹ nhàng.
"Có thể có trường hợp người kia bị bỏ tù vì ăn
cắp nửa xu, một xu, hay một trăm đồng xu, và
cũng trong trường hợp người nọ không bị bỏ tù vì
nửa xu, một xu, hay một trăm đồng xu.
"Ai bị bỏ tù vì nửa xu,
một xu, hay một trăm xu?
"Khi người ta nghèo khổ,
túng thiếu, bần cùng thì dù chỉ nửa xu, một xu,
hay một trăm đồng xu cũng bị bỏ tù.
"Ai không bị bỏ tù vì
nữa xu, một xu, hay một trăm đồng xu?
"Khi người ta giàu có,
dư dả, sung túc, thì không bị bỏ tù vì nửa xu,
một xu, hay một trăm đồng xu.
"Cùng một thế ấy, có
trường hợp người kia chỉ có một vài hành động
bất thiện nhỏ nhặt mà phải lâm vào cảnh khốn
cùng, và có trường hợp người nọ cũng phạm lỗi
lầm y như vậy mà không phải gặt quả nào trong
kiếp hiện tại. Hành động bất thiện ấy cũng không
có hậu quả nhỏ nhen nào sau kiếp sống nầy".
[7,I,101]
CHƯƠNG 2 : CON NGƯỜI LÀ CHỦ NHÂN CỦA NGHIỆP
Trong kinh Majjhima
Nikàya (Trung Bộ), Đức Phật dạy rằng:"Con người
là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp.
Nghiệp là thai tạng mà từ đó con người được sinh
ra; nghiệp là quyến thuộc, là nơi nương tựa”
[2,II,77]. Như thế, sự hiện hữu của mỗi con
người đồng thời là sự hiện hữu của nghiệp thiện
và bất thiện từ (vô lượng kiếp) quá khứ. Mỗi con
người cá thể là điểm trung tâm của nghiệp; ngoài
mỗi cá thể ấy sẽ không có bất kỳ một cái nghiệp
nào được bàn đến.
Thành thật luận, phẩm
Nghiệp Tướng nói: “Nghiệp có ba loại: thân
nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp. Những gì do thân
tạo tác gọi là thân nghiệp...; tích tập thiện ác
do lời nói gọi là khẩu nghiệp...; tâm quyết định
giết hại chúng sanh lúc ấy tích tập thiện ác gọi
là ý nghiệp”.
2.1. Thân nghiệp:
Phạn ngữ Kya-karman,
Pàli Kya-kamma là một trong ba nghiệp, chỉ cho
những nghiệp tạo từ thân, có thể chia làm ba
loại: thiện, ác và vô ký; ác nghiệp của thân tức
chỉ cho sát sanh, trộm cướp, tà dâm; trái lại là
không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm,
tức là thiện nghiệp của thân, không thiện không
ác và không cảm được năng lực của quả báo thì
gọi là thân nghiệp vô ký. Thân nghiệp lại phân
biệt thành Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp. Biểu
nghiệp chỉ cho những động tác được biểu thị bên
ngoài, như quơ tay hay lắc chân...Vô biểu nghiệp
chỉ cho những nghiệp không biểu thị bên ngoài mà
chỉ nhấn mạnh vào tự tánh ngăn ngừa những điều
ác, đình chỉ những việc thiện.
“Tiểu Thừa thuyết Nhất
Thiết Hữu Bộ nói hai nghiệp chung là Tư kỷ
nghiệp. Chủ trương Biểu Nghiệp dùng hình sắc làm
thể; Vô biểu nghiệp lấy Vô biểu sắc làm thể.
Kinh bộ thì chủ trương dùng tư Tâm sở làm thể,
Vô biểu nghiệp dùng chủng tử làm thể. Đại thừa
Duy Thức cũng dùng những phát động của thân và
ngữ làm nghiệp thể, chủ trương Biểu nghiệp Vô
biểu nghiệp đều là giả lập, chẳng phải là thật
hữu, tức gọi Biểu Nghiệp chính là những biểu thị
của những động thái bên ngoài,và những biểu thị
những tác động giả lập của sự sanh diệt, Vô biểu
nghiệp chính là những sự giả lập được tác tạo
từ Tư tâm sở. Thành Thật Tông thì lập Nghiệp
thể làm phi sắc phi tâm pháp.
