---o0o---
Tập 2
Cuốn 28
Chương 40
Giải Thích: Sáu Thần
Thông
Kinh:
Bồ-tát ma-ha-tát muốn trú ở sáu
thần thông, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Như đã nói trong
phẩm Tán thán Bồ-tát, các Bồ-tát đều được năm thần thông, nay
vì sao nói muốn trú ở sáu thần thông?
Ðáp:
Năm thông là sở đắc của Bồ-tát, nay muốn trú sáu thần thông là
sở đắc của Phật. Nếu Bồ-tát được sáu thần thông thật, thời có
thể đưa đến nạn vấn như thế.
Hỏi:
Trong phẩm Vãng sanh nói: Bồ-tát trú ở sáu thần thông, đi đến
các nước Phật, sao nay nói Bồ-tát đều được năm thông?
Đáp:
Lậu tận thông thứ sáu có hai thứ: 1. Lậu và tập khí đều hết.
2. Lậu hết mà tập khí chẳng hết. Tập khí không hết nên nói đều
được năm thông, lậu hết nên nói trú ở sáu thần thông.
Hỏi:
Nếu Bồ-tát đã hết lậu, tại sao còn sanh? tại sao thọ sanh? Hết
thảy sự thọ sanh đều do ái tương tục nên có, ví như gạo tuy có
được ruộng tốt, gieo đúng thời, tưới tẩm, cũng không thể mọc
được. Các bậc thánh nhân đã thoát khỏi lớp vỏ ái, tuy có nhân
duyên của nghiệp hữu lậu sanh, cũng không thể sanh được?
Đáp:
Trước đã nói, Bồ-tát vào pháp vị, trú ở địa vị bất thối
chuyển, hết nhục thân cuối cùng, được pháp tánh sanh thân; tuy
đã dứt các phiền não, mà còn nhân duyên của tập khí phiền não,
nên thọ pháp tánh sanh thân, chứ chẳng phải sanh ở ba cõi.
Hỏi:
A-la-hán phiền não đã hết, tập khí cũng chưa hết vì sao không
sanh?
Đáp:
A-la-hán không có tâm đại từ bi, không có bổn thể nguyện độ
hết thảy chúng sanh; lại lấy việc tác chứng thật tế, đã lìa
sanh tử.
Lại nữa, trước đã đáp có hai thứ
lậu hết, trong đây không nói Bồ-tát được Lậu tận thông, chỉ tự
nói người muốn được sáu thần thông, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Nghĩa của sáu thần thông như Phật nói ở phẩm sau. Phẩm Tán
thán Bồ-tát trên kia, cũng đã nói nghĩa năm thần thông của
Bồ-tát.
Hỏi:
Thần thông có thứ lớp thế nào?
Ðáp:
Bồ-tát lìa năm dục, được các thiền, có từ bi nên vì chúng sanh
mà thủ lấy thần thông, hiện các việc hy hữu kỳ lạ, khiến chúng
sanh tâm được thanh tịnh, vì cớ sao? Vì nếu không có việc hy
hữu thời không thể khiến nhiều chúng sanh đắc độ.
1.Ðại Bồ-tát suy nghĩ như vậy
rồi, buộc tâm vào chỗ hư không trong thân, diệt tướng sắc thô
trọng, thường thủ lấy tướng rỗng nhẹ, phát tâm đại dục tinh
tấn, trí tuệ trù lượng, thử sức tâm có thể cất nổi thân chưa?
Trù lượng rồi, tự biết sức tâm lớn, có thể cất nổi thân, ví
như học bay, thường bỏ tướng sắc thô trọng mà thường tu tập
theo tướng rỗng nhẹ, bấy giờ liền bay được.
2.Cũng có thể biến hóa các vật,
khiến đất thành nước, nước thành đất, gió thành lửa, lửa thành
gió, các đại như vậy, đều làm cho nó chuyển đổi, khiến vàng
thành ngói gạch, ngói gạch thành vàng, các vật như vậy, đều
khiến biến hóa. Muốn biến đất thành nước, thường tu tập niệm
tưởng nước làm cho nhiều hơn, không còn niệm tưởng tướng đất,
khi ấy tướng đất theo như niệm tưởng biến thành nước; các vật
như vậy, đều có thể biến hóa.
Hỏi:
Nếu như vậy thì có khác gì với tu nhất thiết nhập?
Đáp:
Tu nhất thiết nhập là bước đầu của thần thông. Trước đã được
nhất thiết nhập, tám bội xả, tám thắng xứ, làm cho tâm nhu
nhuyến chiếc phục, vậy sau mới dễ vào thần thông.
Lại nữa, trong nhất thiết nhập,
chỉ riêng mình tự thấy đất biến thành nước, còn người khác
không thấy, trong thần thông thời không vậy, tự thấy thật là
nước, người khác cũng thấy thật là nước.
Hỏi:
Nhất thiết nhập cũng là đại định, cớ sao không khiến thành là
nước thật cho mình và người đều thấy?
Đáp:
Ðối tượng của pháp quán nhất thiết nhập rộng, nên chỉ có thể
làm cho tất cả thành nước, mà không thể làm cho thật là nước.
Còn thần thông không thể khắp tất cả chỗ, mà chỉ có thể khiến
đất chuyển thành nước, bèn thành nước thật, vì vậy nên hai
định lực khác nhau.
Hỏi:
Việc biến hóa của hai định ấy là thật hay là hư? Nếu thật, làm
sao đá thành vàng, đất thành nước? Nếu hư, tại sao thánh nhân
mà làm việc không thật?
Đáp:
Ðều thật, thánh nhân không hư, vì đã nhổ hết ba độc, và vì các
pháp không có tướng nhất định, nên có thể chuyển đất thành
nước… như sáp, keo là loại đất mà gặp lửa thời tiêu ra nước,
thành tướng ướt. Nước gặp lạnh thời kết thành băng, là tướng
cứng, nhựa đá thành vàng, vàng hỏng thành đồng hoặc trở lại
đá. Chúng sanh cũng như vậy, ác có thể thành thiện, thiện có
thể thành ác, vì vậy nên biết hết thảy pháp không có tướng
nhất định. Dùng sức thần thông biến hóa, là thật chứ không
dối. Nếu pháp vốn có tướng nhất định, thời không thể biến.
3.Thần thông của các hiền thánh,
tùy ý tự tại đối với sáu trần, thấy đẹp có thể sanh ý tưởng
chán, thấy xấu có thể sanh ý tưởng vui, cũng có thể lìa ý
tưởng đẹp xấu mà hành tâm xả, ấy gọi là ba loại thần thông.
