---o0o---
Tập 2
Cuốn 31
Chương
43
Giải
Thích:
Mười Tám Không
Kinh:
Lại nữa, này Xá-lợi-phất, Bồ-tát
ma-ha-tát muốn trụ nội không, ngoại không, nội ngoại không,
không không, đại không, đệ nhất nghĩa không, hữu vi không, vô
vi không, tất cảnh không, vô thỉ không, tán không, tánh không,
tự tướng không, các pháp không, bất khả đắc không, vô pháp
không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không, nên học Bát-nhã
ba-la-mật.
Luận.
1. Nội không:
Nội pháp, nội pháp không. Nội pháp là sáu pháp nhập, mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý bên trong. Mắt không, là vô ngã, vô ngã sở,
không có pháp mắt. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như vậy.
2.
Ngoại không:
Ngoại
pháp, ngoại pháp không. Ngoại pháp là sáu nhập sắc, tiếng,
mùi, vị, xúc, pháp bên ngoài. Sắc không, là vô ngã, vô ngã sở,
không có pháp sắc. Tiếng, mùi, vị, xúc, pháp cũng như vậy.
3.
Nội ngoại không:
Nội ngoại pháp, nội ngoại pháp không. Nội ngoại pháp là mười
hai nhập trong ngoài. Trong mười hai nhập, là vô ngã, vô ngã
sở, không có pháp trong ngoài.
Hỏi: Các
pháp vô lượng, không
tùy theo pháp thời cũng vô lượng, cớ sao chỉ nói mười tám? Nếu
lược nói thì nên nói một không, là hết thảy pháp không. Nếu
nói rộng thời tùy mỗi mỗi pháp không, là mắt không, sắc
không... rất nhiều, cớ gì chỉ nói mười tám không?
Đáp: Nếu
lược nói thời việc không khắp, nếu nói rộng thời việc phồn
tạp; ví như thuốc chữa mắt, ít thì bệnh không lành, nhiều thời
làm tăng bệnh. Theo bệnh cho thuốc, không được tăng giảm thời
bệnh được lành. Không
cũng như vậy, nếu Phật chỉ nói một không, thời không thể phá
hết tà kiến và phiền não, còn nếu tùy theo mỗi tà kiến mà rộng
nói không, thời quá nhiều không, người ta sẽ ưa đắm tướng
không, bị đọa vào tà kiến đoạn diệt. Nói mười tám không, vừa
được trung bình.
Lại nữa, hoặc nói
mười, hoặc nói mười lăm, đều có nghi hoặc, và đó không phải là
câu đáng hỏi.
Lại nữa, pháp thiện
ác, đều có số nhất định, hoặc bốn niệm xứ, hoặc bốn chánh cần,
ba mươi bảy phẩm, mười lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại trí,
mười tám pháp không chung, năm uẩn, mười hai nhập, mười tám
giới, mười hai nhân duyên, ba độc, ba kiết, bốn lưu, năm triền
cái... các pháp đều có số nhất định. Ðể phá chấp trước đối với
mười tám loại pháp nên nói mười tám không.
Hỏi:
Bát-nhã ba-la-mật không,
với mười tám pháp không,
là khác hay là một? Nếu khác, vậy lìa mười tám không, thế nào
là Bát-nhã không? Lại như Phật dạy: Thế nào là Bát-nhã
ba-la-mật? Ðó là sắc không; thọ, tưởng, hành, thức không; cho
đến hết thảy chủng trí không. Nếu không khác thì cớ sao nói
muốn trụ mười tám không, nên học Bát-nhã ba-la-mật?
Đáp: Có
nhân duyên nói khác, có nhân duyên nói một.
Khác là Bát-nhã
ba-la-mật là thật tướng các pháp, dứt tất cả pháp quán, còn
mười tám không thời chính là mười tám cách quán, khiến các
pháp không. Bồ-tát học thật tướng các pháp ấy, có thể làm phát
sanh mười tám không, ấy là khác.
Một là mười tám không
là không, không có tướng gì, Bát-nhã ba-la-mật cũng là không,
không có tướng gì. Mười tám không là lìa bỏ tướng, Bát-nhã
ba-la-mật cũng là lìa bỏ tướng hết thảy pháp. Mười tám không
không trước tướng, Bát-nhã ba-la-mật cũng không trước tướng.
Vì vậy nên học Bát-nhã ba-la-mật thời chính là học mười tám
không, không khác.
Bát-nhã ba-la-mật
có hai phần: nhỏ và lớn. Muốn được lớn, trước nên học môn
phương tiện nhỏ; muốn được trí tuệ lớn, thời nên học mười tám
không. Trụ vào môn phương tiện tiểu trí tuệ ấy, có thể được
mười tám không.
Thế nào là môn
phương tiện? Ðó là đọc tụng, ghi nhớ đúng, tư duy đúng, tu
hành đúng như kinh Bát-nhã ba-la-mật nói. Ví như người muốn
được ngọc báu quý, hãy đi vào biển lớn, nếu muốn được ngọc báu
trí tuệ về nội Không tam-muội... hãy đi vào biển lớn Bát-nhã
ba-la-mật.
Hỏi: Có
sao hành giả khi học Bát-nhã ba-la-mật lại trụ nội không,
ngoại không, nội ngoại không?
Đáp: Thế
gian có bốn thứ điên đảo: nơi bất tịnh điên đảo tưởng tịnh,
nơi khổ điên đảo tưởng vui, nơi vô thường điên đảo tưởng
thường, nơi vô ngã điên đảo tưởng ngã. Hành giả vì phá bốn
điên đảo ấy nên tu bốn niệm xứ, theo mười hai cách quán (quán
nội thân, ngoại thân, nội ngoại thân, quán nội thọ, ngoại thọ,
nội ngoại thọ, quán nội tâm, ngoại tâm, nội ngoại tâm, quán
nội pháp, ngoại pháp, nội ngoại pháp – N.D).
Ðầu tiên quán nội
thân đầy dẫy ba mươi sáu vật bất tịnh, chín lổ thường chảy
nhơ, rất đáng nhàm sợ. Tướng tịnh không thể có được, vì tướng
tịnh không thể có được, nên gọi là
nội không.
Hành giả đã biết
nội thân bất tịnh, quán thân sắc đắm trước bên ngoài cũng
giống như vậy; đều thật bất tịnh, kẻ ngu cuồng hoặc, bị dâm
dục che tâm, nên cho là tịnh, quán thân sắc đắm trước bên
ngoài cũng như thân ta, tướng tịnh không thể có được; ấy là
ngoại không.
Hành giả nếu quán
thân mình bất tịnh thì hoặc cho thân sắc ngoài là tịnh; nếu
quán thân sắc ngoại bất tịnh thì hoặc cho thân mình là tịnh,
nay quán cả trong ngoài, thân ta bất tịnh, ngoài cũng như vậy,
thân ngoài bất tịnh, ta cũng như vậy, một mực bằng nhau không
khác. Trong đó tướng tịnh không thể có được; ấy gọi là
nội ngoại không.
Hành giả suy nghĩ
biết nội ngoại thân đều thật bất tịnh mà vì kẻ mê lầm nhiểm ái
sâu dày, do đó nên phải thọ thân. Thân là khổ lớn, mà kẻ ngu
cho là vui.
Hỏi: Ba
thọ đều thuộc ngoại nhập, cớ sao nói quán nội thọ?
Đáp: Sáu
trần lúc đầu cùng sáu căn hòa hợp sanh vui, ấy là vui ngoài;
sau đó tham đắm sâu vào sanh vui, gọi là vui trong.
Lại nữa, duyên pháp
bên trong sanh vui, gọi là vui trong; duyên pháp bên ngoài
sanh vui, gọi là vui ngoài.
Lại nữa, cái vui
tương ưng với năm thức gọi là vui ngoài. Cái vui tương ưng với
ý thức gọi là vui trong. Cái vui thô gọi là vui ngoài, cái vui
tế gọi là vui trong. Như vậy là phân biệt vui trong vui ngoài.
Thọ khổ, thọ không vui không khổ cũng như vậy.
Lại nữa, hành giả
suy nghỉ quán cái vui trong ấy thật có thể có chăng? Liền phân
biệt biết thật không thể có được, mà chỉ là khổ cưỡng cho là
vui, vì cớ sao? Vì cái vui ấy từ nhân duyên khổ mà sanh, cũng
sanh quả báo khổ, vì vui không chán đủ cho nên khổ.
Lại nữa, như người
bị ghẻ ngứa, gãi tuy vui ít mà sau càng làm thương thân, thời
là khổ lớn. Người ngu cho là vui, người trí chỉ thấy nó khổ.
Như vậy thế gian vì bệnh điên đảo tưởng vui nên đắm trước năm
dục, phiền não thêm nhiều. Vì vậy nên hành giả chẳng thấy vui
chỉ thấy khổ, như bệnh như ung, như ghẻ, như đâm.
