| ...... ... |
. |
Luận Đại
Trí Độ
( Mahàprajnàparamitàsatra)
Tác giả:
Nàgàrjuna (Long Thọ)
Dịch Phạn ra Hán:
Cưu Ma La Thập
Dịch Hán ra Việt:
Thích Thiện Siêu
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
Nam
Ấn hành 1997
---o0o---
Tập 2
Cuốn 22
Niệm pháp:
Đúng như Phật diễn nói: hành giả nên niệm pháp – Pháp ấy khéo
nói, được kết quả ngay trong hiện tại, không nhiệt não, không
chờ thời, có thể đi đến thiện sứ, thông đạt không ngăn ngại.
Khéo nói: Vì
hai đế không trái nhau, đó là thế đế và đệ nhất nghĩa đế, người
trí không thể phá hoại, người ngu không khởi tranh cãi. Pháp ấy
cũng xa lìa hai bên, là hoặc thọ năm dục lạc hoặc thọ khổ hạnh;
lại xa lìa hai bên là hoặc thường hoặc đoạn, hoặc ngã hoặc vô
ngã, hoặc có hoặc không, không vướng vào hai bên như vậy, ấy gọi
là khéo nói. Các ngoại đạo tự quí pháp mình, chê bai pháp người
khác, nên không thể khéo nói.
Được kết quả ngay
trong hiện tại: Xa lìa các nỗi khổ thế gian do ái làm
nhân duyên phát sanh, và xa lìa các nghị luận đấu tránh do tà
kiến làm nhân duyên phát sanh, nên thân tâm được an lạc, như
Phật dạy:
"Người trì giới an
vui,
Thân tâm không nhiệt
não,
Ngũ yên thức cũng
yên,
Tiếng tăm truyền nghe
xa".
* Lại nữa, trong Phật
Pháp nói nhân duyên triển chuyển sanh quả. Nghĩa là giữ giới
thanh tịnh nên tâm không hối hận, tâm không hối hận nên sanh
hoan hỷ, hoan hỷ nên thân tâm khoái lạc, thân tâm khoái lạc nên
được nhiếp tâm, nhiếp tâm nên biết đúng như thật, biết đúng như
thật, nên được nhàm chán, được nhàm chán nên lìa dục, lìa dục
nên được giải thoát, được quả báo giải thoát nên được Niết-bàn,
ấy gọi là được kết quả ngay trong hiện tại. Theo pháp của ngoại
đạo chỉ khổ hạnh suông, không được gì, như A-la-hán Diêm-phù khi
đắc đạo tự hỏi:
"Ta xưa làm ngoại
đạo,
Suốt năm mươi lăm
năm,
Chỉ ăn phân bò khô,
Trần trường nằm trên
gai".
Ta chịu cay đắng như
vậy mà rốt cuộc không được gì, chẳng như ngày nay thấy Phật nghe
pháp, xuất gia ba tháng mà việc cần làm đã làm xong, chứng được
A-la-hán. Do vậy nên biết theo Phật pháp được có kết quả ngay
trong hiện tại.
Hỏi: Nếu
theo Phật pháp được kết quả ngay trong hiện tại, cớ sao các đệ
tử Phật có người không được gì?
Đáp: Hành
giả có thể thứ lớp tu hành đúng như lời Phật dạy, không ai không
được quả báo; cũng như người bệnh theo lời dạy của lương y, theo
pháp điều hòa chửa trị, không bệnh gì không lành. Nếu không theo
lời Phật dạy, không thứ lớp tu hành, phá giới, loạn tâm nên
không được gì, chứ chẳng phải pháp không hay.
* Lại nữa, các người
chưa đắc đạo, đời này tuy không được Niết-bàn, đời sau được thọ
phước báo, lần lượt sẽ được Niết-bàn, trọn không hư dối, như
Phật từng dạy, ai vì cầu Niết-bàn mà xuất gia thì hoặc chậm hoặc
mau, đều sẽ chứng được Niết-bàn. Như vậy, là có thể được kết quả
ngay trong hiện tại.
Không nhiệt não:
Nhiệt não có hai là thân não và tâm não. Thân não là bị trói
buộc lao tù, tra khảo hình lục… Tâm não là do dâm dục, sân nhuế,
xan tham, tật đố mà ưu sầu, sợ hãi… Trong Phật pháp đây, do trì
giới thanh tịnh nên thân không bị các ưu não trói buộc lao tù,
hình lục… Do tâm lìa năm dục, trừ năm triền cái, được thật đạo
nên tâm không bị ưu não về dâm dục, sân nhuế, xan tham, tật đố,
tà nghi… Không não nên không nóng bức.
