| ...... ... |
. |
Luận Đại
Trí Độ
( Mahàprajnàparamitàsatra)
Tác giả:
Nàgàrjuna (Long Thọ)
Dịch Phạn ra Hán:
Cưu Ma La Thập
Dịch Hán ra Việt:
Thích Thiện Siêu
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
Nam
Ấn hành 1997
---o0o---
Tập 2
Cuốn 25
Bốn việc không sợ:
Phật nói lời chân thật rằng: Ta
là bậc nhất thiết chánh trí.
Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc trời,
ma, Phạm, hoặc các chúng sanh khác nói như thật rằng, pháp ấy
Phật không biết, thì Ta cho đến không thấy có chút nhân duyên để
sợ. Do vậy, Ta được an ổn, được không sợ, an trú chỗ thánh chúa,
như trâu chúa ở giữa đại chúng rống tiếng rống sư tử Chuyển phạm
luân (Pháp luân) mà các Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc trời, ma, Phạm,
hoặc các chúng khác không thể chuyển được. Ðây là
việc không sợ thứ nhất.
Phật nói lời chân thật rằng: Ta
đã sạch hết các lậu.
Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc trời,
hoặc ma, hoặc Phạm, hoặc các chúng khác như thật nói rằng, lậu
hoặc ấy Phật chưa hết, thì Ta cho đến không thấy có chút nhân
duyên để sợ việc ấy. Do vậy nên Ta được an ổn, được không sợ, an
trú chỗ thánh chúa, như trâu chúa, ở giữa đại chúng rống tiếng
rống sư tử. Chuyển bánh xe pháp, mà các Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc
trời, hoặc ma, hoặc phạm, hoặc các chúng khác, thật không thể
chuyển được. Ðây là việc không sợ thứ hai.
Phật nói lời chân thật rằng: Ta
nói pháp chướng đạo.
Nếu Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc trời,
hoặc ma, hoặc Phạm, hoặc các chúng khác như thật nói rằng: thọ
là chướng pháp không chướng đạo, thì Ta cho đến không thấy có
chút nhân duyên để sợ việc ấy. Do vậy Ta được an ổn, được không
sợ, an trú chỗ thánh chúa, như trâu chúa, ở giữa đại chúng rống
tiếng rống sư tử. Chuyển bánh xe pháp, mà các Sa-môn, Ba-la-môn,
hoặc trời, hoặc ma, hoặc Phạm, hoặc các chúng khác, thật không
thể chuyển được.
Ðây là việc không sợ thứ ba.
Phật nói lời chân thật rằng: Ta
nói đạo thiết yếu được ra khỏi thế gian; thực hành đạo ấy, có
thể dứt hết các khổ.
Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc trời,
hoặc ma, hoặc Phạm, hoặc các chúng khác, như thật nói rằng, thực
hành đạo ấy không thể ra khỏi thế gian, không thể dứt hết khổ,
thì Ta cho đến không thấy có chút nhân duyên để sợ việc ấy. Do
vậy, Ta được an ổn, được không sợ, an trú chỗ thánh chúa, như
trâu chúa, ở giữa đại chúng rống tiếng rống sư tử. Chuyển bánh
xa pháp, mà các Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc trời, hoặc ma, hoặc
Phạm, hoặc các chúng khác thật không thể chuyển được.
Ðây là việc không sợ thứ tư.
Hỏi: Vì sự gì mà nói bốn việc không sợ?
Ðáp: Vì có người nói: Phật tự xưng nhất thế trí, nhất
thiết kiến, nhưng kinh sách, kỹ thuật, trí xảo, phương tiện
trong thế gian rất nhiều vô lượng, nếu tất cả mọi người chung
lại còn khó biết hết mọi việc, huống gì một mình Phật mà có nhất
thiết trí, hoặc có việc ấy, có nạn vấn việc ấy, Phật làm sao
không sợ. Vì muốn dứt mối nghi hoặc, nạn vấn đó, nên Phật nói
bốn việc không sợ.
Lại nữa, hoặc khi Phật chưa ra đời, các ngoại đạo dùng đủ cách
dối hoặc người cầu đạo, cầu phước bằng cách hoặc ăn các thứ
trái, các thứ rau, hoặc ăn các thứ rễ cây, hoặc ăn phân bò, ăn
cỏ, hoặc ngày ăn một bữa, hoặc hai ngày, mười ngày, một tháng,
hai tháng ăn một bữa, hoặc hút gió, uống nước, ăn váng nước;
hoặc dùng áo vỏ cây, lá cây, áo cỏ, da nai, hoặc áo gỗ ván, hoặc
nằm trên đất, trên chày, trên gậy, trên tro, trên gai; hoặc khi
lạnh thì ngâm nước, khi nóng thì đốt lửa sưởi, nhảy vào nước
chết, nhảy vào lửa chết, hoặc lao mình xuống núi mà chết, hoặc
nhịn ăn mà chết. Dùng các cách khổ hạnh như vậy để cầu sanh lên
trời, cầu Niết-bàn, cũng dạy đệ tử không được bỏ phép ấy.
Tất cả như thế dùng lôi kéo kẻ vô trí để được cúng dường; ví như
lửa đom đóm khi mặt trời chưa mọc, ít nhiều có thể chiếu soi,
khi mặt trời đã mọc, ngàn ánh sáng chiếu soi, thì trăng và các
sao đều mất sáng, huống lửa đom đóm?
Nếu Phật chưa xuất thế, bọn ngoại đạo có chút ánh sáng chiếu thế
gian, mà được cúng dường. Khi Phật xuất thế, ánh sáng đại trí
diệt ánh sáng các ngoại đạo và đệ tử, họ không còn được cúng
dường. Vì mất lợi cúng dường nên phỉ báng Phật và đệ tử Phật,
như trong kinh Tôn-đà-lyï nói: ngoại đạo tự giết Tôn-đà-lyï
(Sundari) để phỉ báng Phật, nói với mọi người rằng: “Kẻ tệ ác ở
thế gian còn không làm việc ấy. Người ấy về lễ pháp thế gian còn
không hay biết huống là Niết-bàn?” Muốn dứt sự phỉ báng ấy cho
nên Phật tự nói thật công đức của bốn việc không sợ: chỉ riêng
Ta là người nhất thiết trí, không ai có thể như thật nói: Phật
không hay biết. Ta không sợ việc ấy. Chỉ riêng Ta đoạn tận tất
cả lậu hoặc và tập khí, không ai có thể như thật nói: Phật chưa
hết lậu hoặc. Ta không sợ việc ấy. Ta nói pháp làm chướng ngại
đạo Niết-bàn, không ai có thể như thật nói: pháp ấy không chướng
ngại Niết-bàn. Ta không sợ việc ấy. Ta nói đạo dứt khổ đạt đến
Niết-bàn, không ai có thể như thật nói: đạo ấy không thể đạt đến
Niết-bàn. Ta không sợ việc ấy.
Lược nói thể của bốn việc không sợ: 1. Chơn chánh biết hết thảy
pháp. 2. Hết tất cả lậu hoặc và tập khí. 3. Nói hết thảy pháp
làm chướng đạo. 4. Nói đạo dứt hết khổ.
Ðối bốn việc ấy, nếu có ai như thật nói: Phật không thể biết
khắp hết. Phật không sợ việc ấy, vì Phật đã chơn chánh biết khắp
rành rành. Hai việc không sợ đầu, là đầy đủ công đức tự lợi, hai
việc không sợ sau là đầy đủ lợi ích chúng sanh.
