******Trang tiếng Việt  ******Thư Mục Tổng Quát ******Trang tiếng Anh ******

 

 

 

 

Luận văn tốt nghiệp

 

 

PHÁT TÂM BỒ ĐỀ

HỌC THUYẾT DUY TÂM QUA LĂNG KÍNH

LĂNG GIÀ

Thích An Định

DẪN LUẬN 

1.     LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

 Ấn độ là một nước có nền văn hoá truyền thống lâu đời thuộc bậc nhất thế giới, với những trường phái triết học lỗi lạc. Nhưng không sao thoả mãn cái nhu cầu giải thoát con người ra khỏi xiềng xích nô lệ bởi xã hội thống trị phân chia giai cấp  và  không thể giải thoát khỏi sự ràng buộc bởi vật chất hay cố chấp của tinh thần. Đức Phật ra đời trong bối cảnh xã hội Ấn Độ đã có 96 đạo giáo. Với những tư tưởng triết học hài hòa giữa vũ trụ quan và nhân sinh quan, Ngài đã tạo một hệ thống giáo lý thực dụng giúp ích cho đời sống hằng ngày của những ai muốn tìm đến con đường tu nhân, học Phật. Đó chính là con đường giải thoát, ngộ chân lý sự thật của vạn pháp. “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Ngoài những thế giới mình thấy được như thế giới mình đang sống ra, còn vô số thế giới mà trong kinh gọi là cõi vô sắc, như thế giới của chư Thiên, Ngạ Quỉ.v.v… tất cả đều không ngoài tâm mà có, nên nói Duy Tâm. Vạn pháp với thiên hình vạn trạng biến đổi vô cùng vô tận của thế giới này đều do phân biệt của thức mà ra, nên gọi là Duy Thức.

 Tâm, thức hay tâm thức được trình bày rất nhiều trong các kinh Đại thừa Phật giáo. Bởi mục đích của Đạo Phật là con người phải được giải thoát mọi khổ đau, đem lại niềm an vui và hạnh phúc thực sự trong đời sống hiện tại này. Cái cảm giác an lạc của đạo Phật khác hẳn với hạnh phúc đời thường. Hạnh phúc đời thường, họ chỉ dựa vào sự thoả mãn nhu cầu vật chất hay cảm giác khoái lạc của tinh thần mà họ cần có. Nhưng, “Phàm cái gì có hình tướng thì cái đó đều bị hủy diệt”. Cho nên, hạnh phúc bằng sự thoả mãn vật chất hay tinh thần đó cũng đồng với hai chữ “khổ đau”. Vì sao? Vì hạnh phúc này được làm bằng chất liệu vay mượn vật chất bên ngoài, cho đến khi chúng hoại diệt thì trở thành đau khổ là do bị mất trạng thái hạnh phúc.

Lại nữa, thế giới vật chất chỉ là tương đối trong những cặp phàm trù được-mất, hơn-thua, lớn-nhỏ, tốt-xấu, già-trẻ, cũ-mới, hạnh phúc-đau khổ… luôn luôn biến đổi. Với Đạo Phật, đặc biệt là nhìn vào tận cùng sâu thẳm cội nguồn của tất cả sự vật, hiện tượng để tìm cho mình một cách sống an lạc giải thoát. Tâm lý giải thoát trong triết lý Phật giáo đã thể hiện tính chất nhân bản rất sâu sắc. Nó quan tâm đến thân phận và đời sống của mỗi con người và chủ trương giải thoát cho tất cả chúng sinh khỏi những nổi khổ của cuộc đời bằng tin tưởng vào đời sống đạo đức, Từ-Bi-Hỷ-Xả, bác ái và sức mạnh của trí tuệ, tuệ giác của chính con người. Cho nên Kinh thường dạy “Phật tại Tâm” và thường khuyên mọi người rằng  không có chỗ dựa nào chắc chắn bằng chỗ dựa ở chính trong tâm mỗi người là vậy. “Cái tâm, tự bản tính là thanh tịnh và thoát khỏi cái phạm trù xác định và vô định, là cái Như Lai Tạng không bị ô nhiễm,  điều này bị các chúng sanh hữu tình hiểu một cách lầm lạc” [12.417}. Trong tâm tánh mọi loài chúng sinh vốn đầy đủ trí tuệ, đức tướng của Như Lai. Nhưng nếu không thật tu thì không bao giờ biểu hiện, không thật chứng thì không thể nào hoạch đắc. [1.63]. Vì thế, đề tài “Học Thuyết Duy Tâm Qua Kinh Lăng Già” có thể tìm thấy một sự lựa chọn trực quan, một phần nào hài lòng với con người sống trong xã hội, khoa học đang trên đà phát triển như vũ bão, sẽ không bị nhận chìm bởi thế giới vật chất tạm bợ này.

2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Căn cứ trên ngôn ngữ thì Kinh Lăng giàụ có tựa đề đầy đủ là “ Àrya saddharma Lànkàvatàra nàma mahayana sutram” (Kinh Đại thừa gọi là đi vào Thánh giáo Lăng Già). Theo chữ Lankà (Lăng giàụ) nghĩa là tên một hòn Đảo phía Nam Ấn Độ. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì đó là đảo Ceylon (Tích Lan) và hiện nay là Sri-Lanka. Nếu đứng ở vị trí lịch sử, thì nơi này đã diễn ra một cuộc đối thoại giữa Đức Phật và Bồ tát Đại Huệ (Mahàmati), đại biểu tối cao của tất cả chư vị Bồ tát nơi chúng hội lúc bấy giờ. Mặt khác căn cứ trên mặt địa lý và có tính cách biểu tượng hơn, đó là núi Lăng giàụ nằm ở vùng biển phía Nam, chỗ ở của loài La Sát (Rakshasa). Chúa của loài này thỉnh Đức Phật lên đỉnh núi để thuyết pháp nên lấy địa danh này đặt tên Kinh. Vả lại, đảo Lăng giàụ là một hải đảo rất cao nằm chơi vơi giữa biển không có lối vào, nên người trần không thể đến tham dự, chỉ có Đức Phật và những vị có thần thông mới đến được.

Nội dung hoàn cảnh chúng hội của Kinh Lăng giàụ nhằm biểu thị cho thế giới tâm linh thuần tịnh giữa biển thức lao xao. Thính chúng được tham dự là những vị Bồ tát đã an trú thanh tịnh tâm, và được nghe Đức Phật dạy về giáo lý  Như Lai Tạng. Như vậy, “dù hiểu theo hoàn cảnh địa lý hay tính cách biểu thị thì Lăng giàụ và nội dung truyền đạt của Kinh thì khá hiện thực hơn là những kinh như Bát Nhã hay Hoa Nghiêm” [13.217].

Lăng giàụ là một bộ kinh có rất nhiều vấn đề cơ bản của phần giáo thuộc Đại thừa, thậm chí những luận thuyết của ngoại đạo cũng được đề cập khá nhiều ở đây. Tuy nhiên, khuynh hướng phát triển tư tưởng của bộ kinh thì luôn luôn đi theo một trật tự mang tính cách chủ đạo từ đầu cho đến cuối. Đó  là những phạm trù căn bản của tư tưởng Không, Pháp thân, Niết Bàn, Như Lai Tạng, và A-lại-da thức.

