******Trang tiếng Việt  ******Thư Mục Tổng Quát ******Trang tiếng Anh ******

 

 

 

 

Luận văn tốt nghiệp

 

NHÂN SINH QUAN VÀ THẾ GIỚI QUAN THEO CÁCH NHÌN
CỦA DUY THỨC HỌC

Thích Đức Phước

 

 A. DẪN NHẬP

Từ thuở xa xưa cho đến bây giờ khi trí thức của con người đã được nẩy nở, đứng trước vũ trụ bao la, người ta bắt đầu bàng hoàng đánh dấu hỏi:

Vũ trụ là gì ? Nhân sinh do đâu mà có ?

Và chung kết của nhân sinh như thế nào ?

Đó là những vấn đề đã làm cho tất cả các tôn giáo, các thánh nhân, hiền triết từ xưa đến nay, phải dùng hết tâm tư để tìm tòi nghiên cứu

Tuỳ theo nhận thức của mỗi người, sẽ có sự giải đáp khác nhau, và vấn đề nhân sinh bao giờ cũng được giải thích nhịp nhàn theo thuyết vũ trụ.

Như ta biết vũ trụ vạn hữu từ trong một bản thể rộng lớn sinh ra thì nhân sinh cũng là một hiện tượng trong vũ trụ, cũng từ trong bản thể đó mà sinh. Song vạn hữu chân thật hay giả huyễn? – vạn hữu chỉ là cảnh tượng của bản thể, của Tâm Chí Chơn. Tức khi nhân sinh đã đến một trình độ tuyệt đích, thấu rõ thực tướng của vũ trụ, lý trí hợp nhất, đem trí ấy mà chiếu vào sự vật sự vật đều Chân. Ngoài ra, giữa cuộc biến chuyển vô thường muôn vàn cảnh tượng sai khác, vạn hữu chỉ là giả huyễn, khác nào bọt nước, bóng gương.

Từ bao giờ nhân sinh đã quên mình là một phần tử của cái Tâm thể, nhận lấy cái thể riêng biệt là mình, dùng tâm lý sai lầm nhận thức các hiện tượng, nhân đó sinh ra mê vọng điên đảo, do tư tưởng phát động ra hành vi, trong cuộc sống hàng ngày sanh ra ba nghiệp (thân, khẩu, ý) từ ba nghiệp này ảnh hưởng phản lại, cảm thành tập quán, thành kiến tạo nên nguồn sống dục vọng di truyền từ kiếp này sang kiếp khác gọi là dẫn nghiệp (nghiệp lực) mà Đạo Phật gọi là nghiệp thức –những hiện tượng của thế giới nhân loại, từ thân tâm cho đến cảnh vật, đều là phản ảnh trung thành của nghiệp thức ấy do đó mà số chung chúng sinh, đồng nghiệp cảm ứng ra. Hiện ta có thân thể như thế này, do đời trước tạo nghiệp mà sinh. Thân tâm của ta là do một cuộc tập hợp mà có thân tâm tập hợp này là quả thuộc về nhân quá khứ, quả này lại mê lầm, tạo nghiệp làm nguyên nhân cho cuộc tập họp về sau, cứ như thế đời này hết đời sau nối tiếp nhân quả biến chuyển như vòng dây xích, nhân sinh cứ quanh quẩn trong đó chịu lấy vô lượng khổ đau.

Đức Phật Thích Ca đã xuất hiện nơi cõi đời trên 25 thế kỷ, trải qua bao trang sử biến đổi thăng trầm, bước đường truyền giáo không ít gian nguy khó nhọc! Nhưng người xưa đã làm tròn sứ mệnh đem đạo vào đời, thắp sáng đuốc tuệ ở nhân gian. Như thế, xuyên qua dòng lịch sử chúng ta nhận thấy rằng Đạo Phật đi vào đời có cả ba tính chất đó là bi, trí, dũng. Trong đó Duy Thức Học biểu trưng sự vững chải từ thời Đức Phật cho đến ngày nay, là một môn triết học Phật Giáo có chiều dày lịch sử rất quan trọng.

Vì vậy, Duy Thức Học, nếu như người nào nghiên cứu đến cũng phải công nhận là một môn học rất thực tế, rất sống động, có giá trị thời gian và không gian trong mọi lĩnh vực xây dựng con người tiến bộ cũng như kiến tạo xã hội văn minh theo chiều hướng tâm linh. Ngoài sự thỏa mãn phần nào vấn đề thắc mắc của lý trí, Duy Thức Học còn hướng dẫn con người cải tạo bản thân và biến đổi hoàn cảnh theo nhu yếu của nhận thức để họ sống được hạnh phúc an vui chân thật.

Duy Thức Học dựa trên nguyên lý cấu tạo vũ trụ và nhân sinh theo chủ thuyết Duyên Sinh của Đức Phật Thích Ca chủ trương. Chủ thuyết Duyên Sinh này chính Đức Phật Thích Ca đã tuyên ngôn đầu tiên nơi vườn Lộc Uyển để độ năm Anh Em ông Kiều Trần Như, sau khi thành đạo nơi cội Bồ Đề. Căn cứ theo chủ thuyết Nhân Duyên Sinh, Duy Thức Học phân tích tính chất, giá trị, ý nghĩa và vai trò của mỗi tâm thức, cũng như tìm hiểu thấu đáo sự quan hệ lẫn nhau giữa các biểu thức (6 thức trước), Tiềm thức (Matna) và siêu thức (Alaya) trong mọi lĩnh vực sinh hoạt, hỗ trợ nhận thức cũng như sự sáng tạo vũ trụ và nhân sinh.

B. NỘI DUNG

CHƯƠNG1: TIỂU SỬ VÀ Ý NGHĨA SỰ HÌNH THÀNH DUY THỨC HỌC:

1.1. Tiểu sử tác giả và sự truyền thừa :

Như chúng ta biết, đức Phật là người khai sáng và trình bày lý nghĩa Duy thức đầu tiên ở trong các kinh. Do đó, ngài được tôn xưng là thỉ tổ của môn Duy thức học này. Tuy nhiên, đứng về mặt hệ thống hóa, triển khai và tập thành thì Bồ Tát Di Lặc, Vô Trước và Thế Thân là những vị có công rất lớn trong giáo môn này, nên được gọi là các vị tổ sư…

Sau khi Đức Phật nhật diệt khoảng 900 năm có hai bậc đại luận sư nổi tiếng đó là Ngài Vô Trước (Asanga) và Ngài Thế Thân(Vasubandhu) kế thừa tư tưởng truyền bá và phát huy Duy Thức Học thành một hệ thống triết học siêu đẳng, có khả năng định hướng đích thực cho tư tưởng con người và cũng là ý sống thiết yếu của con người trên lĩnh vực thăng hoa. Do đó, Duy Thức Học được gọi là Tâm lý Học thực nghiệm. Ngài Thế Thân là người ở Bắc Ấn sinh vào đầu thế kỷ thứ V Tây lịch, thuộc dòng dõi Bà La Môn. Ngài có ba anh em đều xuất gia theo Phật. Ban đầu Thế Thân tu học theo truyền thống Hữu Bộ sau đó đến Ca Thấp Di La học giáo nghĩa Đại Tỳ Bà Sa Luận, trở về bản gốc là Gandhara soạn bộ Câu Xá Luận tổng hợp giáo nghĩa của Hữu Bộ. Ngài theo lời khuyên của người anh là Vô Trước chuyển qua tu tập theo giáo nghĩa Đại Thừa. Ngài trước tác nhiều bộ luận xiển dương giáo nghĩa Đại Thừa. Trong đó gồm có Duy Thức Tam Thập Tụng, Duy Thức Nhị Thập Tụng, Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận… và nhiều bộ luận nổi tiếng khác. Ngài mất tại nước A Du Đà thọ 80 tuổi.