Thần thông tự tại này, chỉ Phật mới đầy đủ. Bồ-tát được thần
thông dạo qua các nước Phật, đối với ngôn ngữ bất đồng của các
nước khác nhau và đối với âm thanh của chúng sanh vi tế, xa
xôi không nghe được, nên cầu có Thiên nhỉ thông. Thường nhớ
nghĩ đến nhiều loại tiếng lớn, thủ lấy tướng ấy tu hành,
thường tu tập, nên được có tai tạo thành bởi sắc thanh tịnh
của tứ đại cõi Sắc, được rồi, bèn nghe xa đối với âm thanh
người, trời, thô, tế, xa, gần đều thông suốt không ngăn ngại.
Hỏi:
Như trong Thiền kinh nói: Trước hết được Thiên nhãn, thấy
chúng sanh mà không nghe được tiếng nó, nên cầu được Thiên nhĩ
thông. Ðược Thiên nhãn, Thiên nhĩ thấy biết được thân hình, âm
thanh của chúng sanh, mà không hiểu được ngôn ngữ, các lời lo,
mừng, khổ, vui, nên cầu được trí từ vô ngại. Chỉ biết lời nó
mà không biết được tâm nó, nên cầu được trí biết Tha tâm. Biết
tâm nó mà chưa biết nó từ đâu đến, nên cầu được Túc mạng
thông. Ðã biết từ đâu đến, lại muốn trị tâm bệnh của nó nên
cầu được Lậu tận thông. Ðược đầy đủ năm thông rồi, mà không
thể biến hóa cho nên việc độ thoát chưa rộng, không thể hàng
phục người tà kiến, người đại phúc đức, nên cầu được thần
thông Như ý. Thứ lớp phải như vậy, cớ sao đây nói trước tiên
cầu thần thông Như ý?
Đáp:
Chúng sanh kẻ thô thì nhiều, kẻ tế thì ít, cho nên trước dùng
thần thông Như ý, thần thông Như ý gồm được cả thô tế, độ
người được nhiều nên nói trước.
Lại nữa, các thần thông được
pháp khác nhau, số pháp khác nhau. Ðược pháp nhiều thì trước
cầu Thiên nhãn, vì dễ được. Hành giả dùng các ánh sáng mặt
trời, mặt trăng, sao, ngọc, lửa… thủ lấy tướng sáng của nó,
thường siêng tinh tấn, khéo tu tập, ngày đêm không đổi khác,
hoặc trên hoặc dưới, hoặc trước hoặc sau, đồng nhất sáng suốt,
không bị ngăn ngại, khi ấy bắt đầu được Thiên nhãn thần thông.
Các thần thông khác thứ lớp được, như vừa nói.
Lại nữa, Phật như chỗ tự chứng
được mà thứ lớp nói cho người. Phật đầu đêm được một thông một
minh, đó là Như ý thông và Túc mạng minh; giữa đêm được Thiên
nhĩ thông và Thiên nhãn minh; cuối đêm được Tha tâm trí thông
và Lậu tận minh. Cầu được minh phải dụng công nhiều nên nói
sau. Thông và minh thứ lớp được, như bốn quả Sa-môn, quả lớn
thì ở sau.
Hỏi:
Nếu Thiên nhãn dễ được nên ở trước, sao Bồ-tát không trước
được Thiên nhãn?
Đáp:
Bồ-tát đối với các pháp đều dễ không khó, còn người khác vì
độn căn nên có khó có dễ.
Lại nữa, đầu đêm ma vương đến
muốn chiến đấu với Phật, Bồ-tát dùng sức thần thông biến hóa
các thứ làm cho binh khí của ma đều thành anh lạc, hàng ma
xong, tiếp nghĩ đến thần thông muốn cho đầy đủ. Móng tâm liền
vào, liền được đầy đủ thần thông. Hàng ma xong, tự nghĩ một
thân làm sao được sức lớn? Bèn cầu Túc mạng minh, tự biết do
năng lực phước đức đã tích tụ nhiều đời. Giữa đêm ma liền đi
xa, vắng lặng không tiếng, vì thương xót tất cả, nghĩ tới
tiếng chúng ma, phát sanh Thiên nhỉ thông và Thiên nhãn minh.
Dùng Thiên nhĩ ấy, nghe tiếng khổ vui của chúng sanh trong
mười phương năm đường. Nghe tiếng xong muốn thấy hình nó mà bị
ngăn che không thấy nên cầu được Thiên nhãn. Lúc cuối đêm đã
thấy thân hình chúng sanh lại muốn biết tâm nó, nên cầu Tha
tâm trí. Biết tâm chúng sanh đều muốn lìa khổ cầu vui, nên
Bồ-tát cầu Lậu tận thông. Trong các thứ vui, vui Lậu tận hơn
hết, nên làm cho chúng sanh chứng được.
Hỏi:
Bồ-tát đã được vô sanh pháp nhẫn, đời đời thường được quả báo
thần thông, sao nay tự nghỉ, đã thấy chúng sanh mà không biết
tâm nó?
Ðáp:
Có hai hạng Bồ-tát: 1. Pháp tánh sanh thân Bồ-tát. 2. Vì độ
chúng sanh nên phương tiện chịu làm thân theo phép tắc của con
người, sanh vào nhà vua Tịnh phạn, ra dạo bốn cửa thành, hỏi
người già, bệnh, chết, làm vị Bồ-tát ngồi dưới cây thọ vương,
đầy đủ sáu thần thông.
Lại nữa, Bồ-tát thần thông,
trước đã có mà chưa đầy đủ, nay đầu đêm, giữa đêm, cuối đêm
chứng được, ấy là Phật thần thông. Làm theo phép tắc của con
người nên tự nghi, không có lỗi.
Hỏi:
Theo thứ lớp sáu thần thông, thì nên trước hết là Thiên nhãn,
cuối cùng là Lậu tận thông. Song cũng có khi không theo thứ
lớp như vậy chăng?
Đáp:
Phần nhiều trước có Thiên nhãn, sau là Lậu tận trí, hoặc có
khi tùy chỗ ưa tu mà được Thiên nhĩ trước hoặc thần túc trước.
Có người nói, ở Sơ thiền, Thiên
nhĩ dễ được, vì có bốn tâm được giác quán (nhãn,
nhĩ, thân, ý thức – N.D); ở Nhị thiền, Thiên nhãn
dễ được, vì nhãn thức không có, tâm thu nhiếp không tán loạn;
ở Tam thiền, Như ý thông dễ được, vì thân thụ hưởng khoái lạc;
ở Tứ thiền, các thông đều dễ được, vì là chỗ hết thảy an ổn.
Nghĩa của Túc mạng, Tha tâm, Lậu
tận như trong đoạn Mười lực đã nói.
Kinh:
Muốn biết hết thảy chúng sanh tâm
xu hướng về đâu, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Trong sáu thông đã
nói thần thông biết Tha tâm, sao nay còn nói lại?
