******Trang tiếng Việt  ******Thư Mục Tổng Quát ******Trang tiếng Anh ******

 

 

 

 

Luận văn tốt nghiệp

 

  TAM PHÁP ẤN GIÁO LÝ ĐẶC TRƯNG TRONG ĐẠO PHẬT

Thích Lệ Định

 

A - DẪN NHẬP :

 Đời sống quốc gia với hoàn cảnh địa lý và sự ảnh hưởng khí hậu thiên nhiên đã tạo cho Ấn  Độ có một lịch sử khác với các quốc gia trên thế giới. Đó là một  Ấn Độ có những rừng núi thâm u , tục gọi là Lục địa xanh (Pays blues)  đã ảnh hưởng nhiều tới luồng tư tưởng nhân bản, tiến bộ và giải thoát sớm nhất trong lịch sử nhân loại. Các nhà triết học, các luận sư và các luận thuyết trứ danh cũng đều xuất hiện tại xứ sở đầy huyền bí này.

Trước thời Đức Phật xuất hiện, về mặt tư tưởng Tôn giáo, triết học cũng như kinh tế, chính trị và xã hội Ấn Độ vô cùng phức tạp. Lúc bấy giờ, Ấn Độ có trên 62 học thuyết khác nhau, chi phối toàn bộ hệ thống tư tưởng triết học, nổi bật nhất là Bà La Môn Giáo. Ấn Độ như một thành phố phức tạp, bao học thuyết là bao đường đan chéo  nhau,  đa dạng vô cùng . Bởi các học thuyết đó không tránh khỏi vành đai tranh chấp, không tô điểm cho đời bằng vẻ đẹp an vui hạnh phúc. Còn xã hội thì phân chia bốn giai cấp rõ rệt; giai cấp Bà La Môn ( Brahmana )  và giai cấp Sát Đế Lợi ( Ksatriya ) được xem là những người thuộc giai cấp bề trên, thụ hưởng mọi quyền lợi, là giai cấp thống trị; còn gia cấp Phệ Xá ( Vaisya ) và Thủ Đà La ( Sùdra ) là những hạng nô lệ, tiện dân luôn bị xã hội khinh miệt, chà đạp, không được luật pháp bảo hộ .

Họ là những người ở dưới đáy xã hội, luôn bị áp bức bóc lột không chút thương tiếc, nhất là giai cấp Thủ Đà La. Sống dưới một xã hội về vật chất thì đang rên siết dưới ách bất công, với bao phiền trược vây quanh, bao nghịch duyên đau khổ luỵ phiền. Về tinh thần thì đang quay cuồng, điên đảo trong những luồng tư tưởng lý thuyết rối ren. Con người còn biết bám víu vào đâu ?  biết tin tưởng vào ai ? Thật là một diễn cảnh vô cùng bi thảm, Vì thế con người luôn khát khao có một lối sống tươi đẹp chân chánh để vượt qua thác loạn của cuộc đời .

Giữa hoàn cảnh xã hội bế tắc và con người dường như không còn lối 

thoát cho cuộc đời. Chính giờ phút quan trọng ấy, Đức Phật, bậc vĩ nhân trong các vĩ nhân đã xuất hiện như mặt trời sáng ấm ban mai, xua tan bóng tối của đêm đen dày đặc đã từ lâu che phủ nhân sinh. Đây là sự kiện trọng đại nhất trong các sự kiện trọng đại của lịch sử nhân loại. Sự xuất hiện của đức Thế Tôn là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những ai còn mê ngủ trong đêm dài tăm tối; là thông điệp cứu khổ cho vạn loại chúng sinh đang sống trong cảnh lầm than, mê mờ đầy dẫy tham , sân , si . . .

Suốt 49 năm hoằng pháp lợi sanh, Đức Phật đã để lại cho chúng sanh một kho tàng chánh pháp vô giá, một triết lý sống mang đậm tính nhân bản xuyên cả không gian và thời gian. Kho tàng giáo lý ấy được truyền trải qua nhiều quốc độ khác nhau. Hơn nữa, Giáo lý đó đã được “ SƯ SƯ KẾ TỤC – TỔ TỔ TƯƠNG TRUYỀN “. Các Ngài kế thừa, phát huy và ứng dụng cho từng  hoàn cảnh, từng đối tượng; tuỳ căn cơ cao thấp , sâu cạn mà xiển dương. Vì vậy, chắc chắn có nhiều sự thay đổi. Nguy hại hơn nữa là những giáo lý của ngoại đạo cũng không ngừng tìm cách chen vào để phá hoại chánh pháp, đã làm cho ý nghĩa chân chính của giáo lý bị pha trộn và ít nhiều làm mất đi tính chánh thống của giáo lý Đạo Phật , Đó cũng là điểm khó khăn cho hàng hậu học trong việc nghiên cứu, tu tập giáo lý Phật Đà.

Thế thì đâu là chánh pháp ? Đâu là tà giáo ngoại đạo ? Lấy gì để xác định , chứng nhận tính chính thống của giáo lý đạo Phật ? Bằng tuệ giác siêu việt của mình, Thế Tôn đã để lại cho chúng ta một phương pháp để thẩm định đâu là giáo lý Phật Giáo, đâu không phải là những lời dạy của đức Phật. Phương pháp đó là gì ? Đó không gì khác chính là TAM PHÁP ẤN. Tam Pháp Ấn mang tính pháp định trong toàn bộ hệ thống giáo lý của Phật Giáo.