Lại nữa, ba việc không sợ, một, ba, tư là nói về trí, việc không
sợ thứ hai là nói về đoạn (dứt trừ). Trí đức, đoạn đức đầy đủ,
tức việc làm đã xong.
Hỏi: Mười lực đều là trí, bốn việc không sợ cũng là trí,
thì có gì sai khác?
Ðáp: Các công đức của Phật, nói rộng là
lực, nói lược là
không sợ.
Lại nữa, có khả năng làm là lực,
không chỗ nghi nạn là không
sợ. Trí tuệ tu tập nên
gọi là lực, tiêu tán
các vô minh nên gọi là không sợ..
Nhóm các pháp thiện nên gọi là
lực, diệt các pháp bất thiện nên gọi là
không sợ. Tự có trí tuệ
nên gọi là lực, không
ai phá hoại được nên gọi là không
sợ. Trí tuệ mạnh mẽ là
lực, chịu được vấn nạn là
không sợ. Nhóm các trí
tuệ gọi là lực, trí
tuệ dùng ra ngoài là không sợ.
Ví như Chuyển luân thánh vương, thành tựu bảy báu là
lực, được bảy báu rồi,
khắp bốn châu thiên hạ đều hàng phục gọi là
không sợ. Lại như thầy
thuốc hay khéo biết phương thuốc gọi là
lực, hòa hiệp các thứ
thuốc cho người gọi là không sợ.
Tự lợi ích là lực, lợi
ích người khác là không sợ..
Tự trừ phiền não là lực,
trừ phiền não cho người khác là
không sơï. Không bị trở hoại là
lực, không nạn không thối
là không sợ. Tự thành
điều thiện cho mình là lực,
thành điều thiện cho người khác là
không sợ.. Trí thiện xảo
là lực, dùng trí thiện
xảo là không sợ. Nhất
thiết trí, nhất thiết chủng trí là
lực; nhất thiết trí, nhất
thiết chủng trí hiển phát ra ngoài là
không sợ. Mười tám pháp
bất cọng là lực, mười
tám pháp bất cọng hiển phát ra ngoài là
không sợ. Thông đạt khắp
pháp tánh là lực, nếu
có các vấn nạn, không cần suy nghĩ đáp lại được liền, là
không sợ. Ðược Phật nhãn
là lực, Phật nhãn thấy
rồi với người có thể độ thuyết pháp độ cho họ là
không sợ. Ðược ba trí vô
ngại là pháp, nghĩa, từ, ấy gọi là
lực; được ứng biện vô
ngại ấy gọi là không sợ.
Nghĩa vô ngại trí là lực,
lạc thuyết vô ngại trí là không
sợ. Nhất thiết trí tự tại là
lực, các thí dụ, nhân
duyên, trang nghiêm ngôn ngữ thuyết pháp là
không sợ. Phá chúng ma là
lực, phá luận nghị sư
ngoại đạo là không sợ.
Các nhân duyên như vậy, phân biệt lực và không sợ.
Hỏi: Sao gọi là không sợ?
Ðáp: Ðược không nghi ngại, không kyï nạn, trí tuệ không
lui, không mất, lông trên mình không dựng đứng, ở trong mỗi pháp
đúng như thuyết liền làm, ấy là không sợ.
Hỏi: Làm sao biết Phật không sợ?
Ðáp: Nếu có chỗ sợ thời không thể chế ngự đại chúng, hay
nhiếp, hay xả, hay gay gắc đối trị, hoặc nói êm dịu mà dạy bảo,
như Phật có lần xua đuổi ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên... rồi
trở lại đem tâm lân mẫn nhiếp thụ, nếu có chỗ kyï nạn thì sao
các bọn thầy luận nghị ở trên đảnh núi kiêu mạn, đem trí tuệ bề
ngoài với tâm cuồng say đều nói rằng, trong thiên hạ chỉ có ta
chứ không còn ai khác biết chắc chắn kinh thư và phá kinh thư
luận nghị người khác. Dùng miệng ác chê bai như voi điên không
bị kềm chế; các người điên ấy là Am-bạt-tra, Trường trão,
Tát-giá-kỳ, Ni-kiền, Côn-lô-chi... đều chịu phục Phật cả, nếu
Phật có chỗ sợ, thời không thể như vậy.
Lại năm người xuất gia như ông Kiều-trần-như..., một ngàn tiên
nhân bện tóc như ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp..., ông Xá-lợi-phất,
Mục-kiền-liên, Ðại Ca-diếp... đều xuất gia ở trong Phật pháp.
Lại trăm ngàn người dòng họ Thích, các đại vương châu
Diêm-phù-đề, đại vương Ba-tư-nặc, vua Tần-bà-sa-la, vua
Chiên-đà-bà-thù-đề, vua Ưu-điền, vua Phất-ca-la-bà-lyï, vua
Phạm-ma-đạt... đều làm đệ tử Phật.
Lại các Bà-la-môn tại gia mà trí tuệ vượt hơn thế gian, được vua
chúa kính ngưỡng làm thầy như ông Phạm-ma-dụ, Phất-ca-la-bà-lyï,
Cưu-la-đàn-đà... đều làm đệ tử Phật.
Có người được sơ đạo, nhị đạo, tam đạo, tứ đạo. Các đại quỷ thần
A-la-bà-ca, Tỳ-la-ca... Các đại long vương A-ba-la-la,
Y-la-bát-đa-la... các người ác như Ương-quật-lê-ma-la... đều
hàng phục qui hóa theo Phật.
Nếu mà có sợ thời không thể ngồi một mình trên tòa sư tử dưới
gốc cây, khi sắp thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, quân
chúng ma vương hóa làm đầu sư tử, hổ lang, gấu, bi, hoặc một
mắt, nhiều mắt, hoặc một tai, nhiều tai, vác núi phun lửa, đi
quanh bốn phía, Phật lấy tay chỉ xuống đất, trong khoảng nháy
mắt, chúng liền biến mất.
Chư thiên, A-la-hán, Tỳ-ma-chất-đế-lệ, Thích-đề-hoàn nhân, Phạm
thiên vương... Phật dẫn dắt tâm họ đều làm đệ tử.
Nếu mà có sợ, thì không thể thuyết pháp ở giữa đại chúng. Vì
không sợ, nên có thể thuyết pháp ở giữa đại chúng chư thiên, quỷ
thần như vậy, cho nên gọi là không sợ.
Lại nữa, Phật đối với chúng sanh là tối tôn tối thượng, đã tột
đến bờ kia của hết thảy pháp, được tiếng tăm lớn, nên tự nói
không sợ.
Lại nữa, hãy để công đức ấy của Phật lại, về các công đức thế
gian của Phật cũng không ai sánh kịp, vì Phật đã nhỗ hết gốc rễ
của sợ, đó là sanh nhà tệ lậu,
chỗ tệ lậu, sắc xấu xí, không oai nghi, lời nói thô ác...
Sanh nhà tệ lậu:
Nhà Thủ-đà-la, làm nghề khiêng người chết, hốt phân, nuôi gà,
heo, đi săn bắn, đồ tể, nấu rượu... là nhà tiểu nhân ty tiện,
nếu ở giữa đại chúng, thời rất sợ. Phật từ xưa lại nay thường
sanh trong dòng Chuyển luân thánh vương, như Ðảnh sanh vương,
Khoái kiến vương, Ta-kiệt vương, Ma-ha Ðề-bà vương... gọi là
sanh trong nhà thuộc dòng vua, vì vậy nên không sợ.