Kinh Lăng giàụ cũng gọi là Nhập Lăng Già Kinh (Lankàvatàra) có ba bản dịch khác nhau:

Lăng Già A Bạt Đa La Bảo Kinh (楞伽阿跋多羅寶經) gồm bốn quyển do Ngài Gunabhadra (Câu-na-bạt-đà-la) dịch vào khoảng 443 TL).

Nhập Lăng Già Kinh (入楞伽經 ), mười quyển do Ngài Bodhiruci (Bồụ-đề-lưu-chi) dịch khoảng 513 T.L

Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh (大乘入楞伽經), bảy quyển, do Ngài Sikshànanda (Thực-xoa-nan-đà) dịch vào khoảng 704 T.L.

“Ngoài ra Kinh Lăng giàụ còn rất nhiều phần rời rạc không trùng khớp về nội dung lẫn chương mục và còn nhiều bản dịch khác theo nhiều ngôn ngữ” [12. 43-47]. Lăng giàụ cũng như nhiều bộ kinh Đại thừa khác, được hình thành rất chậm so với các bộ Nikaya và Ahàm. Có lẽ sớm nhất là vào thế kỉ thứ nhất. Đứng về quan đểm lịch sử mà nói thì Kinh này hiển nhiên không phải do trực tiếp từ kim khẩu của Đức Thế Tôn nói ra và được Ngài A-nan ghi lại. Bộ Kinh có thể do một nhà nghiên cứu Đại thừa viết ra và về sau được đóng góp bởi nhiều tác giả khác cho hoàn chỉnh hơn. Có người cho rằng: Lăng giàụ là một cuốn sổ tay của một nhà nghiên cứu Đại thừa ghi nhận nhiều vấn đề rời rạc và sau đó được tập hợp lại rồi thêm thắc do nhiều bàn tay khác. Bên cạnh những giáo lý rất cao siêu trác tuyệt, lại có những đoạn tối tăm rời rạc đó là tình trạng tất nhiên của một công trình nghiên cứu gồm nhiều tác giả ở nhiều thời đại khác nhau, cộng thêm với những sai lầm trong sưu tầm  sao chép. Trong khi nghiên cứu Kinh Lăng giàụ, chúng ta không hy vọng tìm hiểu hết được ý nghĩa thâm sâu của Kinh. Việc nghiên cứu trên sách vở không thể nào thay thế được việc công phu tu tập, việc thể chứng Thánh Trí bằng sự tự chứng tự nội mà Lăng giàụ luôn luôn đề cập, kêu gọi chúng ta nên nổ lực tự chính bản thân mình để nhận chân giá trị thực của kiếp nhân sinh đang vận hành cùng thế giới nhất thể đại đồng. Cho nên với đề tài “Học Thuyết Duy Tâm Qua Kinh Lăng Giàụ” là một đề tài phối hợp giữa cái cũ và cái mới của thời đại, làm tăng thêm phần hiểu biết, và ứng dụng chủ nghĩa Duy Tâm vào cuộc sống  hiện tại, để giải thoát mọi khổ đau và đem  lại nguồn an vui hạnh phúc thực sự trên cõi đời này.

3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề tài nghiên cứu “Học Thuyết Duy Tâm Qua Kinh Lăng Giàụ” là để tìm hiểu điểm đặc thù mà Lăng giàụ trình bày là tính thống nhất của vạn vật, như các trường phái triết học thường đề cập, đồng thời cũng là sự thống nhất giữa tâm và thức. Tâm thức đi tìm cái thanh tịnh, vô hạn tuyệt đối đằng sau cái vô thường,  hữu hạn tương đối; tìm lý tưởng trong thế giới trần tục, tìm cái thiện trong cái ác… tâm thức coi thế giới của cải vật chất, tiền tài danh vọng, thậm chí cả thân thể con người cũng chỉ là vô thường, là hư vô, tạm bợ phù du; mà nếu con người cứ mê lầm theo đuổi chúng thì không bao giờ thoả mãn được dục vọng của mình, và chỉ tạo cho mình những thất vọng với những nỗi khổ triền miên. Mục đích của đề tài này là tìm cái giá trị vĩnh cữu sâu thẳm trong tâm linh, cái tinh thần đạo đức con người, khiến cho con người trở thành người đích thực, cao cả và vĩnh hằng.

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để nghiên cứu đề tài “ Học Thuyết Duy Tâm Qua Kinh Lăng Giàụ”, tác giả áp dụng phương pháp lý luận học, phương pháp diễn dịch theo vật lý học, phương pháp quy nạp theo trình tự khoa học, phương pháp giải thích theo lối chiếc tự, phương pháp so sánh đối chiếu v.v… để xử lý các tài liệu sách, báo, tạp chí v.v…

5.  GIỚI HẠN ĐỀ TÀI

Lăng già là một bộ kinh có nội dung hàm chứa mọi lĩnh vực tư tưởng của Đại thừa Phật Giáo như đã biểu thị ngay nơi tựa đề kinh “Kinh Đại thừa gọi là đi vào Thánh giáo Lăng Già”. Vì thế rất khó cho chúng ta đi tìm về một phương diện có tính chất khái quát của bộ kinh. Điều đó chỉ vì kinh có quá nhiều phương diện, mà phương diện nào cũng đóng vai trò quan trọng cả. Cho nên khi trình bày những tư tưởng liên quan, tác giả chỉ tìm hiểu nghiên cứu trong phạm vi Kinh Lăng giàụ, bản Nghiên Cứu Kinh Lăng Già của Tỳ Kheo Thích Chơn Thiện và Cư sĩ Trần Tuấn Mẫn dịch từ nguyên tác Anh ngữ của Thiền sư Học giả D.T.SUZUKI là tài liệu gốc để nghiên cứu với “học thuyết Duy Tâm”. Qua đó, tác giả chỉ đi vào ba nội dung sau:

Chương 1: Nội Dung Tri Thức Của Kinh Lăng Già.

Chương 2: So Sánh Thế Giới Bên Ngoài/ Vật Lý Và Thế Giới Tự Nội/ Tâm Lý.

Chương 3: Như Lai Tạng - Ý Nghĩa Cơ Bản  Của Học Thuyết Duy Tâm.

Tuy nhiên, kiến thức còn hạn hẹp nên trong quá trình hoàn thành luận văn không sao tránh khỏi những sai sót. Rất mong được sự, chia xẻ, góp ý của các bậc Giáo Thọ Sư, chư Thiện hữu tri thức, quý huynh đệ cảm thông xây dựng để luận văn này càng được kiện toàn.

 NỘI DUNG

 CHƯƠNG 1 :  NỘI DUNG TRI THỨC CỦA KINH LĂNG GIÀ

 

Nội dung tri thức của kinh khi phân tích, nhìn nhận về hiện hữu qua năm pháp, ba tánh, tám thức, hai loại trí và hai nguyên lý vô ngã.

1.1 NĂM PHÁP (Dharma)

Trong Lăng giàụ, năm pháp bao gồm Danh (Nàma), Tướng (Nimitta), Phân biệt (Vikalpa) Chánh Trí (Samyagjnàna) và Như Như (Tathàta).

Đứng về phương diện nghiên cứu và học thuật, bất luận một học giả nào khi nghiên cứu về Phật học hoặc cần thiết có một cách tư duy đúng với tinh thần giáo nghĩa, đều phải quán triệt năm phạm trù cơ bản này. Còn nếu đứng về mặt giải thoát, thì năm pháp này là những yếu tố không thể thiếu trong quá trình tư duy và sống đúng với chánh pháp nếu không muốn nói là nó giúp chúng ta khả năng thanh lọc các phạm trù, cái nào là chánh pháp, cái nào là tà pháp.