(Chúng Sự Phân A-Tỳ-Đàm
Quyển 5; Câu Xá Luận Quyển 1, 13; Thành Duy
Thức Luận Quyển 1; Đại Tỳ Bà Sa Quyển 113; Thuận
Chánh Lý Luận Quyển 33; Thành Thật Luận Quyển 7;
Câu Xá Luận Quang Ký Quyển 13; Thành Duy Thức
Luận Thuật Ký Quyển 2; Đại Thừa Nghĩa Chương
Quyển 7; Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Quyển 3,
phần cuối)”. [15,5497]
Chỉ xét riêng về thân
nghiệp thì cũng có nhiều quan điểm và chủ trương
khác nhau. Chính ngay trong đời sống con người,
thì thân đóng một vai trò quan trọng trong việc
tạo Nghiiệp của con người. Chính những hành vi
từ thân thể con người mà đã tạo ra nhiều ác
nghiệp. Sát hại sinh mạng hay cắt đứt đời sống
của chúng hữu tình, được xem như là một việc làm
tạo Nghiệp trực tiếp. Tuy sự tạo nghiệp ấy trước
hết phải được tác động từ sự suy nghĩ, nhưng sự
suy nghĩ có trở thành hiện thực hay không là do
thân thực hiện. Chính do Nghiệp báo sát hại mà
chúng sanh phải chịu những quả báo thật thê thảm
trong vòng luân hồi. Không những con người bình
thường mà chính những người có khả năng trong tu
tập khi phạm vào vào tội Nghiệp sát hại vẫn chịu
những quả báo thật khủng khiếp, chẳng hạn như
chuyện của Ngộ Đạt quốc sư, đã mười đời làm cao
tăng nhưng vì nghiệp sát hại vẫn phải chịu quả
báo.
Trộm cắp cũng vậy, chính
vì mang tội trộm cấp mà chúng sanh trong nhiều
đời phải chịu kiếp sống hèn hạ, hoặc phải chịu
trong những loài thú phải chịu những khổ sở của
thân xác.
Không giết hại chúng
sanh mà phải đem lòng từ ra cứu vớt chúng sanh,
không gian tham trộm cắp còn biết đem tài sản
vật chất ra bố thí giúp đở mọi người, không tà
dâm mà còn trinh bạch thủy chung. Chuyển hoá
những hành động xấu phát xuất từ thân trở thành
những hành động đẹp, có ích cho người cho mình.
Chính hành động chuyển hóa nầy tích cực góp phần
làm cho Thân được thanh tịnh ngay trong đời sống
hiện tại và tương lai.
2.2. Khẩu nghiệp:
Phạn ngữ Vikkarman.
Hành động của miệng, tức lời nói diễn đạt nội
tâm, một trong ba nghiệp. Khẩu nghiệp có hai:
Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp. Về điều này Đại
thừa và Tiểu Thừa chủ trương khác nhau.
“Thuyết Nhất Thiết Hữu
Bộ, cho ngữ biểu nghiệp dùng âm thanh làm thực
thể, Vô biểu nghiệp là thật sắc. Luận Thành Thật
cho Ngữ biểu nghiệp là danh thanh giả lập, Vô
biểu nghiệp là phi sắc, phi tâm. Kinh bộ và Duy
Thức chủ trương Ngữ biểu nghiệp là thanh âm giả
lập, lấy “Tư” do ngữ nghiệp phát khởi làm thể.
Vô biểu nghiệp cũng là giả lập, lấy thiện hoặc
công năng khởi bất thiện hoặc công năng bất
thiện hay ngăn thiện trong “Tư” chủng tử làm
thể”. (Phần chúng sự, Luận a tỳ đàm 5, Luận Câu
Xá 1,13; Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận 3, Luận Đại Tỳ Bà
Sa 113, Luận Thành Thật 7; Luận Thành Duy Thức
1; Thành Duy Thức Luận Thuật Ký 2, phần đầu; Đại
Thừa Nghĩa Chương 7). [14,2283-2284]
Khẩu nghiệp cũng đóng
vai trò quyết định trọng việc tạo nghiệp. Từ nơi
miệng có thể tạo ra những ác nghiệp làm cho
chúng sanh phải chịu những quả báo khổ đau,
nhưng cũng từ nghiệp khẩu này làm cho chúng sanh
thành tựu những công hạnh. Nếu như một người có
được lợi khẩu thì nếu như dùng lợi khẩu đó để
tạo những vấn đề phước thiện, nhằm tạo phước cho
mình và cho người thì khẩu nghiệp đó là lợi khẩu
tốt cho đời sống thăng hoa con người.