Đáp:
Cảnh giới của Tha tâm thông ít, chỉ biết được tâm tâm số pháp
của chúng sanh hiện tại ở cõi Dục cõi Sắc, chứ không biết được
tâm tâm số pháp của chúng sanh ở quá khứ, vị lai và ở cõi Vô
sắc. Phàm phu thông đối với Tứ thiền địa trên, tùy theo chỗ
được thần thông trở xuống, biết khắp được tâm tâm số pháp của
chúng sanh trong bốn châu thiên hạ; Thanh văn thông đối với Tứ
thiền trên, tùy theo chỗ được thần thông trở xuống, biết khắp
được tâm tâm số pháp của chúng sanh trong ngàn thế giới.
Bích-chi Phật thông, đối với Tứ thiền địa trên, tùy theo chỗ
được thần thông trở xuống, biết khắp được tâm tâm số pháp của
chúng sanh trong trăm ngàn thế giới. Người độn căn ở địa trên
không thể biết tâm tâm số pháp của người lợi căn ở địa dưới;
phàm phu không biết được tâm tâm số pháp của Thanh văn, Thanh
văn không biết được tâm tâm số pháp của Bích-chi Phật;
Bích-chi Phật không biết được tâm tâm số pháp của Phật. Vì vậy
nên nói muốn biết hết thảy chúng sanh tâm hành hướng về đâu,
nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Hỏi:
Lấy trí gì mà biết được tâm tâm số pháp của hết thảy chúng
sanh?
Đáp:
Các đức Phật có giải thoát vô ngại, vào trong giải thoát ấy có
thể biết được tâm tâm số pháp của hết thảy chúng sanh. Các đại
Bố-tát được giải thoát vô ngại tương tợ, cũng có thể biết tâm
tâm số pháp của hết thảy chúng sanh. Tân học Bồ-tát muốn được
giải thoát vô ngại của đại Bồ-tát ấy và của Phật, dùng giải
thoát vô ngại ấy mà biết tâm tâm số pháp của hết thảy chúng
sanh. Ðại Bồ-tát thì muốn được giải thoát vô ngại của Phật,
nên tuy đã nói biết Tha tâm thông, nay còn nói muốn biết hết
thảy chúng sanh tâm xu hướng về đâu, nên học Bát-nhã
ba-la-mật.
Hỏi:
Tâm xu hướng về đâu, tâm có đi hay không đi? Nếu có đi, thời ở
đây không có tâm, giống như người chết; nếu không đi thời làm
sao biết được? Như Phật nói, nương ý duyên pháp mà có ý thức
sanh ra, nếu ý không đi thời không hòa hợp (với
pháp – N.D)?
Đáp:
Tâm không đi không ở mà có thể biết, như trong kinh Bát-nhã
ba-la-mật nói: Hết thảy pháp không có tướng đi đến, làm sao
nói tâm có đi đến? Lại nói các pháp khi sanh không từ đâu đến,
khi diệt không đi đâu, nếu có đến đi tức rơi vào thường kiến.
Các pháp không có tướng nhất định. Vì vậy nên chỉ do trong sáu
căn ngoài sáu trần hòa hợp sanh sáu thức, và sanh sáu thọ, sáu
tưởng, sáu tư. Do vậy, nên tâm như huyễn hóa, có thể biết tâm
tâm số pháp của hết thảy chúng sanh, mà không có người biết,
không có người thấy. Như trong phẩm Tán thán Ðại thừa nói: Nếu
tâm tâm số pháp của hết thảy chúng sanh, tánh thật có không hư
dối, thời Phật không thể biết tâm tâm số pháp của hết thảy
chúng sanh; vì tâm tâm số pháp của hết thảy chúng sanh, tánh
thật hư dối, không đến không đi, nên Phật biết được tâm tâm số
pháp của hết thảy chúng sanh. Ví như Tỳ-kheo người tham cầu
thì không được cúng dường, người không tham cầu thời không
thiếu thốn chi. Tâm cũng như vậy, nếu phân biệt thủ tướng,
thời không được thật tướng pháp, không được thật tướng pháp,
thời không thể thông suốt biết tâm tâm số pháp của hết thảy
chúng sanh. Nếu không thủ tướng, không phân biệt, thời được
thật tướng pháp, được thật tướng pháp nên có thể thông suốt
biết tâm tâm số pháp của hết thảy chúng sanh không ngăn ngại.
Hỏi:
Các tâm của tất cả chúng sanh có thể biết được hết ư? Nếu biết
hết thời chúng sanh có biên giới, nếu không biết thì cớ sao
nói muốn biết hết thảy chúng sanh tâm xu hướng về đâu? Làm sao
Phật có được nhất thiết chủng trí?
Đáp:
Tâm tâm số pháp của tất cả chúng sanh, có thể biết hết được,
vì cớ sao? Vì như trong Kinh nói: Trong tất cả người nói thật,
Phật là hơn cả. Nếu không thể biết tâm của hết thảy chúng sanh
đến tận biên tế, thì sao Phật nói biết hết? Cũng không gọi là
người nhất thiết trí, nhưng lời Phật nói đều thật, chắc chắn
phải thật có người nhất thiết trí.
Lại nữa, chúng sanh tuy vô biên
thì nhất thiết chủng trí cũng vô biên. Ví như hộp lớn nắp cũng
lớn. Nếu trí tuệ có biên mà chúng sanh vô biên, mới nên có vấn
nạn ấy. Nay trí tuệ và chúng sanh đều vô biên, thời vấn nạn
của ông sai.
Lại nữa, nếu nói hữu biên vô
biên, hai điều ấy ở trong Phật pháp bỏ qua không đáp. Mười bốn
việc ấy hư dối không thật, vì vô ích nên không nên cật nạn.
Hỏi:
Nếu hữu biên vô biên, đều không thật, nhưng Phật nhiều chỗ nói
vô biên, như nói chúng sanh có si ái trở lại đây vô thỉ vô
biên, mười phương cũng vô biên tế?
Đáp:
Chúng sanh vô biên, trí tuệ Phật vô biên, ấy là thật. Nếu ai
chấp trước vô biên, thủ tướng hý luận, Phật nói đó là tà kiến.