1.1.1  Danh 名 (nàma)

Thực chất danh là một tên gọi vô thực, nó được hình thành do sự tiếp xúc giữa thế giới nội tại (nội tâm) và ngoại tại (ngoại cảnh) và được ý thức nhào nặn lại rồi hình dung cho nó một cấu trúc và đặt cho nó một tên gọi. Như thế, mọi hiện tượng từ thế giới nội tâm cho đến thế giới ngoại cảnh đều được ý thức con người định danh. Vậy danh là vô thực, nó chỉ mang tính hình dung chứ không mang tính thực thể, và cũng hoàn toàn khác biệt với vật thể mà nó định danh.

1.1.2  Tướng 相 (nimitta)

Tướng là những hình thức đặc thù, có tính cách phân lập, được quy định bởi các quan năng như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và các hình thức riêng biệt như người và ta. Do ý thức của con người là không có thực tính, thế giới ngoại cảnh lại cũng như vậy, cả hai đều biến đổi không ngừng, nên không thể mô hình hóa hiện tượng giới một cách tuyệt đối. Dù rằng tất cả tướng đều được tạo tác từ ảo tưởng. Song một khi nó đã hình thành hay được hình tượng hóa trong tâm thức thì cường độ ảo tưởng càng tăng, và sức quyến rủ càng mạnh. Đến một mức độ nào đó nó biến những vọng thức thành chủ thể của si mê và ngông cuồng. Tất nhiên không ai có thể tưởng tượng được mức độ cuồng si của một ý tưởng khi thời cơ đã đến.

1.1.3  Phân Biệt 分別 (Vikalpa)

Nếu đứng ở vị trí thế giới hiện thực, thì phân biệt là yếu tố cuối cùng để xác định mọi đối tượng của Danh và tướng. Nhưng đứng ở vị trí hư tưởng (không hiện thực) thì nó là nhân tố đầu tiên thiết lập nên cái khái niệm lưỡng phân như cái này khác cái kia, cái kia không phải là cái này. Sóng không phải là nước, nước không phải là sóng. Sóng thì lao xao, nước thì cố định. Cố định là phân biệt so với sóng chứ không có nghĩa là cố định…

1.1.4  Chánh Trí 正智 (Samyagjnàna)

Chánh trí cũng gọi là chánh tri kiến, là sự nhìn thấy như thực đối với hiện hữu, là cái nhìn như thực, cái nhìn từ duyên sinh. Chánh tri kiến có năng lực phân biệt các phạm trù của hiện hữu từ danh của hiện hữu, từ tướng của hiện hữu cho đến cả cái khả năng phân biệt đó. Chánh trí luôn luôn phát sinh từ chánh định, nó hoàn toàn độc lập với ý thức, chánh trí có khả năng nhận biết mọi hiện hữu mà không cần phải lệ thuộc vào các thiên chấp bởi Danh và Tướng. Không bị ngã theo Danh và Tướng, không bị chi phối bởi Danh và Tướng, không bị tác động bởi thường-đoạn, khứ-lai, hay hữu-vô, sinh-diệt. Chánh tri kiến chiếu vào thế gian bằng nguyên lý duyên sinh và chánh trí là Vô Ngã. Có thể xem chánh trí như ánh sáng mặt trời từ trên cao phủ xuống trần gian bằng ánh sáng vô hạn và không bờ mé của nó.

1.1.5  Như Như 如如 (Tathatà)

Nếu chánh trí được xem là diệu dụng vô biên, thì Như Như là chủ thể sáng tạo ra những năng lực diệu kỳ đó. Thông qua chánh trí thì Như Như là điều bất khả tư nghì, vượt ngoài tầm tay của tư duy, cũng chẳng phải là hiện hữu hay không hiện hữu, vượt ngoài khả năng phân biệt của tri thức kiến lập (samàropa) hay tri thức phê bác (apavàda). Như Như là trạng thái an tĩnh tuyệt đối của tâm, đây là cõi sống Niết Bàn vĩnh cữu, Như Như là Vô Ngã, Niết Bàn.

1.2 BA HÌNH THÁI CỦA TRÍ (Tam Tự Tánh 三 自 性) Svabhàvalakshanatraya

Nói đến ba hình thái của trí là nói đến ba cách nhìn nhận hiện hữu của tác giả trên cùng một đối tượng. Vì hiện hữu thì được nhận biết từ nơi tâm thức, mà tâm thức còn nằm trong vòng ngu muội thì không thể có sự đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng; nghĩa là sự nhận thức của kẻ ngu muội bao giờ cũng chệch lối cả. Tuy nhiên, dù sự nhận thức ấy diễn ra như thế nào chăng, thì nó vẫn không ngoài ba phạm trù sau đây:

1.2.1  Nhận diện hiện hữu bằng hình thái của ảo giác

Thuật ngữ Phật Giáo gọi cách phán đoán này là Biến Kế Sở Chấp 變 繼 所 執 (Parikalpita). Pari-kalpita: tưởng tượng hoặc hình dung. Đây là cách nhận định hoàn toàn sai lệch của óc phán đoán suy lý. Như người đi trong đêm tối, dẫm phải sợi dây thừng, rồi tưởng tượng đó là con rắn, và thầm nghĩ nó là con rắn. Tương tự như vậy, với tất cả hiện hữu nếu được nhìn từ vọng thức, nghĩa là từ những quyết đoán tư duy sai lệch, rồi chấp vào những sản phẩm của tư duy đó nên gọi là Biến Kế Sở Chấp.

1.2.2  Nhận diện hiện hữu với hình thái phản ảnh tương tác

Cách nhận định này gọi là Y Tha Khởi (paratantra), nghĩa là tùy thuộc lẫn nhau để sinh khởi. Như người đi trong đêm tối dẫm phải sợi dây, tưởng chừng đó là con rắn, nhưng biết chắc rằng nó là sợi dây thừng. Ở đây sự hãi hùng khi dẫm lên sợi dây và những điều gợi ý về con rắn khởi lên trong tâm thức người ấy nên gọi là Y Tha Khởi. Nếu Y Tha Khởi không cộng tác với Biến Kế Sở Chấp thì gọi là thanh tịnh Y Tha khởi-tính. Có lẽ chúng ta rất khó minh định một cách rõ ràng cái nào là Y Tha Khởi và cái nào là Biến Kế Sở Chấp. Tuy nhiên, Y Tha Khởi, tự nó có tính xác thực hơn so với hiện tượng được đề cập. Còn Biến Kế Sở Chấp thì hoàn toàn được thiết lập trên ảo giác, nó không tương ứng phần nào với vật thể hiện hữu cả.