Cũng câu nói, có lúc làm
cho người ta thăng hoa và an lành nhưng cũng lời
nói mà làm cho người ta phải tan nhà mất nước.
Nếu như lời nói như thế thì thật tai hại cho
mình và cho người.
Quả báo của khẩu nghiệp
cũng không cùng tận, có những quả báo phải chịu
đựng trong loài súc sanh, chịu những nỗi thống
khổ của thân thể, bị người ta kinh tởm hay xua
đổi…Và có những quả báo của khẩu nghiệp trong
đời này làm cho người ta được những thanh âm vi
diệu, mỗi khi phát ra lời nói hay ngôn ngữ được
nhiều người thương mến, làm lợi lạc cho nhiều
ngừơi.
2.3. Ý nghiệp:
Phạn ngữ Manas-Karman,
một trong ba nghiệp, có ý nghĩa là nghiệp nương
vào Tâm vương, nghiệp có ý nghĩa tạo tác, nói
rộng ra thì bao hàm hết thảy những động tác hành
vi thiện, ác hoặc vô ký. Luận Câu Xá quyển 13:
“Suy nghĩ được gọi là ý nghiệp, bởi vì suy nghĩ
có ý nghĩa tạo tác, khiến tâm vương tạo tác
thiện, ác, hoặc vô ký… cho nên ý nghiệp tức
đồng nghĩa với tư (suy nghĩ). Lại, y cứ Thành
Duy Thức Luận Quyển 4 đề xuất, Tư có thể chia
làm ba loại: Thẩm lự tư, quyết định tư, động
phát thắng. Trong đó Thẩm lự và quyết định cùng
tương ưng với nhau mà tạo tác gọi là ý nghiệp.
Ngoài ra, căn cứ vào Đại Thừa Lý Thú Lục Ba La
Đa Kinh Quyển 7 ghi rằng, ý nghiệp có đầy đủ hai
loại tâm sau: 1- Tâm tinh tấn, tức phát tâm bồ
đề tu tập nghiệp lành mà xa rời hếât thảy những
tâm biếng lười;2- Tâm thối chuyển, tức đối với
pháp lành không thể tiến tu, hoặc chỉ tạm thời
phát tâm tu hành rồi sanh tâm thối thất”.
[15,3807 ]
Ý nghiệp thật bí nhiệm
và thầm kín vô cùng. Một hành động được biểu
hiện qua thân và khẩu đều do sự tác động của ý
cả. Nếu như không có sự chỉ đạo của ý thì mọi
hành động đều không tác thành. Nếu như một hành
động nào đó được tác thành mà không có sự tác
động của ý thì đó không hẳn là sự tác thành
nghiệp như đã tìm hiểu ở phần định nghĩa, tức là
nghiệp là một hành động có tác ý. Mặt khác, tất
cả những toan tính trong cuộc sống thường nhật,
tất cả đều do ý chủ đạo. Cũng chính từ ý nghiệp
mà con người có những hành động khác nhau từ đó
dẫn đến sự thọ sanh khác nhau. Từ những ý nghĩa
thầm kín sâu xa, con người có thể hình thành
những công trình vĩ đại để lại cho nhân loại
những di tích, những mưu đồ tham vọng có khi họ
cũng chôn vùi tận trong tâm khảm hàng chục năm
trời, cho đến khi có nhân duyên thời tiết đủ thì
những toan tính thầm kín kia sẽ bộc phát. Nếu
như không làm chủ được ý nghiệp con người có thể
tạo nghiệp ác bất cứ lúc nào. Nhận thức trong
vấn đề chuyển hóa ý nghiệp thật là một việc làm
không phải dễ, nó đòi hỏi con người cần có những
công phu đích thực. Nếu không những dấy động của
tâm thức không thể nào nhận biết được.
CHƯƠNG 3:
THỪA TỰ CỦA NGHIỆP
3.1. Thừa Tự Nghiệp Từ
Quá Khứ:
Chính Nghiệp, tức hành
động, tạo điều kiện để tái sanh. Nghiệp quá khứ
tạo điều kiện để tái sanh trong kiếp hiện tại.