Ví như nói thế gian thường hoặc vô thường, cả hai đều điên
đảo, rơi vào trong mười bốn nạn vấn, nhưng Phật phần nhiều
dùng nghĩa vô thường để độ chúng sanh, ít dùng nghĩa hữu
thường. Nếu chấp trước vô thường, thủ tướng hý luận, thì Phật
nói đó là tà kiến hư vọng. Nếu không chấp trước vô thường,
biết vô thường tức là khổ, khổ tức là vô ngã, vô ngã tức là
không, được như vậy nương vô thường quán mà vào các pháp
không, bèn là thật. Vì vậy nên biết vô thường đứng vào trong
chân đế, là thật, đứng vào trong mười bốn nạn vấn, vì lý do
chấp trước, nên nói là tà kiến. Thế nên nói vô thường để rõ vô
biên, vô biên nên chúng sanh nhàm chán sanh tử dài lâu, ví như
bốn mươi Tỳ-kheo ở nước Ba-lê cùng tu mười hai tịnh hạnh, đi
đến chỗ Phật, Phật dạy cho hạnh yểm ly. Phật hỏi Tỳ-kheo: Năm
sông là Hằng-già, Lam-mâu-na, Tát-la-do, A-chỉ-la-bà-đề,
Ma-hê, từ chỗ phát nguyên chảy vào biển cả, nước trong biển ấy
nhiều hay ít? Tỳ-kheo thưa: rất nhiều! Phật nói: Chỉ một người
trong một kiếp, khi làm súc sanh bị giết, cắt, lột, hoặc khi
phạm tội bị cắt tay chân, chặt đầu, huyết chảy ra như vậy,
nhiều hơn nước biển kia. Như vậy trong vô biên đại kiếp, thọ
thân xuất huyết không thể kể xiết, kêu khóc rơi lệ và uống sữa
mẹ, cũng nhiều như vậy. Một người trong một kiếp chứa xương
chất quá hơn núi lớn Tỳ-phú-la (núi này người Thiên trúc
thường trông thấy, dễ tin, cho nên nói đến). Chịu khổ sanh tử
trong vô lượng kiếp như vậy.
Các Tỳ-kheo nghe như vậy, nhàm
ghét thế gian, tức thời đắc đạo.
Lại nữa, nghe nói mười phương
chúng sanh nhiều vô biên liền sanh tâm hoan hỷ thọ giới bất
sát được vô biên phước đức. Do nhân duyên ấy đối Bồ-tát mới
phát tâm, hết thảy chúng sanh trong thế gian đều nên cúng
dường, vì cớ sao? Vì độ chúng sanh trong vô biên thế giới, nên
công đức cũng vô biên, có lợi ích như vậy nên nói “Vô biên”.
Vì vậy nên nói biết hết thảy chúng sanh tâm xu hướng về đâu,
như mặt trời chiếu thiên hạ, một lúc cùng chiếu đến, khắp nơi
đều sáng.
Kinh:
Bồ-tát ma-ha-tát muốn hơn trí tuệ
của hết thảy Thanh văn, Bích-chi Phật, nên học Bát-nhã
ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Thế nào là trí tuệ
của Thanh văn, Bích-chi Phật?
Đáp:
Do tướng chung tướng riêng quán thật tướng các pháp, đó là trí
tuệ Thanh văn, như trong Kinh nói: Ðầu lấy trí tuệ phân biệt
các pháp, sau dùng trí tuệ Niết-bàn. Trí tuệ phân biệt các
pháp là tướng riêng, trí tuệ Niết-bàn là tướng chung.
Lại nữa, biết pháp ấy là mở,
pháp ấy là trói, là lưu chuyển, là trở về, là sanh, là diệt,
là vị ngọt, là tai họa, là nghịch, là thuận, là bờ này, là bờ
kia, là thế gian, là xuất thế gian, phân biệt các pháp theo
hai môn, gọi là trí tuệ Thanh văn.
Lại nữa, có ba thứ trí tuệ, là
biết năm thọ uẩn tập như vậy, tán như vậy, xuất như vậy; là vị
ngọt, là tai hoạn, là xuất ly. Trí tuệ tương ưng với ba giải
thoát môn. Như vậy phân biệt các pháp theo ba môn.
Lại nữa, có bốn thứ trí tuệ, là
trí về bốn niệm xứ; pháp trí; tỷ trí (loại trí), tha tâm trí,
thế trí; khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí; trí biết bất
tịnh, trí biết vô thường, trí biết khổ, trí biết vô ngã; trí
biết vô thường, trí biết khổ, trí biết không, trí biết vô ngã;
pháp trí, tỷ trí, tận trí, vô sanh trí. Như vậy phân biệt các
pháp theo bốn môn.
Lại nữa, từ khổ pháp trí nhẫn
tuệ cho đến Không không tam-muội, Vô tướng vô tướng tam muội,
Vô tác vô tác tam-muội trí, các trí tuệ có được ở khoảng trung
gian ấy đều là trí tuệ Thanh văn. Nói lược là nhàm chán thế
gian niệm tưởng Niết-bàn, ấy gọi là trí tuệ Thanh văn.
Lại nữa, như trong phẩm Bát-nhã
ba-la-mật nghĩa nói: tướng trí tuệ Bồ-tát và trí tuệ Thanh văn
là một trí tuệ. Chỉ vì Thanh văn không có phương tiện, không
có thệ nguyện rộng lớn trang nghiêm, không có tâm đại từ đại
bi, không cầu hết thảy Phật pháp, không cầu nhất thiết chủng
trí biết hết thảy pháp, chỉ nhàm chán già, bệnh, chết, dứt các
ái buộc ràng, thẳng đến Niết-bàn, ấy là khác.
Hỏi:
Thanh văn như vậy, còn trí tuệ Bích-chi Phật thế nào?
Đáp:
Trí tuệ Thanh văn tức là trí tuệ Bích-chi Phật, chỉ có sai
biệt là thời tiết, lợi căn, phước đức. Thời tiết là lúc không
có Phật ở đời cũng không có Phật pháp, do một ít nhân duyên
xuất gia đắc đạo, gọi là Bích-chi Phật. Lợi căn là khác, pháp
tướng là đồng, chỉ do trí tuệ vào sâu mà được đạo Bích-chi
Phật. Phước đức là có tướng, hoặc một tướng, hai tướng cho đến
31 tướng. Hoặc gặp được thánh pháp trong Phật pháp đời trước,
sau khi pháp diệt chứng thành A-la-hán, ấy gọi là Bích-chi
Phật, thân không có tướng hảo. Có vị Bích-chi Phật mau nhất là
tu hành bốn đời, lâu là tu hành trăm kiếp, như Thanh văn có vị
mau là ba đời lâu là 60 kiếp. Nghĩa này trước đã nói rộng.
Hỏi:
Như Phật nói bốn quả Sa-môn, bốn bậc thánh nhân, từ Tu-đà-hoàn
cho đến A-la-hán; năm hạng Phật tử, từ Tu-đà-hoàn cho đến
Bích-chi Phật; ba thứ Bồ-đề là Thanh văn Bồ-đề, Ðộc-giác
Bồ-đề, Phật Bồ-đề. Như vậy, trong quả, trong Thánh, trong Phật
tử, trong Bồ-đề đều không có Bồ-tát, tại sao nói Bồ-tát hơn
hết thảy Thanh văn, Bích-chi Phật trí tuệ?
Đáp:
Phật pháp có hai: 1. Thanh văn, Bích-chi Phật Phật pháp. 2.
Ðại thừa pháp. Pháp Thanh văn nhỏ nên chỉ tán thán việc Thanh
văn, không nói đến việc Bồ-tát; pháp Ðại thừa rộng lớn nên nói
việc của đại Bồ-tát là phát tâm, tu hành, mười địa, vào pháp
vị, tịnh quốc độ Phật, thành tựu chúng sanh, chứng được Phật
đạo. Trong pháp này nói, Bồ-tát ở dưới Phật, hãy nên như cúng
dường Phật. Hay quán các pháp tướng như vậy, ấy là phước điền,
hơn Thanh văn, Bích-chi Phật.