Sanh chỗ tệ ác lậu:
Sanh các nước An-đà-la, Xá-bà-la (Nước trần truồng) Ðâu-khư-la
(nước Tiểu Nhục-chi) Tu-lyï, An-tức, Ðại-tần... sanh ở trong các
biên quốc như vậy, nếu ở giữa đại chúng thời rất sợ. Phật sanh ở
trung quốc Ca-tỳ-la-vệ cho nên không sợ.
Sắc xấu xí: Có
người thân khô khan gầy ốm, người ta không muốn thấy, nếu ở giữa
đại chúng, thời cũng sợ hãi. Phật có thân sắc tốt đẹp như vàng
nhuận sáng, như lửa chiếu núi xích kim, cho nên không sợ.
Không có oai nghi:
Tới lui, đi bước, ngồi đứng, không có oai nghi của người, thời
hay sợ hãi. Phật không có việc ấy.
Lời nói thô ác: Có
người âm thanh dữ, nói ngượng nghịu, nói lắp, nói không có thứ
lớp, người ta không ưa, thời rất sợ hãi. Phật không có cái sợ
ấy, vì Phật nói chân thật êm ái, thứ lớp dễ hiểu, không mau,
không chậm, không ít, không nhiều, không ẩn không nhơ, không đùa
cợt, hơn tiếng chim Ca-lăng-tầng-già, từ và nghĩa phân minh,
không làm tổn thương ai. Lời Phật lìa dục nên không nhiễm, dứt
sân nên không ngại, trừ ngu nên dễ hiểu, tăng trưởng pháp hỷ nên
khả ái, ngăn tội nên an ổn, theo tâm người, theo giải thoát,
nghĩa thì sâu, lời thì diệu. Có nhân duyên nên lời nói có lý,
dùng thí dụ nên khéo hiển bày, việc thành nên khéo rõ việc, quán
sát tâm chúng sanh nên nói lặc vặt, lâu về sau đều chứng nhập
Niết-bàn cho nên nhất vị giải thoát.
Do vô lượng lời nói trang nghiêm như vậy, Phật đối với lời nói
không có sợ.
Chỉ nói về pháp thế gian như vậy, Phật còn không có sợ, huống
chi pháp xuất thế gian. Do vậy nói Phật có bốn việc không sợ.
Hỏi: Trong mười lực của Phật, có việc không sợ chăng? Nếu
có việc không sợ thời nên chỉ nói bốn. Nếu có việc sợ, tại sao
nói thành tựu không sợ?
Ðáp: Một trí ở mười nơi gọi là Phật thành tựu mười lực,
như một người biết mười việc, theo việc mà gọi tên. Mười lực ấy
dùng ra ở bốn chỗ, ấy là không sợ. Lực biết có lẽ ấy không có lẽ
ấy, lực lậu hoặc hết, tức việc không sợ thứ nhất, thứ hai; còn
tám lực tuy nói rộng, là việc không sợ thứ ba, thứ tư. Thế cho
nên trong mười lực có việc không sợ, mà nói riêng ra bốn việc
không sợ cũng không lỗi.
Chánh biến tri
(điều không sợ một): Biết hết thảy pháp không điên đảo, chánh
không tà, như các đức Phật quá khứ, ấy gọi là Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác. Như Phật bảo A-nan: điều thế gian; trời, người
không biết được, thì Phật biết cùng khắp, nên gọi là Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác. Hoặc có người nói, pháp ấy Phật không
biết.
Hỏi: Aáy là người nào?
Ðáp: Trong đây Phật có nói hoặc Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc
trời, hoặc ma, hoặc Phạm, cho đến người muốn luận nghị với Phật.
Luận pháp gì?
Có người nói: Phật không nói đến mười tám thứ đại Kinh thư của
ngoại đạo, Thắng luận, Số luận, Vệ-đà.
Có người nói: cân lượng núi Tu-di, đại địa sâu cạn, số lượng của
tất cả cỏ cây.
Có người nói, mười bốn nạn vấn: thế giới là thường hay vô
thường; hữu biên hay vô biên... Phật không đáp được.
Có người nói: pháp, sắc pháp, vô sắc pháp, có thể thấy, không
thể thấy, có đối ngại, không đối ngại, hữu lậu, vô lậu, hữu vi,
vô vi... Phật chỉ biết một thứ nhân duyên về việc đạo, còn các
nhân duyên các pháp khác, Phật hoặc không biết hết.
Sa-môn là nói người
xuất gia.
Bà-la-môn là nói người
tại gia có trí.
Trời là nói địa thiên,
hư không thiên.
Ma là nói sáu trời ở
cõi Dục.
Phạm tức nói vị đứng
đầu là Phạm thiên vương và tất cả trời ở cõi Sắc.
Các chúng khác là các
người khác ngoài mấy loài trên.
Như thật nói là hoặc
đem việc trước mắt, hoặc đem nhân duyên ra nạn vấn.
Cho đến không thấy có chút nhân
duyên sợ là tướng là nhân duyên, Ta không thấy có
chút nhân duyên đúng như pháp đến phá hoại Ta được. Vì không
thấy sợ nên Ta nói lời chân thật rằng Ta an trú chỗ của thánh
chúa.
Phật nói lời thành thật rằng: Ta
dứt hết các lậu (việc không sợ thứ hai). Nếu có
người nói lậu hoặc ấy Phật không dứt hết, ta không có sợ. Những
gì là lậu? Lậu có ba là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
Lậu là từ trong sáu căn tiết ra, tâm số pháp tương ưng với tâm
cấu nhiễm.
Lại nữa, như trong Kinh hết thảy lậu chướng phân biệt nói bảy
lậu.
Pháp làm chướng đạo
(điều không sợ thứ ba): chỉ cho các nghiệp hữu lậu và các
phiền não, báo chướng ở ác đạo, và vì để hưởng thọ vì thiền thế
gian mà tu bố thí, trì giới, mười thiện đạo. Lược nói những gì
hoặc thiện, hoặc bất thiện, hoặc vô ký, có thể chướng ngại
Niết-bàn, đều gọi là pháp làm chướng đạo.
Có người nói: Ðạo có hai pháp
(điều không sợ thứ bốn) là thánh định và thánh tuệ. Hai pháp ấy
đưa đến Niết-bàn.
Có người nói: ba thánh đạo là vô lậu giới, định, tuệ.
Có người nói: bốn pháp là Bốn thánh đế.
Có người nói: năm căn xuất thế gian.
Có người nói: sáu tánh xuất thế gian.
Có người nói: bảy giác ý.
Có người nói: tám thánh đạo, đưa đến Niết-bàn.
Các luận nghị sư nói: hết thảy vô lậu đưa đến Niết-bàn, trong đó
nếu có Sa-môn, Bà-la-môn đi đến nói lời như thật rằng, việc ấy
không như vậy, thì Ta cho đến không thấy có chút nhân duyên sợ.
Vì không thấy sợ, nên nói lời chân thật rằng, Ta an trú ở chỗ
thánh chúa.
Hỏi: Vì sao Phật nói lời chân thật rằng, Ta an trú ở chỗ
thánh chúa?