Nghiệp hiện tại phối hợp với nghiệp quá khứ, tạo
điều kiện để tái sanh trong kiếp vị lai. Hiện
tại là con đẻ của quá khứ và trở nên cha mẹ của
tương lai.
Kinh Tiểu Nghiệp Phân
Biệt nói:
“Thanh niên Subha bạch
Thế Tôn: Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do
duyên gì, giữa loài người với nhau, khi họ là
loài người, lại thấy có người liệt, có người ưu?
Có người đoản thọ, có người trường thọ? Có người
nhiều bệnh, có người ít bệnh? Có người đẹp sắc,
có người xấu sắc, có người trí tuệ yếu kém, có
người đầy đủ trí tuệ?
Này Thanh niên, các loài
hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của
nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến
thuộc, nghiệp là điểm tựa. Nghiệp phân chia các
loại hữu tình, nghĩa là có liệt, có ưu. Ở đây,
này Thanh niên, có người đàn bà hay đàn ông sát
sanh tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại
đả thương, tâm không từ bi đối với các loại
chúng sanh. Do nghiệp ấy, khi thân hoại mạng
chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, địa ngục. Ở
đây, khi mạng chung nếu được đi đến loài người,
chỗ nào nó sinh ra, nó phải đoản mạng. Nhưng nếu
có người đàn bà hay đàn ông từ bỏ sát sanh, có
lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả
chúng sanh. Do nghiệp ấy, khi thân hoại mạng
chung, được sanh vào thiện thú, thiên giới, ở
đời. Ở đây, khi mạng chung nếu nó đi đến loài
người, chỗ nào nó sinh ra, nó được trường thọ
v.v..."[1, 473].
Trong lịch sử Phật Giáo
có rất nhiều điển tích nói lên cái nhân quả do
mình làm mình chịu, không ai có thể gánh thay
cho mình được, như sự tích bà Mục Liên Thanh Đề,
thân mẫu ngài Mục Kiền Liên. Bà Thanh Đề khi còn
sống đã làm nhiều điều độc ác, tham lam và ích
kỷ, không bao giờ làm phước, bố thí hay giúp đỡ
người nghèo khổ, nên khi mệnh chung bà phải đọa
vào địa ngục A-Tỳ, làm thân ngạ quỷ, đói khát
cực khổ.
Hay ngay chính Đức Phật
cũng thế, có những nghiệp Ngài đã gieo trồng
trong những kiếp xa xưa đến kiếp hiện tại Ngài
cũng thọ nhận quả, chẳng hạn như việc Tỳ khưu
Devadatta kết oan trái với Đức Phật, lăn đá làm
bầm bàn chân của Đức Phật, hay nàng
Cincàmànavikà vu khống Đức Phật, khiến voi say
Nàlàgiri định xông đến chà Đức Phật. Ở đây ta
nhấn mạnh đến những nghiệp nhân đã tạo ra từ quá
khứ và dẫn đến hiện tại, những nghiệp nhân ấy
đến khi hình thành quả thì dầu cho bất cứ đối
tượng nào cũng phải gánh chịu. Thế nên trong
kinh thường nói: “Bồ tát sợ nhân chúng sanh sợ
quả”. Những ai không mê mờ nhân quả chính là
những người rất sợ nhân quả, vì khi đã tạo nhân
thì rất khó hoán đổi. Trong khi đó những kẻ vô
văn phàm phu thì khi làm một chuyện gì ít khi lo
nghĩ đến nhân, cho đến khi những nhân xấu trổ
quả thì lúc đó rất sợ và tìm mọi cách để lẫn
trốn, nhưng nào có được. Chúng ta đề cập đến
những quả mà đức Phật phải chịu trong đời sống
hiện thế của Ngài. Tuy nhiên những quả báo ấy
cũng không tác động được nhiều đến Ngài.
Theo luật nhân quả, thì
quả vui hay quả khổ của người đang thụ hưởng đều
do những nhân tốt hay xấu do chính người ấy, chứ
không phải do người khác đã gieo trồng, trong
kiếp hiện tại hay trong những kiếp quá khứ. Với
cái nhận thức và tầm nhìn giới hạn của chúng ta
nên chúng ta chỉ thấy trước mặt cái quả đang trổ
mà không thấy được tất cả các nguyên nhân vi tế
đã sanh quả ấy, vì các nhân ấy không phải chỉ là
những nhân đã gieo trồng trong kiếp này mà có
thể là đã được gieo trải từ nhiều kiếp trong quá
khứ. Nhà Phật gọi là nhân quả ba đời, (có nghĩa
là bao gồm nhiều kiếp trong quá khứ, kiếp hiện
tại và nhiều kiếp trong tươntg lai).