Lại nữa, vui ít khổ
nhiều, vui ít không hiện ra nên gọi là khổ, như nước sông lớn,
ném vào một hạt muối, thời mất tướng muối, không gọi là mặn.
Lại nữa, cái vui
không nhất định, đây cho là vui, kia cho là khổ, kia cho là
vui, đây cho là khổ; giữ được là vui, mất đi là khổ, ngu cho
là vui, trí cho là khổ, thấy tai hoạn của vui cho là khổ,
không thấy tai hoạn của vui cho là vui; không thấy tướng vô
thường của vui cho là khổ; người chưa lìa dục cho là vui,
người lìa dục cho là khổ. Như vậy, quán vui là khổ, quán khổ
như tên đâm vào thân, quán tướng không khổ không vui vô thường
biến đổi. Như vậy, quán ba thứ thọ, tâm liền lìa bỏ; ấy gọi là
quán nội thọ không.
Quán ngoại thọ, nội ngoại
thọ cũng như vậy.
Hành giả lại suy
nghĩ: nếu vui tức là khổ, thời ai thọ cái khổ ấy? Suy nghĩ rồi
biết chính tâm thọ, vậy sau tiếp
quán tâm là thật
hay là hư? Quán tâm vô thường bị sanh, trụ, dị, diệt, tâm thọ
khổ, tâm thọ vui, tâm thọ không khổ không vui, mỗi niệm khác
nhau; tâm thọ vui diệt thì tâm thọ khổ sanh, tâm thọ khổ trụ
trong chốc lát rồi trở lại diệt, tiếp sanh tâm thọ không khổ
không vui. Biết khi ấy tâm thọ không khổ không vui trụ rồi trở
lại diệt, diệt rồi lại sanh tâm thọ vui. Ba thọ vô thường, cho
nên tâm cũng vô thường.
Lại nữa, biết tâm ô
nhiễm, tâm không ô nhiễm, tâm giận, tâm không giận, tâm si,
tâm không si, tâm tán loạn, tâm thu nhiếp, tâm trói buộc, tâm
giải thoát. Các tâm như vậy, mỗi mỗi tướng khác nhau, biết tâm
vô thường, không có tâm nhất định thường trú, tâm thọ khổ thọ
vui... đều từ nhân duyên hòa hiệp sanh, nhân duyên ly tán, tâm
cũng diệt theo. Như vậy quán tâm
trong, tâm ngoài, tâm trong ngoài đều là vô thường.
Hỏi: Tâm
nhiếp thuộc nội nhập, cớ sao nói ngoại tâm?
Đáp: Tâm
quán nội thân gọi là nội tâm, tâm quán ngoại thân gọi là ngoại
tâm.
Lại nữa, duyên pháp
bên trong là nội tâm, duyên pháp bên ngoài là ngoại tâm.
Lại nữa, năm thức
thường duyên pháp bên ngoài, không phân biệt được nên gọi là
ngoại tâm, ý thức duyên pháp bên trong, cũng phân biệt được
tốt xấu, nên gọi là nội tâm.
Lại nữa, ý thức lúc
mới sanh khởi, không phân biệt quyết định được, ấy là ngoại
tâm, ý thức chuyển sâu, phân biệt thủ tướng, ấy là nội tâm.
Như vậy là phân biệt nội
tâm, ngoại tâm.
Hành giả tâm ý
chuyển đổi, biết thân là bất tịnh, biết thọ là khổ, biết tâm
là vô thường, song vì kiết sử chưa dứt nên hoặc sanh tâm chấp
tôi, ta, suy nghĩ như vầy: nếu tâm vô thường thì ai biết tâm
ấy? Tâm thuộc về ai? Ai là chủ tâm? Và hết thảy các vật, thọ
khổ thọ vui, là sở hữu của ai? Liền phân biệt biết không có
chủ riêng, chỉ do thủ lấy tướng năm uẩn, chấp có tướng người
mà sanh tâm chấp ta, vì tâm chấp ta nên sanh tâm chấp của ta.
Có tâm chấp của ta nên cái gì có lợi ích cho ta thì sanh tâm
tham muốn, trái nghịch với ta thì sanh tâm sân hận. Kiết sử ấy
không từ trí tuệ sanh, mà từ cuồng hoặc sanh, ấy gọi là si. Ba
độc tham, sân, si là cội gốc các phiền não, vì đều do chấp ta,
tôi. Làm phước đức là ta sau sẽ được phước đức, và tu pháp trợ
đạo, ta sẽ được giải thoát. Lúc đầu thủ lấy tướng nên gọi là
tướng uẩn; nhân ta, tôi mà khởi lên kiết sử và các thiện hành,
ấy là hành uẩn; hai uẩn ấy là pháp niệm xứ. Trong pháp tưởng
uẩn, hành uẩn, tìm cái ta không thể có được, vì sao? Vì các
pháp ấy đều từ nhân duyên sanh, đều là pháp tạo tác, không bền
chắc, không thật có ta. Hành uẩn như cây chuối, lột từng bẹ ra
tìm trong đó không có lõi cứng, lại như ở xa thấy sóng nắng,
không nước mà tưởng đó là nước, chỉ dối gạt con mắt. Như vậy
quán nội pháp, ngoại pháp,
nội ngoại pháp.
Hỏi:
Pháp nhiếp thuộc ngoại nhập, cớ sao nói là nội pháp?
Đáp: Nội
pháp là tướng uẩn, hành uẩn tương ưng với nội tâm. Ngoại pháp
là tưởng uẩn, hành uẩn tương ưng với ngoại tâm và các hành
không tương ưng với tâm, và pháp vô vi, đồng đều quán sát
trong một lúc, gọi là quán nội
ngoại pháp.
Lại nữa, nội pháp
là sáu căn, ngoại pháp là sắc trần.
Lại nữa, tổng quán
thân, thọ, tâm và tưởng uẩn hành uẩn, là pháp niệm xứ, vì sao?
Vì hành giả đã ở nơi tưởng uẩn, hành uẩn và vô vi pháp tìm cái
ta không thể có được, trở lại ở nơi thân, thọ, tâm, tìm cái ta
cũng không thể có được. Như vậy ở trong hết thảy pháp hoặc
sắc, hoặc phi sắc, hoặc có thể thấy, hoặc không thể thấy, hoặc
có đối ngại, hoặc không đối ngại, hoặc hữu lậu hoặc vô lậu,
hoặc hữu vi hoặc vô vi, hoặc xa hoặc gần, hoặc thô hoặc tế, ở
trong đó tìm cái ta đều không thể có được, chỉ do năm uẩn hòa
hợp nên cưỡng gọi là chúng sanh, chúng sanh tức là ta. Ta
không thể có được, nên cũng không có của ta. Của ta không thể
có được, nên tất cả phiền não đều bị suy mỏng.
Lại nữa, thân niệm
xứ là hết thảy sắc pháp. Hành giả quán nội sắc vô thường, khổ,
không, vô ngã; quán ngoại sắc, quán nội ngoại sắc cũng như
vậy. Quán thọ, tâm, pháp cũng như vậy.
Tam-muội tương ưng
tứ niệm xứ nội quán, gọi là nội không. Tam-muội tương ưng tứ
niệm xứ ngoại quán, gọi là ngoại không. Tam-muội tương ưng tứ
niệm xứ nội ngoại quán, gọi là nội ngoại không.
Hỏi:
Không ấy là do năng lực tam-muội nên không, hay là pháp ấy tự
không?
Đáp: Có
người nói: vì lực tam-muội nên không, như Kinh nói: ba
tam-muội, ba cửa giải thoát là không, vô tướng, vô tác. Không
tam-muội ấy là duyên nơi thân, thọ, tâm, pháp không tìm thấy
ta, của ta, nên gọi là không.
Hỏi:
Pháp tứ niệm xứ không, cả bốn đều nên quán vô thường, khổ,
không, vô ngã; cớ sao đối với thân quán bất tịnh, đối với thọ
quán khổ, đối với tâm quán vô thường, đối với pháp quán vô
ngã?
Đáp: Tuy
bốn pháp đều quán là vô thường, khổ, không, vô ngã, song chúng
sanh đối với thân phần nhiều điên đảo đắm trước cho là
tịnh, đối với thọ phần nhiều điên đảo đắm trước cho là vui,
đối với tâm phần nhiều điên đảo đắm trước cho là thường, đối
với pháp phần nhiều điên đảo đắm trước cho là ngã. Vì vậy nên
hành giả quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô
thường, quán pháp vô ngã.
Lại nữa,
nội ngoại không là
không có pháp trong ngoài nhất định, chỉ do đối đãi nhau gọi
là trong ngoài, kia cho là ngoài, ta cho là trong, ta cho là
ngoài, kia cho là trong, nội pháp hệ thuộc theo người là
trong, ngoại pháp dính mắc theo người là ngoại. Như người cho
nhà mình là nội, nhà người là ngoại. Hành giả quán pháp nội
ngoại không có tướng nhất định, cho nên không.