1.2.3  Nhận diện hiện hữu đúng như thật tính của chính nó

Cách nhận định này gọi là Viên Thành Thật Tính (Parinnishpanna), nó đồng nghĩa với Như Tánh (Tathàta) với Chánh trí (Samyagjnàna). Cách nhận định này hoàn toàn không can hệ gì đến óc tư duy trừu tượng hay phán đoán suy lý. Nó là sự thấy biết đúng như thật tính của mỗi mỗi vật thể. Như người đi đêm, khi dẫm lên sợi dây thừng, liền biết đó là dây gì? Làm bằng chất liệu gì? Hình thù của nó như thế nào? Viên Thành Thật nghĩa là hoàn toàn đúng như thật, ở đây không có sự tưởng tượng đây là con rắn và cũng không có cái cảm giác hãi hùng lầm tưởng nào cả, hết thảy đều được nhìn thấy đúng như thật. Biết rõ nó từ bản chất, từ tướng trạng xoắn dài… như vậy Biến kế sở chấp là vọng thức, Y tha khởi là tương đối tính và Viên thành thật là thực tính… Căn cứ trên ba tính cách này, những cách nhìn ngược chiều với thông tục (nhìn từ bản chất) thì nó được gọi là Tam vô tánh.

Tướng Vô Tánh:  các sản phẩm, hiện tượng của vọng thức là hư huyễn vô thực nên gọi là tướng không có thực tánh.

Vô Tự Nhiên Tánh: nghĩa là đối với các hiện hữu, từ thế giới ý niệm đến thế giới sự vật hiện tượng, chúng luôn luôn tương tác lẫn nhau để hình thành diện mạo và tên gọi, không có cái gì tự nhiên mà có nên gọi là tánh không tự nhiên.

Thắng Nghĩa Vô Tánh: đây là chân tánh, bất hư vọng tánh, là vô ngã tánh, là duy thức thực tánh.

 

1.3  CÁC CHỨC NĂNG VÀ SỰ VẬN HÀNH CỦA HỆ THỐNG THỨC

Trong Lăng giàụ, toàn bộ hệ thống các chức năng thuộc về tâm được gọi là tâm tụ (Cittakalasa) hay thức thân (Vijnànakaya) tám thức của hệ thống này là nhãn thức (Cakshur-Vijnàna), Nhĩ thức (Srotra-Vijnàna), Tỷũ thức (Ghanavijnàna), Thiệt thức (Jihvàvijnàna), Thân thức (Kayavijnàna), Ý thức (Manovijnàna), Mạt na (Manas) và A-lại-da (Alaya). Về chức năng tổng quát của tám thức này có hai chức năng được nhận rõ là:

                Lĩnh Hội (Kayati vijnàna) hay hiện thức.

                Phân Biệt (prativikalpa) hay sự phân biệt thức

 “Lại nữa, này Mahamati trong tám món thức có hai chức năng tổng quát được nhận rõ là, lĩnh hội hay hiện thức và phân biệt hay sự phân biệt thức. Như một tấm gương phản chiếu. Này Mahamati giữa hai thức ấy tức lĩnh hội và phân biệt các đối tượng. Không có gì khác nhau cả, chúng là duyên của nhau. Thế rồi này Mahamati, cái thức lãnh hội vận hành vì có chuyển biến xảy ra trong tâm do một tập khí kỳ bí. Trong khi đó, này Mahamati cái thức phân biệt các đối tượng vận hành là do tâm phân biệt của thế giới đối tượng và do tập khí chồng chất bằng những lý luận sai lầm từ vô thỉ”.

Hai chức năng của thức nói trên đều có nguyên nhân gần nhất của nó là tập khí (ỳ习 气 - Vàsanà) hay huân tập (â熏 習 ) là thức được xem như xấu xa ô nhiễm (Hán dịch là ác (惡) hay quá ác (過 惡) tức xấu xa về đạo đức hay sai lầm về lý luận vì nó tạo ra một thế giới bên ngoài và khiến cho chúng ta chấp vào thế giới ấy rồi cho là thực và tối hậu. Cái chức năng đôi này thực ra là một sự phân chia chỉ có tính cách tương đối cũng như sự phân biệt chức năng của từng thức, cụ thể là A-lại-da, mạt na và Manovijnàna (意 識) cũng chỉ có tính cách tương đối.

Điều không thể nêu định đích xác là do đâu mà hình thành cái chức năng đôi; lĩnh hội và phân biệt ấy? Câu hỏi đặt ra như thế cũng là câu hỏi của phân biệt (của tập khí từ vô thỉ). Điều ta cần nhớ khi nghiên cứu duy thức, duy tâm là chúng ta đang đứng trước một thực tế phân biệt sai lầm hư dối vốn có từ vô thỉ. “Ta dùng nhận định này để tránh những hành động sai lầm và để nổ lực thoát ra khỏi chúng” [12.317].

Vậy chúng ta cần biết bốn lý do khiến nhãn thức sanh khởi là:

 Sự chấp chặt một thế giới bên ngoài mà không biết đấy là của chính cái tâm.

  Sự ràng buộc vào hình tướng và tập khí chồng chất từ vô thỉ do những lý luận hư ngụy và quan điểm sai lầm.

                Cái tính chất thế giới tự nội vốn có trong tâm thức.

                Ham muốn các hình sắc và vẻ dáng bề ngoài.

Vì bốn lý do này mà các thức đang chuyển hoá, chuyển tức, quấy động trên thức A-lại-da, mà A-lại-da thì giống như nước lũ. Bốn nguyên nhân khiến cho một thức sanh khởi được nêu như trên khiến chúng ta nhớ đến thức vô minh, khát ái và nhận định rằng: thức sanh khởi gây khổ đau cũng chính là mười hai chi phần duyên khởi sinh khởi gây khổ đau. [3.12] “Như vậy, này các Tỷụ kheo vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ đau này tập khởi”.

Bốn nguyên nhân khiến cho một thức sanh khởi như thế cũng có thể nói các căn thức khác cũng như vậy. Tức muốn nói rằng các thức liên hệ chặt chẽ với nhau về chức năng và vận hành tác động lên thức căn bản là A-lại-da.

1.3.1  Chức năng và sự vận hành của A-lại-da

A-lại-da có chứa chức năng rõ rệt nhất gọi là hiện thức, như một tấm gương nhận hình ảnh của các sự vật. Nhận mà không phân biệt suy nghĩ, nó là vô ký, không có hoạt tính tích cực, trong A-lại-da có những chủng tử thiện và ác, nhưng nó vượt lên trên sự phân biệt, nó mang tính bình đẳng. Do tính chất này nên nó được gọi là Như Lai Tạng (Tathàgatagarbha). Thế nhưng trước mặt ta thấy hoàn toàn khổ đau do phân biệt là kết quả của sự vận hành của toàn bộ hệ thống thức.

Tuy vô ký, nhưng vì A-lại-da chứa các chủng tử phân biệt sai lầm từ vô thỉ, cho nên nó phải chịu trách nhiệm vì đã cung cấp chất liệu cho Mạt na (manas) và ý thức (manovijnàna), kể cả những thức khác nữa. Khổ đau, vô minh, phân biệt là do những thức kia phân biệt vận hành, căn cứ vào nội dung của A-lại-da [12.325] “Này mahamati, Như Lai Tạng giữ trong nó cái nguyên nhân của thiện và ác và tất cả các hình thức hiện hữu đều được tạo ra rừ nó”. Giống như một diễn viên, nó mang nhiều hình trạng khác nhau, trong tự nó không có một ngã linh hồn và những thứ thuộc về ngã linh hồn (nói theo thế gian pháp). Vì người ta không hiểu điều này nên có sự tác động lẫn nhau giữa ba sự kết hợp của căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), cảnh (hình sắc, âm thanh, mùi hương, hương vị, tiếp xúc, pháp trần) và thức. Từ đó các kết quả xảy ra, nhưng các triết gia (ngoại đạo) đều không hiểu điều này nên chấp chặt vào một ý niệm nguyên nhân (nhân tố sinh tạo). Do bị ảnh hưởng của tập khí vốn đã chất chứa bằng những sai lầm từ vô thỉ, nên cái hiện đang có cái tên là A-lại-da thức, kèm theo là bảy thức kia tạo sinh khởi cho một trạng thái. Gọi là chổ trú của vô minh. Giống như biển lớn trong đó gió mạnh cuồn cuộn nhưng dưới sâu vẫn bất động tức là cái phần A-lại-da tự nó vốn tồn tại không gián đoạn, hoàn toàn vượt khỏi cái hư giả của vô thường, không liên hệ gì với học thuyết ngã, ngã thể và hoàn toàn thanh tịnh trong bản chất của nó.

