Ý NGHĨA PHÁP PHƯƠNG TIỆN TRONG KINH PHÁP HOA
Thích Giác Chí
A/ DẪN NHẬP
Chương 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đức Phật là vị giáo chủ đầy tính vị tha, Ngài đã khẳng định
sự ra đời của Ngài là vì muốn đem lại hạnh phúc
cho chư thiên và loài người. Ngài xuất hiện trên
đời này là vì hết thảy chúng sanh đang khổ đau.
Bởi lầm chấp vọng tưởng đảo điên nhận huyễn làm
chơn, bỏ hình theo bóng cho nên chúng sanh mới
bị cuốn trôi theo dòng xoáy của luân hồi sinh
diệt. Đức Phật luôn muốn chúng sanh nhận chân rõ
sự thật, nhận được cái lẽ chân thật của cuộc đời
và nhận ra cái bản thể thanh tịnh của mình. Cái
bản thể ấy vốn không sanh, không diệt, không
nhơ, không sạch vẫn thường hằng dù ở bất cứ cảnh
giới nào. Đó chính là cái Tri Kiến Phật, tri
kiến Như Lai, tri kiến giải thoát. Đức Phật ra
đời chỉ để chỉ cho chúng sanh nhận chân được
Phật Tri Kiến của mình sống với nó mà thoát ly
sanh tử khổ đau. Điều này được xác định qua Kinh
Pháp Hoa. Bản hoài của chư Phật là: “khai thị
chúng sanh ngộ nhập Phật Tri Kiến” (開 是眾 生 悟 入 佛
知見). Làm thế nào để khai thị chúng sanh ngộ nhập
Phật Tri Kiến? Phật Tri Kiến là pháp chân thực
không thể dùng lời nói để luận bàn, không phải
pháp hữu tướng để nhìn thấy. Bởi nếu là pháp hữu
thì duyên sanh không thật. Như Kinh Kim Cang có
dạy:
“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (凡 所 有 相 皆 是 虛 忘)
Vậy làm thế nào để chúng sanh nhận ra
được cái bản thể thanh tịnh thường hằng của
chính mình. Đức Phật đã dùng hình ảnh rất cụ thể
để cho chúng ta thấy được cái pháp của Ngài. Đó
là ảnh dụ ngón tay và mặt trăng.
“Nhất thiết tu đa la như tiêu nguyệt chỉ”( 一 切 修 多 羅 如 宵月
指)
Tất cả các kinh giáo Ta dạy như ngón tay
chỉ mặt trăng Đức Phật đã nói như vậy. Ngón tay
là phương tiện, mặt trăng là chân lý, là thật
tướng mà Đức Phật đã chứng ngộ. Điều Phật đã
chứng ngộ thậm thâm vi diệu là cái điều mà hết
thảy chúng sanh đều có. “Nhất thiết chúng sanh
giai hữu Phật tánh” (一 切 眾 生 皆 有 佛 性). Để chỉ
cho chúng sanh thấy được Phật tánh, Phật Tri
Kiến của mình Đức Phật đã dùng vô số phương tiện
để chỉ bày.
Như vậy pháp Phật chính là Pháp Phương Tiện (法 方 便) hay nói
cách khác Pháp Phương Tiện chính là pháp Phật.
Từ điều này ta có thể nói rằng tất cả sự chỉ dạy
của Đức Phật chỉ là phương tiện. Vì mục đích đạt
đến cứu cánh của hết thảy chúng sanh mà Đức Phật
đã dùng vô số phương tiện. Nhưng chúng sanh phần
nhiều chưa rõ được Pháp Phương Tiện của chư Phật
ra sao? Thường lầm chấp phương tiện là cứu cánh
nên có một số người đã thần thánh Kinh điển phải
để những chỗ trân trọng, thậm chí có kẻ còn thờ
cả Kinh điển mà không hiểu được nghĩa lý của
Kinh. Họ không biết được tụng đọc kinh điển là
để hiểu cái lý của Phật dạy: “Tụng kinh giả minh
Phật chi lý” (誦 經 者明 佛 之 理). Mà cứ khư khư ôm
lầm chấp như kẻ qua sông còn ôm mãi chiếc đò
không chịu rời bến. Nhưng cũng lắm người lại lợi
dụng cái Pháp Phương Tiện để mưu cầu danh lợi.
Họ nhân danh: “Phương tiện trong phương tiện” để
giải đãi biếng nhác tu tập, tóm thu lợi dưỡng,
mưu cầu lợi danh. Trước những điều trăn trở ấy
người viết quyết định chọn “Pháp Phương Tiện”
làm đề tài nghiên cứu xin được góp thêm một đóm
lửa nhỏ để làm sáng tỏ hơn vấn đề.
1.2 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ ĐỀ TÀI:
Pháp Phương Tiện là pháp được Đức
Phật xác định rõ ràng trong Kinh Pháp Hoa ở phẩm
Phương Tiện thứ hai. Kinh Pháp Hoa là bộ kinh
lớn thuộc kinh điển Đại thừa nên rất được chư
Tôn Đức tiền bối và hiện tại, cũng như các thức
giả quan tâm nghiên cứu và chú giải. Kinh Pháp
Hoa là một bộ kinh rất đặc biệt nó vừa cao sâu
nhưng lại rất phổ thông, nên không những được
các nhà nghiên cứu Phật học giảng giải mà quảng
đại quần chúng Phật Tử đều đọc tụng thọ trì.
Nhưng có lẽ Pháp Phương Tiện chưa được đề cập
riêng biệt. Tuy nhiên khi phân tích chú giải
Kinh Pháp Hoa các học giả và các nhà học Phật
thường chú trọng sớ giải phẩm Phương Tiện một
cách rất sâu sắc. Vì phẩm này chính là phẩm căn
bản trong phần tích môn của Kinh Pháp Hoa. Như
Hòa thượng Thích Thiện Siêu khi giảng giải Kinh
Pháp Hoa đã dành 177/ 560 trang sách để giảng
giải về phẩm Phương Tiện. Qua đây ta có thể nói
rằng Pháp Phương Tiện trong Kinh Pháp Hoa cũng
đã được đề cập rất nhiều trong quá trình nghiên
cứu và chú giải. Trong bài viết này chỉ mong
tiếp nối cái sở học của những người đi trước.
1.3. Ý NGHĨA VÀ NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI.
Pháp Phương Tiện trong Kinh Pháp Hoa như
đã nói là phần căn bản của tích môn, nó như là
cánh cửa để Đức Phật khai mở Đạo Nhất Thừa. Muốn
chỉ được nhất thừa Đức Phật phải dùng phép
phương tiện để khai quyền hiển thật. Trình bày
đạo nhất thừa Đức Phật cũng phải dùng đến phương
tiện ngôn ngữ. Điều này chứng tỏ không có Pháp
Phương Tiện thì không thể thuyết giáo, không thể
khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật Tri Kiến. Nói
như vậy để thấy rằng Pháp Phương Tiện đối với
Phật pháp là vô cùng quan trọng. Cho nên hiểu rõ
về Pháp Phương Tiện để hiểu sâu hơn về Kinh Pháp
Hoa nói riêng và giáo lý nhà Phật nói chung là
công việc rất cần thiết. Bởi hiểu đúng ý nghĩa
của nó mới mong áp dụng Pháp Phương Tiện một
cách đúng đắn. Nên với đề tài nghiên cứu này
mong rằng sẽ làm sáng tỏ hơn tính chất quan
trọng của Pháp Phương Tiện.
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Pháp Phương Tiện là pháp mà Đức Thế Tôn và chư Phật quá khứ
đã khai mở ra hầu dẫn dắt hết thảy chúng sanh
qua khỏi biển sanh tử vượt thoát khổ đau. Chân
lý nhiệm mầu là bất khả tư nghì. Để diễn đạt nó
Đức Phật đã dùng vô số phương tiện. Có thể nói,
tất cả cách thức trình bày, thuyết giảng, dùng
đến ngôn ngữ, hình ảnh hay thị hiện thần
thông…thậm chí đến sự ra đời, xuất gia thành đạo
hay chứng nhập niết bàn cũng là phương tiện của
Phật để độ chúng sanh. Như vậy Pháp Phương Tiện
thật rộng bao la, sâu vô cùng, dài vô lượng. Với
phạm vi một tiểu luận nhỏ mà bàn về Pháp Phương
Tiện chẳng khác nào đội đá vá trời. Nên chỉ xin
lạm bàn về Pháp Phương Tiện theo tinh thần Kinh
Pháp Hoa đã được học. Với tiểu luận này cũng
mong trình bày một số nhận định về Pháp Phương
Tiện qua Kinh Pháp Hoa nhằm hỗ trợ cuộc sống tu
tập của những hành giả Pháp Hoa. Cũng như thêm
một ít chất liệu để mọi người cùng hiểu Phật
pháp một cách sâu sắc hơn.
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT CẤU LUẬN VĂN:
Với tiểu luận này người viết chỉ mong được trình bày lại
một số kiến thức mà mình đã được học từ sự khai
mở của Hòa thượng ân sư, cũng xin được góp một
số ý kiến nhận định của mình như là trả bài cho
chư vị giáo thọ, mong đáp được phần nào công ơn
dạy dỗ và xin chia sẽ với các hành giả Pháp Hoa
số vấn đề mang tính cách mới của Pháp Phương
Tiện để cùng nhau trao đổi hỗ trợ cho việc tu
học ngày một tốt hơn.