Ðáp: Tự công đức đã đầy đủ, cũng khiến chúng sanh được an
lạc lợi ích. Nếu Phật tự được trú xứ an lạc mà không thể làm lợi
ích chúng sanh, cũng không gọi là an trú ở chỗ thánh chúa. Nếu
chỉ lợi ích chúng sanh mà không tự đầy đủ công đức, cũng không
gọi là an trú ở chỗ thánh chúa. Nếu tự có công đức cũng lợi ích
chúng sanh, vì vậy cho nên nói lời chân thật rằng, ta an trú ở
chỗ thánh chúa.
Lại nữa, Phật tự dứt ác, cũng dứt ác cho chúng sanh, vì dứt hai
ác nên được thanh tịnh bậc nhất, khéo thuyết pháp nên an trú ở
chỗ thánh chúa.
Lại nữa, đối Bốn thánh đế, ba lần chuyển mười hai hàng, có thể
chuyển có thể phân biệt, hiển bày phu diễn nên nói Ta an trú ở
chỗ thánh chúa.
Lại nữa, có thể trừ hết tất cả nghi hối, tà kiến, giải thích
được tất cả nạn vấn thâm sâu, nên gọi là an trú ở chỗ thánh chúa
(là chỗ đệ nhất, tối thượng, cực cao, không thối không một, đầy
đủ công đức, không giảm thiểu). Do sức nhân duyên công đức như
vậy nên nói lời chân thật rằng, Ta an trú ở chỗ thánh chúa.
Ơû giữa chúng cất tiếng rống sư
tử: Chúng ta là tám chúng Sa-môn, Bà-la-môn, Sát
lợi, Thiên, Tứ thiên vương, Tam-thập-tam thiên, Ma, Phạm. Chúng
sanh ở trong tám chúng này, mong cầu trí tuệ, cho nên trong Kinh
chỉ nói đến tám chúng. Trong đây Phật cất tiếng rống sư tử cũng
ở giữa hết thảy chúng, cho nên trong Kinh nói: hoặc còn các
chúng khác. Vì hễ ai nghe được âm thanh của Phật, đều gọi là
chúng.
Lại nữa, có người nói: Phật một mình ở chỗ vắng thuyết pháp, cho
nên nói, ở giữa chúng nói lời chân thật rằng: Ta có mười lực,
bốn không sợ, ấy gọi là ở giữa chúng cất tiếng rống sư tử.
Lại nữa, Phật khai thị: Ta chân thật nói rằng, Ta là sư tử, bậc
nhất thiết trí ở giữa hết thảy thế gian, ai còn có nghi ngờ,
không tin hãy đi đến, Ta sẽ giải thích cho. Do vậy nên nói ở
giữa chúng rống tiếng sư tử.
Sư tử rống: Như sư
tử vương, sanh trong giống thanh tịnh, ở trong núi sâu hang
thẳm, hàm vuông xương lớn, thân thịt béo đầy, đầu to, mắt dài,
sáng sạch, mi cao mà rộng, răng to sắc trắng bạch, miệng mũi
vuông lớn, cứng rắn bền chắc, răng khít bằng nhọn, lè lưỡi trắng
đỏ, hai tai cao lên, lông tóc sáng nhuận, thân trên rộng lớn, da
thịt cứng rắn, xương sống thẳng, hông nhỏ, bụng thon, đuôi dài,
móng nhọn, chân đứng vững vàng, thân lớn sức mạnh. Từ chỗ ở bước
ra, vặn mình, nhăn mày, gầm gừ, lấy miệng dũi xuống đất, hiện
oai thế lớn, ăn không lỗi thời, bày tướng thức dậy sáng sớm,
biểu hiện sức sư tử vương, làm oai với loài hưu nai, gấu, cọp,
beo, chồn heo, thức tỉnh chúng ngủ lâu, hàng phục kẻ cao cường
có thế lực, tự mở đường đi mà gầm thét lớn. Khi rống như vậy,
các loài nghe được, hoặc mừng, hoặc sợ, loài ở hang ẩn trốn,
loài ở nước lặng sâu, loài trong núi lặng nép, voi bức vòng khóa
cuồng cuống mà chạy, chim ở giữa không bay cao tránh xa.
Phật sư tử cũng như vậy, sanh từ trong tộc tánh lớn của sáu
Ba-la-mật và bốn thánh chủng xưa (P.
Catràro Ariyavámsà – bốn thứ làm phát sanh hạt giống thánh: 1.
Biết vui đủ y phục. 2. Biết vui đủ ẩm thực. 3. Biết vui đủ ngọa
cụ. 4. Biết vui đoạn vui tu. N.D. chú). Ơû trong núi
lớn tịch diệt, trong hang thiền định thâm sâu, được cái đầu
Nhất thiết chủng trí, cái
hàm Nhóm các thiện
căn, con mắt
Vô lậu chánh kiến sáng
sạch, chân mày Ðịnh tuệ
bình đẳng cao rộng, răng
to Bốn việc không sợ
trắng sắc, miệng Vô ngại giải
thoát đầy đủ, má Bốn
chánh cần chắc đầy, răng
Ba
mươi bảy đạo phẩm dày
khít bằng sắc, lè lưỡi trắng đỏ
Tu bất tịnh quán,
tai Niệm tuệ cao
thượng, tóc lông Mười tám pháp
không chung sáng sạch
tươi nhuận, thịt thân trên Ba
giải thoát môn bền
chắc, lưng thẳng Ba thị hiện,
bụng Minh hạnh đầy đủ
chẳng hiện, lưng Nhẫn nhục
thon nhỏ, đuôi Viễn ly hạnh
dài, chân Bốn như ý
đứng vững, móng Năm căn vô học
nhọn bén, thế của Mười lực vô
lượng, thân Vô lậu
pháp uẩn đầy đủ. Từ trú xứ
Tam-muội vương của chư
Phật đi ra, trong đất Chư pháp
nhăn mày gầm gừ Bốn vô ngại trí;
miệng vô ngại giải thoát,
nương sức Mười lực
quảng đại ấy, độ chúng sanh không sai thời, chỉ bày tướng sớm
mai cho thế gian trời người, hiển bày đức của đấng Pháp vương,
làm oai với chúng ngoại đạo tà kiến luận nghị sư, giác tỉnh các
chúng sanh ngủ mê đối với Bốn đế, hàng phục sức kiêu mạn của kẻ
đắm trước năm uẩn là ta, mở đường cho kẻ tà kiến dị học luận
nghị. Như vậy, khiến kẻ hành tà đạo thì sợ hãi, người chánh tín
thì vui mừng, kẻ độn căn được lợi, an ủi đệ tử, phá hoại ngoại
đạo, chư thiên trường thọ, hưởng lâu cái vui cõi trời, thời biết
rõ vô thường.
Các chúng sanh như vậy nghe tiếng sư tử rống Bốn đế, đều sanh
tâm nhàm chán, tâm nhàm chán nên được xa lìa, được xa lìa nên
được vào Niết-bàn, ấy gọi là ở giữa chúng như sư tử rống.
Lại nữa, Phật sư tử rống và sư tử rống có sai khác. Sư tử rống
thì các loài thú kinh sợ, hoặc chết, hoặc gần chết, còn Phật sư
tử rống thì khỏi sợ chết. Sư tử rống thì sợ, đời đời chết khổ,
còn Phật sư tử rống, chỉ đời này chết, không còn khổ đời sau. Sư
tử rống thì tiếng thô ác, chúng không ưa nghe, sợ hãi sống chết,
còn Phật sư tử rống thì tiếng như nhuyến, nghe không chán, tâm
rất vui, nghe xa cùng khắp, thường cho hai thứ vui là vui sanh
cõi trời, và vui Niết-bàn; như thế là sai khác.