Cái biết A-lại-da bị cơn gió của nguyên lý đặc thù tức cảnh giới (vishaya) tạo nên những đợt sóng sinh diệt không dứt; phân biệt chấp thủ, phiền não dục vọng tranh nhau mà hiện hữu, chính cái nhân tố mang tính chất là manas. Nói khác đi, manas vận hành thì các hệ thống khác vận hành. Cho nên về những bản kinh khác khởi đầu bằng Manas và ý thức. Chúng có sự sinh trưởng và đoạn diệt của chúng từng lúc một. Chúng được sinh ra bằng nguyên nhân là sự phận biệt sai lầm và bằng các điều kiện (duyên) như hình thức tướng trạng và đối tượng được nối kết chặt chẽ với nhau.

1.3.2  Chức năng và sự vận hành của manas

Chức năng của manas là chấp trì suy nghĩ về A-lại-da. Chức năng ấy là chức năng tổng quát thứ hai của nhận thức. Tức sự phân biệt các đối tượng (sự phân biệt thức), phân biệt các sự vật. Sự phân biệt này của manas nhằm vào đối tượng là A-lại-da (vô ký hay trung tính) gồm chứa các chủng tử thiện và ác. Sự phân biệt này của manas đã định tính cho A-lại-da không còn là chính nó như lúc ban sơ nữa. A-lại-da có đặc tính riêng và vận hành theo ý của manas. Vậy manas có hai công việc:

                 Suy nghĩ về A-lại-da và cho rằng A-lại-da là một cái ngã.

                 Khiến A-lại-da nhìn thấy nó là một đối tượng.

Từ đó các chủng tử nghiệp đang chìm đắm trong cái tâm tuyệt đối bỗng thức dậy mà phát triển hiện hành ra và được nhận thức bằng năm giác quan đồng thời bị phân biệt bởi ý thức (Manovijnàna). Thế là hình thành một thế giới đặc thù gọi là cái được nhìn thấy được hiển bày (sở kiến) rồi được tưởng là thực mà từ đó khởi sinh mọi khổ đau. Có thể hiểu Mạt na là dục, là ý muốn. Một mặt nó nhìn vào A-lại-da, một mặt nó nhìn vào ý thức, nó thu thập tin tức dữ kiện về sáu thức kia và gián tiếp ra lệnh cho chúng.

1.3.3  Chức năng và sự vận hành của ý thức

Sáu thức còn lại (Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức), trong đó ý thức là quan trọng nhất. Nó đóng vai trò năm thức ngũ quan. Nó phân biệt hình thức, nội dung và các giác quan đem lại. Nó cũng thu nhận những dữ kiện từ A-lại-da vốn đã bị Manas phân biệt để làm chất liệu tư duy cho chính nó. Vậy ý thức một cách nào đó đã nhận chỉ thị của Manas, ý thức trực tiếp phân biệt một thế giới đối tượng bằng sự trợ giúp của năm thức ngũ quan. Thế là sáu thức này làm duyên của nhau, hỗ trợ cho nhau, liên kết với nhau.

“Này Mahamati, theo cùng với hệ thống năm thức, có cái gọi là ý thức (tức cái chức năng suy nghĩ của thức), từ đó thế giới đối tượng được phân biệt và những hình tướng bên ngoài được phân định, ngay đó cái thân thể vật lý có được chỗ sinh thành của nó. Những ý thức và các thức khác không nghĩ rằng chúng bị ảnh hưởng lẫn nhau và không nghĩ rằng chúng sinh ra từ sự ràng buộc nhau, rằng sự phân biệt là thứ nhằm vào những phẩm hạnh của chính cái tâm” [12.327].

Ta thấy Manas có chức năng phân biệt. Ý thức cũng có chức năng phân biệt. Nhưng sự khác biệt giữa Manas và Mạt na thức là gì?

o              Manas là cái nguyên lý phân biệt  có đối tượng là A-lại-da .

o              Còn ý thức thuộc về trí thức, phân biệt cái thành quả nói trên của Manas. Nó phối hợp năm thức thuộc giác quan có đối tượng là thế giới vật lý bên ngoài.

Tuy nhiên, Manas và Ý thức đều vận hành và vận hành đồng thời (thực ra chỉ là dữ kiện nội dung A-lại-da đã bị phân biệt). Vậy về mặt vận hành hay thực tiễn, ý thức quả thực quan trọng vô cùng. Chính nó thực hiện sự thấy biết. Vậy chức năng quan trọng của ý thức là phân biệt, chấp trước vào thế giới bên ngoài và như thế nó mang dữ kiện “thức ăn” mà nuôi dưỡng A-lại-da bằng chủng tử có thói quen phân biệt. Các chủng tử này phải làm đối tượng cho Manas chấp trước phân biệt và gán cho y một ý niệm về một cái ngã. “Ý thức được khiến vận dụng thì do nó phân biệt một thế giới đối tượng và trở nên chấp trước vào thế giới ấy là do cái tập khí đa phức nó nuôi dưỡng A-lại-da. Manas được tăng trưởng theo ý niệm về một cái ngã và những thứ thuộc về ngã”.

Như thế ý thức vận hành phân biệt chấp trước cái thế giới bên ngoài theo sự phân biệt chấp trước vào A-lại-da của Manas, đồng thời ý thức đãõ cung cấp nội dung cho A-lại-da để cho Manas phân biệt.

Vậy, thay vì nói A-lại-da là nguyên nhân là chổ ý cứ của Manas, thì cũng có thể nói ý thức là nguyên nhân là chổ y cứ của manas.

Như câu kệ 180 ngay sau đoạn kinh trên “Manas củng cố cái công dụng của nó bằng cách lấy ý thức làm nguyên nhân và chổ y cứ: ý thức khiến cho tâm vận hành và được tâm nương tựa vào”.

 1.4  HAI LOẠI TRÍ (BUDDHI)

Theo Trung Quán luận (Madhyamika) của Bồ tát Long Thọ (Nàgàrjuna) thì Trí được chia thành hai loại là tục đế (samvriti) và chân đế (paramàrtha), cũng gọi là đệ nhất nghĩa đế. Cách chia này rất phức hợp và được triển khai thành một hệ thống lớn. Tuy nhiên, ngoài hệ thống đó thì nội dung của hai loại trí này cũng đồng nghĩa với trí theo hai loại của Lăng giàụ 1- Quan Sát Trí (paravicayabuddhi), 2ụ- Kiến Lập Trí (Pratiskthàpikabuddhi).