Do mục đích đó nên tiểu luận này trình
bày dưới dạng tham cứu cơ bản, từ đó phân tích
rút ra những bài học thiết thực hay tìm đến
những phương pháp làm phương tiện cho việc tu
học và hoằng pháp. Từ mục đích và phương pháp
nghiên cứu như đã trình bày ở trên. Tiểu luận
này được kết cấu gồm 3 phần 5 chương.
Phần dẫn nhập : Chương 1 - Giới thiệu Đề tài.
Phần nội dung: Chương 2 :Giới Thiệu Tổng Quát.
Chương 3: Ýù Nghĩa Của Pháp Phương Tiện Trong Kinh Pháp
Hoa
Chương 4 : Giá Trị Thực Tiển Của Pháp Phương Tiện.
Phần kết luận: Chương 5: Phật Pháp Là Pháp Phương Tiện
Trước khi đi vào nội dung chính, thiết
nghĩ chúng ta nên đi vào phần khái quát nội dung
của Kinh Pháp Hoa và duyên khởi Phật nói pháp
phương tiện.
B/ PHẦN NỘI DUNG
Chương 2: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT
2.1.XUẤT XỨ:
2.1.1.Khái quát nội dung Kinh Pháp Hoa:
Kinh Pháp Hoa là bộ kinh lớn của
kinh điển Đại thừa hàm chứa ý nghĩa rất sâu xa
và phong phú. Không thể một vài dòng mà có thể
nói hết được nội dung của bộ kinh. Chỉ xin dẫn
dụ ra đây sự tóm lược nội dung kinh mà chư tiền
bối các bậc thức giả đã tóm lược để người đọc có
cái nhìn khái quát hơn. Kinh Pháp Hoa bao gồm 28
phẩm được chia ra làm 7 quyển (theo bản dịch của
Hòa thượng Thích Trí Tịnh). Hải Ấn thiền sư khái
quát nội dung của 28 phẩm Kinh Pháp Hoa như sau:
a) Phẩm tựa: Hiển bày tổng quát về sự tướng của
pháp giới.
b) Từ phẩm Phương tiện thứ 2 đến
phẩm Pháp sư thứ 10: Khai mở cho chúng sanh cái
thấy biết của chư Phật.
c) Từ phẩm Hiện bảo tháp thứ11 đến phẩm Chúc lụy thứ
22: Chỉ rõ sự thâm áo của Tri Kiến Phật.
d) Từ phẩm Dược vương Bồ Tát bổn sự thứ 23 đến phẩm Phổ
hiền Bồ Tát thứ 28: Nói đế sự thể nhập Phật Tri
Kiến hai con đường hành đạo Bồ tát
Nhưng phần đông đều phân tích nội dung Kinh Pháp Hoa theo
hai phần Tích môn và Bản môn.
Phần Tích môn là phần diễn tả sự hóa độ của Đức Phật Thích
Ca qua biểu hiện lịch sử tu tập, hành đạo và
giáo hóa bao gồm 14 phẩm đầu. Phần nầy được phân
tích ra làm 5 phần nhỏ.
Phần 1 là phẩm Tựa: Giới thiệu tổng quát về Phật Tri Kiến.
Phần 2 là phẩm Phương tiện thứ 2: Đây là phẩm căn bản của
phần tích môn, cũng là chính yếu của bộ Kinh
Pháp Hoa. Nên được gọi là: “Pháp thuyết châu” (法
說 珠)chỉ bày Phật Tri Kiến rất cao thâm chỉ có
hàng thượng căn thượng trí mới nhận được. Phẩm
này Đức Phật xác nhận tất cả các pháp của Phật
đều là phương tiện.
Phần 3: Từ phẩm Thí dụ thứ 3 đến phẩm Thọ ký thứ 6: đoạn
này Phật tiếp tục chỉ bày Phật Tri Kiến qua các
hình ảnh thí dụ và trao truyền để hàng có căn
trí thấp hơn giai đoạn đầu có thể lãnh ngộ được
nên gọi là: “Dụ thuyết châu”. (喻 說 珠)
Phần 4: Từ phẩm Hóa thành dụ thứ 7 đến phẩm Thọ học, vô học
nhân ký thứ 9: phần này Đức Phật đã mỡ tâm cho
các hàng đệ tử có căn cơ thuộc hàng hữu học nhận
rõ nhân tu hành quá khứ của tự thân để phát khởi
tâm Đại thừa, hầu nhận rõ được Phật Tri Kiến nên
gọi là: “Nhân duyên thuyết châu”. (因 緣 說 珠)
Phần 5: Từ phẩm Pháp sư thứ mười đến phẩm An lạc hạnh thứ
14: phần này là phần bổ sung cho phần chính của
tích môn để nói rõ hơn khả năng thành Phật của
hết thảy chúng sanh hay nói cách khác là phần
này nói về Phật tính và điều kiện để hiểu và
giảng Kinh Pháp Hoa.
Đây chính là phần chuẩn bị tư tưởng để thính chúng đi vào
phần Bản môn.
Phần Bản môn: Phần Bản môn chỉ rõ Phật tính vốn không sinh
không diệt thường hằng nên Thế Tôn thành đạo từ
vô lượng kiếp trước ở Ta bà chứ không phải ra
đời và thành đạo ở hiện kiếp. Đây chính là phần
triển khai giáo lý Pháp Hoa, giải thích tại sao
thành Phật và con đường đi vào Phật đạo, kiến
Phật Tri Kiến của các hàng Bồ tát. Phần Bản môn
này được chia ra 3 phần nhỏ.
Phần 1 gồm 2 phẩm: Hiện bảo tháp thứ 15 và Như lai thọ
lượng thứ 16: Đây là phần chính yếu của Bản môn.
Khẳng định Phật tánh là thường hằng không sanh
không diệt và Như lai đã thành đạo từ vô lượng
kiếp trước.
Phần 2 từ phẩm Phân biệt công đức thứ 17 đến phẩm Chúc lụy
thứ 22: Phần này Đức Phật khích lệ hàng đệ tử
học hiểu và phổ biến Kinh Pháp Hoa nhưng không
xa rời Bản môn.
Phần 3 từ phẩm Dược vương Bồ Tát bổn sự thứ 23 đến phẩm Phổ
hiền Bồ Tát khuyến phát thứ 28: Chỉ rõ con đường
đi vào Phật Tri Kiến hay quá trình tu tập của
hàng Bồ Tát trên con đường chứng nhập Phật Tri
Kiến.
Tóm lại dù nói gì đi nữa thì nội dung
Kinh Pháp Hoa cũng để khẳng định Đức Phật dùng
vô số phương tiện để mở bày dẫn dắt chúng sanh
trở về với Tri Kiến Phật của chính mình hay nói
cách khác nội dung Kinh Pháp Hoa là Đức Phật
dụng phương tiện để “Khai Thị Chúng Sanh Ngộ
Nhập Phật Tri Kiến”.
2.1.2 Sự Xuất Hiện Của Pháp Phương Tiện Trong Kinh
Pháp Hoa.
Theo tinh thần nội dung tư tưởng của Kinh Pháp Hoa thì Pháp
Phương Tiện đã xuất hiện rất sớm. Vì sao vậy? Vì
tất cả hành động diễn thuyết từ sự Đản sinh, cho
đến xuất gia tu hành, thành đạo của Đức Phật đều
dụng Pháp Phương Tiện để nhằm chỉ rõ cho chúng
sanh nhận rõ Phật Tri Kiến và chứng nhập được
Phật Tri Kiến của chính mình.
Nhưng ở đây chúng ta chỉ bàn theo nội dung của Kinh Pháp
Hoa. Trong Kinh Pháp Hoa ta nhận thấy rằng sau
khi Đức Phật nhập vào chánh định vô lượng nghĩa
xứ thân và tâm không lay động từ trong đạo bạch
hào phóng ra vô lượng hào quang để hiển bày vô
lượng cảnh giới. Sau đó Đức Phật lại từ chánh
định ung dung mà xuất bảo với Ngài Xá Lợi Phất
rằng: “Trí của chư Phật thậm thâm vô lượng, trí
huệ môn đó rất khó hiểu, khó vào, tất cả hàng
Thanh văn, Bích Chi Phật không thể hiểu được. Vì
sao? Bởi vì các Đức Phật đã từng thân cận trăm
ngàn vạn ức vô số Đức Phật và đã tận hành vô
lượng đạo pháp của các Đức Phật, dũng mãnh tin
tấn danh xưng cùng khắp, thành tựu pháp thậm
thâm vị tằng hữu và tùy nghi nói pháp ý thú khó
hiểu” [15. 51].
Đức Phật vừa xuất định đã tán thán trí huệ của Chư Phật là
chính để hiển bày sự dụng của Pháp Phương Tiện
mà Đức Phật sắp nói ra. Thật vậy chúng ta hãy
nghe Phật dạy đoạn tiếp theo: “Này Xá Lợi Phất,
từ ta thành Phật đến nay đã dùng các nhân duyên,
các thí dụ, rộng nói ngôn giáo và vô số phương
tiện dẫn đạo chúng sanh khiến xa lìa chấp trước.
Sở dĩ làm vậy là vì phương tiện tri kiến Ba la
mật Như Lai đều đã đầy đủ. Này Xá Lợi Phất, tri
kiến Như lai rộng lớn sâu xa, vô lượng vô ngại
lực, vô sở úy, thiền định giải thoát, tam muội
sâu vào không có ngần mé, thành tựu các pháp
chưa từng có. Này Xá Lợi Phất, Như Lai hay phân
biệt khéo nói các pháp ngôn từ mềm dịu vui đẹp
lòng chúng” [13. 187].