Có một ý thức trực giác
về nghiệp quả - một sự hiểu biết rằng hạnh phúc,
và bất hạnh của chúng ta tùy thuộc vào hành động
của chúng ta và vì vậy chúng ta hoàn toàn chịu
trách nhiệm về định mệnh của chúng ta - điều này
đã đặt cuộc đời chúng ta trong một vị trí có sức
mạnh. Nếu chúng ta hiểu rằng tất cả mọi thứ, tất
cả không chừa một việc gì, đều xảy ra do từ một
nguyên nhân thì chúng ta sẽ hiểu thế nào là an
toàn. Như vậy, khi có một sự đau khổ, mâu thuẫn,
hiểm nguy, đau đớn, hay một vấn đề xảy ra trong
cuộc đời chúng ta, chúng ta không chỉ đơn thuần
tìm cách tiêu diệt nó. Tốt hơn là chúng ta nên
can đảm thay đỗi những điều kiện tạo môi trường
cho việc đó xảy ra và nuôi dưỡng hay duy trì sự
tồn tại của nó.
Thừa nghiệp từ quá khứ
là một hệ quả tất yếu đối với chúng sanh, thế
nhưng không phải tất cả những gì con người tác
tạo trong quá khứ thì phải thọ lãnh trong kiếp
hiện tại hay tương lai. Nếu như có một điều
tuyệt đối như vậy thì chúng sanh không thể nào
tu hành giải thoát sanh tử được. Và điều này
cũng đã được đức Phật khai thị:
“Ai nói như sau: "Người
này làm nghiệp như thế nào, như thế nào nó cảm
thọ quả như vậy, như vậy". Nếu sự kiện là vậy,
này các Tỷ-kheo, thời không có đời sống phạm
hạnh, không có cơ hội để nêu rõ đau khổ được
chân chính đoạn trừ. Và này, ai nói như sau:
"Người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào,
như thế nào nó cảm thọ quả báo như vậy, như
vậy". Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời
có đời sống phạm hạnh, có cơ hội để nêu rõ đau
khổ được chân chính đoạn trừ. Này các Tỷ-kheo,
có những người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp
ấy đưa nó vào địa ngục. Có người làm nghiệp ác
nhỏ mọn tương tự, và nghiệp ác ấy đưa đến cảm
thọ ngay trong hiện tại cho đến chút ít cũng
không được thấy trong tương lai”. [ 2,I,294 ]
Hơn nữa, trong đời sống
hiện tại không phải con người lãnh thọ tất cả
những khổ đau gì đều do những nguyên nhân của
quá khứ. Nếu như hoàn toàn phủ nhận hiện tại thì
không thể được. Vì hiện tại là một nhân tố quan
trọng trong đời sống con người:
“Này các Tỷ-kheo, đối
với các Sa-môn, Bà-la-môn thuyết như sau, chấp
kiến như sau: "Phàm có cảm giác gì con người
lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ không lạc, tất
cả đều do nhân nghiệp quá khứ". Đối với vị ấy,
ta đến và nói: "Chư Tôn giả, có thiệt chăng, chư
Tôn giả có thuyết như sau, chấp kiến như sau:
"Phàm có cảm giác gì con người lãnh thọ lạc, khổ
hay không khổ không lạc, tất cả đều do nhân
nghiệp quá khứ?" - Được Ta hỏi như vậy, họ trả
lời: "Thưa phải, có như vậy". - Ta nói với họ
như sau: "Như vậy, thời các Tôn giả do nhân
nghiệp quá khứ sẽ trở thành người sát sanh, trộm
cắp, tà dâm, nói láo v.v..." nhưng này các
Tỷ-kheo, với những ai trở lại dựa vào nghiệp quá
khứ và lý do viên thực, với những người ấy sẽ
không có ước muốn, không có tinh tấn, không có
"đây là việc phải làm" hay "đây là việc không
nên làm". Như vậy sự cần thiết cần phải làm hay
không cần phải làm, không được tìm thấy là chân
thật, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không
thể áp dụng đúng ph&aa