1.2. Sự  Hình Thành Duy Thức Học:

Duy Thức Học là một trong những môn học về Luận Tạng, bắt đầu sự nhận thức hiểu biết về tâm linh nên gọi là Thức. Người trước tác ra môn học này phần đông là các vị Bồ Tát.

Đầu tiên, Đức Phật Thích Ca còn tại thế thường giảng Duy Thức trong nhiều bộ kinh như: Kinh Lăng Già, Hoa Nghiêm, Giải Thâm Mật, Mật Nghiêm, Lăng Nghiêm, Công Đức Trang Nghiêm… cho các hàng Đại Bồ Tát. Trong các pháp hội Ngài Di Lặc (Maitreya) là một vị Bồ Tát đã lĩnh hội được tôn chỉ của môn học này.

Sau khi Phật nhập diệt khoảng 900 năm. Ngài Vô Trước cũng là vị Bồ Tát ra đời, thọ giáo với Bồ Tát Di Lặc tại cung trời Đâu Suất về môn Duy Thức này. Sau khi đắc pháp, Bồ Tát Vô Trước đứng ra khởi xướng thuyết Duy Thức tại Ấn Độ. Em Ngài là Thế Thân cũng theo anh học đạo. Đầu tiên Ngài Thế Thân sáng tác quyển “Duy Thức Tam Thập Tụng”. Quyển sách này được truyền bá khắp nơi trên toàn cõi Ấn Độ. Hệ phái tư tưởng Duy Thức được thành lập từ đây.

Đến thế kỷ thứ VI tây lịch, có nhiều vị Đại Luận Sư lỗi lạc, nổi tiếng về môn học Duy Thức đã xuất hiện tại Ấn Độ như: Thân Thắng, Hỏa Biện, Đức Tuệ, Trần Na, An Tuệ, Nan Đà… mỗi vị đều có sáng tác và chú thích nhiều bộ luận nhằm để phát huy tư tưởng Duy Thức Học.

Đến đời nhà Đường (Trung Hoa) niên hiệu Trinh Quán thứ 3 (636 TL) có Ngài Pháp Sư Huyền Trang du học ở Ấn Độ, tại đại học Na Lan Đa, Ngài thọ giáo với Luận Sư Giới Hiền về môn Duy Thức Học hơn 10 năm. Sau khi về nước, Ngài Huyền Trang đứng ra phát huy tư tưởng Duy Thức khắp Trung Hoa với tác phẩm Thành Duy Thức Luận do Ngài sáng tác. Ngoài ra Ngài Huyền Trang còn dịch nhiều bộ luận rất liên hệ về môn Duy Thức Học, chuyển ngữ từ chữ Phạn ra chữ Hán. Đệ tử của Ngài Huyền Trang có các Ngài như: Khuy Cơ, Tuệ Chiếu, Trí Châu,… thay nhau truyền bá môn học này.

Mãi đến Dân Quốc năm 1912 có cư sĩ Phương Nhơn Sơn ở Nhật Bản, mang môn học Duy Thức về Trung Hoa phát huy trở lại và thành lập Nội Học Viện China để làm cơ sở nghiên cứu môn học Duy Thức cho những học giả trí thức trong nước, nhờ đó môn học Duy Thức tại Trung Hoa được phục hưng trở lại và mở rộng sang Việt Nam.

Riêng ở Việt Nam, môn học Duy Thức cũng được phổ biến từ lâu. Những Luận Sư nổi tiếng về môn học này như: Thiện Hoa, Tuệ Nhuận, Thạc Đức, Nhất Hạnh… đây là sự tiến trình môn học Duy Thức thành một hệ thống tư tưởng siêu đẳng và đã được lan tràn khắp nơi trên toàn thế giới.

1.3. Định Nghĩa Duy Thức Học:

Duy: tiếng Pali gọi là Matratã, nghĩa là Chỉ Có.

Thức: Tiếng Pali gọi là Vijnãna (Consciousness) nghĩa là hiểu biết.

Duy thức có nghĩa là: chỉ có thức, vạn vật do thức biến hiện. Có thể dịch là sự biểu hiện hay liễu biệt. Có nghĩa là sự vật là sự biểu hiện của thức, hay vạn pháp chỉ là sự biểu hiện của sự phân biệt.

Duy là duy cái biết, do cái biết, hoặc y nơi cái biết (bỉ y thức sở biến). Muôn sự muôn vật không tự hiện hữu, chỉ hiện hữu khi đủ duyên, chỉ hiện hữu giữa mọi mối quan hệ, lớp này lớp khác trùng trùng vô tận.

Duy Thức còn có nghĩa là các pháp bằng cách này hay cách khác luôn luôn liên hệ với thức, sắc là biểu lộ ngoại tại của thức. Tâm Bất Tương Hành là tên gọi của tiến trình từng phần của thức hiện hành. Vô Vi là tánh tỉnh lặng của thức. Do đó không có pháp nào tách biệt khỏi thức. Duy Thức cũng có nghĩa là tất cả sự vật phải nhờ duyên Thức mà có tên có tướng. Thức tánh là Pháp Giới Tánh, Pháp Giới Tánh duyên khởi ra sự vật thì cũng là thức duyên khởi ra sự vật. Do đó lấy thức là trung tâm chi phối các sự vật trong pháp giới nên gọi là Duy Thức.

Duy Thức Học: Là môn học về tâm thức, nghiên cứu thực tại trên phương diện hiện tượng để từ đó thấy thực tại tuyệt đối. Duy Thức Học chú trọng đến giá trị tâm linh làm nền tảng để mở bày nguyên lý của vạn pháp để đạt đến giải thoát tối hậu.

1.4. Mục Đích Của Duy Thức Học:

Duy Thức Học bắt đầu từ nơi thức để tìm hiểu nguồn gốc của tâm. Nguyên do tâm chính là thể của thức mà thức lại là tác dụng của tâm thể. Tâm thể nếu như không có thì không có thức tác dụng. Thế nên, các nhà Duy Thức căn cứ trên tác dụng của tâm thể mà đặt tên cho nó là thức. Nhưng thức ở đây chính là thức tạng (Alaya). Thức Tạng là một loại tâm thức có giá trị làm căn bản cho sự sanh khởi vũ trụ và nhân sinh. Nghĩa là vạn pháp và con người trong vũ trụ đều phát sinh từ nơi tâm thức này. Đó là lời khẳng định của các nhà nghiên cứu Duy Thức Học. Duy Thức Học còn có nhiệm vụ nữa là tìm hiểu vạn pháp và loài người trong vũ trụ từ đâu sinh ra và ai sinh ra chúng, sinh bằng cách nào ? Các nhà Duy Thức đi đến kết luận rằng: “Vạn Pháp đều do Thức biến hoặc tất cả đều do tâm tạo”. Để chứng minh những lời kết luận trên, chúng ta nên dựa theo những tiêu chuẩn của các nhà Duy Thức để nhận định như sau:

* Thể (Dynamic State): nghĩa là thể tánh hay bản thể của vạn pháp và con người. Đứng trên lập trường nhân quả mà nhận xét thể ở đây là chỉ cho nguyên nhân (cause) nghĩa là nguồn gốc để phát sinh ra vạn pháp và con người.