Như vậy, trong kinh Ðại thừa nơi
nơi đều tán thán trí tuệ đại Bồ-tát hơn Thanh văn, Bích-chi
Phật. Như trong kinh Bửu đảnh nói: Chuyển luân thánh vương
thiếu một không đủ ngàn người con, tuy có đại lực, mà chư
thiên, người đời không quí trọng. Còn giòng Chuyển luân thánh
vương thật, dù ở trong thai mới bảy ngày đầu, đã được chư
thiên quí trọng, vì sao? Vì 999 người con không thể nối được
dòng giống Chuyển luân thánh vương, làm sao người đời được vui
hiện tại và tương lai. Còn giòng Chuyển luân thánh vương thật,
tuy ở trong thai nhưng chắc chắn có thể nối ngôi Thánh vương,
cho nên được cung kính. Các A-la-hán, Bích-chi Phật cũng vậy,
tuy được năm căn, năm lực, bảy giác ý, tám thánh đạo, sáu thần
thông, các thiền định, lực trí tuệ, thật tế được chứng, làm
phước điền cho chúng sanh, mà mười phương chư Phật không quí
trọng. Bồ-tát tuy còn ở trong bào thai các kiết sử phiền não,
ba độc tham dục trói buộc, khi mới phát đạo tâm vô thượng chưa
có thể làm gì mà đã được chư Phật quí. Vì vị ấy dần dần sẽ
thực hành sáu Ba-la-mật, được lực phương tiện, vào địa vị
Bồ-tát, cho đến được nhất thiết chủng trí, độ vô lượng chúng
sanh, không dứt hạt giống Phật, hạt giống pháp, hạt giống
Tăng, không dứt mất nhân duyên của sự thanh tịnh an lạc cõi
trời, cõi người.
Lại như chim Ca-lăng-tần-già,
còn ở trong vỏ trứng đã phát ra âm thanh vi diệu hơn các loài
chim khác. Ðại Bồ-tát cũng như vậy. Tuy chưa ra khỏi vỏ vô
minh mà âm thanh thuyết pháp nghị luận hơn Thanh văn, Bích-chi
Phật và ngoại đạo, như trong kinh Minh võng nói: Tuệ mạng
Xá-lợi-phất bạch Phật rằng, bạch Thế Tôn! Các Bồ-tát thuyết
pháp, nếu ai hiểu được, được công đức lớn, vì sao? Vì cho đến
được nghe tên các Bồ-tát ấy cũng được lợi ích lớn, huống gì
được nghe các vị thuyết pháp. Bạch Thế Tôn! Ví như trồng cây,
không nương nơi đất mà muốn được gốc, cành, cọng, lá, thành
hoa quả, là điều khó được. Các Bồ-tát tu hành cũng như vậy,
không trú nơi hết thảy pháp mà hiện trú ở sanh tử, ở trong thế
giới chư Phật, tự tại vui nói pháp trí tuệ, ai nghe được pháp
do đại trí tuệ du hý tự tại vui nói ấy mà không phát tâm Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Bấy giờ trong hội có Phổ Hoa
Bồ-tát nói với Xá-lợi-phất: Trưởng lão là bậc trí tuệ đệ nhất
trong hàng đệ tử Phật, nay Trưởng lão đối pháp tánh các pháp
chẳng được chăng? sao không dùng đại trí tuệ tự tại vui thuyết
pháp?
Xá-lợi-phất nói:
Các đệ tử Phật, đúng như
cảnh giới của họ, thời có thể có thuyết pháp.
Phổ Hoa bồ-tát
lại hỏi: Pháp tánh có
cảnh giới không?
Xá-lợi-phất nói:
Không.
Nếu pháp tánh không có cảnh
giới, cớ sao Trưởng lão nói đúng như cảnh giới của họ thời có
thể có thuyết pháp?
Xá-lợi-phất nói:
Tùy chỗ pháp chứng được mà thuyết.
Phổ Hoa lại nói:
Trưởng lão lấy pháp tánh vô lượng tướng làm cảnh chứng ư?
Xá-lợi-phất nói:
Phải.
Phổ Hoa nói:
Sao nay nói tùy chỗ chứng
được mà thuyết? Như pháp tánh chứng được là vô lượng thời
thuyết cũng phải vô lượng, mà pháp tánh vô lượng thì chẳng
phải tướng lường được?
Xá-lợi-phất nói:
Pháp tánh chẳng phải tướng nắm bắt được.
Phổ Hoa nói:
Nếu pháp tánh chẳng phải
tướng nắm bắt được, thời ông lìa pháp tánh được giải thoát
chăng?
Xá-lợi-phất nói:
Không! vì sao? Vì pháp tánh là tướng không biến hoại.
Phổ Hoa nói:
Thánh trí mà ông chứng được cũng như pháp tánh ư?
Xá-lợi-phất nói:
Tôi muốn nghe pháp, chẳng phải lúc thuyết.
Phổ Hoa nói:
Hết thảy pháp nhất định ở trong pháp tánh, có ngườI nghe,
người nói ư?
Xá-lợi-phất nói:
Không.
Phổ Hoa nói:
Sao ông nói tôi muốn nghe pháp chẳng phải lúc thuyết.
Xá-lợi-phất nói:
Phật nói hai hạng người được phước vô lượng là người nhất tâm
thuyết pháp và người nhất tâm nghe pháp.
Phổ Hoa nói:
Ông vào trong diệt tận định, có thể nghe pháp chăng?
Xá-lợi-phất nói:
Này thiện nam tử! Trong diệt tận định không nghe pháp.
Phổ Hoa nói:
Ông tín thọ hết thảy pháp tướng thường tịch diệt chăng?
Xá-lợi-phất nói:
Tin việc ấy!
Phổ Hoa nói:
Pháp tánh thường tịch diệt nên không nghe pháp, vì sao? Vì các
pháp tướng thường tịch diệt.
Xá-lợi-phất nói:
Ông có thể không dậy khỏi định mà thuyết pháp chăng?
Phổ Hoa nói:
Không có Pháp nào chẳng phải tướng định.
Xá-lợi-phất nói:
Nếu như vậy, thời nay hết thảy phàm phu đều là thiền định?
Phổ Hoa nói:
Phải! Hết thảy phàm phu đều là thiền định.
Xá-lợi-phất nói:
Thiền định gì mà hết thảy phàm phu đều thiền định?
Phổ Hoa nói:
Vì tam-muội pháp tánh bất hoại, nên biết thảy phàm phu đều là
thiền định.
Xá-lợi-phất nói:
Nếu như vậy thời phàm phu với thánh nhân không khác gì nhau?