Ở đây ta thấy Phật nói sự thành tựu về
phương diện từ lợi cũng nói về phương diện lợi
tha. Từ sự thành tựu của tự lợi nhìn vào biết
được chúng sanh tánh, dùng xảo thuyết để dẫn dắt
chúng sanh tức khéo hợp với căn cơ mà nói pháp.
Đó là Pháp Phương Tiện.
Đây chính là sự khởi đầu Đức Phật tuyên
dương Pháp Phương Tiện của chư Phật. Vì nếu
không dụng pháp phương tịên thì không chỉ bày
được Tri Kiến Phật vốn rất khó hiểu, khó nghĩ vì
pháp đó là thập như thị: như thị tướng, như thị
tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như
thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị
báo, như thị bản mạt cứu cánh. [13. 189]
Như vậy chúng ta đã nhận thấy rằng Pháp Phương
Tiện đã được Đức Phật khẳng định ở phẩm Phương
tiện của Kinh Pháp Hoa. Để tìm hiểu sâu hơn Pháp
Phương Tiện trong Kinh Pháp Hoa và ứng dụng của
nó ra sao trong quá trình tu tập và hoằng pháp
chúng ta cùng đi tiếp vào phần ý nghĩa Pháp
Phương Tiện trong Kinh Pháp Hoa.
Chương 3: Ý NGHĨA PHÁP PHƯƠNG TIỆN TRONG KINH PHÁP HOA
3.1 PHÁP PHƯƠNG TIỆN.
Như chúng ta đã biết chúng sanh có vô lượng phiền não thì
Đức Phật vị Pháp Vương cũng có vô lượng pháp môn
tu tập để diệt trừ , đưa chúng sanh ra khỏi biển
sanh tử luân hồi. Như vậy, pháp ở đây chính là
phương pháp tu tập diệt trừ phiền não. Chúng
sanh nhờ các pháp tu nầy để đạt được sự giác
ngộ. Nhưng Tri Kiến Phật thậm thâm vô lượng
chúng sanh không thể tự nhận biết mà phải nhờ
đêùn sự khai mở của Đức Phật để đạt đến giác
ngộ. Đức Phật dùng pháp gì để “Khai Thị Chúng
Sanh Ngộ Nhập Phật Tri Kiến.” Đó chính là Pháp
Phương Tiện.
Vậy, Pháp Phương Tiện chính là phương pháp xử dụng phương
tiện để thuyết giảng, để giáo hóa chúng sanh,
nhằm giúp cho chúng sanh nhận chân được Phật Tri
Kiến của mình mà tu tập giải thoát.
3.1.1 Phương Tiện Là Gì?
Phương là phương pháp; tiện là tiện dụng, phương tiện hiểu
theo nghĩa nầy là phương pháp tiện dụng, phương
pháp dùng một cách thích hợp và thuận tiện. Từ
nghĩa nầy ta có thể nói rằng; Pháp Phương Tiện
chính là phương pháp tiện dụng mà Đức Phật dùng
để giáo hóa chúng sanh nhận rõ được chơn như
thật tánh của các pháp và của chính mình. Nhưng
giải thích như thế thì quá giản đơn không thể
bao hàm hết ý nghĩa của Pháp Phương Tiện mà Đức
Phật đã xử dụng. Vậy chúng ta cần phải hiểu hai
chữ phương tiện theo nghĩa rộng hơn. Theo hòa
thượng Thích Thiện Siêu hai chữ phương tiện được
hiểu như sau: Phương là giáo lí chân chánh, tiện
là ngôn ngữ xảo diệu. Giáo lí thậm thâm mà không
dùng lời xảo diệu thì mới vô thuyết tâm, nhờ
ngôn ngữ xảo diệu mà từ giáo lí vô ngôn trở
thành giáo lí đa ngôn.
Thật vậy, nói đến chơn tâm là nói đến sự vô ngôn, vắng bặt
suy lường nếu không dụng ngôn ngữ làm phương
tiện thì ai nói, ai nghe, nói cái gì và nghe cái
gì? Nếu đã dùng ngôn ngữ, hình ảnh, cảnh tượng
v.v.v..để nói, để chỉ về nó tức đã xử dụng
phương tiện ngôn ngữ, hình ảnh, cảnh tượng
v.v.v…. Cũng theo Hòa thượng Thích Thiện Siêu
thì chữ phương tiện có hai nghĩa rộng và hẹp.
“Về nghĩa hẹp: phương là phương pháp, tiện là
thuận tiện, thích đáng. Phương pháp thích đáng
để dẫn đến mục đích, một ý muốn đó là phương
tiện. Về nghĩa rộng: tất cả các cách thức trình
bày thuyết giảng dùng đến ngôn ngữ sắc tướng
v.v. thậm chí cả đến sự ra đời của Phật cũng đều
là phương tiện” [13. 172]
Chữ phương tiện theo tiếng Nhật là “hò ben” từ ghép của hai
chữ “hò” (phương 方) và “ben”(tiện 便). Hò ngoài
nghĩa là vuông còn có nghĩa là đúng. Ben là
phương pháp hay phương tiện. Do đó hò “hò
ben”nghĩa là phương pháp đúng. Như vậy, phương
tiện nhằm chỉ ý niệm một phương pháp soi sáng áp
dụng thích hợp. [8.114]
Kết hợp hai cách định nghĩa trên đấy ta có thể nói; phương
tiện là một phương pháp đúng, thích đáng, soi
sáng áp dụng thuận tiện, thích hợp cho người hay
trường hợp để dẫn đến mục đích, một ý muốn.
Thật ra, chữ phương tiện được rất nhiều nhà học Phật nghiên
cứu định nghĩa và giải thích, song không ngoài
hai ý trên. Người viết cũng nhận thấy đây là
định nghĩa về hai chữ phương tiện tương đối
hoàn hảo. Mở rộng ra ta có thể hiểu Pháp Phương
Tiện như là một phương pháp đúng, đầy đủ tiện
ích, thích đáng mà Đức Phật dùng để soi sáng cho
hết thảy chúng sanh thấy rõ được sự thật của các
pháp là vô tướng và nhận rõ Phật Tri Kiến của
chính mình. Hay nói một cách cụ thể hơn Pháp
Phương Tiện chính là phương pháp đúng đắn tiện
ích mà Đức Phật xử dụng nó để thực hiện bản hòai
của mình là “ Khai Thị Chúng Sanh Ngộ Nhập Phật
Tri Kiến”.
Qua đây chúng ta hiểu Pháp Phương Tiện như là một phương
cách đặc biệt nhưng phổ thông mà Đức Phật vì bản
hoài của mình mà khai mở pháp môn phương tiện.
Để hiểu hơn vấn đề này thiết nghĩ ta cũng cần
tìm hiểu đôi nét về bản hòai của chư Phật.
3.1.2 “Khai Thị Chúng Sanh Ngộ Nhập Phật Tri Kiến” Là Bản
Hoài Của Chư Phật.
Chư Phật ra đời vì muốn cứu độ hết thảy chúng sanh. Chúng
ta có thể nói nếu không có chúng sanh khổ đau
thì Chư Phật sẽ không xuất hiện trên đời. Vì sao
chúng sanh lại khổ đau? Vì bị vô minh che lấp
chân tánh nên chúng sanh mãi đảo điên sanh tử,
nhận giả làm chân mới bị luân hồi chi phối. Đức
Phật vì lòng từ bi vô hạn luôn muốn cứu vớt
chúng sanh ra khỏi biển sanh tử luân hồi. Chư
Phật nhận rõ trong mỗi chúng sanh đều có được
cái tánh giác vốn không sanh không diệt, nhưng
chúng sanh không nhận rõ cái tánh giác của mình
nên mê lầm chấp trước dẫn đến khổ đau. Chư Phật
muốn độ chúng sanh nên chỉ cho chúng sanh thấy
rõ được cái tánh giác vốn không sanh không diệt
của chính mình. Cái tánh giác ấy chính là Tri
Kiến Phật. Như vậy, chư Phật ra đời chỉ nhằm mục
đích “Khai Thị Chúng Sanh Ngộ Nhập Phật Tri
Kiến”. Bản hoài nầy được Phật xác định rõ ở phẩm
phương tiện thứ 2 của Kinh Pháp Hoa. Khai là mở
ra; thị là chỉ; ngộ là nhận biết; nhập tức thâm
nhập; Phật Tri Kiến là giác tánh của mỗi chúng
sanh. Như vậy, bản hoài của Chư Phật là mở ra,
chỉ cho chúng sanh nhận biết và sống được với
tánh giác chân thật của chính mình. Đây là mục
đích chính duy nhất về sự ra đời của Đức Phật.
Từ đây có thể nói rằng sự ra đời của Đức Phật là
phương tiện để hoàn thành bản hoài của chư
Phật ba đời.