1.4.1  Quan sát trí. (觀 察 智)

Nghĩa là trí tuệ dùng để khảo sát tinh tường các hiện hữu. Trí này tương xứng với Viên thành thật tính. Hẳn nhiên là nó không tuỳ thuộc vào các phạm trù hữu-vô, sinh-diệt, hay thường-đoạn, khứ-lai, và vượt ngoài trí thức phàm tình của con người.

1.4.2  Kiến lập trí. (建 立 智 )

Rất khác biệt với quan sát trí, kiến lập trí có chức năng xác định, thiết lập những mệnh đề cố định hoặc hữu hoặc vô. Từ đó tự nó nâng chức năng định vị này lên một bậc gọi là lý luận trí. Đó là nguyên tắc lý luận, biện minh về các phán đoán suy lý của thế giới sự vật hiện tượng, với vô số những đặc thù và sắc thái cá biệt. Trí này chính là năng lực điều đình và chi phối cuộc sống của con người. Theo như kinh văn, trí này kiến lập bốn khuynh hướng sau:

o     Kiến lập bản sắc cá biệt (Lakshana – tướng).

o      Kiến lập luận lý phân tích (Drista – kiến giải).

o      Kiến lập hạt nhân tử (hetu – nhân).

o       Kiến lập một sắc thể (Bhàva – hữu).

Thông qua bốn sự kiến lập này, muôn ngàn luận thuyết trỗi dậy, các phe đối lập sinh ra các sự phê bác lẫn nhau không ngừng xuất hiện. Đây là lý do trong kinh văn nói. Đức Phật khuyên các vị Bồ tát phải dẹp bỏ những thiên kiến, những chấp thủ sai lầm là vậy.

1.5  HAI PHẠM TRÙ THUỘC NGUYÊN LÝ VÔ NGÃ

1.5.1  Nhân vô ngã  (Pudgala-nairàtmya)

Cách phân tích này tương tự như cách trình bày về mười hai chi phần nhân duyên và năm thủ uẩn.

     Năm uẩn (panca-kandhàh): Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức.

Mười hai xứ: gồm sáu nội xứ (Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân và Ý) cộng với sáu ngoại xứ ( Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc và Pháp).

Mười Tám Giới: Gồm sáu căn giới, sáu trần giới và sáu thức giới.

Sáu căn giới        Sáu trần giới                   Sáu thức giới

Nhãn giới            Sắc giới                            Nhãn thức giới

Nhĩ giới                Thanh giới                      Nhĩ thức giới

Tỷ giới                 Hương giới                      Tỷ thức giới

Thiệt giới             Vị giới                              Thiệt thưc giới

Thân giới             Xúc giới                           Thân thức giới

Ý giới                   Pháp giới                         Ý thức giới

 

1.5.2  Pháp Vô Ngã  (Dharma - nairàtmya)

Trước tiên chúng ta tìm hiểu ý niệm về linh hồn theo quan niệm của Platon (Triết giavĩ đại 427-347 BC). Tri thức diễn tiến qua giác quan. Nhưng những gì giác quan nhận thức đều có sẵn trong tri thức, nhờ kí ức người ta hồi tưởng (réminiscence) những ý niệm trong linh hồn. Từ thế giới cảm quan, các hình ảnh của sự vật, người ta tới chính sự vật, hoặc bằng suy luận kiểu toán học, hoặc bằng cách cao hơn, bằng trực giác thuần tuý, hoặc bằng linh cảm, thần cảm (illumination) mà đạt đến ý niệm.

Sứ mệnh của linh hồn là: tìm kiếm trí tuệ và trở về sự nguyên lành ban đầu làm cho linh hồn được giải thoát khỏi thân xác. Sau khi người ta chết linh hồn sống ở cõi Hadès địa ngục: ở với người tốt, nếu linh hồn xứng đáng vì đã cố gắng nhiều trong việc tự giải thoát khỏi thân xác; ở với người ác nếu đã ít cố gắng. “Linh hồn còn chịu sự chuyển hóa, đi lên cõi cao hơn, hay đi xuống cõi thấp hơn. Linh hồn còn phải thích nghi với bản chất mới ở cảnh thế mới” [10.86]

Theo Duyên sinh quan Phật Giáo thì con người và các đối tượng của nó đều được gọi là Pháp. Tuy nhiên, ở đây có một vấn đề chúng ta cần lưu ý là khi Đức Phật còn tại thế, khi Ngài thuyết minh về giáo lý Duyên sinh Vô ngã, thì nhiều đệ tử đặt ra vấn đề đi xa hơn vô ngã duyên sinh, như hỏi: “sau khi chết thần hồn sẽ về đâu, tồn tại hay không tồn tại một cái Ngã linh hồn… Đức Phật đã từ chối những câu hỏi ấy, Ngài cho rằng hỏi như vậy là rơi vào lý luận” [4.578] Mục tiêu của Ngài là hướng dẫn chúng sanh vượt qua những ngã kiến điên đảo, loại bỏ những khát vọng tham cầu, xa rời ái, thủ và vô minh để trở về với thể tánh thanh tịnh. Chính những điều này đã nói rằng, Đức Phật chỉ cho phép và giới hạn chúng ta trong việc tu tập và loại trừ kiến chấp, nghĩa là với sức tư duy chân chánh chúng ta có thể thấu triệt nguyên lý duyên sinh, nhưng đối với thực tại vô ngã thì không thể dùng tư duy để len lỏi vào được, mà phải thể nhập bằng công năng tu tập. Tuy nhiên, nếu đứng ở góc độ nào đó thì tư duy vô ngã sẽ giúp cho người tư duy tiến gần đến đời sống vô ngã thực thụ. Và đây là đỉnh cao nhất mà Đức Phật đã chứng đắc, cho nên trong Kinh Niết Bàn Ngài xác định: “Nếu có một Pháp nào cao hơn pháp này, ta nói pháp đó như mộng như huyễn” [5.539]

Tóm lại, hệ thống tri thức trong Lăng giàụ cho chúng ta nhìn nhận sự vật, hiện tượng nói chung là hiện hữu không thật có. Tất cả chỉ theo quy luật chuyển hóa mà Phật giáo gọi là Duyên sinh, đã do duyên sinh thì không có ngã linh hồn tồn tại, không có ngã thì làm gì có tướng thật sự, tướng không có thì không thể xác lập danh. Mọi sự hiện hữu mà mắt thường nhìn thấy, tai nghe, ý nghĩ…chẳng qua là do sự phân biệt của vọng tâm (vọng thức) mà có thế giới hữu tình, vô tình… Hệ thống tri thức trong Lăng già đã chỉ rõ cho chúng ta thấy từng chi tiết của cái hình danh sắc tướng bên ngoài để dễ dàng tìm hiểu thế giới chuẩn xác ở những chương sau.