Lại nữa, pháp nội
ngoại ấy, không có tự tính, vì sao? Vì do hòa hợp sanh; pháp
nội ngoại ấy cũng không ở trong hòa hợp nhân duyên. Nếu trong
nhân duyên vốn không có pháp, thì ở chỗ khác cũng không, nhân
duyên của nội ngoại pháp cũng không, vì nhân duyên không nên
pháp nội ngoại không.
Hỏi:
Pháp nội ngoại định có, cớ sao nói không? Như tay, chân... hòa
hợp nên có thân; gọi là nội pháp. Như kèo, cột, vách... hòa
hợp nên có nhà; gọi là ngoại pháp. Thân ấy tuy có tên gọi
riêng, nhưng cũng không khác chân, tay... vì cớ sao? Vì lìa
chân, tay... thì thân không thể có được, nhà cũng như vậy ư?
Đáp: Nếu
chân không khác thân, thì đầu cũng như chân, vì chân với thân
không khác. Nếu đầu là chân, thì rất đáng cười.
Hỏi: Nếu
thân với chân không khác, thì có lỗi như vậy, còn nay có thể
chân tay... hòa hợp lại mà có pháp sanh ra gọi là thân, thân
tuy khác với chân tay... nhưng phải nương chân mà tồn tại. Như
nhiều sợi chỉ hòa hợp sanh ra tấm vải, tấm vải nương nơi chỉ
mà tồn tại?
Đáp:
Thân pháp ấy (thân là một pháp
– N.D) có đầy đủ trong mỗi phần chân, tay... hay
chia ra có trong mỗi phần? Nếu có đầy đủ trong mỗi phần, thì ở
phần đầu lẽ đáng có phần chân, vì sao? Vì thân pháp có đầy đủ;
nếu chia ra có trong mỗi phần, thì thân pháp với phần chân
không khác. Lại thân là một pháp, sở nhân thành ra nó có
nhiều, một chẳng làm nhiều, nhiều chẳng làm một.
Lại nữa, nếu trừ
phần chân... riêng có thân, thì trái ngược với tất cả thế
gian. Vì vậy nên không được nói thân tức là các phần, cũng
không được nói khác các phần. Vì như vậy thời không thân, thân
không có nên các phần chân... cũng không có. Như vậy gọi là
nội không. Ngoại pháp như phòng xá cũng không như vậy; ấy gọi
là ngoại không.
Hỏi: Phá
thân, nhà... ấy là phá một, phá khác. Phá một phá khác là phá
kinh ngoại đạo, còn trong kinh Phật thật có pháp trong ngoài,
đó là trong sáu căn ngoài sáu trần, đây cớ sao không?
Đáp:
Pháp trong ngoài ấy là hòa hợp giả danh như thân, nhà.
Lại nữa, lược nói
có hai thứ không: chúng sanh không, pháp không. Ðối với đệ tử
Tiểu thừa độn căn nói chúng sanh không, vì ta và của ta không
có, thời không đắm trước pháp khác; đối với đệ tử Ðại thừa lợi
căn nói pháp không, liền biết thế gian thường không tịch như
Niết-bàn. Thanh văn nói nội không, ở nơi nội pháp không ta,
không của ta, vô thường, không người làm, không người biết,
không người thọ; ấy gọi là nội không. Ngoại không cũng như
vậy, Thanh văn không nói tướng nội pháp, tướng ngoại pháp tức
là không. Ðại thừa nói nơi nội pháp không có tướng nội pháp,
nơi ngoại pháp không có tướng ngoại pháp. Như trong Bát-nhã
ba-la-mật nói: sắc, sắc tướng không; thọ, tưởng, hành, thức,
thức tướng không. Nhãn, nhãn tướng không; nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý, ý tướng không. Sắc, sắc tướng không; thanh, hương,
vị, xúc, pháp, pháp tướng không. Như vậy, hết thảy các pháp,
tự pháp không.
Hỏi: Hai
lối nói nội ngoại không ấy, lối nói nào thật?
Đáp:
Cả hai đều
thật, chỉ vì hàng tiểu trí độn căn nên trước nói chúng sanh
không, sau vì đại trí lợi căn nên nói pháp không, như người bị
nhốt ngục, có kẻ phá hoại gông cùm, sát thương lệnh ngục, tùy
ý đi khỏi, lại có kẻ sợ hãi, lén đục vách tường, cũng được ra
khỏi. Người Thanh văn chỉ phá nhân duyên ta, tôi, không sanh
các phiền não, lìa các pháp ái, sợ hãi cái khổ già, bệnh, chết
và ác đạo, không còn muốn suy tìm gốc ngọn rõ ràng, phá hoại
các pháp, chỉ cốt một việc được giải thoát. Người Ðại thừa,
phá ngục ba cõi, hàng phục ma quân, dứt các kiết sử va tập
khí, hiểu rõ gốc ngọn hết thảy pháp, thông đạt vô ngại, phá
tán các pháp, làm cho thế gian như Niết-bàn, đồng tướng tịch
diệt, được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, làm cho hết thảy
chúng sanh ra khỏi ba cõi.
Hỏi:
Cớ sao Ðại
thừa phá hoại các pháp?
Đáp:
Phật dạy sắc từ các nhân duyên sanh, không có chắc thật, như
sóng nước thành bọt, tạm thấy liền tan, sắc cũng như vậy. Bốn
đại đời nay và hành nghiệp đời trước làm cho nhân duyên hòa
hợp thành sắc, nhân duyên diệt nên sắc cũng diệt, hành đạo vô
thường, chuyển vào cửa không, vì sao? Vì các pháp sanh diệt
không có lúc ngưng trụ; nếu không có lúc ngưng trụ thời không
thể thủ lấy.
Lại nữa, vì là
tướng hữu vi, khi sanh có diệt, khi diệt có sanh. Nếu đã sanh
thời sanh không có
chỗ dùng, nếu chưa sanh, thời
sanh không sanh được chi, cùng với sanh cũng không
khác, vì cớ sao? Vì sanh, nếu sanh ra pháp, thời lẽ đáng có
cái sanh ra sanh, như vậy lại phải có cái sanh ra cái sanh
nữa, ấy thời vô cùng. Nếu cái sanh ra sanh lại không do các
sanh khác, thời sanh cũng chẳng nên có sanh; nếu sanh không có
sanh thời pháp cũng chẳng nên có sanh; nếu sanh không có sanh
thời pháp cũng chẳng nên có sanh. Như vậy
sanh không thể có được.
Diệt cũng như vậy.
Vì vậy, các pháp là không, chẳng sanh chẳng diệt; ấy là thật.
Lại nữa, các pháp
đều có, cuối cùng trở về không có; nếu sau không có thời trước
cũng nên không; như người đi giày, lúc đầu đã có cũ, vì vi tế
nên không biết; nếu lúc đầu không cũ, thời nên thường mới mãi;
nếu lúc sau có cũ, thời lúc đầu cũng có cũ. Pháp cũng như vậy,
lúc sau có không nên
lúc đầu cũng có không.
Vì vậy nên tất cả pháp đều nên
không. Chỉ vì chúng sanh điên đảo nhiễm trước sáu
căn bên trong, nên hành giả phá điên đảo ấy, gọi là nội không.
Ngoại không, nội ngoại không cũng như vậy.
4.
Không không:
Lấy không phá nội không, ngoại không, nội ngoại không. Phá ba
không ấy, nên gọi là không không.
Lại nữa, trước lấy
pháp không, phá nội ngoại pháp, lại lấy không này phá ba không
kia, ấy gọi là không không.
Lại nữa, Không
tam-muội quán năm uẩn không, được tám thánh đạo, dứt các phiền
não, được Hữu dư Niết-bàn. Khi chấm dứt thân mạng do nhân
duyên hành nghiệp đời trước có được, muốn buông bỏ tám thánh
đạo, nên phát sanh Không không tam-muội; ấy gọi là
không không.
Hỏi:
Không với
không không khác nhau
thế nào?
Đáp:
Không phá năm thọ uẩn,
còn không không phá
không.
Hỏi:
Không nếu là pháp, thời
không là đã tự phá, “không” nếu chẳng phải pháp, thời
không phá được gì?
Đáp:
Không
phá hết thảy pháp, chỉ có không
còn lại. Không phá
hết thảy pháp rồi, không
cũng phải bỏ. Vì vậy nên cần phải là
không không.
Lại nữa,
không duyên hết thảy
pháp, không không
chỉ duyên không. Như
một kẻ mạnh phá tất cả giặc, lại có người phá kẻ mạnh ấy,
không không cũng như
vậy.
Lại nữa uống thuốc,
thuốc hay trừ bệnh, nếu bệnh đã lành thì thuốc cũng phải tống
ra, nếu thuốc không tống ra, thời thuốc lại là bịnh. Lấy
không trừ các bệnh
phiền não, sợ không
trở lại làm bệnh, nên lại lấy
không
xả không; ấy gọi là
không không.
5.
Ðại không:
Ở trong pháp Thanh văn, Pháp
không là đại không, như kinh Ðại không trong Tạp
A-hàm (Samyutta Agama) nói: Sanh làm nhân duyên cho già chết.