* Tướng (Form): nghĩa là hình tướng, tướng trạng của các pháp và con người, vạn pháp có nhiều hình tướng khác nhau thì nơi thể tính nhất định cũng có nhiều nguyên nhân và chủng loại khác nhau. Nguyên do hình tướng của các pháp và loài người thảy đều phát sinh từ nơi thể tánh của mỗi chủng loại. Cũng như con vịt thì sinh ra từ trứng vịt chứ không thể sinh ra từ trứng chim, trứng ngỗng… được. Tướng ở đây là chỉ cho quả tướng, nghĩa là hình tướng thuộc loại kết quả của những nguyên nhân.

* Dụng (Action): tức là phần tác dụng của những nguyên nhân đã được phát sinh từ nơi thể tánh. Các pháp trong vũ trụ, có loại có hình nhìn thấy được, có loại không có hình tướng mà người nhận xét chỉ biết qua sự tác dụng của chúng. Cũng như tâm lý của con người hay năng lượng của dòng điện không gian. Dụng ở đây cũng là chỉ cho quả tướng, nghĩa là hình tướng thuộc loại kết quả của những nguyên nhân.

Các nhà Duy Thức căn cứ trên tướng, dụng của các pháp và con người mà khảo sát bằng cách quán chiếu theo phương pháp thiền quán và nhờ đó tìm ra bản thể của chúng, đồng thời biết được chúng từ đâu sinh ra một cách chính xác. Duy Thức Học còn dựa trên thức chi, một chi trong mười hai nhân duyên của Đức Phật đã chỉ dạy là trung tâm khảo sát, nhằm mục đích biện minh cho nguyên lý: “Vạn pháp trong vũ trụ đều do nhân duyên sinh” của Đức Phật chủ trương qua trạng thái Duy Thức biến.

1.5. Lợi Ích Của Duy Thức Học:

Nghiên cứu về Duy Thức Học chúng ta sẽ cảm nhận được rằng đây là một môn học nhằm nghiên cứu những hình tướng duyên sinh của các pháp nhằm tìm hiểu nguồn gốc sinh khởi của chúng. Từ đó giúp cho học giả có thể hiểu rõ về nguyên lý chính tà, chơn vọng để không bị mê hoặc, lầm lẫn bởi những chủ thuyết ảo tưởng, những chủ nghĩa giả tạo. Đồng thời cũng có thể tẩy trừ được những kiến chấp về ngã pháp và giải thoát khỏi nguồn gốc sinh tử luân hồi trong ba cõi. Hơn nữa, Duy Thức còn liên kết được mọi yếu tố cần thiết trong chiều hướng trở về nguồn tâm trí căn bản của chúng sinh để làm nền tảng cho sự chứng ngộ mà những học giả có thể nhận thức được rằng: Ngoài những hiện tượng giả tạo đã được kết hợp bởi hình thức duyên sinh, con người còn có tâm trí ở trong và tâm trí này được chuyển hóa từ tâm thức. Tâm trí này là tâm chân thật không sinh diệt, không nhơ sạch, không tăng giảm… và nó chính là yếu tố vô cùng trọng đại trong mọi lĩnh vực sinh tồn của chúng sinh.

Ngoài ra với tính cách phân tích, mổ xẻ chi li các sự vật phức tạp hiện có mặt trên thế gian này để nhận thức về tính chất, giá trị và ý nghĩa của vạn pháp. Duy Thức Học còn làm thỏa mãn phần nào những dữ kiện mà các nhà khoa học cần đến như nguyên tử, phân tử học cũng không ngoài chủng tử học của Duy Thức. Đồng thời nó còn là mấu chốt quan trọng để giúp cho những nhà học giả Phật Học đi vào kho tàng giáo lý Đại Thừa.

1.6.Điển Tịch Của Duy Thức học:

Qua phần lịch sử chúng ta thấy được Duy Thức Học đã có từ khi Phật Giáo ra đời và liên tục phát huy thành hệ thống hoàn chỉnh. Nhìn trên phương diện tổng quát thì ta thấy tư tưởng Duy Thức tản mác hầu hết trong kinh tạng. Tuy nhiên dựa trên lịch sử hình thành Duy Thức Tông các Luận Gia Phật Giáo ghi nhận rằng: Duy Thức Học trực tiếp dựa trên cơ sở học lý của 6 bộ kinh và 12 bộ luận sau đây để chứng minh giáo nghĩa Duy Thức của mình. Từ đó về sau các học giả căn cứ vào đấy mà cho là điển tịch chủ yếu của Duy Thức Tông.

* Sáu bộ kinh:

1. Hoa Nghiêm Kinh.

2. Giải Thâm Mật Kinh.

3. Như Lai Xuất Hiện Công Đức Trang Nghiêm Kinh.

4. Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Kinh.

5. Lăng Già Kinh.

6. Hậu Nghiêm Kinh.

* Mười Một bộ luận:

1. Du Già Sư Địa Luận.

2. Hiển Dương Thánh Giáo Luận.

3. Đại Thừa Trang Nghiêm Luận.

4. Tập Lượng Luận.

5. Nhiếp Đại Thừa Luận.

6. Thập Địa Kinh Luận.

7. Phân Biệt Du Già Luận.

8. Biện Trung Biên Luận.

9. Nhị Thập Duy Thức Luận.

10. Quán Sở Duyên Duyên Luận.

11. A Tỳ Đạt Ma Tạp Tập Luận.

CHƯƠNG 2: SỰ VẬN HÀNH CỦA TÁM TÂM THỨC:

2.1. Tiền Ngũ Thức:

Năm sự hiểu biết sinh hoạt hiển bày ra ngoài nơi thân thể con người gọi là năm thức trước.

* Nhãn Thức: cái biết của con mắt, vì thức này nương nơi nhãn căn khởi lên tác dụng phân biệt sắc trần, nên gọi là nhãn thức.

* Nhĩ Thức: cái biết của lỗ tai, thức này nương nơi nhĩ căn khởi ra tác dụng phân biệt về thinh trần nên gọi là nhĩ thức.

* Thiệt Thức: cái biết của lưỡi, thức này nương nơi thiệt căn khởi ra tác dụng phân biệt vị trần, nên gọi là thiệt thức.

* Tỷ Thức: Cái biết của mũi. Thức này nương nơi tỷ căn khởi ra tác dụng phân biệt về hương trần, nên gọi là tỷ thức.

* Thân Thức: Cái biết của thân. Thức này nương nơi thân căn mà khởi ra tác dụng phân biệt xúc trần nên gọi là thân thức.

Trong tám thức, vì năm thức này ở bên ngoài và trước nên các nhà Duy Thức mượn các hiện tượng và ý nghĩa của những sự vật bên ngoài do chúng sinh hoạt để đặt tên. Các hiện tượng và ý nghĩa của những sự vật bên ngoài đều là đối tượng của tám thức.