Hỏi: Phật rống tiếng rống sư tử cũng khiến cho người nghe
sợ, cùng với sư tử rống có gì sai khác?
Ðáp: Nghe Phật sư tử rống đương thời sợ ít mà sau được
lợi ích lớn. Người có tâm đắm trước tôi, ta, người khát ái cái
vui thế gian, người tâm tà kiến thường bị điên đảo ràng buộc,
thì sanh sợ hãi, như trong Kinh nói: Phật thuyết Bốn đế, cho đến
trên chư thiên cũng đều sợ hãi nghĩ rằng, chúng ta vô thường,
khổ, vô ngã, không, vì tâm điên đảo nên đắm trước tướng thường
và vui, như thế là sai khác.
Lại nữa, nghe sư tử rống, trứ người lìa dục, các người khác đều
sợ, còn Phật sư tử rống thì người cầu Niết-bàn ly dục, người
không ly dục đều sợ. Sư tử rống thời người thiện bất thiện đều
sợ, còn Phật sư tử rống chỉ người thiện sợ.
Lại nữa, sư tử rống mọi thời đều sợ, còn Phật sư tử rống tuy có
làm chúng sanh sợ chút ít nhưng mà chỉ bày tội ác thế gian,
khiến đừng ưa sanh trong thế gian, quán công đức lợi ích của
Niết-bàn, trừ các thứ sợ hãi của thế gian, đóng đường ác, mở
đường thiện, khiến người đi đến thành Niết-bàn.
Lại nữa, do hai mươi việc nên Phật thuyết pháp gọi là sư tử
rống, đó là vì nương dựa mười lực, vì không thiếu, vì không sợ,
vì âm thanh thanh tịnh, vì chưa từng có, vì dắt dẫn đại chúng,
vì làm ác ma kinh sợ, vì làm nhiễu loạn ma dâm, vì khiến chư
thiên hoan hỷ, vì được ra khỏi lưới ma, vì dứt ma trói buộc, vì
phá lưỡi câu ma, vì vượt qua cảnh giới ma, vì tự pháp tăng
trưởng, vì tổn giảm tha pháp, vì quả báo không hư dối, vì thuyết
pháp chẳng trống không, vì người phàm phu vào thánh đạo, vì
người vào thánh đạo được đầy đủ hết lậu, và tùy chỗ thích hợp
chứng đắc ba thừa. Vì vậy nên Phật nói, gọi là sư tử rống; ấy là
nghĩa tổng tướng, biệt tướng về sư tử rống.
Chuyển phạm luân:
Thanh tịnh gọi là phạm. Trí tuệ và pháp tương ưng với trí tuệ
của Phật gọi là luân (bánh xe). Lời của Phật nói, người lãnh thọ
theo pháp hành trì, gọi là chuyển. Luân ấy lấy bốn niệm xứ đầy
đủ làm cái bầu xa, năm căn, năm lực làm cái tay hoa xe, bốn như
ý túc làm cái vành kiên cố, bốn chánh cần làm vành khít hợp, ba
giải thoát làm gọng xe, thiền định trí tuệ làm điều hợp, vô lậu
giới làm hương bôi xe, bảy giác ý làm tạp hoa anh lạc, chánh
kiến làm quay theo bên phải, tín tâm thanh tịnh làm sự ưa vui,
chánh tinh tấn làm đi mau, tiếng sư tử rống vô úy làm âm thanh
tuyệt diệu, hay làm sợ ma luân, phá rã mười hai nhân duyên luân,
hoại sanh tử luân, lìa phiền não luân, dứt nghiệp luân, làm
chướng ngại thế gian luân, phá khổ luân, hay làm cho hành giả
hoan hỷ, trời, người kính mộ. Luân ấy không ai lay chuyển được,
luân ấy bảo trì Phật pháp, do vậy nên gọi là
chuyển phạm luân.
Lại nữa, Phật Chuyển pháp luân như Chuyển luân thánh vương
chuyển bảo luân.
Hỏi: Phật và Chuyển luân thánh vương có gì tương tợ?
Ðáp: Ví như vua sanh ở trong dòng thanh tịnh không tạp,
theo tộc tánh thành tựu gia nghiệp, đủ các tướng trang nghiêm
thân, vương đức đầy đủ, hay chuyển bảo luân, nước thơm rưới đầu,
thọ vương vị ở trên bốn thiên hạ, hoại trừ hết thảy phép giặc,
khiến không dám trái, kho báu đầy dẫy, quân cách bảy báu để làm
trang sức, lấy bốn nhiếp pháp nhiếp thủ chúng sanh, khéo dùng
vương pháp, an ủi bổ nhậm quí tánh, đại thần chủ binh, để làm
chánh sách trị nước, vui vẽ bố thí trân bảo thượng diệu, tri
niệm đến ai, thủy chung không thay đổi. Phật pháp vương cũng như
vậy. Các đức Phật Thích-ca Mâu-ni, Nhiên Ðăng, Bảo Hoa... sanh
từ trong dòng chư Phật thanh tịnh, tiên Phật oai nghi hạnh
nghiệp, đầy đủ 32 tướng để tự trang nghiêm, thánh chúa oai nghi
đầy đủ, chuyển chân pháp luân, vị cam lồ trí tuệ rưới trên đầu
trí, làm bậc Chí tôn giữa ba cõi, phá hoại hết thảy giặc phiền
não, chúng học, vô học hoan hỷ, cấm giới đã được kiết không dám
trái phạm. Kho pháp bảo vô lượng đầy đủ, báu bảy giác phần trang
nghiêm, đội quân 84.000 pháp tụ, lấy bốn nhiếp pháp xuất thế
gian mà thu nhiếp chúng sanh, biết phương tiện nói pháp Bốn
thánh đế làm nghi thức của Pháp vương, các đại tướng
Xá-lợi-phất, Di-lặc khéo sửa trị pháp Phật quốc, dùng vô lậu
căn, lực, giác, các thứ vui diệu bảo để bố thí, thâm cầu thiện
sự cho hết thảy chúng sanh là chỗ tưởng niệm kiên cố. Ðó là chỗ
tương tợ giữa Chuyển luân thánh vương với Phật Pháp vương.
Lại nữa, Phật có chỗ thù thắng hơn Chuyển luân thánh vương.
Chuyển luân thánh vương không lìa các phiền não, Phật đã lìa
vĩnh viễn các phiền não; Chuyển luân thánh vương chìm trong bùn
sanh tử, Phật đã ra khỏi; Chuyển luân thánh vương làm tôi tớ cho
ái ân, Phật đã ra khỏi; Chuyển luân thánh vương đi trong con
đường hiểm sanh tử, Phật đã qua khỏi. Chuyển luân thánh vương ở
trong bóng tối ngu si, Phật an trú trong quang minh đệ nhất;
Chuyển luân thánh vương tự tại cùng cực giữa bốn thiên hạ, Phật
tự tại giữa vô lượng vô biên thế giới; Chuyển luân thánh vương
tài bảo tự tại, Phật tâm bảo tự tại; Chuyển luân thánh vương
khát ái cái vui cõi trời, Phật cho đến cái vui ở cõi trời Hữu
đỉnh cũng xa lìa; Chuyển luân thánh vương theo bên ngoài mà tìm
vui, Phật tự tâm sanh vui. Do vậy, Phật đối với Chuyển luân
thánh vương là thù thắng hơn.