3.2. PHÁP PHƯƠNG TIỆN TRONG KINH PHÁP HOA.
3.2. 1. Pháp Phương Tiện Qua Phẩm Tựa
Theo một số học giả nghiên cứu về Pháp Hoa cho biết rằng
nhiều nguyên bản kinh không có phẩm tựa và giả
định cho rằng phẩm tựa là phẩm mà các Chư Tổ sau
nầy thêm vào để khái quát nội dung của Kinh Pháp
Hoa. Điều nầy không hẳn là như vậy, vì khi đọc
kỉ bộ Kinh Pháp Hoa chúng ta nhận thấy rõ phẩm
tựa là phẩm chuẩn bị khung cảnh, tư tưởng để mở
đường cho tư tưởng Pháp Hoa đến với đại chúng
học Phật mà không bị ngỡ ngàng. Thật vậy, sau
phần lục chủng chứng tín kinh nói đến việc Đức
Phật thuyết Kinh đại thừa tên là “ Vô Lượng
Nghĩa Giáo Bồ Tát pháp Phật sơ ũhộ niệm”. Thế
nào là Kinh Vô Lượng Nghĩa? Kinh “ vô lượng
nghĩa” không có nghĩa là kinh nầy có nhiều
nghĩa, mà ở đây cần hiểu là kinh nầy không thể
cắt nghĩa được. Vì sao? Vì kinh nầy vốn lìa ngôn
ngữ, văn tự, cho nên dù dùng lời nói hay hình
ảnh để diễn thuyết thì diễn thuyết hòai vẫn
không hết được nghĩa của nó. Vì nó chính là thưc
tại cuộc sống, là tri kiến như lai, là sự thể
nhập chứ không thể nói bàn được.
Như vậy, ở đây Đức Phật đã xử dụng phương tiện li tướng, li
ngôn thuyết thật tướng kinh. Nhưng thính chúng
cũng chưa hiểu được. Nên Đức Phật lại dụng
phương tiện nhập vào thiền định vô lượng nghĩa
xứ để nói với thính chúng rằng; muốn hiểu được
Kinh vô lượng nghĩa xứ phải nổ lực tu tập xa lìa
các tướng thế gian não phiền mới nhận được thật
tướng chân như. Nhưng nghĩa lí quá sâu xa chúng
đương cơ lại là Thanh Văn vẫn không hiểu được
pháp nầy. Đức Phật lại một lần nữa dụng Pháp
Phương Tiện, mượn sự đối đáp của hai người trợ
thủ là Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Di Lặc. Qua sự
đối đáp của hai vị Bồ Tát thượng thủ ấy pháp
Phật dần dần hé mở, đặt nền tảng để Đức Phật
thuyết giảng về kinh điển đại thừa sau nầy. Pháp
Phương Tiện ở đây đã giúp hé mở chân lí, đặt nền
móng để Đức Phật “Khai Thị Chúng Sanh Ngộ Nhập
Phập Tri Kiến”. Muốn hiểu hơn sự diệu dụng của
Pháp Phương Tiện ra sao, chúng ta hãy cùng vào
phần tích môn tiếp theo.
3.2.2.Pháp Phương Tiện Qua Phần Tích Môn (昔 門):
Như đã nói ở phần khái quát nội dung Kinh Pháp Hoa, phần
tích môn bao gồm từ phẩm phương tiện thứ 2 đến
phẩm An Lạc Hạnh thứ 14. Đây là phần kinh diễn
dịch phần có tích chất lịch sử của Đức Phật
Thích Ca. Phần nầy được khởi đầu bằng phẩm
phương tiện, đây là phẩm được ví như là “Pháp
Thuyết Châu”. Phần nầy chỉ bày Phật Tri Kiến và
tuyên bố pháp Phật dùng luôn là Pháp Phương
Tiện. Thật vậy, nếu không xử dụng Pháp Phương
Tiện thì làm sao chỉ được Tri Kiến Phật, thực
tướng của các pháp. Mở đầu phẩm kinh nầy là hình
ảnh Đức Phật từ chánh định an lành mà dậy, bảo
với ngài Xá Lợi Phất rằng: Trí huệ của các Đức
Phật rất sâu vô lượng, môn trí huệ đó khó hiểu,
khó vào, tất cả hàng Thanh Văn cùng Bích Chi
Phật đều không biết được và đức Phật xác định:
“Từ ta thành Phật đến nay, các món nhân duyên,
các món thí dụ, rộng nói ngôn giáo, dùng vô số
phương tiện dìu dắt chúng sanh, làm cho xa lìa
lòng chấp. Vì sao? Đức Như Lai đã đầy đủ phương
tiện, tri kiến và ba la mật” [15. 51]. Pháp Phật
chứng thật sâu vô cùng, vì nó đầy đủ thập như
thị.
“Các pháp tướng của nó như vậy.
Tánh của nó như vậy.
Thể của nó như vậy.
Lực của nó như vậy.
Tác của nó như vậy.
Nhơn của nó như vậy.
Duyên của nó như vậy.
quả của nó như vậy.
Báo của nó như vậy. Và từ đầu chí cuối của nó như vậy.”
[16. 35]
Từ “như vậy” (như thị 如是) khiến người nghe rất đổi ngạc
nhiên đến ngỡ ngàng nếu ngưòi nghe chưa học qua
Phật pháp, thậm chí có học qua mà không sâu sắc
vẫn thấy sự bối rối như thường. “như vậy” là như
cái gì? Nếu có thể nói cái gì thì đâu cần phải
nói “như vậy”. Nói “như vậy” là vì tánh, tướng,
thể, lực, tác, nhơn, duyên, quả, báo trước
sau rốt ráo của các pháp vốn không chỉ được qua
sắc tướng âm thanh. Nói thế không lẽ không chỉ
được thật tướng vô tướng của các pháp sao? Nếu
không chỉ được Như Lai ra đời mà làm gì? Nếu
không rõ được thật tánh của các pháp thì chúng
sanh sẽ bị lầm chấp mà còn lầm chấp thì sanh tử
làm sao dứt được. Đức Phật trong quá trình
thuyết giáo độ sanh với một tâm nguyện tha thiết
thủy chung nhưng cũng rất linh họat. Ngài đã vận
dụng “Tứ Tất Đàn” một cách vô cùng phong phú.
Đây chính là quyền khai phương tiện của Đức
Phật.
Ơũ phẩm kinh nầy ta thấy Đức Thế Tôn đã đợi đến lần thưa
thỉnh thứ ba mới nói diệu pháp. Có phải diệu
pháp khó nói không hay Đức Phật muốn gây khó
khăn cho hàng đệ tử? Không phải vậy pháp Phật
vốn khó chỉ bày. Như Lai hoàn toàn
không muốn gây khó khăn hay tạo áp lực đến với
thính chúng mà Như Lai đang dụng phương tiện một
cách xảo diệu. Cái gì càng khao khát thì khi
nhận được mới quí trọng. Như Lai hiểu được tâm
lí của chúng đệ tử nên dụng phương tiện chờ đến
lần thỉnh thứ ba Ngài mới nói chính là muốn tạo
tâm lí khao khát, muốn đưa chúng đương cơ đến
chỗ quên hết ngoại cảnh, tập trung cao độ vào
vấn đề Như Lai sắp nói. Hay nói cách khác Như
Lai chờ đến lần thỉnh thứ ba mới chuyển dạy pháp
vi diệu. Thật ra, Đức Phật đã dùng Pháp Phương
Tiện loại trừ tạp niệm cho thính chúng. Để họ
trong sạch hoàn toàn như lu nước cần
được súc sạch để chứa đựng vị cam lộ. Phải chăng
đây chính là sự khởi đầu Pháp Phương Tiện trong
Kinh Pháp Hoa. Sau khi nhận lời thỉnh cầu của
ngài Xá Lợi Phất. Đức Phật dụng phương tiện khéo
dặn dò để cũng cố niềm tin đối với Phật pháp của
thính chúng.
“Xá Lợi Phất khéo nghe
Pháp của các Phật đặng
Vô lượng sức phương tiện
Mà vì chúng sanh nói.” [15. 68]
Đức Phật phải rất khéo dùng phương tiện để nói cho chúng
sanh rõ được pháp mình chứng. Những phương tiện
đó là gì?
“Dùng các duyên thí dụ
Lời lẽ sức phương tiện
Khiến tất cả vui mừng
Hoặc là nói khế kinh
Cô khởi cùng bổn sự
Bổn sanh vị tằng hữu
Cũng nói những nhơn duyên
Thí dụ và trùng tụng
Luận nghị cộng chín kinh.” [15. 68-69]
Như đoạn kinh trên thì dù là thí dụ, hay nói khế kinh thậm
chí đến vị tằng hữu thuyết nhơn duyên. Tất cả
đều là sự xử dụng phương tiện một cách thiện xảo
của Đức Phật. Duy chỉ có Phật thừa nhưng lại
phải quyền khai nói thành ba thừa thậm chí nói
đến ngũ thừa hay thập giới đều là vì phương tiện
để hướng đến giải thoát, nhập vào Phật Tri Kiến.
Đối với chúng sanh căn cơ ám độn Đức Phật phải
nói mười pháp giới, dạy cho ngũ thừa để chúng
sanh từng bậc lên đến vô thượng chánh đẳng giác,
Phật thừa. Cho nên dù Đức Phật dạy cho chúng
sanh qui y Tam Bảo thọ trì ngũ giới để gieo nhân
hạnh nhân thừa, tu thập thiện hướng đến cảnh
giới Chư Thiên, cho đến hành lục độ vạn hạnh để
viên thành quả vị Bồ Tát. Nhưng thật ra tất cả
đó là phương tiện của Đức Phật giúp cho chúng
sanh gieo nhân hạnh Phật thừa để được trọn vẹn
giải thoát.