Đầu tiên, Duy Thức Học mượn các giác quan (các căn) nơi thân thể con người để đặt tên cho năm thức ở trước. Vì thế, năm thức cảm giác phát sinh khi căn tiếp xúc với cảnh. Căn là giác quan thuộc về sinh lý (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân). Cảnh là năm đối tượng của năm giác quan gồm có: cái được thấy, cái được nghe, cái được ngữi, cái được nếm, cái được xúc chạm. Căn còn gọi là cơ quan cảm giác có hai phần: phần lộ rõ bên ngoài gọi là Phù Trần Căn như con mắt…; phần tế nhị bên trong gọi là Thắng Nghĩa Căn hay là Tịnh Sắc Căn như: thần kinh thị giác….

Khi thức phát sinh thì luôn bao gồm chủ thể và đối tượng. Nghĩa là cảm giác luôn luôn là cảm giác về một cái gì, tri giác luôn luôn là tri giác về một cái gì. Như vậy, nơi năm căn (năm giác quan) và năm trần cảnh bản chất của chúng thì hoàn toàn là vật chất và chúng được tạo thành bởi bốn nguyên lý gọi là tứ đại (đất, nước, gió, lửa). Cho nên 5 căn và năm trần cảnh gọi chung là sắc pháp (Form). Sắc pháp là những pháp thuộc về hình sắc của vật chất. Ngược lại 5 tâm thức ở trước thì thuộc về tâm linh và chúng được phát sinh từ nơi hạt giống (chủng tử) riêng biệt của mỗi loại trong tạng thức. Cho nên 5 tâm thức này được gọi chung là tâm pháp (consciousnesses) tổng cộng: năm căn, năm trần, năm thức thành 15 giới (constituents), nghĩa là năm lĩnh vực khác nhau.

Năm thức đều nương nơi năm căn tịnh sắc và nhờ có các duyên mới sinh ra được. Như nhãn thức nhờ chín duyên, nhĩ thức chỉ còn tám duyên, tỷ, thiệt, thân mỗi thức chỉ còn 7 duyên. Ba thức tỷ, thiệt, thân phải hiệp với trần cảnh mới duyên được cảnh; còn hai thức: nhãn và nhĩ, cách hở trần cảnh mới duyên được. Chúng phàm phu và hàng Nhị Thừa vì chấp pháp nặng nề nên có phân biệt giữa thức và căn. Vì thế mà cả hai đều bị gọi là “Ngu giả”.

“Ngũ thức đồng y tịnh sắc căn

Cửu duyên, bát thất hảo tương lân

Hiệp tam ly nhị quán trần thế

Ngu giả nan phân thức dữ căn”.

Dịch:

(Năm thức đồng nương tịnh sắc căn

Chín, tám, bảy duyên ưu gần nhau

Ba hiệp, hai rời duyên trần cảnh

Người ngu khó biết thức và căn).

2.2. Sự có mặt của Ý Thức:

Ý thức được xếp vào vị trí thứ sáu đứng sau năm thức trước. Bởi vì tâm thức này có khả năng hiểu biết khá sâu rộng, khá tinh vi hơn so với năm thức trước. Tâm thức có khả năng hiểu biết cả hai phương diện: Khả năng hiểu biết những sự vật có chất lượng duyên sinh, có hiện tướng bên ngoài (Ngũ Câu Ý Thức) và lại còn có khả năng hiểu biết những sự vật không chất lượng duyên sinh, không hiện tướng bên ngoài mà chúng vẫn có mặt đang nằm phía bên trong nội tâm (Độc Đầu Ý Thức). Ý Thức thứ sáu của con người chẳng những có thể hiểu biết lại còn có thể ghi nhớ một cách rõ ràng về tính chất, giá trị, ý nghĩa của một sự vật mà 5 thức trước hoàn toàn bất lực trong sự hiểu biết giống như sự hiểu biết của thức thứ sáu.

Để minh họa cho lập luận này chúng ta hãy nghiên cứu với thực tại bản thân xem, như: nhãn thức thì có khả năng nhìn thấy hình sắc của một sự vật nhưng không thể nghe được âm thanh của sự vật đó. Ngược lại nhĩ thức thì có khả năng nghe được âm thanh của một sự vật nhưng không thể nhìn thấy hình sắc của một sự vật đó… như thế, năm tâm thức ở trước chỉ có khả năng hiểu biết về tướng của sự vật qua 5 khía cạnh, lãnh vực khác nhau của mỗi loại (sắc, thinh, hương, vị, xúc) và không thể nhận biết được về chiều sâu tính chất, giá trị, hay ý nghĩa của sự vật đó. Sau khi năm thức trước ngưng hoạt động những hình ảnh của sự vật vừa nêu trên nếu như không được ý thức nhận thức thì lập tức sẽ bị mờ đi và biến dạng mất.

Vì thế, trong tám thức chỉ có thức thứ sáu này rất lanh lẹ. Do nó nương nơi ý căn mà khởi tác dụng phân biệt pháp trần nên gọi là ý thức. Ý thức rất khôn ngoan lanh lẹ nên trong bài tụng của Duy Thức có câu: “Độc hữu nhất cá tối linh ly” (riêng có cái thức này rất lanh lẹ). Suy nghĩ hay làm việc phải thức này đứng đầu, còn tính toán làm việc ác thì nó cũng hơn cả, bởi thế nó được mệnh danh là: “Công vi thủ tội vi khôi” (Công cán thì hơn hết, tội lỗi cũng đứng đầu). Thức này cũng có công năng chấp ngã và chấp pháp.

Một điều mà học giả thường thắc mắc là tại sao thức thứ sáu gọi là ý thức, mà thức thứ 7 cũng gọi là ý thức. Trong Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận Chuế Ngôn có giải thích như sau: thức thứ 6 mà gọi là Ý Thức bởi vì thức này nương nơi Ý Căn mà khởi ra phân biệt nên gọi là Ý Thức. Nghĩa là Thức của Ý Căn: Thức là năng y, còn ý là bị y, hai phần khác nhau, cũng như nói nhãn thức, tức là thức của nhãn căn, thế là căn với thức khác nhau.

Còn thức thứ 7 mà gọi là ý thức: Chữ Ý là sinh diệt tương tục không gián đọan. Vì thức này sinh diệt tưong tục không gián đọan nên gọi là ý thức. Thế là thức tức là ý, không khác. Cũng như tàng thức, chữ tàng là chứa đựng. Vì thức này chứa các pháp (chủng tử )nên gọi là tàng thức. Thế, thức tức là Tàng không khác.