Tất cả giáo lý của đạo Phật đều phải mang ba dấu ấn đó. Giáo lý nào không có ba dấu ấn trên thì giáo lý đó không phải là giáo lý chính thống của Phật Giáo. Vậy Tam Pháp Ấn gồm những gì ?  Trong Kinh Tương Ưng III, Đức Phật có lần hỏi các thầy Tỳ Kheo :

“ Các Thầy cái gì được thấy, được nghe được nghĩ đến, được biết, được tìm cầu, được tư duy, cái ấy thường hay vô thường ?

- Là VÔ THƯỜNG , bạch Thế Tôn.

-  Cái gì vô thường là khổ hay vui ?

- Là KHỔ, bạch Thế Tôn.

- Cái gì Vô thường, khổ chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thì có thể khởi lên suy nghĩ : Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi ? 

- Thưa không ( VÔ NGÃ ) bạch Thế Tôn. “

Như vậy, qua phần Kinh văn trên chúng ta thấy rõ Tam Pháp Ấn chính là:   VÔ THƯỜNG – KHỔ và VÔ NGÃ.

Trong phạm vi cho phép của đề tài này –Tam Pháp Ấn (VÔ THƯỜNG – KHỔ và VÔ NGÃ )  được xem như là nét đặt thù căn bản  nhất của toàn bộ giáo lý Đạo Phật.

Trước khi đi vào phân tích, chúng ta hãy tìm hiểu xuất xứ Kinh và định nghĩa thế nào là Pháp Ấn?

 B – NỘI DUNG

 CHƯƠNG 1 : XUẤT XỨ VÀ ĐỊNH NGHĨA PHÁP ẤN

1.1 – XUẤT XỨ KINH PHÁP ẤN :

Kinh Pháp Ấn ( 經法印 ) do Thiền Sư Thi Hộ đời nhà Tống chuyển dịch từ Phạn ngữ sang Hán văn. Kinh này thuộc về Kinh Bộ A Hàm, là Kinh số 104 của Đại Tạng Tân Tu . Ngoài ra trong Đại Tạng cũng còn có hai Kinh nói về Tam Pháp Ấn , đó là Phật Thuyết Thánh Pháp Ấn Kinh ( Kinh số 103 )   và Kinh số 80 của bộ Tạp A Hàm ( Kinh số 99 của Đại Tạng Tân Tu. Kinh này do Thiền Sư  Câu Na Bạt Đà La dịch cũng vào đời nhà Tống )

Trong Kinh tạng Pàli , đề tài Pháp Ấn được nói đến trong kinh số 43 của Trung Bộ ( Najjhima Nikaya ) và trong bộ Patisambhidàmaggo. Nội dung của ba bộ kinh đại khái tương đồng, ít có phần dị biệt. Song đứng về phương diện mạch lạc và ý tứ thì Phật Thuyết Thánh Pháp Ấn Kinh khúc chiết và súc tích hơn, còn kinh văn thì cũng  ngắn gọn hàm súc hơn.

Ngoài các bộ kinh nói về Tam Pháp Ấn thì các bộ Luận của Đại thừa cũng có đề cập đến Tam Pháp Ấn , tiêu biểu là  Đại Trí Độ Luận quyển 22 do Bồ Tát Long Thọ viết vào thế kỷ thứ II .

1.2 – ĐỊNH NGHĨA  PHÁP ẤN :

Pháp là gì ?  Nhậm trì tự tánh – Quỷ sanh vật giải , Nghĩa là cái gì giữ được hình dáng hay khuôn khổ của nó làm cho người khác  trông thấy mà biết đó là vật gì thì gọi là Pháp. Nhưng Pháp trong phạm vi trình bày của đề tài này thì Pháp là chánh pháp hay toàn bộ hệ thống tư tưởng trong lời dạy của Đức Phật  được các Thánh đệ tử ghi  chép lại trong Tam Tạng Thánh Điển.

Pháp nói vắn tắt cho dễ hiểu là Giáo Pháp.

Ấn là chiếc ấn hay khuôn dấu.

Như vậy Pháp Ấn là khuôn dấu hay dấu hiệu của chánh pháp, là tiêu

chuẩn để chứng minh cho tính đúng đắn và chính thống của giáo lý đạo Phật .

            Tam Pháp Ấn là ba đặc điểm nổi bậc của giáo lý đạo  Phật , ba khuôn dấu của chánh pháp , là ba bản chất của thế giới hiện tượng  : VÔ THƯỜNG – KHỔ và VÔ NGÃ . Ba đặc điểm này xác định tính đích thực của giáo lý Phật Đà, nhằm đảm bảo mọi sự suy tư, ngôn thuyết, diễn giải, thực hành của người đệ tử Phật không vượt ra ngoài mục đích giải thoát mà Như Lai đã giảng dạy.

 

CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH TAM PHÁP Ấ

2.1 – PHÁP ẤN THỨ I : VÔ THƯỜNG (Anitya -  無常) :

Bốn mùa luân chuyển, hoa nở rồi tàn, trăng tròn lại khuyết. . . Dòng đời biến dịch đẩy xô con người đến tận cùng hoang vu, thinh lặng. Người lữ hành mãi lang thang dong ruổi muôn vạn nẽo, lấy gió mát, trăng thanh làm bạn, xem sông núi mây ngàn là tri kỷ, tri âm. Song chợt một ngày bước chùn, gối mỏi.Thì than ôi ! áo đã sờn vai , đầu đã bạc tóc.