“Trong cõi Phật mười phương
Chỉ có một thừa pháp
Không hai cũng không ba
Trừ Phật phương tiện nói” [15. 70-71]
Như vậy, Đức Phật nói rằng; không chỉ ở cõi nầy mà trong
tất cả mười phương chư Phật đều dùng Pháp Phương
Tiện chế ra ba thừa pháp chứ thật ra chỉ một
Phật thừa. Nhưng vì để cứu chúng sanh đau khổ
nên Phật nói các đạo dứt khổ, chỉ cho họ chổ an
vui tịnh lạc gọi là niết bàn chứ không phải
thiệt diệt. Tức nói niết bàn nhưng thực không
phải là niết bàn thiệt diệt. Vì
“Các pháp từ bổn lai
Tướng thường tự vắng lặng” [15. 74]
Chỉ có khi Phật tử thành đạo rồi mới thâm nhập được pháp
nầy mà thôi. Đức Phật quả là một vị Đạo sư
thượng diệu, Ngài đã dùng tất cả các cách làm
tiện lợi nhất đơn giản nhất để chúng sanh có thể
hiểu được các pháp mà họ có, cái đạo mà ngài đã
chứng; từ những đồng tử chơi giỡn nhóm đất làm
miễu Phật. Ngài cũng gieo nhân hạnh Phật thừa
vào đó, thậm chí có người điên khùng chấp tay
trước tượng Phật , Đức Phật cũng quyền khai
phương tiện để độ họ. Chứng tỏ Pháp Phương Tiện
là một pháp rất siêu việt vượt lên trên mọi
chướng ngại đưa chúng sanh về bến giác, hay thâm
nhập vào Tri Kiến Phật. Đức Phật thành đạo rồi
ngài vẫn không rời chánh định luôn suy tư về
phương cách độ sanh. Nhưng Thế Tôn nhận thấy đạo
của mình chứng được sâu xa không ngần mé, khó
hiểu, khó tin, khó truyền dạy nên Đức Thế Tôn
khởi niệm muốn nhập niết bàn. Nhưng Đức Thế Tôn
lại nghĩ; Ta ra đời vì để độ chúng sanh sao lại
vì khó mà nhập niết bàn? Đức Phật chợt nhớ đến
Chư Phật quá khứ đã dụng phương tiện để độ chúng
sanh Ta nay cũng phải như vậy. Nên đức Phật đã
dụng Pháp Phương Tiện để thuyết giáo độ sanh.
Nhận thấy được phương tiện là quyền xảo mới có
thể độ được chúng sanh cang cường. Đức Phật thay
vì chỉ nói đạo nhất thừa Ngài đã phương tiện nói
ba thừa là Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát. Thậm
chí Phật chỉ bày tám vạn bốn ngàn pháp môn để
đưa chúng sanh vào Phật huệ. Điều biểu hiện qua
thi kệ:
“Các pháp tướng tịch diệt
Không thể dùng lời bàn
Bèn dùng sức phương tiện
Vì năm tỳ kheo nói
Đó gọi chuyển pháp luân
Bèn có tiếâng niết bàn
Cùng với A La Hán” [15. 84-85]
Như vậy, Niết bàn hay A La Hán cũng chính là phương tiện
của Phật mà thôi. Nhưng khi ta đọc đến đoạn cuối
của phẩm phương tiện ta thấy có đoạn kệ viết:
“Nay Ta vui vô úy
Ơũ trong hàng Bồ Tát
Chính bỏ ngay phương tiện
Chỉ nói đạo vô thượng.” [15. 86]
Đoạn nầy có nghiã Đức Phật hiện đang ở giữa chúng Bồ Tát
không còn sợ hãi gì nữa liền bỏ ngay phương tiện
để nói đạo vô thượng thôi. Nhưng theo thiên ý
của người viết không hẳn là thế mà Đức Phật đang
dụng phương tiện một cách rất ư là tinh tế. Điều
nầy được chứng thực khi bước vào phẩm thí dụ Đức
Phật dùng phương pháp thí dụ làm phương tiện để
thuyết pháp độ sanh. Đức Phật đã ví tam giới như
nhà lửa dùng tả thực để chỉ cái pháp vô vi khó
nhìn thấy. Bằng ví dụ tam giới như nhà lửa Đức
Phật chỉ cho chúng ta thấy được cái sự thực bất
an của cảnh đời tạm bợ. Cuộc sống ở thế giới Ta
Bà đấu tranh giành giựt cấu xé lẫn nhau, giẫm
đạp lên nhau để tranh giành cái thú vui giả tạm.
Chỉ có những bậc trí mới nhận ra sự thật nầy,
còn phần nhiều thì nhận khổ làm vui ví như trâu
mao mến cái đuôi của nó vậy. Trong cuộc sống có
những lúc sự thật hiển nhiên quá làm cho chúng
ta ngỡ ngàng không tin cứ tưởng bị dối gạt. Xá
Lợi Phâùt trong kinh nầy là một điển hình, Ngài
nghe Đức Phật thuyết giảng Phật pháp thâm sâu
không hiểu kịp nên nghi là ma giả Phật để dối
gạt mình. Sau khi nhận ra chỗ thâm diệu của Pháp
Phương Tiện Xá Lợi Phất đã thú nhận rằng: “Chúng
con chẳng hiểu Phật phương tiện theo cơ nghi mà
nói pháp, vừa mới nghe Phật nói pháp vội tin
nhận suy gẫm để chứng lấy”. Điều nầy chứng tỏ
Đức Phật đã xử dụng Pháp Phương Tiện một cách
thành thục.
“Phật dùng các món duyên
Thí dụ khéo nói phô
Lòng kia an như biển.” [15. 99]
Dụng phương tiện pháp mà như không phương tiện, vì mượn các
nhân duyên, thí dụ mà chỉ khiến cho lòng chúng
sanh được an tịnh. Pháp Phương Tiện không riêng
gì Phật Thích Ca xử dụng mà chư Phật quá khứ,
chư Phật vị lai cũng đều xử dụng pháp nầy để
mong độ thoát chúng sanh.
“Phật nói thuở quá khứ
Vô lượng Phật diệt độ
Cũng đều nói pháp đó
Phật hiện tại vị lai
Số nhiều cũng vô lượng
Cũng dùng các phương tiện
Diễn nói pháp như thế.” [15. 99]
Tại trong phẩm nầy, Đức Phật đã xác định cuộc đời của Ngài
từ giáng sanh đến xuất gia, thành đạo và chuyển
pháp luân cũng dùng phương tiện nói. Cũng có thể
những hình ảnh ấy chính là Pháp Phương Tiện của
Phật để thuyết giáo qua hình ảnh. Đặc biệt ở
phẩm nầy Đức Phật cũng đã phương tiện thọ kí cho
Ngài Xá Lợi Phất thành Phật để xác quyết niềm
tin vào Tri Kiến Phật của đệ tử. Làm cho Xá Lợi
Phất càng tin sâu hơn, thấy rõ hơn về Tri Kiến
Phật của chính mình. Nhưng sau khi thọ kí cho Xá
Lợi Phất trong thính chúng vẫn còn không hiểu
được pháp Phật nói nên sanh tâm nghi ngờ. Ngài
Xá Lợi Phất thỉnh cầu Phật dạy rõ hơn về tri
kiến của Như Lai. Đức Phật đã dạy rằng: “Các
Phật Thế Tôn dùng các món nhơn duyên lời lẽ thí
dụ phương tiện mà nói pháp đều là đạo vô thượng
chánh đẳng giác” [9. 127]. Như vậy, nhân duyên,
lời lẽ, thí dụ đều là phương tiện của Đức Phật.
Đức Phật dụng Pháp Phương Tiện để chỉ đạo vô
thượng chánh đẳng chánh giác. Lại vì có một số
chúng sanh căn cơ chậm lụt không thể bắt kịp ý
tưởng của Thế Tôn. Nên ngài một lần nữa lấy thí
dụ làm phương tiện để chỉ cho chúng sanh cái
Phật Tri Kiến của chính mình. Đức Phật ví mình
như một ông trưởng giả giàu có nhiều con cái
nhưng các con của ông đang ở trong căn nhà mục
nát, nhiều thú dữ và lửa đang bốc cháy dữ
dội.Ông trưởng giả muốn cứu các con ra khỏi nhà
lửa mà các con ông lại ham chơi đùa không biết
gì về sự nguy hiểm đang rình rập. Ông kêu các
người con chạy ra ngoài lửa nhưng các người con
không tin cứ mãi chơi đùa. Ông phải dụ rằng ra
khỏi nhà ông sẽ cho ba thứ xe. Các con ông nghe
vậy đua nhau chạy ra khỏi nhà lửa. Ông nhờ vậy
cứu được các con bằng cách bày ra ba thứ xe dê,
xe hươu và xe trâu.
Từ những hình ảnh thí dụ trên người trí khéo có thể nhận
biết, cái nhà xiêu vẹo ấy được ví như thế gian
giả tạm mà đã giả tạm thì làm sao có thể đứng
vững được. Nhưng ác thay những thứ giả tạm ấy có
sức thiêu đốt ghê gớm những con người không nhận
ra nó. Con cái vui chơi chạy giỡn không biết gì
là lửa chỉ cho chúng sanh ngu si điên đảo không
nhận sự thật là khổ đau bức bách cứ nhận khổ làm
vui mà không cầu tìm giải thoát.