2.3. Sự có mặt của Mạt Na Thức: ( MaNas).

Mạt na là gọi theo nguyên âm tiếng Phạn, nó còn được gọi là ý căn, vì thức này là căn của ý thức, ý thức nương nơi thức này mà phát sinh; lại còn gọi là thức thứ 7 hay là Truyền Tống Thức. Bởi vì nó có công năng truyền các pháp hiện hành vào Tàng thức và tống đưa các pháp chủng tử ra khởi hiện hành. Còn có tên là ý thức, bởi vì nó sinh diệt không gián đoạn nên gọi là ý. Song sợ người lầm lẫn với ý thức thứ 6 nên thức thứ 7 này chỉ gọi là ý mà không thêm chữ thức. Thức này chỉ nương vào kiến phần của Alaya mà chấp thật ngã và thật pháp. Theo Duy Thức Học, thức thứ 7 là một loại tâm thức có bản chất so đo thương ghét, tính toán thiệt hơn, chấp trước và quản lý vạn pháp một cách kiên cố, vì nó chấp ngã một cách ích kỷ. Tâm thức này không bao giờ tỉnh thức trước những hành động so đo và chấp trước của nó. Cũng nhờ vào sự chấp trước và quản lý vạn pháp thật kiên cố nên nó có thể cung cấp bất cứ hình ảnh nào mang tính cách tiềm năng (Memories) từ trong thức tạng mỗi khi thức thứ 6 muốn nhớ lại một cách chính xác không lầm lẫn. Chính vì thế nó luôn luôn chấp chặt vào những ngã ái, ngã si, ngã kiến, ngã mạn và pháp chấp:

“Tứ phiền não thường câu

Vị ngã si ngã kiến

Tịnh ngã mạn ngã ái

Cập dữ xúc đẳng câu”

2.4. Sự có mặt của Alaya Thức (tàng thức):

Thức Alaya thuộc thức thứ 8. Tâm thức này hoạt động hoàn toàn rất sâu thẳm và rất tinh tế trong phạm vi nội tâm. Chúng ta rất khó phân biệt sự sinh hoạt của Alaya thức một cách rõ ràng. Hình tướng của Alaida thức không biểu lộ ra bên ngoài vật chất giống như sự biểu lộ của các tâm thức khác. Tâm thức Alaya chỉ hoạt động tiềm ẩn bên trong. Cho nên người khảo sát khó nhận diện được Alaya thức trên bình diện khoa học. Nhưng theo sự chỉ dẫn của các vị Tổ sư Duy Thức Học thì thức Alaya không thể thiếu trong sự xây dựng nên một hình tướng chúng sinh được tồn tại. Bởi vì thức nầy được mệnh danh là tàng thức, có 3 khả năng duy trì và chứa nhóm:

* Năng Tàng: có khả năng chứa nhóm mọi chủng tử (hạt giống) của các pháp.

* Sở Tàng: là chổ để chứa các pháp. Nói cách khác là tất cả mọi hạt giống thiện ác của các pháp trong thế gian phải nương vào tâm thức Alaya làm tâm địa để sinh khởi.

*Ngã Aùi Chấp Tàng: thức này bị Mạt Na thức chấp làm ngã một cách luyến ái, không chịu buông tha. Bởi vì thức Mạt na mỗi khi hoạt động phải nhờ đến Alaya thức làm giác quan (căn) để hiểu biết và chấp trước. Vì vậy, Mạt Na nhất định phải chấp Alaya làm ngã .

Như vậy, sự kiện sau đây đã cho chúng ta thấy được khả năng tối hậu của Alaya thức. Vị thần đồng Pascal mới lên 7 tuổi đã giải đáp được bài toán Kỷ Hà Học khó nhất của các nhà bác học. Như thế do đâu mà Pascal có khả năng siêu quần thế? Trong khi ông còn rất bé thì làm sao đã học qua nào? Hay sự kiện ở thành phố Santa Cruz, có một cậu bé tên là Adragon de Mello, con của ông Augustin de Mello mới 11 tuổi đã đậu Cữ Nhân toán học vào tháng 6 năm 1988 tại học đường Santa Cruz thuộc tiểu ban California.

Từ những sự kiện và ý nghĩa trên chúng ta thấy rằng: tâm thức Alaya thật sự là nền tảng căn bản không thể thiếu mặt để cho các pháp sinh trưởng và tồn tại. Bởi vì tất cả mọi hiện tượng đều có hạt giống riêng của chúng. Những hạt giống này được gọi là Aũnh Tử và nghiệp tập khí với hình thức tiềm năng được ẩn chứa trong thức thể Alaya.

Song thức thể Alaya sinh hoạt bằng hai chiều: Chiều hướng thứ nhất là duy trì thân mạng của chúng sinh( thân căn) cũng như duy trì thân mạng của vũ trụ (duy trì khí thế gian); và chiều hướng thứ hai là pháp sinh mọi hiện tượng từ nơi những hạt giống của chúng sanh trong bản thể. Sự chuyển hóa của những hạt giống nói trên trong giai đoạn sanh khởi đều phải tuân theo nguyên tắc nhân duyên sinh và nhân quả nghiệp báo để tạo thành nhiều hiện tượng khác nhau. Như thế thức Alaya đóng vai trò rất quan trọng và là thức căn bản của chủ thể mọi chúng sanh.

CHƯƠNG 3: SỰ CÓ MẶT CỦA CÁC TÂM SỞ

3.1. Định Nghĩa Tâm Sở.

Sao gọi là Tâm Vương và Tâm Sở?

* Tâm vương: là những tâm thức, như trên đã trình bày luôn luôn làm chủ tất cả mọi sự hiểu biết về các pháp nên gọi là Tâm Vương.

* Tâm Sở (Metal factor): là những hiện tượng tâm lý phụ thuộc vào tâm vương, chỉ yểm trợ và giúp đỡ Tâm Vương trong sự hiểu biết về các pháp. Nói cách khác, tâm sở theo nghĩa Duy Thức là những tâm lý lệ thuộc Tâm Vương, thừa hành và yểm trợ cho các Tâm Vương trong mọi lĩnh vực hiểu biết về các pháp, nên gọi là Tâm Sở.

Thí Dụ: Nhãn thức thì làm chủ sự nhìn thấy các pháp và ngoài nhãn thức ra không tâm thức nào có thể thay thế để hiểu biết về sự nhìn thấy. Tuy nhiên nhãn thức nếu không có Tâm Sở “Dục” (muốn nhìn) thì cũng không thể thấy được pháp.

3.2. Quan Hệ Giữa Tâm Vương và Tâm Sở:

Qua định nghĩa trên, các Tâm Vương tuy làm chủ tất cả mọi sự hiểu biết, nhưng phải nhờ đến các Tâm Sở giúp đỡ thì mới có thể sinh hoạt với các pháp trần. Các Tâm Vương không thể tự động sinh hoạt để có nhận thức và tạo nghiệp nếu như các Tâm Sở không chịu hướng dẫn và hỗ trợ. Đối với các pháp, các Tâm sở thường xuyên ràng buộc, điều khiển tất cả mọi sự sinh hoạt của Tâm Vương. Các Tâm Sở không cho các Tâm Vương sinh hoạt trực tiếp và hiểu biết đúng nghĩa, lý về các pháp.

Thí dụ: Ý thức Tâm Vương tuy đã hiểu biết sự sân hận là điều tội lỗi, nhưng luôn bị Tâm Sở sân điều khiển, không thể tự chủ và cũng không thể tự xóa bỏ hết sự trói buộc của Tâm Sở Sân mỗi khi gặp phải những điều trái ý.

Vì liên hệ quá nhiều với các Tâm Sở, thành thử các Tâm Vương hình như không còn trung thực trong mọi lĩnh vực nhận thức về các pháp. Các Tâm Vương hầu hết bị các Tâm Sở lôi cuốn và xúi giục, thường xuyên gây tạo các nghiệp nhân thiện ác để rồi tự mình chuốt lấy những quả báo khổ vui bất an trong thế gian. Các Tâm Sở thì điều khiển gây nhân và các Tâm Vương thì lại thọ hưởng quả báo. Sự quan hệ giữa các Tâm Vương và Tâm Sở được ghi nhận qua hai đặc điểm sau:

* Các Tâm Vương thường xuyên bị các Tâm Sở như: Tham lam, sân hận, si mê, kiêu mạn, đố kỵ, ác kiến… thay nhau xúi giục gây tạo các nghiệp ác như: Sát hại, trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ… những nghiệp báo này trở lại lôi kéo các Tâm Vương sa đọa vào những con đường tội ác (địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh).