Biển đời vẫn lặng lờ trôi, từng cơn sóng nhấp nhô, rì rào, vỗ về bờ cát trắng đã cuốn đi biết bao hạt cát vào lòng bể khơi. Có bao giờ chúng ta tự hỏi: Sóng sẽ về đâu ?  Hạt cát còn hay mất giữa đại dương mênh mông ? Còn điều gì lung linh mầu nhiệm bên trong lớp áo Vô thường biến dịch.

Trong cuộc sống thực tại của con người, sở dĩ mang đầy gánh nặng đau khổ là do mê lầm, chìm đắm chạy theo ngũ dục, thất tình mà mấy ai nhận thức được rằng :

Cuộc đời rồi chẳng còn chi

Ruộng vườn nhà cửa có gì của ta

Trắng tay lòng mẹ sinh ra

Một hơi vĩnh biệt cũng là tay không

Đó chính là quy luật muôn thuở của vũ trụ nhân sinh, là định luật nghìn đời không thể thay đổi. Chúng ta hãy nghe Đức Phật dạy trong kinh Pháp Cú

Phẩm Vô thường thí dụ thứ 4 như sau:

Thường giả giai tận

Cao giả tất đoạ

Hiệp hội hữu ly

Sanh giả hữu tử

Tạm dịch :

Có còn thì có mất

Rơi xuống bởi trèo cao

Hết hiệp rồi tới tan

Có sống là có chết

            Hay Tổ Quy Sơn cũng đã từng dạy  :

   “. . . Vô thường lão bệnh, bất dữ nhơn kỳ

Tiêu tồn tịch vong, sát na dị thế

Thí như xuân sương hiểu lộ, thúc hốt tức vô

Ngạn thọ tỉnh đằng, khởi năng trường cửu. . . “

Hoà Thượng Hoàn Quan dịch :

“. . . Vô thường lão bệnh, chẳng hẹn cùng người

         Sớm còn tối mất, bổng chốc đã qua đời khác

         Thí như sương xuân, móc sớm, chợt có liền không

         Cây bờ, dây giếng nào được lâu bền . . .”

Vậy thế nào là Vô thường ?

2 .1.1 – Định nghĩa :

Vô thường tiếng Phạn là Anitya, có nghĩa là biến dịch, thay đổi, không

cố định. Vạn vật không đứng yên một chổ mà luôn luôn biến đổi hình dạng, đi từ trạng thái hình thành sang trạng thái biến hoại rồi tan rã theo định luật Thành

Trụ – Hoại – Không.

Cái mà Nho gia gọi là Dịch hóa thì nhà Phật gọi là Vô thường.

Vô thường là nói trong giới vật chất cũng như trong giới tinh thần không

có cái gì cố định, vạn pháp đều nằm trong dòng biến dịch không ngừng. Một pháp vừa sinh là đi dần đến chổ tan rã. Một pháp tan rã mở đầu cho một pháp đang sanh. Thực tại không phải là một ao tù mà là một dòng nước . Như Xuân Diệu đã từng viết :

Hoa nở để rồi tàn

Trăng tròn để rồi khuyết

Bèo hợp để chia tan

Người gần để ly biệt.

Ở phương Tây, Heraclite cũng đã từng nói : “ Người ta không bao giờ tắm hai lần trong một dòng sông  “ . Rõ ràng Ông đã  nói tới sự Vô thường thay đổi. Đúng vậy, một khi chúng ta xuống tắm dưới sông rồi đi lên, sau đó xuống tắm lại thì dòng sông đã là dòng sông khác mất rồi. Vì dòng sông không mãi đứng yên một chổ mà luôn luôn trôi chảy không chút ngừng nghỉ. Ở phương Đông đức Khổng Tử cũng từng nói về Vô thường. Có lần đứng trên bờ nhìn xuống dòng sông Ông nói : “ Thệ giả như tư phù, bất xả trù dạ “ ( Trôi mãi thế này sao, ngày đêm không dừng nghỉ ).

Theo Phật Giáo, tất cả mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian do các tập hợp duyên sanh đều mang tính Vô thường. Nói cách khác, Vô thường nghĩa là sự vật không mang tính đồng nhất bất biến. Hòn núi là tập hợp duyên sinh, thân thể con người là tập hợp duyên sinh, mây trôi, nước chảy, lá rụng bên đường cũng là tập hợp duyên sanh, cho đến hạt bụi nhỏ cũng do duyên sanh mà hiện hữu. Do vậy, hòn núi, thân người, lá cây, hạt bụi . . .  đều luôn biến đổi, tức phải chịu sự tác động của Vô thường . Mọi sự mọi vật trong thế giới hiện tượng từ các vật thể vĩ mô đến các thế giới vật chất cực nhỏ vi mô như những hạt nguyên

tử, hạt proton, hạt neuton luôn biến chuyển thay đổi liên tục, liên tục không đứng yên.

2 .1.2– Phân loại :

Phật Giáo chia Vô thường  làm ba loại như sau để cho dễ phân tích và quán sát:

a – Thân Vô thường :

Kiếp người với khoảng thời gian bất định 60 năm cuộc đời, có thể hơn thế nữa nhưng cũng có thể chỉ 20 năm, 10 năm. Có người chưa một lần nếm đắng cay, bùi ngọt mà cuộc đời ban tặng thì đành chịu vùi xác thân dưới lòng đất lạnh, đêm đêm nghe côn trùng rả rích.

Bằng tuệ giác của mình các Thiền sư đã nhìn vào lòng vạn vật, thấy  rõ thân này là giả tạm, mong manh. Bằng âm sắc thi ca, bằng hình tượng nghệ thuật, các Ngài đã thức tỉnh chúng ta biết sự mong manh của kiếp người.