* Lại nữa, do thiền
định vô lậu phát sanh hỷ lạc, khắp thân lãnh thọ, nên nhiệt não
được trừ, ví như người quá bị nóng bức buồn bực, được vào trong
ao nước, trong trẻo lạnh mát, không còn nhiệt não.
* Lại nữa, các phiền
não hoặc thuộc kiến, hoặc thuộc ái, ấy gọi là nhiệt. Ơong Phật
pháp không có thứ đó, nên gọi là không nhiệt não.
Không chờ thời:
Phật pháp không chờ thời mới tu hành, không chờ thời mới được
kết quả. Còn pháp ngoại đạo, khi mặt trời chưa mọc thọ pháp, khi
mặt trời mọc không thọ pháp, hoặc khi mặt trời mọc thọ, khi mặt
trời chưa mọc không thọ, hoặc ngày thọ đêm không thọ, hoặc đêm
thọ ngày không thọ. Trong Phật pháp không có việc thọ phải chờ
thời, mà tùy khi nào tu tập tám chánh đạo, liền được Niết-bàn;
ví như lửa được củi liền cháy, khi trí tuệ vô lậu phát sanh liền
có thể đốt cháy các phiền não, không chờ thời.
Hỏi: Như
trong Luật Phật dạy: có thuốc phải thời, y phải thời, ăn phải
thời. Nếu người thiện căn chưa thuần thục, chờ thời mới được, vì
sao nói không có thời?
Đáp: Thời
đây là theo pháp thế tục, vì muốn cho Phật pháp trụ lâu nên kết
giới phải thời. Còn nếu vì tu đạo để được Niết-bàn và các
pháp thiền định, trí tuệ vi diệu thì không chờ thời. Pháp của
các ngoại đạo đều chờ thời tiết, còn Phật pháp thì chỉ chờ nhân
duyên đầy đủ. Nếu tuy trì giới, thiền định mà trí tuệ chưa thành
tựu cũng không thể thành đạo; nếu trì giới, thiền định, trí tuệ
đều thành tựu liền đắc quả, không còn chờ thời.
* Lại nữa, lâu lâu
mới đắc quả mới gọi là thời, còn đắc quả tức thời thì không gọi
là thời, ví như người nhuộm giỏi, một lần bỏ đồ vào nhuộm liền
thành, người tâm thanh tịnh cũng như thế, nghe pháp liền thâm
nhiễm, được pháp nhãn thanh tịnh, ấy gọi là không chờ thời.
Được đến thiện xứ:
Ba mươi bảy đạo pháp vô lậu, hay đưa người đến Niết-bàn, ví như
vào sông Hằng, thì chắc chắn đến biển cả, pháp của các ngoại đạo
chẳng phải người nhất thiết trí nói, vì là pháp tà kiến, đưa đến
chỗ ác, hoặc được đến trên trời, vẫn trở lại sa đọa chịu khổ; vì
đều vô thường, nên không gọi là thiện xứ.
Hỏi: Không
có người đưa đi, làm sao được đưa đến Niết-bàn?
Đáp: Tuy
không có người đưa đi, chỉ các pháp có thể đưa các pháp đi, khi
năm uẩn vô lậu thiện dứt rồi (Vô dư Niết-bàn) thì chúng sanh
được cưỡng gọi từ năm uẩn đưa đi vào Niết-bàn. Cũng như gió thổi
bụi bay đi, nước trôi cỏ, tuy không người đưa đi, mà vẫn có thể
có đi.
* Lại nữa, nhân duyên
hòa hợp không có người làm cũng không có người đưa đi, mà quả
báo tùy thuộc nhân duyên không được tự tại, ấy tức gọi là đi.
Thông đạt không ngăn
ngại: Được Phật pháp ấn nên thông đạt không ngăn ngại,
như được ấn của vua thời không bi nạn ngăn giữ.
Hỏi: Những
gì là Phật pháp ấn?
Đáp: Phật
pháp ấn có ba: 1. Hết thảy pháp hữu vi niệm niệm sanh diệt, đều
vô thường. 2. Hết thảy pháp vô ngã. 3. Tịch diệt Niết-bàn.