Nếu có người nói “là già chết, là người già chết”. Cả hai đều
tà kiến. “là người già chết”, ấy là chúng sanh không; “là già
chết”, ấy là pháp không. Còn trong kinh Ðại thừa nói: mười
phương, mười phương tướng không; ấy là đại không.
Hỏi:
Mười phương không, cớ sao gọi là đại không?
Đáp:
Phương đông vô biên cho nên gọi là đại, và có ở khắp mọi nơi
nên gọi là đại; khắp tất cả sắc pháp nên gọi là đại; thường có
nên gọi là đại; lợi ích thế gian nên gọi là đại; làm cho chúng
sanh không mê muội gọi là đại. Phá được đại phương như vậy gọi
là đại không. Các thứ Không
khác chỉ phá pháp nhân duyên sanh, pháp có tạo tác, pháp thô,
dễ phá, nên không gọi là đại. Phương hướng chẳng phải là pháp
nhân duyên sanh, chẳng phải pháp tạo tác, là pháp vi tế khó
phá, cho nên gọi là đại không.
Hỏi:
Hoặc trong Phật pháp không nói có phương, vì nó không nhiếp
thuộc trong ba vô vi là hư không, trí duyên tận, phi trí duyên
tận (cũng gọi là hư không,
trạch diệt, phi trạch diệt – N.D), cớ sao đây lại
nói có phương là thường, là pháp vô vi, chẳng phải nhân duyên
sanh, pháp chẳng phải tạo tác, pháp vi tế?
Đáp:
Phương
trong luận nghĩa của Thanh văn thì không có, còn trong pháp
Ðại thừa, vì theo thế tục đế nên nói có, theo đệ nhất nghĩa
thì hết thảy đều không thể có được, huống gì phương. Giống như
năm uẩn hòa hợp giả danh là chúng sanh, phương cũng như vậy. Ở
giữa sự hòa hợp của tứ đại tạo sắc, phân biệt so sánh trong
đây trong kia mà giả danh là phương. Chỗ mặt trời mọc là
phương đông, chỗ mặt trời mọc là phương tây. Như vậy là tướng
của phương. Phương
ấy tự nhiên thường có, chẳng phải nhân duyên sanh, cũng chẳng
phải trước không nay có, nay có sau không, cho nên chẳng phải
là pháp tạo tác. Vì chẳng phải hiện tiền biết được nên nói là
pháp vi tế.
Hỏi:
Phương nếu như vậy thời làm sao phá được?
Đáp: Ông
không nghe trước đây tôi nói, vì theo tục đế nên có, theo đệ
nhất nghĩa nên phá. Vì tục đế có nên không rơi vào tà kiến
chấp đoạn diệt, vì theo đệ nhất nghĩa phá nên không rơi vào tà
kiến chấp thường. Ấy là đã lược nói nghĩa đại không.
Hỏi:
Ðệ nhất
nghĩa không cũng phá được pháp không tạo tác, pháp không nhân
duyên, pháp vi tế, cớ sao không nói là đại không?
Đáp:
Trước đã gọi là đại, nên đây không gọi là đại, nhưng đệ nhất
nghĩa không, tên tuy khác mà nghĩa thật là đại. Xuất thế gian
cho Niết-bàn là đại, thế gian cho phương là đại, vì vậy nên đệ
nhất nghĩa cũng là đại không.
Lại nữa, vì phá đại
tà kiến, về ác thời nên gọi là đại không. Như hành giả lấy từ
tâm duyên chúng sanh trong một quốc độ phương đông, rồi lại
duyên chúng sanh một quốc độ, như vậy trong lúc triển chuyển
duyên; nếu cho rằng duyên hết quốc độ phương đông, thời rơi
vào hữu biên kiến; nếu cho rằng duyên chưa hết quốc độ phương
đông thời rơi vào vô biên kiến. Khi sanh hai kiến ấy liền mất
từ tâm. Nếu lấy phương không
phá đông phương ấy, thời dứt hai kiến hữu biên, vô biên. Nếu
không lấy phương không
phá đông phương, thời tâm hướng theo đông phương, tâm theo
đông phương không ngừng, thời từ tâm dứt, tà tâm sanh; ví như
lúc nước triều dâng đến giới hạn thường lệ, thời xoay trở lại,
cá nếu không xoay lại kịp thời bị dạt lên bờ, chịu đủ thứ khổ.
Nếu cá có trí, thời theo nước xoay lại, vĩnh viễn được an ổn.
Hành giả cũng như
vậy. Nếu tâm hướng theo phương, không xoay lại kịp thời bị
trôi vào tà kiến, nếu tâm hướng theo phương biết xoay lại kịp
thời không mất từ tâm.
Như vậy phá đại tà
kiến về ác thời, nên gọi là đại không.
6.
Ðệ nhất nghĩa không:
Thật tướng của các pháp, vì không phá không hoại. Thật tướng
ấy cũng không, vì sao? Vì không lãnh thọ, không dính mắc. Nếu
thật tướng các pháp là có, thời phải có lãnh thọ, phải có dính
mắc; vì không có thật, nên không lãnh thọ, không dính mắc; nếu
như lãnh thọ, dính mắc tức là hư dối.
Lại nữa, pháp Ðệ
nhất trong các pháp là Niết-bàn. Như trong A-tỳ-đàm nói: thế
nào là pháp hữu thượng? Ðó là pháp hữu vi và hư không, phi trí
duyên tận (tức là phi trạch
diệt vô vi. Nghĩa là pháp hữu lậu phiền não vì thiếu duyên nên
không sanh khởi mà thành như vô lậu vô vi, chứ chẳng phải thật
vô lậu vô vi. Trái lại, trạch diệt vô vi là do trí tuệ quyết
trạch dứt sạch hữu lậu hữu vi mà thành vô lậu vô vi, mới thật
là Niết-bàn – N.D). Thế nào là pháp vô thượng? Ðó
là trí duyên tận (cũng tức là
trạch diệt vô vi – N.D). Trí duyên tận tức là
Niết-bàn. Trong Niết-bàn cũng không có tướng Niết-bàn.
Niết-bàn không, là đệ nhất nghĩa không.
Hỏi: Nếu
Niết-bàn là không, vô tướng, làm sao thánh nhân nương ba thừa
mà vào Niết-bàn? Lại, hết thảy Phật pháp được nói ra đều vì
Niết-bàn; ví như các dòng nước đều chảy vào biển?
Đáp:
Có Niết-bàn, là
pháp vô thượng đệ nhất báu. Có hai thứ: 1. Hữu dư Niết-bàn, 2.
Vô dư Niết-bàn. Các phiền não ái... dứt, gọi là Hữu dư
Niết-bàn. Thánh nhân thân ngũ uẩn đời này chấm dứt không còn
thọ thân trở lại; ấy gọi là Vô dư Niết-bàn. Không được nói
Niết-bàn không có, nhưng chúng sanh nghe tên Niết-bàn, sanh
tâm tà kiến, đắm trước âm thanh Niết-bàn và sanh hý luận cho
là hoặc có hoặc không. Vì để phá sự chấp trước ấy nên nói
Niết-bàn không; nếu người chấp trước có là chấp trước thế
gian; nếu chấp trước không, thời chấp trước Niết-bàn. Phá cái
Niết-bàn của kẻ phàm phu chấp trước, chứ không phá Niết-bàn
của bậc Thánh chứng đắc, vì cớ sao? Vì thánh nhân đối với hết
thảy pháp không thủ tướng.
Lại nữa, các phiền
não ái... giả danh là trói, nếu tu đạo, cởi khỏi trói ấy, được
giải thoát tức gọi là Niết-bàn. Lại không có pháp nào riêng
gọi là Niết-bàn; như người bị cùm chân được thoát, mà hý luận
rằng: ấy cùm, ấy chân, cái gì là giải thoát? Người như vậy
đáng cười, ngoài cùm, ngoài chân còn tìm sự giải thoát. Chúng
sanh cũng như vậy, lìa cái cùm ngũ uẩn, còn tìm pháp giải
thoát?
Lại nữa, hết thảy
pháp không lìa đệ nhất nghĩa, đệ nhất nghĩa không lìa thật
tướng các pháp. Làm cho thật tướng các pháp không, gọi là đệ
nhất nghĩa không. Như vậy, các thứ, gọi là đệ nhất nghĩa
không.
7-8
Hữu vi không, vô vi không:
Hữu vi pháp là pháp do nhân duyên hòa hợp sanh, đó là năm uẩn,
mười hai nhập, mười tám giới... Vô vi pháp là không nhân
duyên, thường chẳng sanh chẳng diệt như hư không. Hữu vi pháp
do hai nhân duyên nên không: 1. Là không ta, không của ta và
không tướng thường, không biến dị, không thể có được nên
không. 2. Hữu vi pháp, tướng hữu vi pháp không, chẳng sanh
chẳng diệt, không có gì.