Lại nữa, Chuyển luân thánh vương tay vận chuyển xe báu đi giữa
hư không vô ngại, Phật vận chuyển xe pháp ở giữa hết thảy thế
gian trời người không ngăn ngại. Người thấy được xe báu, các độc
hại đều diệt, gặp được xe pháp thời tất cả độc phiền não đều
diệt. Thấy xe báu thì các tai nạn ác hại đều diệt, gặp được xe
pháp thời tất cả tai hại về tà kiến, nghi, hối đều tiêu diệt.
Vua lấy xe báu trị thiên hạ, Phật dùng xe pháp trị hết thảy thế
gian trời, người, khiến được tự tại với pháp. Ðó là chỗ tương
trợ giữa Chuyển luân thánh vương với Phật.
Lại nữa, xe pháp thù thắng hơn xe báu, xe báu hư dối, xe pháp
chắc thật; xe báu tăng trưởng lửa ba độc, xe pháp diệt lửa ba
độc; xe báu hữu lậu, xe pháp vô lậu; xe báu vui năm dục lạc, xe
pháp vui pháp lạc; xe báu là chỗ kiết xử, xe pháp chẳng phải chỗ
kiết sử; xe báu đi chỗ có hạn lượng; xe pháp đi vô lượng quốc
độ; xe báu do nhất tâm thanh tịnh bố thí nên có được đời đời, xe
pháp do nhân duyên nhóm hết thảy thiện căn trong vô lượng
A-tăng-kỳ kiếp và trí tuệ nên được; xe báu sau khi vua chết
không còn chuyển động, xe pháp sau khi Phật diệt độ vẫn chuyển
động; xe báu ở nơi một người, xe pháp ở nơi hết thảy người khả
độ.
Lại nữa, Phạm là rộng, Phật chuyển xe pháp khắp cả mười phương,
nên gọi là rộng.
Lại nữa, từ bốn tâm phạm hạnh (từ, bi, hỷ, xả) nói ra nên gọi là
Phạm luân.
Lại nữa, lúc Phật mới đắc đạo, Phạm thiên vương thỉnh Phật
Chuyển pháp luân, cho nên gọi là Phạm luân.
Lại nữa, Phật ở thành Ba-la-nại Chuyển pháp luân, A-nhã
Kiều-trần-như đắc đạo, tiếng pháp nghe thấu Phạm thiên, nên gọi
là Phạm luân.
Lại nữa, có người quí Phạm thiên, muốn cho họ hoan hỷ, nên gọi
là Phạm luân. Do vậy nên gọi là
Phạm luân.
Hỏi: Có khi Phật gọi là Pháp luân, khi gọi là Phạm luân,
có gì sai khác?
Ðáp: Phạm luân và Pháp luân không khác nhau.
Lại nữa, có người nói, nói Phạm luân là chỉ thị về bốn tâm vô
lượng, nói pháp luân là chỉ thị về Bốn đế pháp.
Lại nữa, nhân bốn tâm vô lượng đắc đạo, ấy gọi là Phạm luân,
nương pháp khác đắc đạo, ấy gọi là Pháp luân. Phạm luân chỉ thị
tứ thiền, Pháp luân chỉ thị ba mươi bảy đạo phẩm, Phạm luân chỉ
thị thánh đạo tu thiền, Pháp luân chỉ thị thánh đạo tu trí tuệ.
Như vậy, phân biệt chỗ sai khác giữa Phạm luân và Pháp luân.
Hỏi: Pháp gì là tánh không sợ?
Ðáp: Lúc phật mới đắc đạo, được hết thảy Phật pháp, mười
lực, bốn việc không sợ... trong đây được pháp tương ưng với bốn
trí không sợ ở đời vị lai, gọi là không sợ, như trong lúc bố
thí, trong tâm phát sanh “xả” tương ưng với tư tâm sở. Lại như
tương ưng với bốn tâm vô lượng gọi là pháp từ.
Hỏi: Trong bốn việc không sợ, có thứ lớp thế nào?
Ðáp: Việc không sợ đầu là chỉ thị người biết hết thảy
pháp, biết hết thảy pháp nên nói ta đã sạch hết lậu, sạch hết
lậu nên biết pháp làm chướng ngại sự hết lậu, dứt pháp chướng
ngại đó nên nói đạo.
Lại nữa, không sợ đầu, ví như thầy thuốc biết tất cả dược thảo;
không sợ hai, ví như biết tất cả bệnh dứt; không sợ ba, ví như
biết đều cấm kyï; không sợ bốn; ví như chỉ thị những thứ nên ăn.
Lại nữa, trong không sợ đầu nói về trí nhất thiết chủng, trong
không sợ hai nói về không còn tập khí phiền não, trong không sợ
ba nói pháp lỗi lầm, trong không sợ bốn nói về việc thành, được
đến Niết-bàn.
Hỏi: Như trong Bát-nhã ba-la-mật, mỗi phẩm đều nói năm
uẩn, mười lực, bốn không sợ, mười tám pháp bất cọng đều không,
vậy làm sao phân biệt nói tướng của nó.
Ðáp: Trong Phật pháp cái
không, bất khả đắc, không chướng ngại gì đối với các
pháp. Nhân cái không, bất khả đắc
ấy mà nói ra hết thảy Phật pháp, mười hai bộ kinh; ví như hư
không không có gì, mà mọi vật đều nương đó trưởng thành.
Lại nữa, nói mười lực, bốn không sợ, không vì chấp thủ tướng,
trước tâm phân biệt, mà chỉ vì độ chúng sanh, biết chúng sanh
nhờ nhân duyên này mà được giải thoát. Ví như nói cỏ thuốc chỉ
vì để trị lành bệnh, chứ không phải để tìm tướng cỏ thuốc, như
trong Trung luận nói:
“Nếu tin các pháp không,
Aáy thời thuận với lý,
Nếu không tin pháp không,
Hết thảy đều trái mất,
Nếu lấy “Vô” là không,
Không có gì tạo tác,
Chưa làm đã có nghiệp,
Không làm, có tác giả,
Các pháp tướng như vậy,
Ai hay tư lường được?
Chỉ có tâm thẳng sạch,
Nói ra không nương tựa,
Lìa hai kiến có, không,
Tâm tự nhiên nội diệt”.
Hỏi: Trong pháp Thanh văn nói mười lực, bốn không sợ như
vậy, còn trong Ðại thừa phân biệt mười lực, bốn không sợ thế
nào?
Ðáp: Trong mười lực, bốn không sợ ấy, biết hết biết khắp,
ấy là trong Ðại thừa nói mười lực, bốn không sợ.
Hỏi: Trong pháp Thanh văn cũng nói biết hết biết khắp, cớ
sao nói trong Ðại thừa mới nói biết hết biết khắp?
Ðáp: Trong pháp Thanh văn các luận nghị sư nói Phật biết
hết biết khắp chứ chẳng phải Phật tự nói, nay trong Ðại thừa nói
mười lực, bốn không sợ là Phật tự nói Ta biết hết biết khắp.
Lại nữa, vì hàng Thanh văn nói mười lực, bốn không sợ hợp cùng
với Bốn đế, mười hai nhân duyên các pháp Thanh văn, đều vì để
đạt đến Niết-bàn, nay trong Ðại thừa nói mười lực, bốn không sợ
vì hợp cùng với đại bi, các pháp thật tướng bất sanh bất diệt mà
nói.
Hỏi: Phật có mười lực, bốn không sợ, Bồ-tát có chăng?