* Ngược lại, các Tâm Vương nếu như lãnh đạo sáng suốt, tự chủ trong mọi hoạt động hiểu biết của mình thì đồng thời lại được các thiện Tâm Sở như: Tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si… ra tay giúp đỡ. Từ đó có thể phát sinh trí tuệ và dần dần giải thoát được khổ đau sinh tử giữa nhân gian.

3.3. Số Lượng Của Các Tâm Sở:

Do tính chất và giá trị khác nhau của các Tâm Sở, nên Duy Thức Học phân chia những trạng thái tâm lý này thành sáu nhóm, gồm có 51 loại như sau:

a. Biến Hành Tâm Sở có 5 loại.

b. Biệt Cảnh Tâm Sở có 5 loại.

c. Thiện Tâm Sở có 11 loại.

d. Căn Bản Phiền Não có 6 loại.

e. Tùy Phiền Não có 20 loại.

f. Bất Định Tâm Sở có 4 loại.

- Biến Hành Tâm Sở: Năm tâm lý này có mặt cùng khắp ở bốn vị trí đó là: Không gian, thời gian, thức và địa vị (xứ ). Xúc, Tác Yù, Thọ, Tưởng, Tư.

- Biệt Cảnh: Năm loại tâm lý này, mỗi loại sinh hoạt riêng lấy một cảnh giới riêng biệt nhau và tạo nghiệp không giống nhau. Mỗi loại sinh hoạt không quan hệ với nhau và cũng không thể giúp đỡ lẫn nhau chung một hoàn cảnh, năm loại là: Dục, Thắng Giải, Niệm, Định, Tuệ.

- Thiện Tâm Sở (Vistuous Mental Factors): Bản tánh ưa thích và chuyên cần làm việc lợi ích, tất cả những pháp lành ở thế gian đều nương nơi 11 món Tâm Sở này mà sinh trưởng, nó cũng là nền tảng cho sự tu tập giải thoát. Mười một món là: Tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, khinh an, bất phóng dật, tinh tấn, hành xả và bất hại.

- Căn Bản Phiền Não Tâm Sở (Root aflictions): những Tâm Sở này luôn luôn mê lầm chấp trước và bám lấy những ngã tướng giả dối, những pháp tướng không chân thật, cho là thật thể. Nó còn có tên là “Câu Sinh Phiền Não” nghĩa là những phiền não cùng sanh ra một lúc với con người. Nó là gốc rễ của vô minh. Gồm có sáu loại: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Aùc Kiến.

- Tùy Phiền Não: là những tâm lý luôn luôn tùy thuộc vào căn bản phiền não. Phạm vi sinh hoạt không giống nhau nên được chia ra làm ba nhóm.

+ Tiểu Tùy: mỗi loại riêng mình tự sinh hoạt một cách độc lập, không liên hệ với các Tâm Sở khác trong cùng một nhóm. Và mỗi loại chỉ hoạt động trong phạm vi nhỏ hẹp của chính nó. Tiểu Tùy có 10: Phẩn, Hận, Phú, Não, Tật, Xan, Cuống, Siễm, Hại, Kiêu.

+ Trung Tùy: sinh hoạt thường hiển lộ ra bên ngoài rất dễ nhận thấy, thường hợp tác với Tâm Sở cùng loại mỗi khi hoạt động để tạo thêm thế lực. Gồm có 2 loại: Vô Tàm, Vô Quí.

+ Đại Tùy: Hoạt động trong phạm vi rộng lớn và quan hệ khắp các Tâm Sở Bất Thiện để cùng hoạt động. Gồm có 8 loại: Trạo Cử, Hôm Trầm, Bất Tín, Giải Đãi, Phóng Dật, Thất Niệm, Tán Loạn, Bất Chánh Tri.

- Bất Định Tâm Sở: Nghĩa là Tâm Sở thuộc loại không nhất định là thiện hay ác, chỉ khi nào liên kết với Tâm Sở khác mới nhận định được là thiện hay ác. Bất định có 4 loại: Hối, Miên, Tầm, Tư.

CHƯƠNG 4: TÍNH CHẤT VÀ GIÁ TRỊ CỦA THỨC TRONG YẾU TỐ TẠO THÀNH VẠN PHÁP: (tạo thành thế giới hiện tượng – nhân sinh và vũ trụ)

4.1. Thành phần của Tâm thức:

Căn cứ trên sự sinh hoạt để hiểu biết về các pháp. Duy Thức Học phân chia mỗi tâm thức thành bốn phần khác nhau để khảo sát. Bốn phần đó là:

4.1.1/ Kiến Phần: là phần chủ thể của sự hiểu biết hoặc gọi là phần hiểu biết của tâm thức (năng tri) cũng gọi là phần tác dụng của tâm thức tiếp xúc (năng duyên) với sự vật để có hiểu biết.

4.1.2/ Tướng Phần: là phần đối tượng để hiểu biết hoặc gọi là nơi chốn của sự hiểu biết (Sở Tri) và cũng gọi là sự vật đối tượng khiến cho tâm thức tiếp xúc để hiểu biết. Đây là phần hình tướng (Images) của các pháp làm đối tượng cho tâm thức hiểu biết.

4.1.3/ Tự Chứng Phần: là phần thể chất của Tâm Thức, phần này có khả năng kiểm soát và chứng thực sự hiểu biết về các pháp hoặc đúng hoặc sai của Kiến Phần nói trên. Đây là chỉ cho khối năng lượng nguyên thể của tâm thức ở trạng thái chủng tử (hạt giống).

4.1.4/ Chứng Tự Chứng Phần: là phần tướng trạng của mỗi tâm thức. Phần này có khả năng xác định sau cùng cho sự kiểm soát và chứng thực đúng hoặc sai của Tự Chứng Phần. Đồng thời bảo vệ và duy trì phần thể chất của mỗi tâm thức luôn tồn tại với hình thức là Tự Chứng Phần không bị biến thể. Phần này cũng thuộc về căn thức (tính chất) của mỗi tâm thức có nhiệm vụ bảo trì hạt giống tâm thức và hỗ trợ Tự Chứng Phần làm nền tảng cho Kiến Phần nương tựa để sinh hoạt.

Nói chung, Kiến Phần là phần chủ thể, tướng phần là phần đối tượng. Tất cả đều do Tự Chứng Phần của mỗi tâm thức sinh ra. Riêng Chứng Tự Chứng Phần với mục đích là chứng nhận và minh định sự kiểm soát của Tự Chứng Phần trên lĩnh vực nhận thức, đồng thời bảo vệ lấy Tự Chứng Phần của mỗi tâm thức được tồn tại ở vị trí chủng tử riêng biệt không cho biến thể.