Hỏi: Ta,
của ta và tướng thường,
không thể có được cho nên không; cớ sao nói hữu vi pháp, tướng
hữu vi pháp cũng không?
Đáp: Nếu
không chúng sanh, pháp không chỗ dựa. Lại vô thường nên không
có lúc ngưng trụ, không có lúc trụ, nên không thể biết được,
cho nên pháp cũng không.
Hỏi:
Trong pháp hữu vi, tướng thường là không thể có được, còn
không thể có được ấy là chúng sanh không hay pháp không?
Đáp: Có
người nói tâm ta điên đảo nên chấp ta là thường, cái thường ấy
không, thời thuộc vào chúng sanh không.
Có người nói: cho
tâm là thường, như Phạm thiên vương nói, tứ đại và tứ đại sở
tạo sắc đều vô thường, còn tâm ý thức là thường. Cái thường
không ấy, thời thuộc vào pháp không.
Hoặc có người nói:
năm uẩn tức là thường, như sắc uẩn tuy biến hóa mà cũng không
diệt. Các uẩn khác cũng nói giống như tâm.
Năm uẩn không tức là
pháp không, cho nên thường không, cũng nhiếp vào pháp không.
Lại nữa, hữu vi
pháp, vô vi pháp không, là hành giả quán thật tướng pháp hữu
vi, pháp vô vi, không có tác giả, chỉ do nhân duyên hòa hợp
nên có, đều là hư dối, ức tưởng phân biệt sanh, không ở trong,
không ở ngoài, không ở chặn giữa, phàm phu điên đảo thấy nên
có, còn trí giả đối pháp hữu vi không tìm được tướng nó, biết
nó chỉ là tên giả. Lấy tên giả ấy mà dẫn đạo phàm phu, biết nó
hư dối không thật, không sanh, không làm, tâm không dính mắc.
Lại nữa, các bậc
hiền thánh không duyên pháp hữu vi mà được đạo quả, nhưng do
quán pháp hữu vi không, nên đối với pháp hữu vi tâm không
vướng buộc.
Lại nữa, lìa hữu vi
thời không vô vi, vì sao? Vì thật tướng của hữu vi chính là vô
vi; tướng vô vi thời chẳng phải hữu vi, chỉ vì chúng sanh điên
đảo nên phân biệt nói.
Tướng hữu vi là
sanh diệt trụ dị, tướng vô vi là chẳng sanh chẳng diệt chẳng
trụ chẳng dị; ấy là cửa ban đầu để vào Phật pháp. Nếu pháp vô
vi có tướng, ấy thời là hữu vi. Hữu vi pháp sanh tướng là Tập
đế, diệt tướng là Diệt đế. Nếu không tập thời không làm, nếu
không làm thời không diệt; ấy là tướng như thật của vô vi
pháp. Nếu ngộ được thật tướng các pháp thời không còn rơi
trong tướng sanh, diệt, trụ, dị, khi ấy không thấy pháp hữu vi
hợp với pháp vô vi, không thấy vô vi hợp với pháp hữu vi;
không thủ tướng hữu vi pháp vô vi pháp; ấy là vô vi pháp, vì
sao? Vì nếu phân biệt hữu vi pháp vô vi pháp, thời đối với hữu
vi vô vi bị chướng ngại. Nếu dứt hết các ức tưởng phân biệt,
dứt các duyên, vì thật trí không các duyên thì không đọa vào
trong chúng sanh số, mà được Niết-bàn an ổn thường vui.
Hỏi:
Năm không trước đều
nói riêng, nay hữu vi vô vi không, cớ sao hợp lại nói?
Đáp:
Pháp hữu vi vô vi đối đãi nhau mà có, nếu trừ hữu vi thời
không vô vi, nếu trừ vô vi thời không hữu vi, hai pháp này thu
nhiếp hết thảy pháp. Hành giả quán pháp hữu vi có nhược điểm
là vô thường, khổ, không, biết pháp vô vi có chỗ lợi ích lớn
rộng lớn, cho nên hai pháp hiệp lại nói.
Hỏi:
Pháp hữu vi do nhân duyên hòa hợp sanh, không có tự tánh nên
không, việc ấy có thể như vậy, còn vô vi pháp chẳng phải là
pháp do nhân duyên sanh, không thể phá không thể hoại, thường
như hư không, cớ sao không?
Đáp:
Như trước nói,
nếu trừ hữu vi thời không có vô vi, thật tướng của hữu vi tức
là vô vi, nếu như hữu vi không thì vô vi cũng không, vì hai sự
chẳng khác nhau.
Lại nữa, có người
nghe nói: pháp hữu vi có tội lỗi, mà ái trước pháp vô vi, vì
ái trước nên sanh các kiết sử, như trong A-tỳ-đàm nói: 89 sử (trong
98 sử mà tách ra – N.D) duyên pháp hữu vi mà phát
sanh (là duyên Khổ, Tập, Ðạo đế
mà không ngộ, phát sanh lậu hoặc; gọi tắt là hữu vi duyên hoặc
– N.D) sáu sử duyên pháp vô vi mà phát sanh (là
duyên Diệt đế ma không ngộ, phát sanh lậu hoặc; gọi tắt là vô
vi duyên hoặc – N.D), còn ba sử (nghi,
tà kiến, vô minh – N.D) thì sẽ phân biệt; vô minh
sử thuộc Dục giới do thấy Diệt đế được đoạn trừ, hoặc duyên
pháp hữu vi mà phát sanh, hoặc duyên pháp hữu vi mà phát sanh,
hoặc duyên pháp vô vi mà phát sanh.
Thế nào là vô minh
sử do duyên pháp hữu vi mà phát sanh? Ðó là vô minh sử tương
ưng với sử, do duyên pháp hữu vi mà phát sanh (tức
cọng vô minh – N.D), được đoạn trừ bởi thấy được
Diệt đế.
Thế nào là vô minh
sử do duyên pháp vô vi phát sanh? Ðó là vô minh sử không tương
ưng (tức bất cọng vô minh – N.D),
với sử do duyên pháp hữu vi mà phát sanh, được đoạn trừ bởi
thấy được
Diệt đế.
Vô minh sử thuộc
Sắc giới, Vô sắc giới cũng như vậy. Vì kiết sử ấy hay khởi lên
nghiệp bất thiện, do nghiệp bất thiện nên đọa vào ba đường ác,
vì thế nên nói vô vi pháp không.
Kiết sử duyên pháp
vô vi mà phát sanh là nghi, tà kiến, vô minh.
Nghi là, đối với
Niết-bàn nghi là có hay là không?
Tà kiến là, nếu
sanh tâm nói rằng nhất định không có Niết-bàn. Vô minh tương
ưng với nghi, tà kiến ấy cùng độc đầu vô minh hợp lại, là vô
minh sử.
Hỏi:
Nếu nói vô
vi pháp không, thời khác gì với tà kiến?
Đáp:
Người tà kiến không tin Niết-bàn, rồi sau sanh tâm nói nhất
định không có Niết-bàn, còn vô vi pháp không, là phá chấp thủ
tướng Niết-bàn, thế là khác.
Lại nữa, nếu người
bỏ hữu vi chấp trước vô vi, vì chấp trước nên vô vi liền thành
hữu vi, vì vậy nên tuy phá vô vi mà chẳng phải tà kiến; ấy gọi
là hữu vi vô vi không.
9.
Tất cánh không:
Lấy hữu vi không, vô vi không, phá các pháp không còn có sót
thừa, ấy gọi là tất cảnh không. Như lậu tận A-la-hán gọi là
tất cảnh thanh tịnh (rốt ráo thanh tịnh); A-na-hàm cho đến khi
xa lìa dục sử của cõi vô sở hữu xứ, không gọi là tất cảnh
thanh tịnh, đây cũng như thế. Nội không, ngoại không, nội
ngoại không, mười phương không, Ðệ nhất nghĩa không, hữu vi
không, vô vi không, không còn thừa pháp gì chẳng không, ấy gọi
là tất cảnh không.
Lại nữa, nếu người
có quý tộc bảy đời, trăm ngàn vạn ức vô lượng đời mới gọi là
tất cảnh quý, chứ không phải một đời, hai đời, ba đời quý tộc
là thật quý. Tất cảnh không cũng như vậy. Từ xưa đến đây không
một pháp nhân duyên sanh nào mà nhất định thật chẳng không.
Có người nói: nay
tuy không, mà lúc tối sơ chẳng không, như trời khởi thỉ tạo
vật và minh sơ, vi trần. Nhưng nó thảy đều không, vì sao? Vì
quả (do trời, vi trần tạo ra)
vô thường, nên nhân (trời, minh
sơ, vi trần – N.D) cũng vô thường; còn nếu như hư
không không tác quả, cũng không tác nhân, trời và vi trần...
cũng nên như vậy. Nếu trời và vi trần cũng thường như vậy,
thời không thể sanh vô thường. Nếu quá khứ không có tướng nhất
định, thì đời vị lai, hiện tại cũng như vậy. Trong ba đời
không có một pháp nào nhất định thật chẳng không, ấy gọi là
tất cánh không.