Kinh kể lại ông trưởng giả nhận thấy con cái như thế thì
rất đau lòng , rất muốn dùng cánh tay giang rộng
ôm hết con vào lòng đưa ra khỏi nhà lửa. Đức
Phật cũng như thế vì lòng từ bi thương xót tất
cả chúng sanh, muốn cứu chúng sanh thoát khỏi
luân hồi sanh tử. Nhưng chúng sanh đâu nhận rõ
bản hoài chư Phật cứ nhởn nhơ trong sanh tử. Cho
nên dù Phật có dùng sức lực cứu chúng sanh ra
khỏi nguy hiểm chăng nữa, họ cũng trở lại sanh
tử mà thôi. Bởi chưa nhận thức được khổ đau nên
chúng sanh cứ mãi quanh quẩn trong sanh tử luân
hồi. Nhưng trước mắt là phải làm thế nào để
chúng sanh ra khỏi nhà lửa tam giới. Đức Phật
phải dùng phương tiện nói ba thừa giáo chỉ cho
chúng sanh thấy được cảnh giới của Thanh Văn,
Duyên Giác và Bồ Tát là hạnh phúc hơn rất nhiều
với đời sống hiện tại. Trong kinh là Đức Phật dụ
nói ba thứ xe để các con của ông trưởng giả ham
thích đồ chơi tốt đẹp mà ra khỏi nhà lửa. Nếu
như trong lúc các người con đang ham chơi đó mà
ông trưởng giả không khéo dụng phương tiện bày
ra các trò chơi tốt đẹp thì không thể dẫn dụ các
người con ra khỏi nhà lửa.
“Các con như thế đó
Làm ta thêm sầu não
Nay trong nhà lửa nầy
Không một việc đáng vui
Mà các con ngây dại
Vẫn ham mê vui chơi
Chẳng chịu tin lời ta
Toan sẽ bị lửa hại
Ông bèn lại suy nghĩ
Nên bày các phương tiện.” [15. 127]
“ Nên bày các phương tiện” Tức là nên nghĩ ra phương cách
gì tiện lợi có thể đưa các con ra khỏi nhà lửa.
Cũng vậy, Đức Thế Tôn khi nhìn thấy chúng sanh
đang ở trong tam giới là; dục giới, sắc giới và
vô sắc giới vốn không có được sự an ổn, luôn
chịu sự thiêu đốt của lửa dữ phiền não. Ngài vô
cùng thương xót chúng sanh nên một lòng muốn cứu
hết thảy chúng sanh nhưng đâu dễ ai tin. Ngài đã
phương tiện xuất gia, tu hành thành đạo để rồi
phương tiện chuyển pháp luân nói ra ba thừa pháp
để giáo hóa chúng sanh. Tuy có nói ra ba thừa
giáo pháp nhưng cái Đức Phật muốn truyền trao là
Phật thừa, con đường thể nhập Phật Tri Kiến. Tam
thừa còn khó tin được huống chi nhất thừa. điều
nầy ta thấy rất rõ ở tâm lí chúng sanh. Chúng
sanh thường cho quả vị hiền thánh là của những
bậc cao xa chứ thực mình không bao giờ có được.
Sự tự ti mặc cảm thấp hèn cũng đã vô tình che
lấp cái tính vô úy vốn có sẵn ở mỗi con người.
Trong cuộc sống ta thường gặp các lời phát biểu
của các vị Phật tử rằng: quí thầy, quí cô ở
trong chùa tu hành chớ tụi con người phàm làm gì
có được phần đó. Chính có lẽ thấy biết tâm lí tự
ti mặc cảm của chúng sanh nên Đức Phật đã dụng
phương tiện như một con người bình thường tìm ra
chân lí giải thoát.
Đức Phật đã hiện thân như một con người rất bình thường từ
sanh ra, cho đến thành đạo, chuyển pháp luân hay
thị hiện nhập niết bàn. Đức Phật biết rõ Tri
Kiến Phật là của báu vô lượng. Nếu ai thâm nhập
được tri kiến Như Lai thì sẽ được giải thoát ung
dung tự tại, tùy duyên xuất nhập bất cứ cảnh
giới nào mà không hề vướng bận.Ý tưởng nầy được
ảnh dụ qua hình ảnh ông trưởng giả giàu vô
lượng, của cải ông xài không bao giờ hết. Tri
Kiến Phật, tức bản thể chơn tâm thường hằng
không sanh, không diệt, không tăng, không giảm
được ví như kho báu vô lượng. Đức Phật muốn trao
truyền cái Như Lai tạng tâm cho hết thảy chúng
sanh sánh như ông trưởng giả chỉ cho các con của
mình xe trâu lớn đẹp mà thôi. Xét xem ông trưởng
giả ấy có mắc phải lỗi hư dối không? Không, ông
trưởng giả ấy không hề mắc lỗi hư dối vì mục
đích của ông là cứu các con ra khỏi nhà lửa, tạo
cho các con của ông đời sống an ổn. Đức Phật
cũng như thế Ngài đã làm tất cả những gì có thể
làm được để cứu chúng sanh. Mọi việc làm của
Phật đều là phương tiện thì có gì là hư dối. Tuy
phương tiện là không thật nhưng Đức Phật đã xử
dụng Pháp Phương Tiện một cách xảo diệu đưa
chúng sanh ra khỏi sanh tử. Tức Đức Phật đã dùng
cái không thật để chỉ ra cái lí chân thật. Như
vậy, Đức Phật đã khéo xử dụng phương tiện nhằm
đưa chúng sanh thoát khỏi khổ đau, đạt được sự
an vui tỉnh lạc.
Hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm hóa thân làm Tiêu Diện cũng
chính là phương tiện để độ chúng sanh vì lòng từ
bi. Thật vậy, các Ngài đã đầy đủ các ba la mật
nên đã dùng vô số phương tiện để cứu giúp chúng
sanh. Đức Phật cũng đã có đủ các ba la mật đặc
biệt là tri kiến ba la mật, nên Đức Phật đã xử
dụng phương tiện ba la mật tùy theo căn cơ để độ
chúng sanh. Đức Phật thuyết pháp để độ chúng
sanh bằng tất cả phương tiện mà Ngài có được.
Với những hạng người căn cơ thấp Đức Phật thuyết
tứ đế, thập nhị nhân duyên, để đưa đến quả vị
Thanh Văn, Duyên Giác. Bước lên bậc có căn trí
cao hơn, Đức Phật lại dạy cho pháp lục độ để
viên mãn quả vị Bồ Tát .v.v. Tất cả những pháp
ấy thật ra cũng chỉ là bậc thang từ thấp lên
cao. Tuy Kinh Pháp Hoa có nói đến đại thừa hay
tiểu thừa nhưng thực chất không phải vậy. Đây
chỉ là phương tiện của Phật mà thôi.
Như vậy, với Pháp Phương Tiện Kinh Pháp Hoa đã phá bỏ đi
lầm chấp, định kiến về đại thừa hay tiểu thừa.
điều này nếu chúng ta chịu khó suy nghĩ sẽ thấy
được kinh điển đại thừa phát triển sau nầy đều
có nền móng từ những bộ kinh nguyên thủy căn
bản. Hay nói một cách khác giáo lí đại thừa được
xây dựng trên nền tảng giáo lí Tứ Đế, Thập Nhị
Nhân Duyên.v.v.v. Giáo lí Tứ Đế, Thập Nhị Nhân
Duyên không phải là giáo lí tiểu thừa mà nó là
bước khởi điểm đưa chúng sanh vào Phật Đạo. Muốn
thâm nhập vào kho tàng tri kiến Như Lai thì
chúng sanh phải nhận thức rõ, đời là đau khổ,
phải biết nguyên nhân đưa đến khổ đau, có ý thức
vượt qua khổ đau. Có như vậy chúng sanh mới từ
bỏ thú vui giả tạm để quay về nương tựa chánh
pháp.
Khi chúng sanh biết quay về nương tựa ba ngôi báu Đức Phật
đã dùng phương tiện thọ kí để củng cố niềm tin
cho chúng sanh. Thọ kí là sự gởi gắm truyền trao
và đón nhận thọ trì. Bất cứ giáo pháp nào mà có
được sự truyền trao và thọ trì thì giáo lí ấy
tất sẽ phát triển. Có lẽ tư tưởng Phật thọ kí
chỉ mới xuất hiện ở kinh điển đại thừa sau nầy.
Đức Phật thọ kí cho hàng đệ tử của mình để cho
hàng đệ tử thấy rằng khả năng thành Phật của họ
là có cơ sở. Không những thế chúng ta còn nhận
thấy ở Thế Tôn đã phương tiện thọ kí một cách
độc đáo. Đó là Thế Tôn thọ kí cho những người
chỉ mới gieo duyên với Phật Đạo, như Đức Phật
thọ kí cho đồng tử khi đùa giỡn đã có ý niệm
Phật. Đây không phải là thọ kí, truyền trao Phật
Đạo một cách bừa bãi mà là xác quyết niềm tin
cho hết thảy thính chúng. Để cho thính chúng
hiểu rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh,
tức chủng tử Phật. Mà đã có chủng tử Phật thì
trước sau gì cũng thành Phật, điều nầy đồâng
nghĩa với có Phật Tri Kiến thì trước sau gì cũng
hiển lộ Phật Tri Kiến. Đức Phật đã dùng phương
tiện thọ kí để chỉ bày chỗ thâm diệu nầy.
Trong phẩm Tín Giải ta lại thấy Đức Phật đã xử dụng pháp
đồng sự như là một phương tiện để độ sanh. Trong
phẩm nầy kể chuyện Đức Phật qua hình tượng ông
trưởng giả đã cùng làm việc với chúng sanh, cùng
trò chuyện với chúng sanh và chỉ cho chúng sanh
những phương pháp tu tập vượt thoát khổ đau. Đức
Phật đã chỉ cho chúng sanh ánh sáng chân lí của
cuộc đời, như sự nhiệm mầu trong cuộc sống mà
rất ít người nhận ra. Chánh kinh đã diễn tả ông
trưởng giả đã mặc áo thô rách trỉn dơ đến gần gã
cùng tử để cho gã không còn thấy sự cách biệt
giữa ông chủ và kẻ tôi tớ. Vì ông biết gã cùng
tử nầy chính là con mình vì một niệm sai lầm đã
rời bỏ ông đi lang thang khi khi còn nhỏ dại.