Hành giả biết ba cõi
đều là pháp hữu vi tạo tác sanh diệt, trước có nay không, nay có
sau không, niệm niệm sanh diệt, tương tục tương tợ sanh ra, có
thể thấy biết được. Như dòng nước, ngọn đèn, luồng gió dài, vì
tương tợ tương tục nên người ta cho là một, chúng sanh đối với
pháp vô thường, vì điên đảo chấp thường, nên cho đi là thường
trú; ấy gọi là hết thảy pháp hữu vi vô thường ấn.
Hết thảy vô ngã là
các pháp bên trong vô chủ, không người làm, không người biết,
người thấy, người sanh, không người tạo tác, các pháp đều thuộc
nhân duyên, thuộc nhân duyên nên không tự tại, không tự tại nên
không ta, vì tướng ta không thể có được. Như trong phẩm Phá ngã
nói rõ, ấy gọi là vô ngã ấn.
Hỏi: Cớ
sao chỉ có pháp tạo tác là vô thường và hết thảy pháp là vô ngã?
Đáp: Pháp
không tạo tác thì không nhân không duyên nên không sanh không
diệt, không sanh không diệt nên không gọi là vô thường.
* Lại nữa, đối với
pháp không tạo tác, không sanh tâm điên đảo chấp trước, do vậy
không nói nó vô thường, chỉ có thể nói nó là vô ngã. Có người
nói thần ngã là tướng biết, thường hằng biến khắp, do vậy nên
nói hết thảy pháp vô ngã ấn.
Tịch diệt tức là
Niết-bàn. Lửa ba độc, ba suy (già, bệnh, chết – N.D) bị
diệt tắt nên gọi là tịch diệt ấn.
Hỏi: Sao
trong tịch diệt ấn chỉ có một pháp chứ không nói nhiều pháp?
Đáp: Trong
ấn đầu nói về năm uẩn vô thường, trong ấn hai nói hết thảy pháp
đều vô ngã, trong ấn thứ ba nói về quả của hai ấn trên, ấy gọi
là tịch diệt ấn. Nói hết thảy pháp tạo tác là vô thường, thời
phá ngã sở năm dục bên ngoài, nếu nói vô ngã thời phá ngã pháp
bên trong, ngã và ngã sở đều phá, ấy gọi là tịch diệt Niết-bàn.
Hành giả quán pháp
tạo tác vô thường, liền sanh tâm nhàm chán sự khổ ở đời. Đã biết
chán khổ nhưng lại ưa đắm chủ thể quán, cho có một chủ thể quán
vô thường, nên lại có pháp vô ngã ấn thứ hai, biết hết thảy vô
ngã, đối với năm uẩn, mười hai nhập, mười tám giới, mười hai
nhân duyên, trong ngoài phân biệt tìm kiếm chủ thể quán không
thể có được, vì không thể có được nên hết thảy pháp vô ngã. Biết
được như vậy, không khởi lên hý luận, không nương tựa vào đâu,
chỉ quy về tịch diệt, thế nên nói là tịch diệt Niết-bàn ấn.
Hỏi: Trong
Đại thừa nói các pháp không sanh không diệt, chỉ nhất tướng tức
là vô tướng, sao trong đây nói hết thảy pháp hữu vi tạo tác vô
thường gọi là pháp ấn? Làm sao hai pháp ấy không trái nhau?
Đáp: Quán
vô thường tức là nhân duyên để quán không, như quán sắc niệm
niệm vô thường tức biết sắc là không, sắc quá khứ đã diệt hoại
không thể thấy nên không tướng sắc; sắc vị lai không sanh, không
tác không dụng, không thể thấy nên không tướng sắc; sắc hiện tại
cũng không ngưng trụ, không thể thấy không thể phân biệt biết,
nên không tướng sắc. Không tướng sắc tức là không, không tức là
không sanh không diệt, không sanh không diệt với sanh diệt, nó
thật là một, mà khi nói rộng khi nói lược.
Hỏi: Sắc
quá khứ vị lai vì không thể thấy nên không tướng sắc, còn sắc
hiện tại khi trụ lại có thể thấy sao nói không tướng sắc?
Đáp: Sắc
hiện tại cũng không có lúc trụ lại, như đã nói trong đoạn nói về
bốn niệm xứ. Nếu pháp lúc sau thấy có tướng hư hoại, nên biết
tướng hư hoại đó có từ khi mới sanh, vì theo đuổi vi tế nên
không biết, như người mang dép, nếu ngày đầu mới mang mà không
cũ, thời về sau lẽ đáng mới mãi, chứ không thể cũ. Nếu không cũ,
thời lẽ đáng là thường, thường thì không tội không phước, không
tội không phước thì pháp đạo và tục rối loạn.