CHƯƠNG 2 :  SO SÁNH THẾ GIỚI BÊN NGOÀI VÀ THẾ GIỚI TỰ NỘI

 2.1 THẾ GIỚI GIỚI VẬT LÝ HAY THẾ BÊN NGOÀI

2.1.1 Định nghĩa thế giới

Thuật ngữ Thế nghĩa là đổi dời, là chỉ sự biến thiên về thời gian từ thời quá khứ, sang thời hiện tại và tới thời vị lai. Giới là giới hạn Đông, Tây, Nam, Bắc v.v.. về không gian tức là cõi nước mà loài Hữu tình nương tựa cư trú. Thế Giới còn gọi là thế gian (cõi đời). Gian có nghĩa là gián cách, nên đồng nghĩa với giới. Hai từ đó tuy thông dụng đối với Hữu tình và Quốc độ, nhưng thường thiên về nghĩa Quốc độ. “Thế là đổi dời, giới là phương vị. Nay ngươi nên biết đông, tây, nam, bắc. Đông, tây, nam, bắc, trên, dưới là giới, quá khứ vị lai hiện tại là thế”.  Gian và giới, danh tuy khác mà nghĩa thì giống nhau. “Gian là cách biệt là gián sai, giới là giới hạn phân tề” [24.1488-1489]. Vậy thế giới nghĩa là mọi sự vật hiện tượng nằm trong không gian vô tận thời gian vô cùng.

2.1.2 Mô tả triết học về thế giới

Ngay từ đầu đã mang tính ẩn dụ sâu sắc và có liên hệ trực tiếp với ngôn ngữ và với hình ảnh thần thoại, song khác với hình ảnh ấy, nó sắp xếp thế giới như một chỉnh thể theo Lôgơxơ, đem lại tính đồng nhất dựa trên ý niệm về trật tự và quy luật. Các mô hình về thế giới và con người có được tính chất trừu tượng, hình thức diễn đạt bằng khái niệm. Việc tìm tòi bản nguyên gốc đầu tiên thống nhất, cơ sở đầu tiên của vạn vật, nguồn gốc của trật tự và quy luật thế giới nhận được địa vị của tri thức về thế giới của tri thức có ý nghĩa phổ biến, hợp lý.

2.1.3  Sự hiểu biết khoa học về thế giới

Sắp xếp một lĩnh vực hiện tượng hoàn toàn xác định của thế giới như một cơ cấu toàn vẹn theo các quy tắc xác định nhờ sử dụng một ngôn ngữ đặc biệt. Nó thể hiện là một mô hình lý luận như một hệ thống tri thức khép kín không mâu thuẫn về lôgic, được kết hợp dựa trên một số tiên đề do kinh nghiệm (thí nghiệm, quan sát v.v..) kiểm chứng. “Bức tranh của khoa học về thế giới thường được xem như một cơ cấu toàn vẹn, có tính hệ thống hóa hình thành và phát triển dựa trên những thành tựu cơ bản trước hết là của khoa học tự nhiên” (Vật lý học, Thiên văn học, Sinh học v.v..) [17.170]

2.1.4  Thế giới quan khoa học tự nhiên

Bao hàm một sự lý giải mới về Vũ trụ và về con người bằng con đường sử dụng quan sát kinh nghiệm và các thao tác lôgic chung để xây dựng mô hình lý luận về toàn bộ thế giới trên nguyên tắc của chủ nghĩa tự nhiên.

Hình ảnh về thế giới như một cơ thể được thay thế bằng quan niệm về vũ trụ như một cỗ máy. Để hiểu được trật tự của con người thì cần phải bắt đầu nghiên cứu trật tự của vũ trụ.

“Thế giới là thống nhất và phục tùng một số quy luật đơn giản và nhận thức được đối với con người, do vậy mà con người có thể tự do hành động trong nó mà không lo sợ về hệ quả hành động của mình, thực hiện mục đích do bản thân mình đặt ra” [17.73]

2.1.5  Sự lý giải thần học về thế giới

Biểu thị trật tự có phân cấp của mọi lĩnh vực (tinh thần và vật chất) thế giới do Thượng đế sáng tạo ra, mỗi một lĩnh vực trong số đó đều có một (bản tính) đặc biệt. Các lĩnh vực tự nhiên là một bộ phận của trật tự do Thượng đế xác lập trong vũ trụ (thế giới như chính thể), trật tự mà lý tính con người nhận thức được. Việc làm sáng tỏ vị trí và vai trò của bất kì hiện tượng nào trong thế giới cũng đều phụ thuộc vào quan hệ của nó với Thượng đế. Với tư cách thang bậc tối cao trong sáng tạo của Thượng đế con người có sự tương tự đối với Thượng đế. “Địa vị đặc biệt của con người trong vũ trụ được lý giải nhờ có sự can dự đồng thời của nó với hai thế giới – thế giới vật chất hữu hình và thế giới tinh thần (siêu việt) vô hình” [17.73]

2.1.6  Lôgic học biện chứng nói về thế giới

Chúng ta có thể đã có một thế giới quan “Khoa học” tốt đẹp, nếu như có thể nó cấu thành từ các khoa học “riêng rẽ” nghiên cứu chỉ “những phần riêng biệt” thiếu sự liên hệ, và “thứ triết học”, mà ngược lại, vẽ lên cho mỗi chúng ta mối liên hệ thiếu “những bộ phận riêng rẽ” ấy và được nó liên kết lại… Sự phân chia ấy của khoa học ra hai loại: ra nghiên cứu các sự vật thiếu những mối quan hệ qua lại và ra sự nghiên cứu các mối quan hệ ấy mà thiếu các sự vật – đúng là nằm trong cơ sở của quan niệm thực chứng về vai trò và chức năng của triết học trong “thế giới quan khoa học” [16.603]

 2.1.7  Thế giới theo triết học Mác – Lênin

Bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất, điều đó được thể hiện ở những điều cơ bản sau đây:

Một là, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người.

 Hai là, mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu chi phối của những quy luật khách quan phổ biến của thế giới vật chất.

“Ba là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, không được sinh ra và không bị mất đi. “Trong thế giới không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi và chuyển hoá lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau” [23.167-168].

2.1.8  Thế giới qua lăng kính của vật lý học

Vật lý học hiện đại đã ảnh hưởng sâu xa trên hết thảy mọi phương diện của Khoa học loài người. Nó đã trở thành nền tảng của Khoa học tự nhiên. Sự phối hợp kĩ thuật và khoa học tự nhiên đã thay đổi từ căn bản những điều kiện của đời sống trên trái đất… nó mở rộng sang lĩnh vực tư tưởng và văn hóa nữa; nó đã đưa tới sự xét lại sâu xa quan niệm của con người về vũ trụ cũng như tương quan giữa vũ trụ với con người… sự chia chẻ trong nội thân con người phản ảnh cái nhìn của y về thế giới bên ngoài; thế giới này được coi như một tập hợp những sự vật và biến cố riêng rẽ. Môi trường thiên nhiên được coi như tựa hồ nó gồm có những phần khác biệt nhau để cho các tổ hợp lớn khai thác. Cái nhãn quan mảnh mụn đó còn mở rộng sang xã hội, chia chẻ thành nhiều phần khác nhau nữa, như các quốc gia, các chủng tộc và các nhóm tôn giáo chính trị. Sự tin tưởng rằng hết thảy những mảnh mụn này,  “ở trong nội thân chúng ta, trong môi trường và trong xã hội chúng ta – quả thực là tách biệt nhau có thể coi như lý do căn bản của hàng loạt những cuộc khủng hoảng về xã hội môi sinh và văn hoá” [18.25].