Khiến cho cuộc sống phải lao đao lận đận vô
cùng. Ông trưởng giả thương xót con mình bèn
dùng phương tiện đến gần với con, để an ủi, để
chỉ bày, lần lần tập cho con dần làm chủ rồi mới
tuyên bố nhận con. Đức Phật cũng vậy đến với hết
thảy chúng sanh bằng tất cả cuộc đời mình. Đức
Phật biết rõ chúng sanh vốn do bị si mê lầm chấp
mà xa rời chân tánh (nhân tối sơ nhất niệm sai
thù - 因最 初 一 念 差 殊). Nên Ngài đến với chúng sanh
như một người đồng sự để xẻ chia bao nỗi khổ đau
của con người, rồi lựa chọn những cơ hội thuận
tiện giảng giải cho họ nghe những chân lí mà
Ngài đã tìm ra. Chúng sanh nhờ đó mà thoát khỏi
sanh tử luân hồi. Pháp Phương Tiện ở đây được
Đức Phật áp dụng như một pháp đồng sự để hóa độ
chúng sanh thật tuyệt vời. Tuy nhiên pháp đồng
sự được xử dụng truyền bá giáo lí cho những con
người ở gần bên mình mà thôi. Nhưng Đức Phật thì
từ bi vô lượng Ngài không những muốn chúng sanh
gần Ngài thấm nhuần chân lí. Đức Phật còn muốn
hết thảy xa gần, thậm chí đến chúng sanh đời sau
nầy cũng được thấm nhuần chân lí giải thoát. Nên
pháp Đức Phật truyền dạy như những cơn mưa,
chúng sanh tùy theo căn cơ nghiệp cảnh mà lãnh
thọ khác nhau. Để rồi cuối cùng chúng sanh cũng
nhận ra được Phật Tri Kiến của mình như người
bạn khốn khó cũng nhận ra được hạt minh châu nơi
gấu áo. Hạt minh châu ấy chính là Tri Kiến Phật,
tri kiến giải thoát cho hết thảy chúng sanh.
Muốn cho hàng đệ tử nhận rõ Phật Tri Kiến của mình Đức
Phật đã phương tiện chỉ cho những người đệ tử
thấy được quá trình tu tập từ vô lượng kiếp, nhớ
lại chí nguyện thuở ban đầu của họ, khuyến khích
họ nổ lực tu tập nhằm tiếp cận với Tri Kiến Phật
của chính mình. Đọc tới phẩm thọ kí ta thấy ở
đây Đức Phật dùng cách thọ kí như là phương tiện
truyền thông đến những hàng đệ tử để cho họ nhận
thức về bản thân. Sẵn sàng tiếp nhận đạo Nhất
thừa, tức là chấp nhận cái Tri Kiến Phật của
chính mình. Như vậy, thọ kí cũng là một phương
tiện độ sanh của Đức Phật. Một phương pháp kể về
những việc làm trong qúa khứ và triển khai hướng
đến vị lai thọ kí trở thành phương tiện rất hữu
hiệu trong quá trình hoằng pháp của Đức Phật.
Như đã nói ở trên thọ là nhận, kí là gởi, là ủy
thác thọ kí được xem như sư truyền trao gởi gắm
cho hàng đệ tử giáo pháp cao siêu và hàng đệ tử
tín thọ phụng hành. Nguyện làm cho giáo pháp
ngày một lan rộng, mong cứu độ hết thảy chúng
sanh.
Không những xử dụng thọ kí để đôỉ thoát chúng sanh, khai
mở Phật Tri Kiến. Đức Phật còn xử dụng hóa thành
để làm phương tiện để dìu dắt chúng sanh dần dần
ra khỏi biển khổ sanh tử đạt đến Tri Kiến Phật.
Chúng sanh căn tánh ám độn phần nhiều giãi đãi
biếng nhác chỉ thích làm những công việc dễ làm
lại hay nghi ngờ khả năng của chính mình, đây
gọi là ti mạn. Với những loại chúng sanh như thế
Đức Phật đã xử dụng hóa thành như một phương
tiện để độ họ. Vì sao? Vì ai cũng mong muốn con
đường đi của mình thật ngắn, thật nhanh đến
đích. Nên Đức Phật đã dựng lên hóa thành để
chúng sanh có điểm tựa dùng làm nghỉ ngơi, khiến
cho thần trí sau khi nghỉ trở nên minh mẫn,
nhiệt huyết tràn đầy trở lại, Đức Phật mới diệt
hóa thành đưa họ đến bảo sở để đạt được sự cứu
cánh toàn vẹn. Hóa thành là niết bàn hữu
dư y của hàng Thanh Văn. Bảo sở ấy chính là Tri
Kiến Phật, tri kiến Như Lai là niết bàn vô dư y.
Như vậy, Hóa thành là phương tiện, Bảo Sở là cứu
cánh muốn đạt được cứu cánh tất phải xử dụng
phương tiện. Đức Phật cũng thế muốn chỉ cho
chúng sanh Tri Kiến Phật, tri kiến giải thoát
tất phải dùng phương tiện quyền biến. Tại phẩm
nầy Đức Phật không những quyền biến phương tiện
tạo ra hóa thành như niết bàn cho hàng Thanh
Văn. Để cho hàng đệ tử không thấy ngán ngại Phật
Đạo sâu xa khó thành tựu được , mà Đức Phật còn
dùng thuyết nhơn duyên để làm rõ căn cơ nhiều
đời nhiều của hàng đệ tử khiến họ nhận rõ bản
tâm vốn không sanh không diệt. Từ những nhân
duyên Đức Phật chỉ ra cho hàng đêỉ tử đương cơ
biết rằng ; thật ra họ từ lâu đã theo học với
Thế Tôn chứ không phải chỉ mới kiếp nầy. Từ đó
nguời đệ tử ý thức được con đường của mình đã
đi, đang đi và sẽ đi, những kết quả mà mình đạt
được, đang đạt được và sẽ đạt được tri kiến giải
thoát, Tri Kiến Phật để hoàn thành sự
nghiệp giải thoát cho chính mình.
Chân lí ấy, tri kiến ấy không tìm được ở nơi đâu khác mà
là ngay trong chính mình, vấn đề nầy được Đức
Phật chỉ rõ qua phẩm Hiện Bửu Tháp. Bằng phương
tiện hiển thị chân lí qua hình ảnh. Trong kinh
đã trình bày Bảo tháp của Đức Phật Đa Bảo từ
dưới đất vọt lên. Đất là nền tảng của muôn sự
vật, vạn vật đều từ đất mà nảy sinh ra. Được ví
như bản tâm của chúng ta nơi xuất phát của muôn
ngàn ý niệm. Tại nơi đây niệm niệm sanh diệt có
thể làm cho chúng ta điên đảo bởi phiền não lầm
mê, nhưng cũng chính nơi đây khơi nguồn tuệ giác
đưa chúng ta thoát khỏi bờ mê. Tuệ giác đó, tri
kiến đó chính là bổn tâm thanh tịnh vốn hằng hữu
mà ở trong kinh nầy biểu hiện qua hình ảnh tháp
Phật Đa Bảo. Bằng ẩn dụ đưa thính chúng lên giữa
không trung để nhìn thấy Đức Phật Đa Bảo. Đức
Phật muốn chỉ cho chúng ta rằng muốn nhận chân
được Phật Tri Kiến không con đường nào khác
ngoài con đường trung đạo, con đường không bị
dính mắc bởi nhị biên sai lầm. Phật Đa Bảo là vị
Phật đã có từ vô thỉ hiện ra giữa thính chúng
khi Đức Phật Thích Ca thuyết giảng Kinh Pháp Hoa
điều nầy nói lên cái gì? Phải chăng Phật Tri
Kiến vốn hằng hữu từ vô thỉ và chỉ hiện hữu khi
có đủ nhân duyên. Đúng vậy, khi hội đủ nhân
duyên thuyết giảng Kinh Pháp Hoa Đức Phật Thích
Ca mới tuyên giảng bộ kinh nầy. Đây là tạng thâm
sâu của chư Phật không thể tùy tiện nói. Đức
Phật Thích Ca là Đức Phật của lịch sử nhân loài
là biểu tượng của tích môn và Đức Phật Đa Bảo
hiện ra từ trong quá khứ là biểu tượng của bổn
môn. Câu chuyện về tháp Phật Đa Bảo được Kinh
Pháp Hoa nói đến trong phần tích môn là để hiển
lộ bổn môn mà Phật sẽ tuyên thuyết sau nầy. Như
đã phân tích một số phẩm kinh ở phần trên chúng
ta thấy rằng trong Kinh Pháp Hoa Pháp Phương
Tiện mà Đức Phật đã dùng đa số là pháp thí dụ.
Lấy cái nầy để chỉ cho cái kia “ Khai tam thừa
qui nhất thừa” (開 三 乘 歸 一 乘).
Bằng những thí dụ rất có hình ảnh từ dụ tam giới như nhà
lửa, dụ cây cỏ thuốc, dụ hóa thành, dụ ngọc
trong gấu áo đến dụ Tri Kiến Phật như viên minh
châu trên mão nhà vua trong phẩm an lạc hạnh.