* Lại nữa, tướng sanh
diệt thường đi theo pháp tạo tác, không có lúc nào trụ lại, nếu
có lúc trụ lại thì không sanh diệt. Do vậy, nên sắc hiện tại
không có trụ lại. Trong trụ cũng có sanh diệt, nên trong một
niệm trụ cũng là pháp hữu vi; ấy gọi là thông đạt vô ngại, như
vậy nên niệm pháp.
* Lại nữa, Pháp có
hai thứ: 1. Ba tạng, 12 bộ, 84.000 pháp tụ mà Phật diễn nói. 2.
Nghĩa của Pháp mà Phật nói, đó là trì giới, thiền định, trí tuệ,
tám chánh đạo và quả giải thoát Niết-bàn…
Hành giả trước nên
tưởng niệm Pháp giáo của Phật đã diễn nói, tiếp nên tưởng
niệm Pháp nghĩa.
Niệm Pháp giáo Phật
đã diễn nói: Lời Phật đều chân thật, mỹ diệu, có lợi ích
lớn. Phật diễn nói cũng có sâu có cạn, quán thật tướng nên sâu,
khéo nói nên cạn, tuy nói lập lại mà không có lỗi, vì mỗi mỗi
đều có nghĩa.
Phật diễn nói trụ ở
bốn chỗ, có bốn thứ công đức trang nghiêm: 1. Chỗ tuệ. 2. Chỗ
đế. 3. Chỗ xả. 4. Chỗ diệt.
Có bốn cách đáp, nên
không thể phá hoại: 1. Đáp một cách quyết định. 2. Đáp có giải
thích. 3. Đáp bằng cách hỏi lại. 4. Đáp bằng cách bỏ qua.
Phật diễn nói hoặc có
khi cho phép mà ngăn, hoặc có khi ngăn mà cho phép, hoặc cho
phép mà chẳng ngăn, hoặc ngăn mà chẳng cho phép, bốn điều ấy
thuận nhau không trái.
Phật nói được thật
tướng các pháp nên không hý luận.
Nói có nghĩa có lý
nên phá các thứ luận hữu luận vô. Phật diễn nói tùy thuận đệ
nhất nghĩa, nên tuy nói pháp thế gian, cũng không có lỗi, vì
cùng với hai đế không trái nhau, vì tùy thuận lợi ích, với người
thanh tịnh thì nói lời mỹ diệu, với người không thanh tịnh thì
nói lời gay gắt, dù nói mỹ diệu hay nói lời gay gắt đều không có
tội lỗi.
Lời Phật nói đều tùy
thuận thiện pháp, cũng không đắm trước thiện pháp. Tuy là oan
gia, pháp cấu uế cũng không lấy làm tự cao, tuy có các lời quở
trách cũng không có tội quở trách, tuy đủ lời tán thán pháp,
cũng không nương tựa cái gì, trong lời Phật nói cũng không thêm
không bớt, hoặc nói lược hoặc nói rộng. Lời Phật nói lúc đầu
thiện, lâu dài cứu tìm về sau cũng thiện. Lời Phật nói tuy nhiều
mà nghĩa vị không nhạt mỏng, tuy nói các lời tạp ngữ mà nghĩa
cũng không tạp loạn. Tuy dẫn dắt lòng người, cũng không khiến
người sanh tâm ưa đắm. Tuy hiển bày điều cao siêu kỳ dị cũng
không làm cho người sợ hãi. Tuy có chỗ đạt đến biến khắp mà kẻ
phàm phu tiểu nhân không thể biết. Lời Phật như vậy, có các sự
hy hữu, hay làm cho người dựng đứng lông tóc, toát mồ hôi, khí
đầy, thân thể run sợ. Cũng hay khiến chư thiên sanh tâm nhàm
chán dục lạc, âm thanh khắp mười phương, cõi đất chấn động sáu
cách. Cũng làm cho người xả bỏ sự đắm trước kiên cố từ đời vô
thỉ, kẻ không đắm trước kiên cố thì có thể được vui.
Lời Phật dạy người
tội ác nghe, vì tự có tội nên lo sợ bức não, người khéo nhất tâm
tinh tấn nhập đạo nghe thì như uống vị cam lồ. Đoạn đầu cũng
tốt, đoạn giữa cũng tốt, đoạn sau cũng tốt.