Hỏi: Nếu
ba đời đều không, cho đến vi trần và một niệm cũng không có,
thời là chỗ rất đáng sợ. Các người trí tuệ vì cái vui thiền
định nên bỏ cái vui thế gian; vì cái vui Niết-bàn nên bỏ cái
vui thiền định; nay trong tất cánh không, cho đến Niết-bàn
cũng không có, vậy dựa pháp gì để bỏ cái vui Niết-bàn?
Đáp:
Người chấp trước ta, tôi, quen lấy tướng một, khác, để phân
biệt các pháp, người như vậy thời cho rốt ráo không là đáng
sợ; như Phật nói chỗ rất kính sợ của kẻ phàm phu đó là không
ta, không của ta.
Lại nữa, pháp hữu
vi có ba đời, vì là pháp hữu lậu nên sanh ái trước. Niết-bàn
là dứt hết thảy ái trước, cớ sao đối Niết-bàn còn cầu lìa bỏ?
Lại nữa, như
Tỳ-kheo phá bốn giới trọng; ấy gọi là tất cánh phá giới, không
bảo nhậm đắc đạo. Lại như làm tội ngũ nghịch, rốt ráo đóng ba
đường thiện; người thủ chứng Thanh văn thì rốt ráo không được
làm Phật. Tất cảnh không cũng như vậy, đối hết thảy pháp rốt
ráo không, không còn thừa pháp nào.
Hỏi: Hết
thảy pháp rốt ráo không, việc ấy không đúng, vì sao? Vì ba đời
mười phương các pháp, cho đến pháp tướng, pháp trụ, chắc phải
có thật. Vì có một pháp thật, nên các pháp khác mới là hư
vọng, nếu không có một pháp thật thời cũng không thể có các
pháp hư vọng, là tất cảnh không?
Đáp:
Không có cho đến không một pháp thật, vì sao? Vì nếu có cho
đến một pháp thật, thời pháp ấy phải hoặc là hữu vi, hoặc là
vô vi. Nếu là hữu vi, thời đã phá trong đoạn hữu vi không. Nếu
là vô vi, thời cũng đã phá trong đoạn vô vi không. Như vậy thế
gian, xuất thế gian. Nếu thế gian thì nội không, ngoại không,
nội ngoại không, đại không đã phá; nếu xuất thế gian thì đệ
nhất nghĩa không đã phá. Sắc pháp, vô sắc pháp, hữu lậu, vô
lậu pháp cũng như vậy.
Lại nữa, hết thảy
pháp rốt ráo không ấy cũng không, không, không có pháp, nên
cũng không có hư và thật đối đãi nhau.
Lại nữa, rốt ráo
không là phá hết thảy pháp, khiến không còn sót lại, cho nên
gọi là rốt ráo không; nếu có chút ít thừa lại thời không gọi
là rốt ráo; nếu nói vì đối đãi nên có, việc ấy không đúng.
Hỏi: Các
pháp chẳng phải không hết, vì sao? Vì pháp do nhân duyên nên
không, mà nhân duyên thì chẳng không, ví như nhân duyên kèo,
cột, hòa hợp nên gọi là nhà, nhà không mà kèo cột cũng chẳng
phải không?
Đáp:
Nhân duyên cũng không, vì nhân duyên bất định; ví như cha con,
do cha sanh nên gọi là con, do sanh con nên gọi là cha.
Lại nữa, nhân duyên
tối hậu, không chỗ nương tựa; như các loại núi, sông, cây cỏ
chúng sanh đều nương tựa đất, đất nương tựa nước, nước nương
tựa gió, gió nương tựa hư không, hư không không chỗ nương dựa.
Nếu gốc không chỗ nương dựa, thì ngọn không chỗ nương dựa, vì
vậy nên biết hết thảy rốt ráo không.
Hỏi:
Không phải. Các pháp phải có cội gốc, như thần thông có chỗ
biến hóa, vật hóa ra tuy hư dối, mà hóa chủ chẳng không?
Đáp:
Người phàm phu thấy vật biến hóa ra không trụ lâu cho là
không, hóa chủ trụ lâu nên cho là thật; còn thánh nhân thấy
hóa chủ lại từ nghiệp nhân duyên đời trước hòa hợp sanh ra,
đời nay lại chứa các thiện pháp, được lực thần thông, cho nên
hay biến hóa. Như trong phẩm sau của kinh Bát-nhã ba-la-mật
nói: Có ba loại biến hóa là phiền não biến hóa, nghiệp biến
hóa, pháp biến hóa (pháp, pháp thân); cho nên biết hóa chủ
cũng không.
Hỏi:
Những thứ không bền chắc, không thật, cho nên không, còn các
thứ bền chắc và thật chẳng thể không; như đại địa, núi Tu-di,
nước biển cả, mặt trời mặt trăng, Kim cang... là pháp thật,
bền chắc, cho nên chẳng phải không, vì cớ sao? Vì đất và núi
Tu-di thường trụ trọn kiếp, các sông có khô, biển vẫn thường
đầy, mặt trời mặt trăng quanh bầu trời không bao giờ cùng. Lại
như phàm phu thấy hư vọng không thật cho nên không, còn thánh
nhân chứng đắc như như, pháp tánh, chân tế, Niết-bàn, phải là
thật pháp, cớ sao rốt ráo đều không?
Lại nữa, pháp hữu
vi do nhân duyên sanh nên không thật, còn pháp vô vi không do
nhân duyên sanh nên phải thật, cớ sao lại nói là rốt ráo
không?
Đáp: Bền
chắc, không bền chắc, không nhất định, cho nên đều không, vì
cớ sao? Vì có người cho đó là bền chắc, lại có người cho đó là
không bền chắc; như người cho Kim cang là bền chắc, còn
Ðế-thích tay cầm như người cầm gậy, không cho là bền chắc. Lại
không biết nhân duyên phá hoại Kim cang nên cho Kim cang là
bền chắc, nếu biết đặt nó trên xương rùa, lấy sừng dê núi đánh
phá, thời biết nó không bền chắc; như thân cao bảy thước cho
biển lớn là sâu, còn chúa La-hầu A-tu-la đứng giữa biển nước
chưa đến đầu gối, lấy hai tay che núi Tu-di, cúi xuống xem
thành Thiện kiến ở cõi trời Ðao-lợi, thời cho nước biển là
cạn. Nếu người đoản thọ thì cho quả đất là trường cửu bền
chắc, còn người trường thọ thời thấy quả đất vô thường chẳng
bền chắc. Như Phật nói kinh Ví dụ bảy mặt trời: Phật bảo các
Tỳ-kheo, hết thảy pháp hữu vi, vô thường biến dị, đều trở về
tiêu diệt. Lúc kiếp sắp hết, đại hạn lâu ngày, cỏ thuốc cây
cối đều khô cháy. Khi mặt trời thứ hai xuất hiện, nước các
sông nhỏ đều khô hết. Khi mặt trời thứ ba xuất hiện, nước các
sông lớn đều khô hết. Khi mặt trời thứ tư xuất hiện, bốn sông
lớn trong cõi Diêm-phù-đề (Ấn
Ðộ - N.D) và ao A-na-bà-đạt-đa đều khô hết. Khi mặt
trời thứ năm xuất hiện, biển lớn khô hết; khi mặt trời thứ sáu
xuất hiện đại địa và núi Tu-di khói bốc, như lò đốt của thợ
gốm; khi mặt trời thứ bảy xuất hiện, tất cả đều cháy tiêu,
không còn hơi khói; từ quả đất, núi Tu-di đến cõi Phạm thiên
lửa đều bốc cháy. Bấy giờ, trời Quang Âm mới sanh, thấy lửa sợ
hãi nói: đã đốt Phạm cung, sắp không đến đây ư? Các trời sanh
ra trước ủy dụ các trời sanh ra sau rằng: đã từng có như vậy,
đốt ngang Phạm cung rồi tắt ở đó không đến đây đâu! Ðốt ba
ngàn đại thiên thế giới xong, không còn tro than.
Phật dạy các
Tỳ-kheo: việc lớn như vậy, ai tin điều đó? Chỉ có tận mắt
thấy, mới tin được thôi.
Lại này Tỳ-kheo,
thời quá khứ, thầy ngoại đạo tên Tu-niết-đa-la, lìa dục, thực
hành bốn phạm hạnh, vô lượng đệ tử cũng được lìa dục.
Tu-niết-đa-la mới nghĩ rằng: Ta không nên cùng đệ tử sanh
chung một chỗ, ta sẽ tu sâu tâm từ. Người này do tư duy sâu
tâm từ, nên được sanh lên cõi trời Quang âm. Phật dạy:
Tu-niết-đa-la chính là thân Ta vậy. Ta lúc ấy chính mắt thấy
việc ấy. Vì vậy nên biết vật thật bền chắc đều trở về tiêu
diệt.
Hỏi: Ông
nói rốt ráo không, cớ sao còn nói vô thường? Rốt ráo không thì
ngay đây chính là không, còn vô thường thì nay có sau không?