Đức Phật không chỉ khẳng định Tri Kiến Phật là
báu vật của mỗi chúng sanh mà còn khẳng định Đạo
Nhất Thừa đến khi đúng thời mới khai mở. Không
những thế với phẩm an lạc hạnh Đức Phật còn chỉ
ra phải lập hạnh như thế nào để tu đạt đến đỉnh
cao của lí tưởng giảo thoát. Hay bằng ví dụ
người khát đào giếng Đức Phật đã gởi đến chúng
ta một thông điệp; Tìm về đạo nhất thừa hay để
tìm ra Phật Tri Kiến của chính mình chúng ta
phải nổ lực đến cùng, bao giờ đạt đến cứu cánh
viên mãn mới thôi. Điều nầy được Đức Phật nói
trong phẩm pháp sư thứ mười. Tại phẩm nầy Đức
Phật cũng đã nói đến điều kiện giảng dạy và
truyền bá Kinh Pháp Hoa.
Như vậy, với ba châu; pháp thuyết châu, dụ thuyết châu,
nhân duyên thuyết châu và bảy dụ; dụ nhà lửa, dụ
cùng tử, dụ cỏ thuốc, dụ hóa thành, dụ ngọc
trong áo, và dụ viên minh châu trên đỉnh mão nhà
vua. Đức Phật đã chỉ rõ chỗ quyền khai phương
tiện dạy tam thừa để qui nhất thừa. Hay nói một
cách khác Đức Phâảt đã xử dụng phương tiện khéo
léo áp dụng pháp tu nhất thừa một cách rất
hoàn hảo dần đưa chúng sanh từ căn cơ ám độn trở
về với trí tuệ vốn có của mình. Đến đây xem như
chúng ta đã triển khai được về Pháp Phương Tiện
trong Kinh Pháp Hoa qua phần tích môn. Để biết
được ở phần bổn môn Kinh Pháp Hoa nói về Pháp
Phương Tiện của Phật ra sao? Dụng phương tiện để
chỉ bổn môn như thế nào? Và việc giới thiệu bổn
môn có lợi ích gì? Chúng ta hãy cùng nhau đi vào
phần tiếp của luận văn.
3.2.3. Pháp Phương Tiện Qua Phần Bổn Môn (本 門):
Như phân tích của một số nhà học giả thì phần bổn môn được
bắt đầu từ phẩm Như Lai thọ lượng thứ 16. nhưng
theo một số phân tích vừa trình bày ở trên ta
thấy rằng phẩm “ Hiện Bửu Tháp” thứ 11 đã có
dáng dấp của bản môn. Phần bổn môn theo Hòa
Thượng Thích Thiện Siêu đây là phần khai cận
hiển viễn, khai tích hiển bổn thân quyền thân
thật. Từ các nhận định trên ta thấy phần bổn môn
Đức Phật phương tiện dùng cái gần để chỉ cái sâu
xa, dùng dấu tích để chỉ bày cái căn nguyên bổn
gốc. Đức Phật Thích Ca dùng đời sống mình để chỉ
cái nguồn cội sâu xa. Hay nói cách khác Đức Phật
đã nói bản vị quá khứ của mình để chỉ cái nguồn
đạo chân thực mà ngài đã chứng ngộ. Mong đưa
chúng sanh trở về với tự tánh thanh tịnh của
chính mình.
Khởi đầu phần bổn môn của Kinh Pháp Hoa là phẩm “ Tùng địa
dõng xuất”. Từ phẩm nầy trở đi Kinh Pháp Hoa
diễn tả những cảnh giới những cảnh giới vượt
ngoài tầm hiểu biết thông thường của người phàm.
Sự xuất hiện của Tháp Phật Đa Bảo ở phẩm thứ 11
đã báo hiệu Đức Phật chuẩn bị nói đến những cảnh
giới siêu việt, dần dần định hướng cho phần bổn
môn. Đến phẩm “ Tùng địa dõng xuất” miêu tả cảnh
Bồ Tát từ dưới đất vọt lên hằng hà sa khi nghe
Đức Phật thuyết Kinh Pháp Hoa tuyên dương đạo
nhất thừa. Như thế để nói lên đất tâm của chúng
sanh vốn sẵn có những chủng tánh lành thiện hay
là những hạt giống bồ đề sẵn sàng ra hoa kết quả
khi đầy đủ nhân duyên khai mở. Bằng phương tiện
vị tằng hữu thuyết nhân duyên, Đức Phật khẳng
định điều nầy khi nói qua cảnh vô số Bồ Tát từ
dưới đất vọt lên. Hình ảnh vô số Bồ Tát từ đất
vọt lên muốn nói rằng Bồ Tát không phải ở cảnh
giới nào khác mà chính ở ngay tại Ta Bà nầy.
Cũng vậy, ngay tại nguồn tâm của chúng sanh vốn
có vô số hạt giống Bồ Đề Giác Ngộ. Mà có hạt
giống giác ngộ thì sẽ có quả giác ngộ, có được
sự giác ngộ tức sẽ có giải thoát. Có nhân tức có
quả chân lí nầy không thể sai chạy.
Để chỉ cái bản lai của chính mình Đức Phật dùng hình ảnh
thật sinh động “cha trẻ , con già”. “Cha trẻ ,
con già” là hình ảnh của bổn môn và tích môn hòa
nhịp. Đây là một sự thật hy hữu, cha trẻ là cha
của tích môn, con già vì là con đến từ bổn môn.
Sự kiện nầy nếu không dùng phương tiện vị tằng
hữu thì làm sao có thể hiểu và tin được. Đúng
như thế, Bồ Tát Di Lặc người biểu trưng cho ý
thức phân biệt đã khởi nghi hiện tượng cha trẻ
con già và Bồ Tát xuất hiện trùng trùng từ
phương dưới của cõi Ta Bà đã đưa vấn đề nầy để
hỏi Thế Tôn. Đức Phật đã dùng một thí dụ về
người thầy thuốc thông minh để nói về thọ lượng
của Như Lai. Như Lai thọ lượng vô cùng, Ngài đã
thành Phật từ vô lượng kiếp. Nhưng Như Lai đã
dùng vô số phương tiện, hiện vô lượng thân tướng
để độ chúng sanh nơi cõi Ta Bà. Nên ta thấy trẻ
mà không trẻ, ngược lại thấy con già nhưng thực
sự không già. Ngưòi bình thường thấy Đức Phật
đản sanh ở Lâm Tỳ Ni lớn lên xuất gia tu hành và
thành đạo rổi chuyển pháp luân. Nhưng thấy như
vậy là thấy cái hiện tướng của Như Lai, chứ
không phải thấy được cái thật tướng của Như Lai.
Nên trong kinh nói Đức Phật thấy chúng sanh mê
mờ ngu si phước mỏng nghiệp dày, vì hạng người
nầy mà Đức Phật nói: Ta lúc trẻ xuất gia tu hành
được vô thượng chánh đẳng chánh giác, chứ thiệt
Ta đã thành Phật từ vô lượng kiếp trước. Đây chỉ
là phương tiện của Phật để giáo hóa chúng sanh,
đưa chúng sanh về Phật Đạo, giúp cho chúng sanh
nhận rõ Tri Kiến Phật.
Sự thực Như Lai thấy rõ không sai lầm thật tướng của ba
cõi, lại vì chúng sanh căn tánh không đều nên
khai môn phương tiện để độ chúng sanh khiến
chúng sanh phát khởi thiện căn. Tại phẩm nầy qua
câu chuyện của cha con ông thầy thuốc chúng ta
thấy Đức Phật xử dụng phương tiện hiện tướng
niết bàn để độ sanh. Khiến cho chúng sanh thấy
rằng chư Phật khó gặp mà trừ bỏ giãi đãi, tinh
tấn tu hành sớm được giải thoát. Đây là một
phương tiện tuyệt vời khi xử dụng sanh tử để đôỉ
sanh tử chỉ có Phật mới có thể xử dụng một cách
hoàn hảo đến như vậy. Ngoài Đức Phật ra không có
ai làm được như thế, dùng sự vô thừong để đưa
chúng sanh trở về với lẽ chơn thường. Đức Phật
đã dùng pháp huyễn, độ như huyễn đạt chân lí một
cách thật tuyệt vời. Với phẩm Như Lai thọ lượng
nầy Đức Phật đã mở ra cho chúng ta tầm nhìn bao
la vô cùng vô tận.
Đức Phật làm Phật sự khắp mười phương không hề ngừng nghỉ,
“Tuy thường xuyên ở Ta Bà, nhưng Phật không hề
vắng mặt ở thế giới nào và không lúc nào không
làm lợi ích chúng sanh. Như vậy, những điều Ngài
làm chưa ngừng nghỉ chắc chắn sẽ làm dưới dạng
vô hình Ngài nói có Phật Nhiên Đăng, Phật Di Đà,
Phật Dược Sư.v.v. Tất cả giảng dạy nầy chỉ là
phương tiện để giáo hóa chúng sanh” [9. 476].
Với phương tiện thiện xảo trong phẩm Như Lai thọ
lượng Đức Phật đã cho ta thấy một Đức Phật bất
sanh, bất diệt hằng hữu, dù có trãi qua cảnh
giới nào quốc độ nào đi chăng nữa thì Phật vẫn
là Phật. Điều nầy phải chăng Đức Phật dụng
phương tiện để chỉ cho chúng ta Tri Kiến Phật
cũng luôn hằng hữu, thể của nó không khác nhưng
dạng lại không đồng. Cái dụng của Tri Kiến Phật
hay Phật tánh của chúng sanh cũng luôn biểu hiện
dưới các hình thức l