* Lại nữa, trong
nhiều hội chúng mỗi mỗi đều muốn nghe, Phật dùng một lời đáp,
mỗi mỗi đều được hiểu, mỗi mỗi tự nghĩ Phật nói riêng cho mình,
giữa đại chúng tuy có ở xa gần khác nhau mà nghe âm thanh không
có thêm bớt, khắp cả ba ngàn đại thiên thế giới cho đến mười
phương vô lượng thế giới, người đáng được độ thì nghe được,
người không đáng được độ thì không nghe được, ví như sấm sét dậy
đất mà người điếc thì không nghe, còn người nghe thì được ngộ.
Như vậy là tưởng niệm các lời dạy của Phật.
Những gì là Pháp
nghĩa? Tín, giới, xả, nghe, định, tuệ… là các thiện pháp về
đạo và ba pháp ấn như trong đoạn Thông đạt vô ngại nói: Hết thảy
pháp hữu vi vô thường, hết thảy pháp vô ngã, tịch diệt Niết-bàn,
ấy gọi là nghĩa của Phật pháp. Ba pháp ấn ấy, hết thảy luận nghị
sư không thể phá hoại, tuy có nói nhiều điều, cũng không thể làm
biến chuyển các pháp tánh, như tướng lạnh không thể chuyển làm
tướng nóng, các pháp tánh không thể phá hoại, giả sử người ta có
thể làm thương tổn hư không mà các pháp ấn này đúng như pháp
không thể phá hoại. Thánh nhân biết ba thứ pháp tướng ấy, lìa
khỏi hết thảy chỗ đấu tranh nương tựa theo tà kiến. Thí như
người có mắt thấy các người mù cãi nhau về màu sắc chỉ thương mà
cười, chứ không cùng tranh cãi.
Hỏi: Phật
dạy trong pháp Thanh văn có bốn sự thật, trong pháp Đại thừa có
một sự thật, vì sao nay nói ba sự thật?
Đáp: Phật
dạy ba thật pháp ấn, nếu nói rộng thời có bốn, nói lượt
thời là một. Nói vô thường tức là khổ đế, tập đế, đạo đế. Nói vô
ngã thời là chung hết thảy pháp. Nói tịch diệt Niết-bàn tức là
diệt đế.
* Lại nữa, pháp hữu
vi vô thường, vì niệm niệm sanh diệt, đều thuộc nhân duyên,
không tự tại, không tự tại nên vô ngã. Vì vô thường vô ngã nên
là vô tướng, nên tâm không đắm trước, vô tướng không đắm trước
nên tức là tịch diệt Niết-bàn. Do vậy nên trong pháp Đại thừa
tuy nói hết thảy pháp không sanh không diệt, nhất tướng, ấy là
vô tướng. Vô tướng tức là tịch diệt Niết-bàn. Niệm Pháp tam-muội
ấy duyên trí duyên tận (tức duyên trạch diệt vô vi Niết-bàn –
N.D) và công đức các vị Bồ-tát, Bích-chi Phật.
Hỏi: Cớ
sao niệm Phật chỉ duyên đến các công đức vô lậu trong thân Phật?
Niệm Tăng tam-muội chỉ duyên đến các pháp lậu và vô lậu trong
thân các đệ tử Phật? Còn các pháp thiện vô lậu khác đều là sở
duyên của Niệm pháp tam-muội?
Đáp: Đó là
Ca-chiên-diên-ni-tử nói như vậy. Còn người Đại thừa thì nói: ba
đời mười phương Phật và chư Phật từ sơ phát tâm cho đến pháp
cùng tận, ở khoảng trung gian ấy làm công đức thần lực gì đều là
sở duyên của Niệm Phật tam-muội. Như pháp giáo và pháp nghĩa của
Phật dạy, từ một câu một kệ, cho đến 48.000 pháp tụ tín, giới,
xả, nghe, định, tuệ… các thiện pháp, cho đến Vô dư Niết-bàn, đều
là sở duyên của Niệm pháp tam-muội. Các Bồ-tát, Bích-chi Phật,
và chúng Thanh văn, trừ Phật, hết thảy thánh chúng và các công
đức đều là sở duyên của Niệm Tăng tam-muội.
Niệm Tăng: Chúng
đệ tử của Phật đầy đủ giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát
uẩn, giải thoát tri kiến uẩn, có bốn đôi tám bậc, xứng đáng thọ
sự cúng dường kính lễ của trời, người, là ruộng phước vô thượng
của thế gian. Hành giả nên niệm đến Tăng như lời Phật tán
thán. Hoặc Thanh văn Tăng, hoặc Bích-chi Phật Tăng, hoặc công
đức Bồ-tát Tăng, các thánh Tăng ấy đầy đủ năm uẩn như trên đã
nói.