Chúng ta thử quan sát hạt đậu xem: ruột đậu tương tợ như Tự Chứng Phần của tâm thức. Vỏ đậu bảo vệ hạt đậu không cho bị hư, tương tợ như Chứng Tự Chứng Phần của tâm thức, bảo trì Tự Chứng Phần không cho biến đổi. Hạt đậu nẫy mầm cũng giống như Kiến Phần của tâm thức tác dụng từ nơi Tự Chứng Phần. Hạt đậu thành hình cây đậu cũng tương tợ như Tướng Phần của các pháp do Kiến Phần của mỗi tâm thức tác dụng sanh khởi.

4.2. Vấn Đề Ngã Tướng và Pháp Tướng:

Con người thường nhìn nhận sự việc bằng kiến chấp nên chẳng những không thông suốt mà còn bị vướng mắc sai sót, chẳng hạn như quan sát địa ốc. Phần đông có thói quen thông thường chỉ nhìn đến những dụng cụ trang bị và những vật liệu xây cất hơn là chú ý đến hai yếu tố quan trọng không thể thiếu trong việc xây dựng nên một ngôi nhà. Hai yếu tố đó chính là ông thợ xây cất và mô hình sơ đồ của cái nhà. Cũng như thế, những nhà nghiên cứu mỗi khi quan sát con người hay vạn pháp vũ trụ. Phần đông cũng chỉ biết nghĩ đến những thành phần thuộc vật liệu như: đất, nước, gió, lửa, nghiệp lực… là những nguyên nhân tạo nên chúng hơn là quan tâm lưu ý đến hai yếu tố vô cùng quan trọng không thể thiếu trong công việc xây dựng nên con người hay vạn hữu vũ trụ. Hai yếu tố đó chính là Alaya Thức và ngã – pháp. Bởi vì Alaya Thức là chủ nhơn ông, chủng tử của vạn pháp như ông thợ xây cất. Còn ngã tướng và pháp tướng chính là sơ đồ mô hình kiểu vẽ dùng để tạo dựng thành con người hay vũ trụ. Riêng về Ngã Tướng và Pháp Tướng Phật Giáo thường gọi tắc là Ngã Pháp.

4.2.1/ Ngã: Atman. Nghĩa là ta, là tôi [1, qII, 351]. Tức là chỉ cho cá nhân của một vật thể, một chúng sinh có đặc tính tự chủ trong mọi hành động, có khả năng phân biệt để hiểu biết các pháp nên gọi là ngã.

4.2.2/ Pháp: Dharma – Dhamma: bất kỳ việc chi dầu nhỏ dầu lớn, hữu hình hay vô hình, tốt hoặc xấu, hữu vi hay vô vi, chơn thật hay hư vọng đều có thể gọi là Pháp. Nó cũng có nghĩa là quy chế, phép tắc tức là chỉ cho những sự vật tự nó duy trì được đặc tính, khuôn khổ riêng biệt của chúng, để cho ý thức của con người nhận biết nó là vật gì, nên gọi là pháp “Nhậm trì tự tánh, quỹ sanh vật giải”. [1, qII, 553]

4.2.3/ Ngã Tướng: là hình tướng riêng biệt của mỗi con người, mỗi chúng sanh hữu tình đứng vào địa vị làm chủ về phương diện phân biệt hiểu biết, cũng như làm chủ về phương diện hành động sáng tạo những nhu cầu cần thiết cho sự sống còn của mọi loài chúng sanh nói chung, của mỗi cá nhân nói riêng.

4.2.4/ Pháp Tướng: là hình tướng khác biệt của mỗi pháp trong thế gian, chỉ đứng vào địa vị làm đối tượng cho sự phân biệt hiểu biết của con người hay của chúng sanh hữu tình. Pháp tướng đây chính là chỉ vào các sự vật hiện có mặt trong thế gian, đang bị quan sát (khách quan), đang bị sử dụng để làm bối cảnh trang trí cho con người và các chúng sanh hữu tình nương tựa để sinh hoạt.

Vạn vật trong vũ trụ, mỗi pháp đều có hình tướng riêng biệt, không có pháp nào giống hoàn toàn với pháp nào. Nhờ hình tướng khác biệt này, con người không bị lầm lẫn mỗi khi nhận thức một hiện tượng nào. Cũng như trường hợp hai người sinh đôi cùng phái với nhau gọi là đồng tính, cùng một dòng máu huyết sinh ra. Nhưng nếu chúng ta nhìn cho kỹ vẫn thấy hai đứa bé có một hình tướng khác biệt không giống nhau hoàn toàn. Cho nên, hình tướng chúng sanh thuộc loại hữu tình thì gọi là Ngã Tướng, còn chúng sanh thuộc loại vô tình thì gọi là Pháp Tướng. Nhưng thực tế, vạn pháp trong vũ trụ chỉ có một tên gọi chung đó là Pháp. Theo Duy Thức thì gồm có 100 pháp và chia thành 5 nhóm:

Tâm Pháp.

Tâm Sở Hữu Pháp.

Sắc Pháp.

Bất Tương Ưng Hành Pháp.

Vô Vi Pháp.

Thế nào gọi là chúng sanh hữu tình và chúng sanh vô tình ?

4.2.5/ Hữu tình chúng sanh: là những chúng sanh có sự sống tình cảm thương ghét và có phân biệt hiểu biết, có xúc chạm nóng lạnh, sướng khổ, ham sống sợ chết… như các loài động vật, sinh vật, bao gồm cả con người. Để xây dựng một hình tướng cho các loại chúng sanh hữu tình nói trên và mục đích nghiên cứu nên Phật Giáo đặt tên là Ngã Tướng.

4.2.6/ Vô Tình Chúng Sanh: là những loài sống không có tình cảm thương ghét, không có phân biệt hiểu biết, không có cảm giác nóng lạnh, khổ vui,… nhưng chúng vẫn có sự sống để duy trì và phát triển nên gọi là Pháp Tướng.

Ngã Tướng và Pháp Tướng vừa nói trên là căn cứ nơi nguyên lý cấu tạo vạn pháp mà thành lập, chứ không phải căn cứ nơi triết học suy luận để định danh. Còn đứng về khía cạnh khác mà nhận xét; nếu như căn cứ trên quan niệm về chủ thể và khách thể để định danh vạn pháp trong vũ trụ về phương diện danh xưng thì luôn luôn không cố định; có khi gọi là ngã tướng, có khi gọi là nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng và có khi gọi pháp tướng… các pháp sở dĩ có những danh xưng khác nhau vừa kể trên được thành lập là do căn cứ trên triết học suy luận để phân loại. Nghĩa là triết học suy luận dựa trên quan niệm chủ thể và khách thể để nhận thức và chấp trước chúng sanh hữu tình mà qui định danh xưng.

Tóm lại, ngã tướng và pháp tướng là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng không thể thiếu mặt cho việc xây dựng vũ trụ và con người. Bởi vì nó được phát sinh từ nơi ý thức, ý thức còn gọi là nguyên nhân để phát sinh ra hạt giống nghiệp lực từ nơi hành động (thân nghiệp) từ nơi lời nói (khẩu nghiệp), từ nơi ý tưởng (ý nghiệp). Nghiệp lực này sau khi được ý thức thứ sáu tạo nên liền cô đọng lại thành tiềm năng với hình thức hạt giống nằm trong thức thể (Alaya). Ngã tướng và pháp tướng nếu như không có hình thức hạt giống để làm nhân tố chính thì nhất định vạn pháp và con người không thể thành hình trong vũ trụ. Vũ trụ có bao nhiêu hình tướng khác nhau thì ở vị trí trạng thái hạt giống trong thức thể (Alaya) lại có bấy nhiêu ngã tướng và pháp tướng không giống nhau. Ngã tướng và pháp tướng được thành lập căn cứ trên hai phương diện: Sáng tạo xây dựng và quan sát nhận thức. Cho nên chúng sanh chấp ngã hay chấp pháp đều là vọng chấp những mô hình ảnh tử này cho là thực thể.