Ðáp: Có, thế nào? 1. Phát tâm nhất thiết trí, nên được
lực cứng sâu bền chắc. 2. Ðầy đủ tâm đại từ nên được lực không
bỏ hết thảy chúng sanh. 3. Không cần đến lợi dưỡng cung kính
cúng dường, nên đầy đủ lực đại bi. 4. Tin hết thảy Phật pháp,
đầy đủ phát sinh hết thảy Phật pháp và tâm không biết nhàm đủ,
nên được lực đại tinh tấn. 5. Nhất tâm hành theo trí tuệ, không
hoại oai nghi, nên được lực thiền định. 6. Trừ nhị biên, theo
mười hai nhân duyên hành, dứt tất cả tà kiến, diệt hết thảy ức
tưởng phân biệt hý luận, nên đầy đủ lực trí tuệ. 7. Vì thành tựu
cho hết thảy chúng sanh, nên thọ vô lượng sanh tử, nhóm các
thiện căn không biết nhàm đủ, biết hết thảy thế gian như mộng,
nên được lực không chán sanh tử. 8. Quán thật tướng các pháp,
biết không ta, không chúng sanh, tin hiểu các pháp không ra
không sanh, nên được lực vô sanh pháp nhẫn. 9. Vào ba quán môn
giải thoát không, vô tướng, vô tác, biết thấy Thanh văn,
Bích-chi Phật giải thoát, nên được lực giải thoát. 10. Ðối thâm
pháp được tự tại, biết tâm hành của chúng sanh đến đâu, nên được
lực vô ngại trí. Ðó là mười lực của Bồ-tát.
Những gì là bốn việc không sợ của Bồ-tát? 1. Nhớ hết điều đã
nghe, được các đà-la-ni, ghi nhớ không quên, nên ở giữa chúng
thuyết pháp mà không sợ. 2. Ðược giải thoát đối với hết thảy
pháp, biết phân biệt dùng hết thảy pháp dược, biết căn cơ của
hết thảy chúng sanh, nên ở giữa chúng tùy theo căn cơ mà thuyết
pháp, không sợ. 3. Bồ-tát thường xa lìa mọi sự sợ, không nghĩ
rằng, mười phương có ai đến vấn nạn ta, ta không thể đáp. Không
thấy có tướng đó, cho nên ở giữa chúng thuyết pháp mà không sợ.
4. Cho mọi người tự do đến nạn vấn, mỗi mỗi đều đáp hết, dứt trừ
nghi hoặc, cho nên ở giữa chúng thuyết pháp mà không sợ. Ðó là
bốn không sợ của Bồ-tát.
Bốn trí vô ngại:
Trí biết nghĩa vô ngại, trí biết pháp vô ngại, trí biết từ vô
ngại, trí biết lạc thuyết vô ngại.
Trí biết nghĩa vô ngại:
Dùng danh tự ngôn ngữ nói sư vật, mỗi mỗi các pháp tướng, như
đất tướng cứng, trong đó tướng cứng là nghĩa, danh tự đất là
pháp, dùng ngôn ngữ nói đất là từ, đối ba thứ trí ấy vui nói tự
tại, gọi là lạc thuyết.
Thông đạt không ngăn ngại bốn việc ấy gọi là trí vô ngại.
Nước tướng ướt, lửa tướng nóng, gió tướng động, tâm tướng suy
nghĩ, năm uẩn tướng vô thường, năm thọ uẩn tướng vô thường, khổ,
không, hết thảy tướng vô ngã. Phân biệt các pháp tướng chung,
tướng riêng cũng như vậy; ấy gọi là trí biết nghĩa vô ngại.
Trí biết pháp vô ngại:
Biết tên gọi của nghĩa ấy, tướng cứng gọi là đất. Phân biệt hết
thảy danh tự như vậy không trệ ngại; ấy gọi là trí biết pháp vô
ngại, vì cớ sao? Vì lìa danh tự thì nghĩa không thể có được.
Biết nghĩa phải do nơi danh, vì vậy tiếp theo Nghĩa là Pháp.
Hỏi: Nghĩa với danh là hợp nhau ư? hay lìa nhau ư? Nếu
nghĩa hợp một với danh, thời khi nói lửa phải bị cháy miệng, nếu
lìa thời khi gọi lửa, nước có thể đến?
Ðáp: Cũng không hợp cũng không lìa, người xưa tạm đặt tên
để gọi các pháp, người sau nhân tên ấy mà biết việc ấy, như vậy
mỗi pháp đều có tên gọi, ấy là pháp.
Tên gọi và nghĩa ấy làm sao khiến chúng sanh hiểu được? Vậy phải
dùng ngôn từ phân biệt trang nghiêm mới khiến người ta hiểu
được, thông suốt không trệ ngại; ấy gọi là trí biết từ vô ngại.
Nói có đạo lý, khai diễn vô tận, đối các thiền định, cũng được
tự tại không trệ ngại, ấy gọi là trí biết vui nói vô ngại.
Trí vô ngại một và bốn ở trong chín địa, trí vô ngại hai và ba ở
trong Dục giới và Phạm thiên.
Trí vô ngại hai và ba thuộc về trí, trí vô ngại một thuộc mười
trí, trí vô ngại bốn, thuộc chín trí.
(Mười trí xem chương 35 – N.D chú).
Vô ngại ấy có ba bậc thượng, trung, hạ. Thượng chư Phật, trung
đại Bồ-tát, hạ đại A-la-hán.
Hỏi: Lực, không sợ, không ngại; đều là trí tuệ. Bên trong
có lực, bên ngoài không sợ là đủ rồi, sao lại còn nói không
ngại?
Ðáp: Lực và không sợ đã phân biệt. Có người tuy không sợ
mà ở giữa đại chúng thuyết pháp vẫn có ngại, vì vậy nên nói bốn
trí vô ngại. Ðược bốn trí vô ngại ấy trang nghiêm cho bốn không
sợ, bốn không sợ trang nghiêm cho mười lực.
Lại nữa, nói không sợ, hoặc có người nghi rằng sao một người có
thể ở giữa đại chúng được tính không sợ? Phật nói vì trước có
mười lực, sau có bốn trí vô ngại cho nên ở giữa đại chúng thuyết
pháp mà không sợ. Như vậy là phân biệt bốn trí vô ngại.
Hỏi: Trong đại thừa có bốn trí vô ngại của Bồ-tát chăng?
Ðáp: Có. Thế nào?
Trí biết nghĩa vô ngại:
Nghĩa là thật tướng các pháp, không thể nói được. Nghĩa, tên
gọi, ngữ ngôn không riêng khác. Trước, sau, giữa cũng như vậy;
ấy gọi là nghĩa. Không thể lìa tên gọi, ngữ ngôn mà riêng có
nghĩa. Ba sự ấy bằng nhau nên gọi là nghĩa.
Lại nữa, biết rõ ràng hết thảy nghĩa của các pháp, thông đạt
không trệ ngại, ấy gọi là trí biết nghĩa vô ngại.
Trí biết pháp vô ngại:
Pháp là tên gọi của các nghĩa, vì nhờ tên gọi mà biết nghĩa.
Lại nữa, Bồ-tát nhập vào trí biết pháp vô ngại, thường tín pháp,
không tin người; thường nương pháp, không nương phi pháp. Nương
pháp là, không gì chẳng phải pháp sự, vì sao? Vì người ấy đối
với hết thảy tên gọi và ngữ ngôn biết tự tướng vốn xa lìa.