Hỏi: Đoạn
trước lấy năm uẩn tán thán Phật, sao lại còn lấy năm uẩn tán
thán Tăng?
Đáp: Tùy
chỗ các đệ tử được năm uẩn mà tán thán là đầy đủ. Đầy đủ có hai:
1. Thật đầy đủ. 2. Đầy đủ trên danh nghĩa. Như đối đệ tử được
hết những điều đáng được mà tán thán, ấy là đầy đủ trên danh,
còn tán thán những điều Phật thành tựu, ấy là đầy đủ thật.
* Lại nữa, vì muốn để
khác với chúng xuất gia, tại gia của ngoại đạo, nên tán thán như
vậy. Chúng tại gia ngoại đạo thì tán thán họ giàu sang hào quý,
thế lực, còn chúng xuất gia thì tán thán họ tà kiến khổ hạnh,
nhiễm đắm trí tuệ, chấp luận cạnh tranh. Niệm trong Tăng chúng
hoặc có người trì giới, thiền định, trí tuệ… ít không đủ kể, do
đó nên Phật tự tán thán chúng đệ tử có hết thảy công đức căn bản
trú xứ, giới uẩn đầy đủ, cho đến giải thoát tri kiến uẩn đầy đủ.
Trụ trong giới uẩn ấy không khuynh động, dương cung thiền định,
phóng mũi tên trí tuệ, phá giặc phiền não, được giải thoát.
Ơong giải thoát ấy phát sanh thấy biết, ví như người mạnh,
trước tiên chân đứng vững, rồi dương cung phóng tên. Phá kẻ oán
địch, được ra khỏi hai sợ là khỏi tội với vua, và khỏi bị nạn
giữa trận, biết thấy rõ chắc giặc đã bị phá diệt, tâm sanh hoan
hỷ, do vậy nên nêu năm uẩn để tán thán.
Xứng đáng cúng dường:
Công đức năm uẩn đầy đủ cũng giống như người giàu sang, hào thế
được người tôn kính. Chúng đệ tử của Phật cũng như vậy, có tịnh
giới, thiền định, trí tuệ, giàu sang giải thoát, thế lực giải
thoát tri kiến, xứng đáng được cúng dường tôn kính, chấp tay lễ
bái.
Làm ruộng phước vô
thượng của thế gian: Thí chủ có hai hạng nghèo và giàu.
Người nghèo thì lễ bái, cung kính, đưa đón mà được quả báo.
Người giàu cũng có thể cung kính lễ bái, đưa đón, lại còn đem
tài vật cúng dường mà được quả báo. Do vậy nên gọi là ruộng
phước vô thượng của thế gian, ví như ruộng tốt, cày bừa thuần
thục, đúng thời gieo giống, tưới tẩm đầy đủ, thì thu hoạch chắc
nhiều. Ruộng phước chúng Tăng cũng như vậy, dùng trâu trí tuệ
cày, nhổ gốc kiết sử, đem bốn vô lượng tâm sửa trị điều hòa
thuần thục, các đàn-việt gieo hạt giống lúa tín thí và rưới bằng
nước tâm thanh tịnh, niệm thí cung kính, thì hoặc đời nay hoặc
đời sau được vô lượng cái vui thế gian, lại được quả vị tam
thừa. Như Tỳ-kheo Bạt-câu-la, vào thời đức Phật Tỳ-bà-thi, đem
một quả Ha-lê-lặc cúng dường chúng Tăng, mà 91 kiếp được sanh
lên cõi trời, khi ở loài người thì thọ quả báo phước lạc, thường
không bệnh tật, đời này gặp đức Phật Thích-ca Mâu-ni, xuất gia
dứt hết lậu hoặc, thành A-la-hán. Như Sa-môn Nhị-thập-ức trong
thời đức Phật Tỳ-bà-thi, dựng một phòng xá, lấy vật lấp đất, để
cúng dường chúng Tăng, mà 91 kiếp được sanh cõi trời và ở cõi
người thọ quả báo phước vui, chân không dính đất, lúc sanh ra
dưới chân có lông dài hai tấc, mềm mại sạch đẹp, phụ thân thấy
hoan hỷ, cho hai chục ức lượng vàng, thấy Phật nghe Pháp, thành
A-la-hán, là bậc tinh tấn đệ nhất trong hàng đệ tử Phật.
Như vậy là bố thí ít
mà được quả báo lớn, thế nên gọi là phước điền vô thượng của thế
gian.