Như chúng ta đã biết, thể tánh của vạn pháp là bất biến, còn vạn hữu và con người được hình thành theo pháp duyên sanh. Thế nên, nó cũng theo thời gian mà hoại diệt, tan rã. Trong kinh Pháp Cú Thế Tôn đã dạy:

Thân này không bao lâu

Sẽ vùi sâu đáy mồ

Như cây khô khúc gỗ

Vưt bỏ vì vô tri.

Cái thân của chúng ta không thể ước lượng được với thời gian, tuỳ theo sự tu tập, nhưng cũng không thể biết trước được sự sống chết, vì Vô thường không bất cứ một ai. Khi một hơi thở không ra vào nữa thì đã chấm dứt một kiếp người.

Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương, có đoạn đức Phật hỏi các thầy Tỳ

Kheo mạng sống con người là bao lâu ?

- Vị thứ nhất trả lời : Trong vài ngày

- Phật bảo : Ông chưa hiểu đạo

- Vị thứ hai đáp : Trong một bữa ăn

- Phật bảo : Ông cũng chưa hiểu đạo

- Vị thứ ba trả lời : Mạng sống con người trong một hơi thở.

- Đức Phật khen : Hay lắm. Ông mới thật sự là người hiểu đạo.

( Phật Tổ Ngũ Kinh trang 275 )

Thân tứ đại này rồi sẽ hư họai dưới ba tấc đất, giống như khúc cây mục nát không thể dùng vào việc gì nữa. Mới hôm nào đầu xanh, tuổi trẻ mà bây giờ tóc bạc da nhăn, chân mỏi gối dùn, mắt mờ tay điếc. Cho nên cổ đức có câu :

Cái thân như tấc bóng chiều

Như chùm bọt nước phập phều ngoài khơi

Hay trong TUYỂN TẬP CÁC BÀI SÁM VĂN trang 192 Thầy Thích Tâm

Chơn đã viết :

“ Cuộc đời giấc mộng Nam Kha

Giật mình tỉnh dậy thì ta tuổi già

Trăm năm cõi mộng người ta

Sanh già bệnh tử thiệt là chẳng sai

Còn thêm địa thủy phong tai

Sang hèn, nghèo khó chẳng ai khỏi nào. “

Nó mong manh quá, như bọt bèo như dây leo miệng giếng không chi là bền chắc cả. Chúng sanh vì một niệm mê lầm bất giác , nhận giả làm chơn, mãi lo cung phụng cho cái thân tạm bợ này mà nào có biết :

“ Thân như điển ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thạnh suy vô bố uý

Thạnh suy như lộ thảo đầu phô.”  ( Thiền Sư Vạn Hạnh )

Tạm dịch :

                        Thân như bóng chớp chiều tà

                        Cỏ xuân tươi tốt thu qua rụng rời

Sá chi suy thạnh việc đời

Thạnh suy như hạt sương rơi đầu cành.

Chính ngay nơi thân xác ta còn không giữ được, huống chi là tài sản, vợ

con , danh vọng phú quý của cuộc đời. Đôi lúc chúng ta đang vui hạnh phúc sum họp trong gia đình thì đùng một cái Vô thường đến sanh tử biệt ly.

Cho nên Khổng Tử đã từng than :

Ngô hữu đại hoạn vị vô hữu thân

Ngô nhược vô thân hà hoạn chi hữu

Nghĩa là :

                        Sở dĩ ta có cái khổ lớn vì ta có thân,

Nếu ta không có thân này thì đâu có khổ .

Ngày nay, khoa sinh lý học ( Biologic ) tuy chưa có thể hiểu biết hết đến chổ rốt ráo, cũng cho chúng ta biết rằng trong thân thể mỗi người, mỗi giây đồng hồ, có hàng nghìn hàng triệu tế bào chết đi và hàng nghìn hàng triệu tế bào khác  sinh ra để thay thế. Ngay nơi những vật như bức tường rắn chắc, chiếc xe, cái bàn trước mắt, ta tưởng chừng chúng chẳng thay đổi; song từng giây từng phút chúng luôn bị bào mòn hư hoại.

Như vậy, thân ta và thân mọi vật luôn đổi mới, biến dịch không ngừng, chúng ta không chỉ có một thân, mà là vô số lượng thân đang nối tiếp nhau không xen hở, thân trước làm nhân cho thân sau và thân sau là quả của thân trước . Theo đạo Phật thì trong thời gian 24 giờ, thân chúng ta thay đổi chết đi sống lại tới 6.400.099.980 lần; nhưng vì mắt thường chúng ta không thể trông thấy được sự thay đổi quá nhanh của thân này.

Tóm lại, tất cả vạn vật đều chết đi, sống lại, sống sống, chết chết, liền liền nối tiếp nhau nhanh như dòng nước chảy. Nước mà chúng ta thấy đang chảy ở ngay trước mắt chẳng phải là nước chúng ta trông thấy chảy ở nháy mắt trước và nước chảy trong nháy mắt sau đã không phải là nước hiện tại nữa rồi.

b – Hoàn cảnh Vô thường :

Chẳng những thân thể chúng ta luôn biến chuyển , thay đổi tương tục không dừng mà ngay cả sơn hà đại địa cũng không tránh khỏi định luật Vô thường kia. Điều này chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy.Mới hôm nào là đồng hoang, cỏ cháy mà hôm nay là khu du lịch vui chơi của hàng ngàn du khách.