Phổ Hoa nói:
Tôi cũng không muốn khiến cho phàm phu và thánh nhân có sai
khác, vì sao? Vì thánh nhân không có pháp diệt, phàm phu cũng
không có pháp tánh. Hai tướng ấy đều không ra ngoài pháp tánh.
Xá-lợi-phất nói:
Thiện nam tử! Thế nào là
tướng pháp tánh?
Đáp:
Ðó là điều biết thấy của Trưởng lão lúc đắc đạo.
Lại hỏi: Sanh pháp thánh chăng?
- Không.
- Diệt pháp phàm phu chăng?
- Không.
- Ðược pháp tánh chăng?
- Không.
- Thấy biết pháp người phàm phu
chăng?
- Không.
- Vậy Trưởng lão dùng tri kiến
nào mà được thánh đạo?
Xá-lợi-phất nói:
Người phàm phu như (chân như), Tỳ-kheo được giải thoát như,
Tỳ-kheo vào Vô dư Niết-bàn như; như ấy một như như không sai
khác.
Phổ Hoa nói:
Xá-lợi-phất, ấy là tướng pháp tánh như, bất hoại như, dùng như
ấy sẽ biết hết thảy pháp đều như.
Xá-lợi-phất lại bạch Phật rằng:
Bạch Thế Tôn, ví như đống lửa lớn, không vật gì không đốt
cháy. Các thượng nhân ấy thuyết pháp cũng như vậy, hết thảy
pháp đều vào trong pháp tánh.
Lại như trong kinh Tỳ-ma-la-cật
nói: Các Thanh văn, Xá-lợi-phất... đều tự nói rằng: Tôi không
kham đến chỗ kia hỏi thăm bệnh được. Mỗi người tự nói vì trước
đã bị Tỳ-ma-la-cật quở mắng. Như vậy, trong các Kinh nói trí
tuệ Bồ-tát hơn Thanh văn, Bích-chi Phật.
Hỏi:
Nhân duyên gì mà trí tuệ Bồ-tát hơn Thanh văn, Bích-chi Phật?
Đáp:
Như trong kinh Diễn Bổn sanh nói: Trí tuệ Bồ-tát, từ vô lượng
A-tăng-kỳ kiếp lại đây, tập hợp các trí, trong vô lượng kiếp,
không khổ gì không hành, không khó gì không làm, chỉ vì cầu
pháp, nên nhảy vào lửa, nhảy từ núi cao, chịu khổ cắt lột, lấy
xương làm viết, lấy huyết làm mực, lấy da làm giấy, viết chép
kinh pháp, như vậy vì pháp nên thọ vô lượng khổ, vì trí tuệ
nên đời đời cúng dường thầy dạy pháp xem như Phật. Tất cả Kinh
sách đều đọc tụng, giải nói, trong vô lượng A-tăng-kỳ kiếp,
thường suy nghĩ trù lượng, tìm cầu các pháp tốt xấu, sâu cạn,
thiện chẳng thiện, lậu chẳng lậu, thường chẳng thường, có,
không... suy nghĩ phân biệt vấn nạn, vì trí tuệ nên cúng dường
chư Phật và Bồ-tát, Thanh văn, nghe pháp, vấn nạn, tín thọ,
ghi nhớ đúng, như pháp tu hành; nhân duyên trí tuệ đầy đủ như
vậy, làm sao không hơn A-la-hán, Bích-chi Phật?
Lại nữa, trí tuệ Bồ-tát, có năm
Ba-la-mật giúp đỡ trang nghiêm, có lực phương tiện, đối với
hết thảy chúng sanh có tâm từ bi, nên không bị tà kiến chướng
ngại. Trú trong mười địa, thế lực trí tuệ sâu lớn. Vì nhân
lớn nên hơn Thanh văn, Bích-chi Phật. Vì nhân lớn nên cái nhỏ
tự hoại. A-la-hán, Bích-chi Phật, không có việc ấy.
Vì vậy nên nói muốn hơn trí tuệ
Thanh văn, Bích-chi Phật, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Kinh:
Muốn được các Ðà-la-ni môn, các
Tam-muội môn, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận:
Ðà-la-ni như trong
chương Tán Bồ-tát đã nói:
Môn
là các pháp phương tiện để được đà-la-ni, như ba tam-muội gọi
là cửa giải thoát.
Thế nào là
phương tiện? Nếu người
muốn được giữ gìn những điều đã nghe, không mất, hãy nên nhất
tâm ghi nhớ, làm cho tâm ghi nhớ tăng trưởng, trước nên để ý
nơi việc tương tợ, buộc tâm khiến biết việc không thấy được,
như Châu-lợi Bàn-đà-ca, buộc tâm nơi tấm dẻ chùi giày, khiến
nghĩ nhớ thiền định mà trừ tâm nhơ cấu. Như vậy người bắt đầu
học Văn trì đà-la-ni, ba lần nghe có thể được, tâm căn dần dần
lanh lợi, thì hai lần nghe có thể được, khi thành tựu thì một
lần nghe có thể được, được rồi nhớ mãi không quên; ấy là
phương tiện ban đầu của Văn trì đà-la-ni.
Hoặc có khi Bồ-tát vào trong
thiền định, được môn giải thoát không quên, do năng lực giải
thoát không quên, do năng lực giải thoát không quên, mà hết
thảy ngôn ngữ thuyết pháp cho đến một câu một chữ, đều không
thể quên. Đó là phương tiện thứ hai. Hoặc có khi do năng lực
thần chú nên được Văn trì đà-la-ni. Hoặc có khi do hành nghiệp
nhân duyên đời trước, khi sanh ra nghe gì đều nhớ được không
quên. Như vậy gọi là cửa vào Văn trì đà-la-ni.
Lại nữa, Bồ-tát nghe hết thảy âm
thanh ngữ ngôn, phân biệt gốc ngọn, quán thật tướng nó, biết
âm thanh ngữ ngôn niệm niệm sanh diệt, âm thanh diệt rồi, mà
chúng sanh niệm niệm chấp thủ tướng, nhớ ngôn ngữ đã diệt ấy,
rồi nghĩ rằng, người đó mắng ta, liền sanh sân hận. Nghe ngợi
khen cũng như vậy. Bồ-tát quán chúng sanh được như vậy, tuy có
bị mắng nhiếc trăm ngàn kiếp, không sanh tâm giận, hoặc ngợi
khen trăm ngàn kiếp, cũng không vui mừng. Biết âm thanh sanh
diệt như tiếng vang. Lại như tiếng trống, không có ai làm. Nếu
không ai làm, là không có nơi chốn, rốt ráo không, chỉ lừa dối
tai người ngu; như vậy gọi là vào Âm thanh đà-la-ni.