4.3. Vấn Đề Dị Thục thức:

Dị Thục Thức là một loại tâm thức được căn cứ nơi hình tướng quả báo mà định danh. Nghĩa là Duy Thức Học căn cứ nơi hình tướng quả báo của tâm thức mà gọi là Dị Thục. Thật ra Dị Thục hay Nhất Thiết Chủng đều gọi là tên riêng của Alaya Thức. Dị Thục chính là Alaya đã bị biến tướng và bị an trụ vào các hạt giống thuộc loại ngã tướng hay pháp tướng để biến thành hình tướng quả báo cho mai sau. Để nhận xét vấn đề được rõ ràng hơn chúng ta hãy căn cứ trên ba khía cạnh của Duy Thức phân định như sau:

4.3.1/ Tự Tướng: là hình tướng riêng biệt của thức thể Alaya mà các tâm thức khác không thể giống và cũng không có khả năng như thế, nên gọi là tự tướng. Đây là căn cứ nơi tính chất (tàng trữ, duy trì) của Alaya mà xác định. Nói cách khác Tự Tướng của Alaya chính là cái kho tàng trữ tất cả mọi hạt giống của các pháp.

4.3.2/ Nhân Tướng: là chỉ cho Nhất Thiết Chủng Thức. Nghĩa là tất cả hạt giống của vạn pháp đều được thức thể Alaya dung chứa để làm nhân cho sự sinh khởi về sau. Nhân tướng là hình tướng của tất cả hạt giống của vạn pháp ở trạng thái nguyên nhân. Khi quán chiếu con người biết được tâm thức Alaya qua hình tướng các hạt giống của vạn pháp. Ngoài hình tướng các hạt giống này ra, người ta không thể nhận biết được tâm thức Alaya một cách rõ ràng. Nên Duy Thức đặt tên cho Alaya là Nhất Thiết Chủng Thức.

4.3.3/ Quả Tướng: là hình tướng đã được kết thành quả báo, căn cứ nơi nguyên lý nhân quả của những chủng tử mà thành lập. Tất cả hạt giống của các pháp đều gọi là nguyên nhân và những hạt giống đó mỗi khi nảy mầm để hiện thành hình tướng quả báo thì gọi là quả tướng. Kiến Phần của thức Alaya khi chung vào biến những hạt giống đó nảy mầm để sinh khởi thì gọi là thức Dị Thục. Thức Dị Thục là tên riêng của Kiến Phần Thức Alaya trên lãnh vực tác dụng.

Thế nào là thức Dị Thục ?

Dị : là khác biệt, không còn ở trạng thái ban đầu.

Thục: chín muồi, là chu trình để cho hạt giống từ lúc nẩy mầm sinh trưởng đến hư hoại.

Dị Thục là sự biến đổi cần có thời gian để cho chu trình phát triển lâu hay mau còn tùy thuộc ở từng chủng tử.

Sự khác nhau giữa hạt giống và nhân Dị Thục: Hạt giống của Nhất Thiết Chủng là kết quả của những nguyên nhân đã được nội kết thành tiềm năng nằm im trong thức thể. Những hạt giống đều mang tính chất Lạc Tạ Ảnh Tử nên có sức sống ở trong. Nghĩa là không có Kiến Phần của Alaya thức chun vô và để xây dựng mặc dù chúng vẫn giữ nguyên bản chất là hạt giống. Lạc Tạ Ảnh Tử với danh nghĩa hạt giống nói trên chỉ là một mô hình của ngã tướng và pháp tướng không di động trong thức thể Alaya. Chúng chờ đợi khi gặp đủ duyên sẽ nảy mầm để hình thành kết quả. Sự kết quả này được gọi là quả Dị Thục, quả này nhằm thọ nhận những quả báo khổ vui của kiếp nhân sinh; còn nhân Dị Thục là một trong những hạt giống nào đó đã đủ duyên và đã được Kiến Phần của Alaya chun vô để hình thành. Một hạt giống được gọi là nhân Dị Thục khi nào nó hàm chứa của Kiến Phần Alaya Thức; và nảy mầm biến tướng chứ không giữ nguyên ở trạng thái hạt giống ban đầu, rồi dần dần kết thành quả Dị Thục.

Đặc tính của Dị Thục là luôn luôn chuyển biến theo luật nhân quả nghiệp báo quyết định và hướng dẫn. Bất cứ một pháp nào trong thế gian, từ nhân Dị thục muốn đến quả Dị thục đều phải trải qua một thời gian biến đổi trạng thái trong sự phát triển và lớn lên. Đặc tính của Dị Thục được phân làm ba loại: Dị Thời nhi thục, Dị loại nhi thục và Biến dị nhi thục.

Tóm lại, thức Dị Thục là tên riêng của Kiến Phần Alaya. Khi Kiến phần của Alaya Thức bị lôi cuốn vào hạt giống ngã tướng và pháp tướng, để xây dựng thế giới nghiệp báo của quả dị thục. Thức Dị Thục tuy không phải là hạt giống nhưng phát xuất từ nơi hạt giống làm căn bản. Thức Dị Thục chuyển biến không ngừng theo thời gian, hình tướng, chủng loại. Nên thức này bị quấy đục, ô nhiễm bởi nghiệp lực, lại sinh hoạt theo nghiệp lực và tồn tại do nghiệp lực quyết định. Nghiệp lực nếu không tồn tại thì thức Dị Thục cũng bị giải thể, nên vì căn cứ trên nhân quả nghiệp báo mà định mức giá trị, Kiến Phần Alaya được Duy Thức Học gọi là Dị Thục Thức.

4.4. Ba Đặc Tính Của Thức (Tam Tánh và Tam Vô Tánh):

Do mỗi pháp đều có một hình tướng riêng biệt không pháp nào giống pháp nào. Ngay cả con cháu trong một gia đình còn không giống nhau mặc dù chúng cùng một cha mẹ sinh ra. Nhưng sự khác biệt về hình tướng của các pháp đều do ngã tướng và pháp tướng của những pháp đó làm kiểu mẫu để xây dựng nên. Qua hình tướng đặc biệt không giống nhau của các pháp nên Duy Thức học chia làm ba nhóm tính chất như sau:

4.4.1/ Tam Tánh:

4.4.1.1/ Biến Kế Sở Chấp Tánh : Là tự tánh của các pháp trong vũ trụ do bởi ý thức dựa theo các duyên bên ngoài rồi suy tính và xét nghiệm để sáng tạo hình tướng các pháp dưới sự điều khiển của Mạt na thức so đo, vọng tưởng và chấp trước nên gọi là Biến Kế Sở Chấp. Những pháp thuộc Biến Kế Sở Chấp còn được gọi là “vô thể tùy hình pháp”[7, qI,196] hay “Hư Vọng Duy Thức” [22, 122] nghĩa là những pháp được hình thành hoàn toàn không có thể chất chân thật, chúng chỉ do tình cảm mê vọng của ý thức phâ