Ngày hôm qua, nơi này là những nhà lầu huy nga đồ sộ mà hôm nay chỉ còn là một bãi đất trống lạnh lẽo. Chắc chúng ta ai ai cũng biết khu Nam Sài Gòn trước khi là đồng không vắng vẻ mà bây giờ nó trở thành một khu đô thị mới với nhiều nhà lầu mọc lên như nấm, đường sá thênh thang.v .v. . . Điển hình và sống động nhất cho những gì đã nói là đợt Sóng Thần vừa qua đã cướp đi bao sanh mạng, bao của cải vật chất của con người. Chúng ta hãy nhìn đi để thấy và để cảm nhận thế nào là hoàn cảnh Vô thường. Thế cho nên cổ đức đã dạy :

Biển hoá cồn dâu rất nhiệm mầu

Sông dài núi lớn chắc già đâu

Rừng mây lơ lửng chim vướng bẩy

Đáy nước mịt mù cá mất câu

Triệu phú Thạch Sùng đâu thấy nữa

Oai quyền Tần Thủy có bao lâu

Soi gương kim cổ mau tu tỉnh

Thế sự công danh dập bả trầu.

Đây là một nhận xét rất tinh tế. Hằng ngày nhiều lúc người ta cứ lầm  tưởng những vật trước mắt là thường hằng vĩnh cửu, bất biến không thay đổi.

Một đời chúng ta đã chứng kiến biết bao sự thăng trầm vinh nhục, nghèo khổ,  sang giàu, biết bao sự thay đổi của cuộc đời. Ôi ! cuộc sống thật là mong

manh tạm bợ, biến đổi khôn lường.Thật là:

Tiêu điều nhơn sự đã xong

Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư

Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ

Quán thu phong đứng rủ tà huy

Phong trần đến cả sơn khê

Tan thương đến cả hoa kia cỏ này.

c – Tâm Vô thường :

Vô thường không chỉ tác động đến thế giới vật chất mà nó còn chi phối cả trong thế giới tâm linh ( tâm thức ). Tâm thức con người luôn biến đổi, hết giận rồi thương, vui đó rồi buồn đó . v . v . . . Nó luôn biến chuyển như dòng suối , chảy mãi, chảy mãi không một phút giây nghỉ ngơi.

Vì thế  cổ đức mới dạy tâm của con người là “ Tâm viên ý mã “. Hay

trong Kinh Pháp Cú Đức Phật dạy : Tâm con người thường dao động , hốt hoảng, biến chuyển khó chế phục và Cổ đức cũng đã từng dạy :

Con người cái ý vốn hai

Khi mừng khi giận đổi thay không lường.

Nó luôn luôn thay đổi từng giây, từng phút. Từng sát na một . Cho nên Thế Tôn đã ví : “ Tâm người như vượn chuyền cây, như ngựa rong chơi ngoài đồng nội. “ Chẳng khác nào từng đợt sóng ngoài biển khơi, có rồi mất, mất rồi có, biến chuyển liên tục. Cũng chính ngay tâm sinh diệt biến đổi là hiện diện của phiền não, tham, sân. Si .v.v. . . Tính chất Vô thường của tâm linh là chuyển hoá không thật, chợt sanh chợt điệt. Chính vì nó quá vi tế và chúng ta cũng thờ ơ không để ý đến, nên cứ lầm tưởng nó không có thay đổi.

            Thật ra tâm được cấu tạo bởi từng niệm sanh diệt liên tục. Cái suy nghĩ

phút trước không phải là cái suy nghĩ của lúc này; cái suy nghĩ của lúc này không phải là cái suy nghĩ của lúc sau. Bởi tâm là niệm niệm nối nhau sanh

khởi, chuyển hoá liên tục, liên miên bất tận không bao giờ đứng yên một chổ.

Vì vậy Tổ Quy Sơn đã dạy :

“ Niệm niệm tấn tốc nhất sát na gian

   Chuyển tức tức thị lai sanh

   Hà nãi yến nhiên không quá .“

( Phật Tổ Ngũ Kinh trang 451 )

Nghĩa là :  “ Niệm niệm sanh diệt qua mau, trong một sát na đã chuyển qua đời khác. Tại sao chúng ta lại nỡ khoanh tay để ngày tháng luống qua mau”

Dòng tâm thức sinh diệt ấy chính là vọng tưởng điên đảo của lớp vô minh trùng trùng, điệp điệp, cuốn chúng sanh trôi lăn mãi trong bể khổ luân hồi sanh tử.

Cuộc đời là một hí trường mà chúng ta vừa là đạo diễn, vừa là diễn viên, đồng thời cũng là nhân chứng sống cho tấn tuồng đời đó. Vô thường là một cuộc luân vũ của những hình dạng phù du ấy và chúng ta là nhân chứng cho tấn tuồng đời, cho sự đổi thay, biến chuyển thâm trầm của kiếp sống nhân sinh. Nhiều lúc chúng ta tự hỏi tại sao mọi sự vật Vô thường tạm bợ như thế ? Một câu trả lời rất minh bạch và đơn giản là vì chúng do duyên sinh, dưới cái nhìn Phật học, con người cũng như sơn hà đại địa chỉ là tập hợp của năm yếu tố sắc, thọ, tưởng, hành và thức nên chúng Vô thường và biến đổi theo định luật Vô thường là sự hiển nhiên, là chân lý, là bản chất của thế giới hiện tượng. Cho nên chúng ta phải quán sát, thẩm thấu, tư duy thiền quán để chế ngự sự tham ưu ở đời.