Lại nữa, lấy trí biết pháp vô ngại ấy để phân biệt ba thừa, tuy
phân biệt ba thừa mà không hoại pháp tánh, vì cớ sao? Vì pháp
tánh là nhất tướng, đó là vô tướng. Bồ-tát dùng ngữ ngôn ấy
thuyết pháp, mà biết ngữ ngôn là không, như tiến gvang. Thuyết
pháp khai thị cho chúng sanh, khiến tin, biết đồng pháp tánh,
tên gọi, ngữ ngôn được nói ra thông suốt không trệ ngại, ấy gọi
là biết pháp vô ngại.
Trí biết từ vô ngại:
Dùng ngữ ngôn để nói nghĩa và tên gọi, các thứ trang nghiêm ngữ
ngôn, tùy căn cơ thích hợp dùng ngữ ngôn khiến cho hiểu rõ, đó
là ngữ ngôn trời, rồng, Da-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lầu-la,
Ma-hầu-la-già, phi nhân. Ngữ ngôn Thích-đề-hoàn nhân, Phạm
thiên, Tứ thiên vương, Thế chủ. Ngữ ngôn người, một lời, hai
lời, nhiều lời, lược nói, rộng nói, ngữ ngôn nữ, ngữ ngôn nam,
ngữ ngôn quá khứ, vị lai, hiện tại. Các ngữ ngôn như vậy làm cho
đều được hiểu rõ. Tự nói, người khác nói, không có khen chê...
vì cớ sao? Vì hết thảy pháp không ở trong ngữ ngôn. Ngữ ngôn
chẳng phải thật nghĩa. Nếu ngữ ngôn thật nghĩa, thời không thể
dùng ngữ ngôn thiện nói điều bất thiện. Chỉ vì đưa vào Niết-bàn
cho nên nói để cho hiểu, chớ chấp trước ngữ ngôn.
Lại nữa, dùng ngữ ngôn để khiến chúng sanh thật hành theo pháp
nghĩa. Vì ngữ ngôn đều đưa vào trong thật tướng các pháp. Aáy
gọi là trí biết từ vô ngại.
Trí biết vui nói vô ngại:
Bồ-tát ở trong một chữ có thể hết thảy chữ, trong một lời có thể
nói hết thảy lời, trong một pháp có thể nói hết thảy pháp. Trong
ấy điều được nói ra đều là pháp, đều là thật, đều là chơn, đều
tùy theo người khả độ mà có được lợi ích. Nghĩa là người ưa Khế
kinh nói Khế kinh (Sùtra) cho họ, người ưa Trùng tụng nói Trùng
tụng (Geya) cho họ, người ưa Ký biệt (Vyàkarana – Thọ ký) nói Ký
biệt cho họ, người ưa Phúng tụng (Gatha – Cô Khởi) nói Phúng
tụng cho họ, người ưa Tự thuyết (Udana), Nhân duyên (Nidàna),
Thí dụ (Avadàna), Bổn sự (Itivcttaka), Bổn sanh (Jàtaka), Phương
quảng (Vaipulya), Vị tằng hữu (Adbhuta – Dharma), Luận nghị
(Upadésa), đều nói cho họ. Tùy theo căn của chúng sanh ưa tin,
mà vui nói. Nói tin căn cho người ưa tin, nói tinh tấn căn cho
người ưa tinh tấn, nói niệm căn cho người ưa siêng niệm, nói
định căn cho người ưa nhiếp tâm, nói tuệ căn cho người ưa trí
tuệ. Cũng như năm căn, nói các thiện căn khác cũng như vậy.
Lại nữa, vì căn của người dâm dục có hai vạn một ngàn, vì căn ấy
Phật nói tám vạn bốn ngàn các pháp đối trị; tùy các căn ấy mà
vui nói thứ lớp, căn pháp đối trị, Bồ-tát vui nói. Căn của người
sân nhuế có hai vạn một ngàn, vì căn ấy Phật nói tám vạn bốn
ngàn căn pháp đối trị; tùy các căn ấy, vui nói thứ lớp pháp đối
trị, Bồ-tát vui nói. Căn của người ngu si có hai vạn một ngàn,
vì căn ấy, Phật nói tám vạn bốn ngàn căn pháp đối trị; tùy các
căn ấy vui nói thứ lớp pháp đối trị, Bồ-tát vui nói. Căn của
người đẳng phần (tham, sân, si bằng phần nhau) có hai vạn một
ngàn, vì căn ấy Phật nói 84.000 căn đối trị, tùy các căn ấy, vui
nói thứ lớp pháp đối trị, Bồ-tát vui nói; ấy gọi là trí vui nói
vô ngại.
Lại nữa, Bồ-tát dùng trí vô ngại âáy, hoặc một kiếp, hoặc nửa
kiếp, mỗi mỗi trang nghiêm thuyết pháp, cũng chẳng hoại các pháp
tướng. Vị Bồ-tát ấy, hoặc ẩn thân không hiện, mà dùng các lỗ
chân lông thuyết pháp cho chúng sanh. Theo chỗ thích ứng, không
sai bản hạnh. Bồ-tát ấy trí tuệ vô lượng, tất cả luận nghị sư
không thể biết cùng tận, cũng không thể phá hoại. Bồ-tát ấy được
trí vô ngại đó, khi chuyển thân thụ sanh, tự nhiên biết rõ các
kinh sách, chú thuật, trí tuệ, kỹ năng của hết thảy ngũ thông
tiên nhân, đó là bốn Vệ-đà, sáu Ương-già chú thuật, biết các
kinh mặt trời mặt trăng năm sao, kinh đoán mộng, đất động, quỷ
nói, chim kêu, người câm, thú bốn chân, người bị quỷ ám nói,
quốc vương xem tướng được mùa mất mùa, tướng mặt trời mặt trăng,
năm sao đấu nhau, y dược, chương toán, bốc số, ca múa, kỹ nhạc.
Các kinh công xảo kỹ thuật như vậy đều biết hết. Sáng suốt hơn
mọi người và các ngoại đạo, không tự cao, không não hại người
khác. Biết các việc thế tục ấy, không phải vì Niết-bàn.
Bồ-tát thành tựu bốn trí vô ngại nên được sắc lực quanh minh hơn
các người Phạm-chí, được các Phạm-chí cung kính ái lạc tôn
trọng, tâm không nhiễm trước. Vì được chư thiên như vậy tôn
trọng cung kính cũng không nhiễm trước, chỉ sanh tâm nghĩ về vô
thường, khổ, không, vô ngã. Cũng dùng thần thông làm phát khởi
tâm chư thiên khiến khát ngưỡng mà nói pháp cho họ, không tận
không hoại, dứt trừ nghi hối, khiến an trú Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác.
Aáy gọi là trong Ðại thừa nói về bốn trí lực vô ngại của Bồ-tát,
hay cứu độ chúng sanh. Ðó là nghĩa của bốn trí vô ngại.
(Hết cuốn 25
theo bản Hán)
--o0o --
Mục Lục
Tập 2
Cuốn
21
| 22
| 23
|
24
|
25
|
26
|
27
|
28
|
29
|
30
31
|
32
|
33
|
34
|
35
|
36
|
37
|
38
|
39
|
40
--o0o --
Mục Lục Tổng Quát Luận Đại Trí Độ
Tập 01
|
Tập 02
|
Tập 03
|
Tập 04
|
Tập 05
--o0o --
Cập nhật: 01-07-2003
|
|