Đáp: Vô
thường là cửa ban đầu của không. Nếu rõ thấu vô thường thời
các pháp là không. Vì vậy nên thánh nhân dùng bốn hành tướng
để quán thế gian vô thường. Nếu thấy vật ái trước vô thường,
vô thường thời sanh khổ, khổ nên tâm sanh nhàm chán xa lìa.
Nếu là vô thường, không, thời không thể chấp thủ, như huyển
như hóa, ấy gọi là không. Ngoại vật đã không, nội chủ cũng
không, ấy gọi là vô ngã.
Lại nữa, rốt ráo,
ấy là chơn không. Có hai hạng chúng sanh: 1. Tập tham ái
nhiều. 2. Tập tưởng kiến nhiều. Người tham ái nhiều ưa sanh
đắm trước. Vì vật đắm trước ấy vô thường cho nên sanh ưu khổ.
Vì hạng người ấy nên nói: vật ông đắm trước là vô thường hư
hoại, nên ông vì nó mà sanh khổ, nếu vật đắm trước sanh khổ
thì không nên sanh tâm đắm trước, ấy là cửa vô tác giải thoát.
Người tưởng kiến
nhiều thì hay phân biệt các pháp, vì không biết thật tướng nên
đắm trước tà kiến. Vì hạng người ấy nên nói thẳng các pháp rốt
ráo không.
Lại nữa, nếu có
nói, là có thể phá, có thể phá nên không. Ðối tượng thấy đã
không, chủ thể thấy cũng không; ấy gọi là rốt ráo không. Ông
nói pháp của thánh nhân chứng đắc phải là thật, vì pháp thánh
nhân có thể diệt ba độc, chẳng phải điên đảo hư dối, có thể
làm cho chúng sanh lìa khổ già, bệnh, chết, đạt đến Niết-bàn.
Pháp ấy tuy là thật, cũng đều từ nhân duyên hòa hợp sanh. Nên
trước không nay có, nay có sau không, nên không thể lãnh thọ,
không thể chấp trước, cũng không, chẳng phải thật. Như Phật
nói kinh ví dụ chiếc bè: thiện pháp còn phải bỏ, huống chi
pháp bất thiện?
Lại nữa, pháp hữu
vi vô lậu (chỉ Ðạo đế - N.D)
của thánh nhân, từ pháp hữu lậu làm duyên sanh, pháp duyên
theo hữu lậu pháp hư vọng không thật sanh ra, làm sao thật
được? Lìa pháp hữu vi không có pháp vô vi, như trước nói: thật
tướng của pháp hữu vi chính là pháp vô vi. Vì vậy, hết thảy
pháp rốt ráo không thể có được, nên gọi là rốt ráo không.
10.
Vô thỉ không:
Hoặc chúng sanh, hoặc pháp thế gian đều không có ban đầu; như
đời nay từ nhân duyên đời trước mà có, đời trước lại từ đời
trước; như vậy triển chuyển không có chúng sanh ban đầu. Pháp
cũng như vậy, vì sao? Vì nếu trước sanh sau chết, thời không
từ chết nên sanh, sanh cũng không chết; nếu trước chết sau
sanh, thời không nhân không duyên, cũng không sanh mà có chết.
Vì vậy nên hết thảy pháp không có ban đầu. Như trong Kinh nói:
Phật dạy các Tỳ-kheo, chúng sanh không có ban đầu, do vô minh
che lấp, ái ràng buộc nên qua lại sống chết, ban đầu không thể
có được. Phá pháp không ban đầu ấy, nên gọi là vô thỉ không.
Hỏi: Vô
thỉ là thật, không nên phá, vì sao? Vì nếu chúng sanh và pháp
có ban đầu tức bị rơi vào biên kiến, cũng rơi vào vô nhân kiến
(chấp không có nguyên nhân – Vô
nhân luận – N.D). Xa lìa các lỗi, như vậy, cho nên
nói chúng sanh và pháp vô thỉ. Nay lấy vô thỉ không, để phá vô
thỉ ấy, thời trở lại rơi vào hữu thỉ kiến?
Đáp: Nay
lấy vô thỉ không phá vô thỉ kiến, lại không rơi vào hữu thỉ
kiến; ví như cứu người ra khỏi lửa, không nên để vào nước sâu.
Nay phá vô thỉ ấy cũng không đắm vào trong hữu thỉ; ấy là hành
trung đạo.
Hỏi: Tại
sao phá vô thỉ?
Đáp: Vì
vô cùng. Nếu vô cùng thời không sau. Vô cùng không sau thời
không giữa. Nếu vô thỉ thời phá hoại người nhất thiết trí, vì
cớ sao? Vì nếu thế gian vô cùng, thời không biết được ban đầu
của nó, không biết được ban đầu, thời không có người nhất
thiết trí. Nếu có người nhất thiết trí, thời chảng gọi vô thỉ.
Lại nữa, nếu chấp
thủ tướng chúng sanh, lại chấp thủ các pháp tướng một, tướng
khác, lấy tướng một tướng khác ấy, từ đời nay suy lên đời
trước, từ đời trước lại suy lên đời trước nữa, như vậy triển
chuyển, chúng sanh và pháp ban đầu không thể có được, thời
sanh ra kiến chấp về vô thỉ, kiến chấp ấy hư vọng, lấy một và
khác làm gốc, thế nên nên phá. Như lấy hữu vi không, phá hữu
vi pháp, hữu vi không ấy, trở lại là bệnh, lại lấy vô vi
không, phá vô vi pháp. Nay lấy vô thỉ phá hữu thỉ, vô thỉ trở
lại là bệnh, lại lấy vô thỉ không, phá vô thỉ ấy; ấy gọi là vô
thỉ không.
Hỏi: Nếu
như vậy, cớ sao Phật nói chúng sanh qua lại sống chết mà bản
tế không thể có được?
Đáp:
Muốn khiến chúng sanh biết từ lâu xa lại đây, qua lại sống
chết là rất khổ, mà sanh tâm nhàm sợ. Như Kinh nói: Một người
ở thế gian, kể trong một kiếp thọ thân bị hại, máu dồn chứa
nhiều hơn nước biển, khóc lóc rơi lệ và sữa mẹ cho uống cũng
đều như vậy. Xương chất cao hơn núi Tỳ-phù-la, ví dụ cắt cỏ
cây trong thiên hạ làm cái thẻ dài hai tấc để đếm số cha, ông,
tằng tổ vẫn không đếm hết. Lại như lấy hết đất làm từng viên,
đếm số mẹ, bà nội cũng không đếm hết. Như vậy chịu sống chết
khổ não trong vô lượng kiếp, ban đầu không thể có được, tâm
sanh sợ hãi, mà dứt các kiết sử.
Cũng như vô thường,
tuy là có biên giới mà Phật dùng vô thường để độ chúng sanh.
Vô thỉ cũng như vậy, tuy là có biên giới, Phật cũng dùng vô
thỉ để độ chúng sanh. Vì độ chúng sanh khiến sanh tâm nhàm
chán, nên nói có vô thỉ, chẳng phải là thật có vô thỉ, vì cớ
sao? Vì nếu thật có vô thỉ thời không nên nói vô thỉ không.
Hỏi: Nếu
vô thỉ chẳng phải thật pháp, cớ sao dùng nó độ người?
Đáp:
Trong thật pháp không có độ người. Các pháp được nói bằng ngôn
ngữ độ người, đều là pháp hữu vi hư dối. Phật dùng lực phương
tiện nói là vô thỉ, vì lấy tâm không chấp trước mà nói, nên
người lãnh thọ cũng được không chấp trước; không chấp trước,
nên sanh nhàm chán.
Lại nữa, dùng trí
túc mạng thấy chúng sanh sống chết tương tục vô cùng, lúc ấy
là thật; còn nếu dùng mắt tuệ thời lại thấy chúng sanh và pháp
rốt ráo không; vì vậy nên nói vô thỉ không. Như trong Kinh
Bát-nhã ba-la-mật nói: Quán thường chẳng thật, quán vô thường
cũng chẳng thật; quán khổ chẳng thật, quán vui cũng chẳng
thật. Nhưng Phật bảo thường và vui là điên đảo, vô thường và
khổ là đế lý, bởi vì chúng sanh phần nhiều đắm trước thường và
vui, không đắm trước vô thường và khổ; vì vậy lấy đế lý vô
thường và khổ phá điên đảo thường vui. Vậy nên nói vô thường,
khổ là đế lý. Nếu chúng sanh lại đắm trước vô thường, khổ,
thời Phật nói vô thường, khổ cũng không; hữu thỉ vô thỉ cũng
như vậy. Vô thỉ có thể phá điên đảo chấp trước thỉ, nếu chấp
trước vô thỉ thời lại cho vô thỉ là không; ấy gọi là vô thỉ
không.
Hỏi:
Pháp hữu thỉ cũng là tà kiến nên phải phá; cớ sao chỉ phá vô
thỉ?