Trước khi nhập Niết Bàn đức Thế Tôn còn ân cần dạy chúng ta rằng :

“ Trong các dấu chân, dấu chân voi là lớn hơn cả. Trong các phép quán niệm xứ thì niệm Vô thường là hơn cả “ ( Kinh Đại Bát Niết Bàn )

Thế nhưng, hiện tượng Vô thường không tất yếu đưa đến khổ ( Pháp ấn thứ hai ). Nếu chúng ta chỉ hiểu đơn giản Vô thường là khổ thì giáo lý Vô thường sẽ không phải là con dấu của chánh pháp nữa. Trong thực tế nếu không có Vô thường thì sẽ không có sự sống và không có sự phát triển. Nếu hạt bắp thường tại thì nó không bao giờ trở thành cây bắp hay phà Mỹ Thuận vẫn là phà  Mỹ Thuận, không bao giờ có cầu Mỹ Thuận hiện hữu như hôm nay.

Vô thường cũng đồng nghĩa với nguyên lý sinh tồn và phát triển của con người và thế giới tự nhiên. Nếu sự vật không Vô thường thì làm sao một chính sách độc tài có thể thay đổi bằng một chính sách dân chủ? Người này hôm nay rất dễ ghét song nhờ có sự Vô thường nên chúng ta có thể chuyển hoá người đó thành người dễ thương. Nếu sự vật không Vô thường biến đổi thì lịch sử tiến hoá của nhân loại sẽ không có nền văn minh phát triển như ngày nay mà nền văn minh nhân loại chỉ tồn tại ở thời kỳ đồ đá. và nhất là chúng ta sẽ không có hy vọng hóa giải các tập khí tham ái, phiền não vô minh đang tiềm ẩn sâu kín trong tâm hồn của mỗi chúng ta.

Nếu sự vật không Vô thường thì trên thế gian này sẽ không bao giờ có khái niệm trồng trọt , khai hoang, không có khái niệm văn minh, phát triển .v.v. . . . Chính Darwin nhà Sinh học nổi tiếng của thế giới trong thuyết tiến hóa của mình; Ông đã chứng minh được Vô thường chính là sự tiến hoá.

Do đó, giáo lý Vô thường đem lại cho mọi nổ lực sáng tạo. Ta có thể khẳng định Vô thường là đặc tính đích thực của cuộc sống. Đây cũng là khía cạnh tích cực của Vô thưòng mà ít có ai nói tới. Thầy Long Thọ đã nói những câu như sấm sét :“ Nhờ Vô thường, nhờ Vô ngã, nhờ Không mà tất cả thành tựu”. Nếu không có trí huệ, không có thực chứng thì làm sao nói được những câu đanh thép như thế.

Cuối cùng người viết xin mượn bài thơ CUỘC ĐỜI QUA MẮT TÔI của Hoà Thượng Thích Thanh Từ  để kết thúc phần trình bày về Vô thường :

Chiếc thân tứ đại khói

Sinh hoạt thế gian mây

Thành công khối nước đá

Thất bại chùm bọt tan

Nhục vinh bong bóng nước

Thương ghét hạt sương mai

Khổ vui trong giấc mộng

Lành dữ bóng chim bay

Tháng ngày cái chớp mắt

Còn mất ánh trăng lai

Chung cuộc cơn gió thoảng

Viên mãn bầu trời trong

2.2 – PHÁP ẤN THỨ II : KHỔ ( Dukkha - 苦) :

Khổ đau là một thực trạng mà con người cảm nhận từ lúc lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, không ai phủ nhận điều ấy. Con người luôn có xu hướng vượt thoát khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc, nhưng vì không hiểu rõ bản chất khổ đau nên không tìm được lối thoát thật sự, đôi khi ngược lại, càng tìm kiếm hạnh phúc càng khổ đau.

2.2.1 – Định nghĩa :

Khổ tiếng Pàli là Dukkha; “ Du” có nghĩa là khó còn Kkha có nghĩa là chịu đựng, là kham nhẫn. Nói cho dễ hiểu Dukkha có nghĩa là sự bức bách, đau đớn, khó chịu . . . Hán tự  苦 có nghĩa là đắng, hàm chức rằng sự đau khổ trong thế giới hữu tình, chứa đựng nhiều vị đắng chát, chua cay, đem lại cảm giác bất an. Trong kinh Tương Ưng trang 133 Đức Phật diễn tả sự khổ đau của con người như sau :” Toàn thể thế giới bốc cháy, toàn thể vũ trụ đắm chìm trong khói lửa, toàn thể vũ trụ làm mồi cho lửa, toàn thể vũ trụ rung lập cập. “

Đức phật đã căn cứ vào những hiện tượng duyên khởi hiện hữu - vô thường – biến dịch của nhân sinh và vũ trụ mà xác nhận rằng thế gian là giả tạm, bất toàn, trống rổng. Ngay đến những trạng thái mà người đời cho rằng hạnh phúc, an vui cũng đều là mầm mống của khổ đau.

Khổ đau là một sự thật mang tính phổ biến và hiện diện với nhiều hình thái đa dạng khác nhau. Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã diễn bày nổi khổ

trần gian như một định chế đeo mang trọn kiếp người :

Trắng răng đến thuở bạc đầu

Tử,sanh, kinh, cụ làm đau mấy lần

( Cung Oán Ngâm Khúc câu 59 – 60 )

Khổ trong Pháp ấn thứ hai này mang một triết lý sâu sắc, hàm chứa nội dung uyên áo rộng lớn . Khổ ở đây chính là Khổ Thánh Đế mà đức Thế Tôn đã trình bày trong Tứ Thánh Đế. Đó cũng là nội dung của kinh Chuyển Pháp Luân ( Dhammacakhappavattana sutta ) mà Như Lai đã thuyết giảng lần đầu tiên tại vườn Lộc Uyển cho năm anh em Kiều Trần Như nghe.