Tăng có bốn đôi tám
bậc: Phật sở dĩ nói phước điền vô thượng của thế gian là
vì có tám bậc thánh nhân này nên gọi là ruộng phước vô thượng.
Hỏi: Như
Phật bảo cư sĩ Cấp-cô-độc: phước điền đáng cúng dường của thế
gian có hai hạng là hoặc học nhân hoặc vô học nhân. Học nhân có
mười tám, vô học nhân có chín, nay tại sao chỉ nói có tám bậc?
(Học nhân 18 là tùy tín hành, tùy pháp hành, tín giải thoát,
kiến đắc, thân chứng, gia gia, nhất chủng tử, hướng sơ quả, đắc
sơ quả, hướng nhị quả, đắc nhị quả, hướng tam quả, đắc tam quả,
trung ban, sanh ban, hành ban, bất hành ban, thượng lưu ban. Vô
học nhân 9 là thối pháp A-la-hán, tư pháp A-la-hán, hối pháp
A-la-hán, trú pháp A-la-hán, tiến A-la-hán, bất động A-la-hán,
bất thối A-la-hán, huệ giải thoát A-la-hán, câu giải thoát
A-la-hán – N.D).
Đáp: Kia
nói rộng nên có mười tám và chín. Đây nói lược nên chỉ tám. Hai
mươi bảy thánh nhân kia đều nhiếp vào trong tám bậc này. Hàng
tín hành và pháp hành thì hoặc nhiếp vào hướng Tu-đà-hoàn, hoặc
nhiếp vào hướng Tư-đà-hàm, hoặc hướng A-na-hàm, hàng gia gia
nhiếp vào hướng Tư-đà-hàm, hàng nhất chủng nhiếp vào hướng
A-na-hàm, hàng ngũ A-na-hàm nhiếp vào hướng A-la-hán. Hàng tín
hành và pháp hành khi nhập vào tư duy đạo (tu đạo) thì gọi là
tín giải thoát, kiến đắc tín giải thoát. Kiến đắc này nhiếp vào
trong mười lăm học nhân. Chín thứ phước điền thì nhiếp vào
A-la-hán.
* Lại nữa, hành giả
nên niệm Tăng. Tăng là người bạn chân thật đưa ta đến Niết-bàn,
một giới một kiến như vậy nên hoan hỷ, nhất tâm cung kính, thuận
theo không trái. Người bạn trước kia của ta có các thứ ác, vợ
con, nô tỳ, nhân dân… là bạn đưa ta vào ba ác đạo, nay được bạn
thánh nhân, đưa ta an ổn đến Niết-bàn.
Phật như y vương,
Pháp như thuốc hay, Tăng như người xem bệnh, ta nên trì giới
thanh tịnh, chánh ức niệm, như Pháp dược của Phật dạy, ta hãy
thuận theo.
Tăng là nhân duyên
bậc nhất giúp ta dứt các kiết sử, đây là người xem bệnh, do vậy
nên niệm Tăng.
* Lại nữa, Tăng có vô
lượng giới, thiền định, trí tuệ… đầy đủ, đức của Tăng không thể
trắc lường. Như một Trưởng giả giàu sang tin niệm Tăng, nói với
vị Tăng chấp sự rằng: tôi thứ lớp mời Tăng đến nhà thọ thực, cứ
mỗi ngày lần lượt mời cho đến Sa-di. Nhưng vị Tăng chấp sự không
cho Sa-di thọ thỉnh, các Sa-di nói: vì ý gì không cho Sa-di?
Đáp: vì đàn-việt không ưa thỉnh người niên thiếu, bèn nói kệ:
"Tóc râu bạc như
tuyết,
Răng rụng da thịt
nhăn,
Đi khom, hình thể
gầy,
Ưa mời người như
vậy".
Các Sa-di đều là bậc
A-la-hán, như đánh đầu sư tử, bỗng nhiên từ chỗ ngồi đứng dậy
nói kệ:
"Người đàn-việt vô
trí,
Thấy hình không
chuộng đức,
Bỏ tướng niên thiếu
này,
Chỉ chuộng già gầy
đen".
Tướng của bậc thượng
tôn lớn tuổi như Phật dạy kệ:
"Gọi là tướng Trưởng
lão,
Không hẳn vì tuổi
tác,
Hình gầy tóc râu bạc,
Già suông, trong
không đức,
Bỏ được quả tội
phước,
Tinh tấn tu phạm
hạnh,
Đã lìa hết thảy pháp,
AṠgọi là Trưởng lão".