Đáp: Hữu
thỉ là lầm to, vì cớ sao? Vì nếu hữu thỉ thì thân ban đầu
không có nhân duyên của tội phước mà lại sanh chỗ lành chỗ dữ.
Nếu từ nhân duyên của tội phước mà sanh ra, thời không gọi là
thân ban đầu, vì sao? Vì nếu có tội phước thời từ thân trước
thọ thân sau; nếu thế gian vô thỉ, thời không có lỗi như vậy.
Thế nên Bồ-tát trước đã lìa bỏ tà kiến thô ác ấy; thường tập
dùng vô thỉ nghĩ tới chúng sanh nên nói vô thỉ; thường thực
hành pháp nhân duyên nên nói pháp vô thỉ; vì chưa được nhất
thiết trí, nên hoặc đối với vô thỉ bị sai lầm; vì vậy nên nói
vô thỉ không.
Lại nữa, vô thỉ đã
phá hữu thỉ, không cần lấy không phá hữu thỉ, còn nay muốn phá
vô thỉ, nên nói vô thỉ không.
Hỏi: Nếu
vô thỉ phá hữu thỉ, thời hữu thỉ cũng có thể phá vô thỉ, cớ
sao ông chỉ lấy không phá vô thỉ?
Đáp: Hai
cái đó đều là tà kiến, mà có sai khác. Hữu thỉ là nhân duyên
khởi lên các tà kiến phiền não, vô thỉ thời là nhân duyên khởi
lên từ bi và chánh kiến, vì cớ sao? Vì nghĩ tới chúng sanh thọ
khổ não từ đời vô thỉ mà khởi tâm từ bi, biết từ thân lần lữa
sanh thân, tiếp nối không dứt, bèn biết quả báo tội phước nên
sanh chánh kiến. Nếu người không chấp trước vô thỉ, thì tức là
thiện pháp trợ đạo; nếu thủ tướng sanh đắm trước, thì tức là
tà kiến, như thường kiến, vô thường kiến. Hữu thỉ kiến tuy phá
vô thỉ kiến, nhưng không thể rốt ráo phá vô thỉ, mà vô thỉ có
thể rốt ráo phá hữu thỉ, cho nên vô thỉ là thắng; như thiện
phá bất thiện, bất thiện phá thiện, tuy phá lẫn nhau, mà thiện
có thể rốt ráo phá ác, như khi chứng được hiền thánh đạo, vĩnh
viễn không còn làm ác. Ác pháp thì không thế, vì thế lực nhỏ
mỏng; như người tuy khởi tội ngũ nghịch, dứt thiện căn, đọa
địa ngục, nhân duyên lâu không quá một kiếp được thoát khỏi
địa ngục, cuối cùng thành đạo quả. Vô thỉ, hữu thỉ hơn kém
không đồng cũng như vậy. Vì lực vô thỉ lớn, nên hay phá hữu
thỉ, vì vậy không nói hữu thỉ không.
11.
Tán không:
Tán là tướng lìa biệt, như các pháp hòa hợp nên có, như xe do
thùng, gọng, tăm, vành, hợp lại thành, nếu lìa rồi mỗi cái mỗi
nơi, thời mất tên xe; do năm uẩn hòa hợp nên gọi là người, nếu
năm uẩn lìa biệt, thời người chẳng có được.
Hỏi: Nói
như vậy chỉ phá giả danh mà không phá sắc, cũng như lìa tán,
gọng, thùng thời có thể phá tên xe, chứ không phá gọng, thùng.
Tán không cũng như vậy; chỉ lìa tán năm uẩn, co thể phá người,
mà không phá năm uẩn sắc...?
Đáp:
Sắc... cũng là giả danh đều bị phá, vì sao? Vì do vi trần hòa
hợp giả danh là sắc?
Hỏi: Tôi
không lấy vi trần, chỉ lấy cái thấy được là sắc, ấy thật là
có, cớ sao khi nó phân tán ra là không?
Đáp: Nếu
trừ vi trần, tứ đại hòa hợp làm nhân duyên sanh ra sắc có thể
thấy, cũng là giả danh, như gió bốn phương hòa hợp quạt nước
làm nổi bọt, tứ đại hòa hợp thành sắc cũng như vậy, nếu ly tán
tứ đại thời không có sắc.
Lại nữa, sắc ấy do
hương, vị, xúc và bốn đại hòa hợp, cho nên có sắc có thể thấy;
nếu trừ hương, vị, xúc... không còn có sắc riêng, lấy trí phân
biệt, mỗi mỗi ly tán, sắc không thể có được. Nếu sắc thật có
thì bỏ các pháp ấy, nên riêng có sắc, nhưng lại không riêng
có, cho nên Kinh nói: Sắc có đều do tứ đại hòa hợp mà có, hòa
hợp có nên đều là giả danh, giả danh nên có thể ly tán.
Hỏi: Sắc
uẩn giả danh nên có ly tán, còn bốn uẩn kia không sắc, cớ sao
ly tán?
Đáp: Bốn
uẩn cũng là giả danh, vì quán thấy sanh, già, trụ, diệt, ly
tán trở thành không, vì sao? Vì khi sanh khác, khi già khác,
khi trụ khác, khi diệt khác.
Lại nữa, trong ba
đời quán thấy bốn uẩn ấy cũng đều tán diệt. Lại nữa, tâm theo
cảnh sở duyên, duyên diệt thời diệt, duyên phá thời phá.
Lại nữa, bốn uẩn ấy
bất định, tùy duyên sanh, ví như lửa tùy ở chỗ đốt mà gọi tên;
nếu lìa chỗ đốt thời lửa không thể có được. Nhân mắt duyên sắc
sanh nhãn thức, nếu lìa sắc sở duyên thời thức không thể có
được. Các căn thức khác cũng như vậy, như trong Kinh nói: Phật
bảo La-đà, sắc uẩn ấy phá hoại tán diệt làm cho không có gì,
bốn uẩn kia cũng như vậy; ấy gọi là tán không.
Lại nữa, thí như
trẻ con nhóm đất làm lâu đài, thành quách, xóm lành, nhà cửa,
hoặc gọi là gạo, là bún, ưa đắm thủ hộ, sớm tối đem theo, khi
tâm nói lìa bỏ thì đạp phá tán diệt. Người phàm phu cũng như
vậy; vì chưa lìa dục, sanh tâm ưa đắm các pháp; nếu đã lìa dục
thì thấy các pháp đều tán hoại vứt bỏ; ấy gọi là tán không.
Lại nữa, vì các
pháp tập hợp, có tên gọi riêng; người phàm phu chạy theo tên
gọi, sanh tâm điên đảo nhiễm trước. Phật thuyết pháp dạy quán
sự thật của nó. chớ chạy theo tên gọi, có và không đều không;
như kinh Ca-chiên-diên nói: quán Tập đế thời không vô kiến,
quán Diệt đế thời không hữu kiến; các nhân duyên như vậy, ấy
gọi là tán không.
12.
Tánh không:
Các pháp tánh thường không, nhờ tương tục nên in tuồng chẳng
không; ví như nước tánh vốn lạnh, nhờ lửa nên nóng; ngưng lửa
lâu thời nước trở lại lạnh. Các pháp tánh cũng như vậy; khi
chưa sanh, rỗng không không có gì; như nước tánh thường lạnh,
các pháp nhờ các duyên hòa hợp nên có; như nước được lửa thành
nóng. Các duyên hoặc ít hoặc không có, thời không có pháp; như
lửa tắt thời nước nóng thành lạnh; như Kinh nói: con mắt
không, vô ngã, vô ngã sở, vì sao? Vì tánh nó tự như vậy: tai,
mũi, lưỡi, thân, ý, sắc cho đến pháp, cũng đều như vậy.
Hỏi:
Kinh ấy nói ngã, ngã sở không, ấy là nói chúng sanh không
không phải nói pháp không, làm sao chứng minh tánh không?
Đáp:
Trong ấy, chỉ nói tánh không, không nói chúng sanh không và
pháp không. Tánh không có hai: 1. Trong mười hai nhập không
ta, không của ta. 2. Tướng mười hai nhập tự không; còn không
ta, không của ta, là trong luận Thanh văn nói. Trong pháp Ðại
thừa nói: chính mười hai nhập, ta, của ta không có nên không,
mười hai nhập, tánh không có, nên không.
Lại nữa, nếu không
có ta, không của ta thì tự nhiên được pháp không. Vì người ta
chấp trước ta, của ta nên Phật chỉ nói không ta, không của ta.
Như vậy, phải nên biết hết thảy pháp không. Nếu ta, của ta còn
không chấp trước, huống chi pháp khác. Vì vậy, chúng sanh
không, pháp không, cuối cùng quy về một nghĩa, gọi là tánh
không.
Lại nữa, tánh là tự
có, không nhờ nhân duyên, nếu nhờ nhân duyên thì là pháp có
tạo tác, không gọi là tánh. Trong các pháp đều vô tánh, vì
sao? Vì hết t