2.1.9  Sự hiểu biết hằng ngày về thế giới

Trước hết bắt nguồn từ thế giới sinh hoạt hằng ngày sống động, thế giới mở ra cho mỗi người cái nhìn và sự hiểu biết của mình về tính chỉnh thể của thế giới, cho phép xác lập quan hệ của mình với nó. Sự tự thể hiện tự do, cảm tính toàn vẹn, sự nhìn nhận bằng trái tim, hành vi cố hữu – tất cả những điều đó cấu thành thuộc tính của hành vi sinh tồn cụ thể, được hình thành thông qua thế giới những sự vật, ý nghĩa, mục đích của con người đang suy nghĩ, đang tin, đang cảm nhận, đang hành động.

Sự hiểu biết về thế giới cho phép mỗi người trở thành kẻ sáng tạo ra thế giới riêng của mình như một chỉnh thể cùng với các bí ẩn, các mục đích, các thần thoại, các lễ nghi, giới hạn và hạn chế của nó, kẻ sáng tạo là so sánh được một cách trung gian với vũ trụ đa dạng. Như vậy, vấn đề con người trong vũ trụ là đề tài thế giới quan cơ bản, có được sự lý giải cụ thể trong khuôn khổ các hình thức hiểu biết khác nhau về thế giới, các hình thức được phân biệt nhờ mức độ xác định rõ thế giới và con người như một chỉnh thể có trật tự.

Khi các sự vật bị phân tích ra thành các nguyên tử thì không còn gì để phân biệt như là các sự vật cả. Những ai tôn giữ các vọng kiến thì không tin vào chỗ thường trụ mà tại đấy “học thuyết” duy tâm “được thiết lập”. [12.296-297]

Trong vật lý học, những lời diễn giải các cuộc thí nghiệm được gọi là những mô hình hoặc lý thuyết, và điều căn bản cho mọi công việc nghiên tầm khoa học hiện đại là phải hiểu rằng hết thảy mọi mô hình và lý thuyết nào cũng chỉ có tính cách phỏng định.

“Chừng nào những định luật toán học còn áp dụng cho thực tại thì chúng không chính xác; và chừng nào chúng chính xác thì chúng lại xa rời thực tại.” (as far as the laws of mathematics refer to reality they are not certain and as far as they are certain, they do not refer to reality). Danh ngôn của Einstein. [18. 59]

Chúng ta đã thấy những quan niệm mới, do sự phát triển của khoa học, đã bắt buộc các khoa học gia phải quay về đường lối suy nghĩ, dùng những quan niệm triết lý, đặc biệt là triết lý Phật giáo, để giải thích những dữ kiện khoa học. Bởi “Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả tự nhiên lẫn siêu nhiên đặt trên căn bản của ý thức đạo lý. Phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể, gồm mọi lĩnh vực trên, trong cái nhất thể đầy ý nghĩa. Chỉ có Phật giáo mới làm được điều đó”. [25]

Và bây giờ chúng ta sẽ tiếp cận với thế giới tâm lý qua cái nhìn của Phật giáo. “Đường nào cũng chỉ là một con đường và không có gì là tủi nhục cho mình hoặc cho người khác, khi bỏ đường đó theo tiếng gọi của tâm” (Carlos -Castaneda giảng thuyết của Don Juan) [18.14]

 2.2  THẾ GIỚI TÂM LÝ HAY THẾ GIỚI TỰ NỘI

2.2.1  Tìm hiểu thuật ngữ trong tâm lý học Lăng giàụ

Quan hệ Lăng giàụ phân tích cái tâm sắp xếp các loại thức nêu lên tướng trạng, chức năng của mỗi thức và của toàn bộ hệ thống thức, như vậy Lăng giàụ phân tích sự thọ nhận, ghi nhận, kích thích do từ bên ngoài và cả bên trong nữa, phân tích phản ứng và vận hành của tâm. Đây cũng là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học hiện đại. Mở đầu phần trình bày nội dung của học thuyết duy tâm qua Kinh Lăng giàụ, trước hết chúng ta cần điểm qua vài nét nghĩa của các từ.

 Tập khí  习气  (Vàsanà). Xuất phát từ căn ngữ vas nghĩa là ở, trụ hay xông ướp và trong các kinh Đại thừa theo hai nghĩa được hợp lại, tức theo nghĩa là một năng lực xông ướp luôn luôn để lại cái tính chất của nó trong các sự vật mà nó đã xông ướp. Trung Hoa dịch là Tập khí (ỳ习气) hay huân tập (熏習 ); nghĩa là “thói quen, “quen dùng đã lâu”, hay “kinh nghiệm được lặp lại”. Do đó Vàsanà là một loại năng lực siêu giác quan (acintya-vàsanà – parinàma, bất tư nghì huân biến) bí mật bắt nguồn từ mỗi ý tưởng, mỗi cảm giác hay mỗi hành động mà người ta đã, đang tạo nên, sống một cách tiềm ẩn trong cái nhà kho A-lại-da thức. Tập khí trong tâm lý học hiện đại tương đương với kí ức, từ trong kí ức đã chứa đựng tất cả chủng tử thiện, ác được tích tụ từ vô thỉ. Phật giáo Đại thừa luôn đề cập về nó, bởi rất cần biết nó để hiểu A-lại-da thức.

 Tâm 心 (Citta). Từ Citta có căn ngữ là Cit có nghĩa là suy nghĩ nhận thức. Nhưng Lăng già thường chú trọng vào căn ngữ (ci) nghĩa là chồng chất, thu gom, sắp đặt. Vậy tâm (Citta) nghĩa chủ yếu là thu gom, chất  chứa nhận thức và cùng ý nghĩa này tâm được đồng hoá với A-lại-da hoặc toàn bộ hệ thống A-lại-da, Mạt na và ý thức, cảụ năm thức thuộc giác quan nữa.

     Thức 識 (Vijnàna). Gồm “Vi + jnàna”. Đồng ngữ “vi” nghĩa là phân biệt, phân chia và căn ngữ “jnàna” nghĩa là biết, nhận thức. Như vậy thức có nghĩa là nhận thức, phân biệt, nó không chỉ là sự nhận biết, hiểu biết suông mà nó là một loại nguyên lý của đời sống tâm thức. Được phân biệt với xác thân và nó cũng là năng lực hay khả năng phân biệt.

                 Như Lai Tạng 如 来 藏 (Tathàgata – garbha) là một tên khác của A-lại-da, cũng là một kho chứa hay đồ đựng trong các chủng tử (mầm) cùa Như Lai tính được giữ lại và lớn lên. (tathàgata là Như Lai - 如 来)

                Mạt na 意 (Manas) nghĩa là “suy nghĩ”, “tưởng tượng”, “có ý định” là cái trung tâm của ý thức và những liên hệ của nó, tương đương với ý niệm về ý của Phương Tây. Nó không giống như (Manovijnàna) Mạt na thức hay ý thức (意 識). Mạt na thức giống như năm thức kia có một lĩnh vực riêng của nó là nhận thức lý tính về các sự vật bên trong cũng như bên ngoài do năm thức mang lại. - Năm thức là:

Nhãn thức  眼 識 (Cakshur – Vijnàna) là cái tính thấy về các sự vật.

Nhĩ thức 耳 識 (Srotra – vijnàna) là cái tính nghe về các âm thanh của sự vật

  Tỷ thức 鼻 識 (Ghanavijnàna) là tính ngửi về mùi của  sự vật.

 Thiệt thức 舌 識 (Jihvàvijnàna) là tính nếm về vị của sự vật.

  Thân thức身 識 (Kàyavijnàna) là tính va chạm, tiếp xúc về sự vật.

Vấn đề ngôn ngữ ở đ&