Lại nữa, có đà-la-ni lấy hai
mươi bốn chữ mà thu nhiếp hết tất cả ngôn ngữ danh tự. Những
gì là hai mươi bốn chữ? Ðó là A-la-ba-giá-na..., A-đề (ban
đầu), A-nậu-ba-nại (bất sanh). Vị Bồ-tát tu hành đà-la-ni nghe
chữ “A” ấy, tâm liền vào tất cả pháp “ban đầu chẳng sanh”. Các
chữ như vậy, mỗi chữ theo chỗ nghe, đều đưa vào trong thật
tướng hết thảy các pháp; ấy gọi là
Tự nhập môn đà-la-na,
như trong phẩm Ma-ha-diễn nói các tự môn.
Lại nữa, Bồ-tát được các
tam-muội hết thảy ba đời sáng suốt không ngại, đối với mỗi
tam-muội được vô lượng vô số đà-la-ni. Như vậy hòa hợp gọi là
năm trăm đà-la-ni môn, ấy là tạng công đức thiện pháp của
Bồ-tát; như vậy gọi là đà-la-ni môn.
Các tam-muội
môn: Tam-muội có hai:
Tam-muội trong pháp Thanh văn; tam-muội trong pháp Ðại thừa.
Tam-muội
trong pháp Thanh văn:
là ba tam-muội.
Lại nữa, ba tam-muội là: Không
không tam-muội, Vô tướng vô tướng tam-muội, Vô tác vô tác
tam-muội.
Lại có ba tam-muội là có giác có
quán, không giác có quán, không giác không quán.
Lại có năm chi tam-muội, năm trí
tam-muội... ấy gọi là các tam-muội.
Lại nữa, hết thảy thiền định
cũng gọi là định, cũng gọi là tam-muội. Tứ thiền cũng gọi là
thiền, cũng gọi là định, cũng gọi là tam-muội. Trừ Tứ thiền,
các định khác cũng gọi là định, cũng gọi là tam-muội, cũng gọi
là thiền. Ðịnh ở trong mười địa, gọi là tam-muội.
Có người nói: Ở Dục giới địa
cũng có tam-muội, vì cớ sao? Vì trong Dục giới có hai mươi hai
đạo phẩm nên biết có tam-muội. Nếu không tam-muội thời không
thể được công đức thâm diệu ấy.
Lại nữa, trong ngàn câu hỏi có
câu hỏi này: Trong bốn thánh chủng, mấy hệ thuộc Dục giới, mấy
hệ thuộc Sắc giới, mấy hệ thuộc Vô sắc giới, mấy không hệ
thuộc? Ðáp: Tất cả nên phân biệt. Bốn thánh chủng hoặc hệ
thuộc Dục giới, hoặc hệ thuộc Sắc giới, hoặc hệ thuộc Vô sắc
giới, hoặc không hệ thuộc. Bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như
ý túc cũng như vậy. Do nghĩa đó nên biết ở Dục giới có
tam-muội. Nếu tâm tán loạn làm sao được pháp thượng diệu. Vì
vậy nên tam-muội đều có ở trong chín địa (từ
ngữ thú tạp cư địa đến phi phi tưởng xứ địa – N.D).
Các tam-muội như vậy, ở trong A-tỳ-đàm có phân biệt rộng.
Tam-muội
trong pháp Ðại thừa:
Từ Thủ-lăng-nghiêm tam-muội, cho đến tam-muội hư không tế giải
thoát không vướng mắc. Lại như tam-muội thấy hết thảy Phật,
cho đến hết thảy Như Lai giải thoát. Tu quán vô lượng vô số
Bồ-tát tam-muội, như Sư tử tần thân tam-muội...
Như có tam-muội tên là Vô lượng
tịnh. Bồ-tát được tam-muội này, hay thị hiện thân hết thảy
thanh tịnh.
Có tam-muội tên là Oai tướng.
Bồ-tát được tam-muội này, hay cướp mất oai đức mặt trời mặt
trăng.
Có tam-muội tên là Diệm sơn,
Bồ-tát được tam-muội này, hay cướp mất oai đức của Ðế-thích
Phạm thiên.
Có tam-muội tên là Xuất trần,
Bồ-tát được tam-muội này, hay diệt hết thảy ba độc cho đại
chúng.
Có tam-muội tên là Vô ngại
quang, Bồ-tát được tam-muội này, hay chiếu soi hết thảy cõi
Phật.
Có tam-muội tên là Không quên
hết thảy pháp. Bồ-tát được tam-muội này có thể ghi nhớ hết
thảy pháp Phật nói và giảng nói lại lời Phật cho người khác.
Có tam-muội tên là Tiếng như
sấm. Bồ-tát được tam-muội này, có thể dùng Phạm thanh nghe
khắp mười phương Phật quốc.
Có tam-muội tên là Làm vui thích
cho hết thảy chúng sanh. Bồ-tát được tam-muội này, hay làm cho
hết thảy người có thâm tâm hoan hỷ.
Có tam-muội tên Ưa thấy không
chán. Bồ-tát được tam-muội này, hết thảy chúng sanh ưa thấy ưa
nghe không biết nhàm chán.
Có tam-muội tên là Quả báo công
đức vui trong một duyên không thể nghĩ bàn. Bồ-tát được
tam-muội này, thành tựu hết thảy thần thông.
Có tam-muội tên là Biết hết thảy
âm thanh ngữ ngôn. Bồ-tát được tam-muội này có thể nói hết
thảy âm thanh ngữ ngôn, trong một chữ nói ra hết thảy chữ,
trong hết thảy chữ nói ra một chữ.
Có tam-muội tên là Nhóm hết thảy
phước đức nghiệp quả báo sanh. Bồ-tát được tam-muội này,
thường im lặng nhập định, mà vẫn khiến chúng sanh nghe âm
thanh sáu Ba-la-mật, pháp chúng của Phật, Thanh văn, Bích-chi
Phật, mà vị Bồ-tát ấy thật không nói một lời.
Có tam-muội tên là Vượt cao hết
thảy đà-la-ni vương. Bồ-tát được tam-muội này thì được vào vô
lượng vô biên các đà-la-ni.
Có tam-muội tên là Hết thảy vui
nói. Bồ-tát được tam-muội này vui nói hết thảy chữ, hết thảy
âm thanh, ngữ ngôn, thí dụ, nhân duyên. Như vậy là vô lượng
tam-muội thế lực.
Hỏi:
Tam-muội ấy chính là cửa
tam-muội chăng?
Đáp:
Tam-muội chính là cửa tam-muội.
Hỏi:
Nếu như vậy, sao không chỉ nói tam-muội, mà còn nói cửa
tam-muội?
Đáp:
Tam-muội của chư Phật vô lượng vô số như hư không vô biên,
Bồ-tát làm sao được hết. Bồ-tát nghe đến tam-muội ấy tâm liền
thối mất, vì vậy Phật nói cửa tam-muội. Vào trong một cửa, thu
nhiếp vô lượng tam-muội. Như cầm một góc áo, liền được cả áo;
cũng như bắt được ong chú, cả bầy ong đều gom hết.