2.2.2 – Phân loại :

Theo đạo Phật khổ đau trong đời sống con người được chia qua 8 hiện tượng như sau :

a – Sanh khổ :

 Khổ trong đời sống của con người được chia làm hai phần , đó là khổ trong lúc sanh và khổ trong đời sống.

 – Khổ trong lúc sanh :

Trong kinh Phật dạy : mỗi mỗi loại chúng sanh trong từng giới loại, sự

xuất sản, xuất sanh , xuất thành, tái sanh, sự hoạch đắc các căn gọi là sanh. Sanh gồm người sanh và người được sanh.

Với con người, sanh có nghĩa là từ khi kết thai cho đến khi ra đời. Sự kết thai khởi đầu đã khó khăn phải đủ điều kiện như nghiệp thức, tinh cha huyết mẹ kết hợp và phải trong lúc bà mẹ có khả năng thụ thai v.v… thì thai nhi mới hình thành. Khi kết thai người mẹ bắt đầu biếng ăn mất ngủ, nôn mửa, bần thần … thai nhi càng lớn, người mẹ càng mỏi mệt, nặng nề, đi đứng khó khăn chậm chạp. Khi sanh người mẹ bị chịu nhiều đau đớn, sức khoẻ suy yếu, tinh huyết hao mòn có  khi phải mổ sẻ lắm lúc làm cho người mẹ chịu khuyết tật hay chết v.v … đều đau khổ.

Còn thai nhi thì sao? Từ khi tượng thai cho đến lúc vào đời cũng chịu nhiều điều khổ sở  không kém gì người mẹ. Chín tháng mười ngày đối với thai nhi là cả một thời gian dài đăng đẳng như bị giam hảm trong bóng tối, chật hẹp hơn cả lao tù. Khi thì cảm thấy lỏng bỏng như bong bóng phập phều, khi thì bị chèn ép như dằn bột dưới thớt to, khi thì nghe nóng như giữa sa mạc cháy bỏng, có lúc cảm thấy lạnh như giá băng.

Thức ăn và những chuyển biến tâm lý – vật lý của người mẹ đều có ảnh hưởng mạnh đối với thai nhi. Đây là điều khổ lớn. Nghiệp thức vào thai là kết quả của ái, thủ, vô minh, khiến thai nhi quên hết những gì trong đời sống quá khứ. Đây cũng là nỗi khổ lớn khác. Đến kỳ sinh sản, thân con phải chen qua chổ chật hẹp như bị đá ép bốn bề, nên khi vừa thoát ra ngoài, liền cất tiếng khóc Oa - Oa ( khổ oa - khổ oa) . Đúng như Ôn Như Hầu đã nói:

“ Thảo nào lúc mới chôn nhau

Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra “

Hay Nguyễn Công Trứ đã viết :

“Thoạt sinh ra thì đành khóc chóe

Trần có vui sao chẳng cười khì “

 – Khổ trong đời sống :

Sau khi được sanh ra lớn lên trong cuộc đời, đời sống con người cũng gặp biết bao là khổ đau, trắc trở. Con người ở đời hy vọng càng nhiều thì thất vọng càng lớn. Mong uớc những điều mà không thể thành tựu được thì thật là tuyệt vọng ưu sầu … đều là khổ. Trong cuộc sống còn có những mong ước khác như giàu sang phú quý, danh cao, quyền lớn . .v. v . . . những mong uớc ấy không trở

thành hiện thực thì khổ.

Cảm nhận được điều này nên cổ đức đã dạy :

Lọt lòng đã khóc khổ tu oa

Cái kiếp phù sinh kiếp đoạ mà

Vui sướng có chăng như gió thoảng

Dãi dầu chắc chắn tợ mưa sa

Danh cao lộc cả càng lo lắng

Sức yếu lực cùng phải trải qua

Bệnh tật rình chờ như cướp dữ

Sống còn tan tác giữa phong ba.

b – Già khổ :

Trong Đế Phân Biệt Tâm Kinh – Trung Bộ III trang 471 Đức Phật cũng

đã từng dạy : “ Sự niên lão, sự hư hoại, trạng thái răng rụng tóc bạc, da nhăn,

mắt mờ tai điếc, tuổi thọ rút ngắn , các căn biến hoại. Như vậy gọi là già. “

Hay cao dao ta cũng có câu :

“ Già nua là cảnh điêu tàn

Cây già cây cỏi, người già người si. “

Ở đời con người ai mà không già ? Cơ thể chúng ta biến diệt hư hoại trong từng giờ, từng phút, từng sát na. Nhưng tuổi còn trẻ ít ai nhận ra già là khổ, ai cũng muốn mình trẻ mãi, càng mong trẻ khi già thì đau khổ càng lắm.

Già là một điều kinh hãi, nó như mặt trời chiều chôn đi bao mơ ước. Càng già khí huyết càng hao mòn, bên trong ngủ tạng, lục phủ càng ngày càng suy yếu, bên ngoài các giác quan dần dần hư hoại, như mắt mờ, tay điếc, mũi nghẹt, lưỡi đớ, tay chân rung rẫy, đi đứng khó khăn. Trí não ngày một suy kém, nhớ trước, quên sau . . . Đã vậy, mỗi khi thời tiết thay đổi thì cơ thể cũng đổi thay theo nóng lạnh thất thường., không chút gì vui sướng cả.