Lại nữa, triển chuyển làm cửa,
như trì giới thanh tịnh, một lòng tinh tấn, đầu đêm cuối đêm,
thường tu tư duy, lìa năm dục lạc, buộc tâm một chỗ. Hành
phương tiện ấy, được tam-muội ấy, ấy gọi là cửa tam-muội.
Lại nữa, tam-muội thuộc Dục
giới, là cửa tam-muội Vị đáo địa; tam-muội Vị đáo địa là cửa
tam-muội Sơ thiền; tam-muội Sơ thiền và Nhị thiền biên địa là
cửa vào tam-muội Nhị thiền, cho đến tam-muội Phi hữu tưởng phi
vô tưởng xứ cũng như vậy.
Noãn pháp định là cửa vào
tam-muội đảnh pháp; đảnh pháp là cửa vào tam-muội nhẫn pháp;
nhẫn pháp là cửa vào tam-muội thế đệ nhất pháp; thế đệ nhất
pháp là cửa vào tam-muội khổ pháp nhẫn; khổ pháp nhẫn... cho
đến là cửa vào tam-muội Kim cang.
Lược nói, hết thảy tam-muội có
ba tướng là nhập, trú, xuất. Tướng xuất, tướng nhập gọi là
cửa, tướng trú là thể tam-muội. Các pháp như vậy là tam-muội
trong pháp Thanh văn.
Cửa tam-muội trong pháp Ðại
thừa, như các tam-muội trong Thiền ba-la-mật nghĩa, đã phân
biệt nói rộng.
Lại nữa, Thi-la ba-la-mật là cửa
tam-muội, vì sao? Vì ba chi là Phật đạo, đó là giới chi, định
chi, tuệ chi. Giới chi thanh tịnh là cửa của định chi, vì giới
hay sanh định; định chi hay sanh tuệ chi. Ba chi ấy hay dứt
phiền não, hay cho Niết-bàn, vì vậy Thi-la ba-la-mật và trí
tuệ là cửa gần của tam-muội. Còn ba Ba-la-mật kia, tuy có
nghĩa cửa mà là cửa xa, như do bố thí được phước đức, có phước
đức nên sở nguyện thành tựu, được sở nguyện thành tựu nên tâm
nhu nhuyến, tâm từ bi nên biết sợ tội, biết nghĩ tới chúng
sanh, quán thế gian không, vô thường, nên nhiếp tâm hành nhẫn
nhục; nhẫn nhục cũng là cửa tam-muội.
Tinh tấn là chế tâm đối với năm
dục trừ năm triền cái, nhiếp tâm không loạn, tâm đi thời thu
lại không cho chạy loạn, là cửa tam-muội.
Lại nữa, Sơ địa là cửa vào
tam-muội Nhị địa. Như vậy triển chuyển cho đến cữu địa là cửa
vào tam-muội Thập địa. Thập địa là cửa vào tam-muội của vô
lượng chư Phật. Như vậy mỗi mỗi làm cửa tam-muội.
Hỏi:
Ðà-la-ni môn và tam-muội môn là đồng hay là khác? Nếu đồng,
sao còn nói lại. Nếu khác, nghĩa đó thế nào?
Đáp:
Trước đã nói tam-muội môn và đà-la-ni môn khác nhau, nay sẽ
nói lại: Tam-muội chỉ là pháp tương ưng với tâm, còn đà-la-ni
cũng tương ưng với tâm, cũng không tương ưng với tâm.
Hỏi:
Sao biết đà-la-ni không tương ưng với tâm?
Đáp:
Như người được Văn trì đà-la-ni, tuy tâm nổi sân hận nó cũng
không mất, thường đi theo người, như bóng theo hình. Tu hành
tam-muội lâu quen sau thành đà-la-ni, như chúng sanh tập lâu
thói dục thành tánh. Tam-muội cọng với trí tuệ biết thật tướng
các pháp, phát sanh Ðà-la-ni, như bình đất mới nắn được lửa
nung chín, có thể giữ nước không chảy, cũng có thể giúp cho
người qua sông. Thiền định không trí tuệ cũng như bình đất mới
nắn, nếu có được trí tuệ biết thật tướng, như bình đất mới nắn
được lửa đốt chín, có thể giữ gìn vô lượng công đức hai đời
của Bồ-tát, Bồ-tát cũng nhân đó mà đắc độ, đến Phật. Như vậy
là chỗ sai khác giữa tam-muội và đà-la-ni.
Hỏi:
Sao trong pháp Thanh văn không có danh từ đà-la-ni, chỉ trong
pháp Ðại thừa mới có?
Đáp:
Trong pháp nhỏ không có pháp lớn, ông không nên hỏi, trong
pháp lớn không có pháp nhỏ, thời nên hỏi. Như trong nhà nghèo
không có vàng bạc không nên hỏi.
Lại nữa, Thanh văn không ân cần
chứa nhóm các công đức lắm, chỉ dùng trí tuệ cầu thoát khổ
già, bệnh, chết. Vì vậy người Thanh văn không dùng đà-la-ni
giữ gìn các công đức, ví như người khát, chỉ một bụm nước là
đủ, không cần bình đựng nước, nếu cung cấp cho đại chúng nhân
dân, thời cần bình đựng nước. Bồ-tát vì hết thảy chúng sanh
nên cần đà-la-ni giữ gìn các công đức.
Lại nữa, trong pháp Thanh văn
phần nhiều nói các pháp sanh diệt vô thường. Các luận nghị sư
nói: Các pháp vô thường, nếu vô thường thời không cần
đà-la-ni, vì cớ sao? Vì các pháp vô thường thời không giữ gìn
được, chỉ có hạnh nghiệp nhân duyên quá khứ không mất. Giống
như quả báo vị lai, tuy không mà ắt sanh, hạnh nghiệp nhân
duyên quá khứ cũng như vậy.
Trong pháp Ðại thừa, tướng sanh
diệt không thật, tướng chẳng sanh chẳng diệt cũng không thật.
Các quán các tướng đều diệt, ấy là thật. Nếu để giữ gìn pháp
quá khứ thời không lỗi. Vì để giữ gìn các công đức thiện pháp
thiện căn quá khứ, nên cần có đà-la-ni. Ðà-la-ni đời đời
thường theo Bồ-tát, còn các tam-muội không như vậy, hoặc có
khi thay đổi thân thời mất.
Như vậy các thứ phân biệt
đà-la-ni, các tam-muội.
Vì vậy nên nói muốn được các
đà-la-ni, các tam-muội môn, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
(Hết
cuốn 28 theo bản Hán)
--o0o --
Mục Lục
Tập 2
Cuốn
21
| 22
| 23
|
24
|
25
|
26
|
27
|
28
|
29
|
30
31
|
32
|
33
|
34
|
35
|
36
|
37
|
38
|
39
|
40
--o0o --
Mục Lục Tổng Quát Luận Đại Trí Độ
Tập 01
|
Tập 02
|
Tập 03
|
Tập 04
|
Tập 05
--o0o --
Cập nhật: 01-07-2003