Thật là :

Tuổi già lùm cụm ốm đau hoài

Tóc bạc da mồi trí lẫn sai

Tay yếu chân mềm chờ giúp bữa

Mắt mờ tai điếc sống qua ngày

Tinh thần lụng bại tâm nhu nhược

Vật chất suy đồi tánh đổi thay

Mệt mỏi không chừng nhìn dĩ vãng

Đời tàn chưa biết có ngày mai

c – Bệnh khổ :

Là con người ai cũng phải bệnh tật, cái bệnh nó hành hạ xác thân con người, làm cho khổ sở đau đớn. Chỉ bị đau đầu, đau răng hay đau bụng, trúng thực . . . cũng làm cho con người vô cùng khổ sở; làm cho ta không làm chủ được thân này. Huống hồ là những bệnh trầm kha, nó hành hạ xác thân khổ sở khó chịu vô cùng. Mạng sống con người có thể bị vô thường cướp mất đi bất cứ lúc nào, kể cả sự nghiệp mà mình khổ công xây dựng ở đời. Trong cuộc sống có biết bao chứng bệnh khác, nhất là những căn bệnh nan y như: nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, hay căn bệnh quái ác Sida, v.v. . . ngày đêm  luôn luôn rình rập và xâm nhập vào cơ thể bất cứ lúc nào, Thử một lần vào bệnh viện, chúng ta sẽ thấy tướng trạng thật sự của bệnh, khổ đến mức nào. Chúng ta hoàn toàn bị động trước cơn bịnh của kiếp người.

Thế nên mới biết :

Bệnh hoạn đeo theo để khổ đời

Con người vì thế phải mòn hơi

Bệnh xua quân tử không tròn mệnh

Bệnh khiến nam nhi chẳng kịp thời

Bệnh chuyển trần gian thành địa ngục

Bệnh mờ non nước án khung trời

Phải chăng mạnh khỏe là hy hữu

Nên mộng xuân hồng phải tả tơi.

d – Tử khổ :

Bệnh là nổi đau đớn như thế thì chết là cảnh tượng hãi hùng hơn. Con người ai cũng phải chết, chỉ sớm hay muộn mà thôi. Ở đời có người sợ chết đến nổi không dám nghe đến chữ CHẾT. Người bịnh khi hấp hối bị hành xác mới cảm nhận cái chết là đáng sợ, biết mình sắp chết thì tâm lý dao động, rối loạn, sợ hãi. Lo nghĩ hoang mang chết rồi không biết sẽ về đâu ? Tài sản, vợ con để lại cho ai ? Không biết chúng có giữ gìn được gia sản hay phá hết. Lúc đó các căn suy yếu, hư họai đau đớn vô cùng. Do đó ta thấy ám ảnh của cái chết đối với kiếp nhân sinh thật là khổ đau. Đúng như cổ đức đã dạy :

Tử là lìa bóng những người thân

Trước phút lâm chung khổ đoạn trường

Não dạ giã từ con hiếu thảo

Đau lòng ly biệt bạn hiền lương

Chỉnh lo cơ nghiệp rồi tan rã

Hướng thiện gieo duyên ngại bước đường

Hắc ám bao trùm mồ lạnh lẽo

Thẩn thờ vô định cõi sầu vương

e – Aùi Biệt ly khổ :

Sống trong tình thương đầm ấm của cha mẹ, vợ con, bạn bè. . . thế mà bị chia ly thì thật là khổ đau. Sự chia ly có hai loại.

– Sanh ly khổ :

Một gia đình đang sống vui vẻ hạnh phúc, bỗng vì hoàn cảnh bắt buộc, hay tai họa thình lình xảy đến như chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh. . . làm cho mỗi người một nẽo, bơ vơ, thất lạc, kẻ trông người đợi. Trong những năm chiến tranh khốc liệt, nam thanh niên phải thi hành Nghĩa Vụ Quân Sự, chúng ta dễ dàng bắt gặp cảnh vợ lìa chồng, con xa mẹ khóc than lưu luyến không nỡ rời nhau. Thật là đau lòng xót dạ. Đúng như người đời thường nói :“Thà lìa tử ai nỡ

 lìa sanh ?”

 – Tử biệt khổ :

Sanh ly tuy là khổ nhưng còn có ngày gặp lại; nhưng chết rồi bao thuở mới được sum vầy ? Vì thế, đứng trước cảnh chết, là sự chia ly vĩnh viễn, con người không ai không đau khổ trước cảnh đó. Lâm vào cảnh này có người xót thương rầu rĩ, đến quên ăn bỏ ngủ, có người đau đớn tuyệt vọng toan tìm cái chết theo người quá cố.

f – Cầu bất đắc khổ :

Con người ở đời hy vọng càng nhiều thì thất bại cũng càng nhiều. Bất luận trong lảnh vực nào trong cuộc sống, số người được như ý thì quá hiếm hoi; trong khi đó kẻ thất bại, không như ý thì không sao kể xiết. Con người muốn được kết quả như ý thì phải tốn không biết bao nhiêu tâm huyết và sức lực, lao tâm,tổn trí, mất ăn, bỏ ngủ, nhưng chẳng may những điều ấy không thành thì sự đau khổ không biết đâu là bờ bến. Sự bất như ý của con người có thể nhiều không thể kể hết. Trong đó thất vọng vì công danh, vì phú quý, vì tình duyên trắc trở là những đau khổ lớn nhất của kiếp nhân sinh.

Thế cho nên Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều mới nói :