Khi ấy, các Sa-di lại
suy nghĩ: chúng ta không nên ngồi xem vị đàn-việt này phẩm lượng
Tăng tốt, xấu, liền lại nói kệ rằng:
Đối với sự khen chê,
Tâm chúng ta tuy một,
Người ấy hủy Phật
pháp,
Không thể không răn
dạy,
Nên đến gấp nhà kia,
Đem lời pháp dạy bảo,
Chúng ta không độ
được,
AṠthời là vật bỏ".
Tức thời các Sa-di tự
biến thân mình thành Trưởng lão, tóc râu trắng như tuyết, mày
đẹp phủ xuống mắt, da nhăn như làn sóng, lưng còm như cây cung,
hai tay chống gậy đi, thứ lớp đi thọ thỉnh, cả thân đều run rẩy,
đi đứng không an ổn, giống như cây bạch dương, theo gió mà rung
chuyển. Đàn-việt thấy hạng đó, hoan hỷ rước vào ngồi, ngồi xong
trong chốc lát, trở lại hình niên thiếu, đàn-việt sợ hãi nói:
"Tướng già lão như
vậy,
Lại biến thành thân
trẻ,
Như uống thuốc hoàn
đồng,
Việc ấy do sao vậy?"
Các Sa-di nói: ngươi
chớ sanh nghi sợ, chúng ta chẳng phải hàng phi nhân, người muốn
bình lượng Tăng, việc ấy rất đáng thương! Chúng ta vì thương xót
nên hóa hiện ra như vậy, ngươi nên biết cho kỹ, thánh chúng
không thể lường, như nói:
"Như lấy vòi con
muỗi,
Còn có thể lường
biển,
Hết thảy trời và
người,
Không thể lường được
Tăng,
Tăng quí do công đức,
Còn không phân biệt
được,
Mà ngươi dùng tuổi
tác,
Cân lường các Đại
đức!
Lớn nhỏ sanh nơi trí,
Không ở nơi già trẻ,
Có trí, siêng tinh
tấn,
Tuy trẻ mà là già,
Biếng nhác, không trí
tuệ,
Tuy già mà là trẻ".
Nay ngươi, bình lượng
Tăng, ấy là có lỗi lớn, không khác nào lấy một ngón tay muốn
lường biết biển cả, bị người trí chê cười. Ngươi không nghe Phật
dạy bốn việc tuy nhỏ mà không thể khinh: thái tử tuy nhỏ, mà sẽ
làm vua, nên không thể khinh; rắn con tuy nhỏ, mà độc làm chết
người, cũng không thể khinh; đốm lửa tuy nhỏ, có thể đốt cháy
núi đồng, lại không thể khinh; Sa-di tuy nhỏ, mà được thần thông
bậc thánh, rất không thể khinh.
Lại có bốn hạng
người: như trái am-la (xoài) sống mà như chín, chín mà như sống,
sống mà như sống, chín mà như chín. Đệ tử Phật cũng như vậy, có
vị thành tựu công đức bậc thánh, mà oai nghi, ngôn ngữ không
giống người lành; có vị oai nghi, ngôn ngữ giống người lành mà
công đức bậc thánh không thành tựu; có vị oai nghi, ngôn ngữ
không giống người lành mà công đức bậc thánh chưa thành tựu; có
vị oai nghi, ngôn ngữ giống như người lành mà công đức bậc thánh
thành tựu.
Sao ngươi không nhớ
những lời ấy, mà muốn cân lường Tăng. Ngươi nếu muốn hủy Tăng,
thời chỉ là tự hủy và người bị lỗi lớn. Việc đã qua không thể
kéo lại, thiện tâm vừa sanh đến, có thể trừ bỏ nghi hối, hãy
nghe ta nói:
"Thánh chúng, không
thể lường,
Khó biết qua oai
nghi,
Không thể đem dòng
họ,
Cũng không do đa văn,
Cũng không do uy đức,
Lại không do tuổi
tác,
Không do dáng nghiêm
trang,
Lại không do biện
thuyết,
Thánh chúng nước biển
cả,
Công đức rất thâm
sâu".
"Phật lấy trăm việc
khen ngợi Tăng,
Thí cho tuy ít được
quả nhiều,
Ngôi báu thứ ba tiếng
nghe xa,
Do vậy hãy nên cúng
dường Tăng,
Không nên phân biệt
ai già trẻ,
Biết nhiều, nghe ít,
sáng hay tối,
Như người xem rừng
không phân biệt,
Y-lan, Chiêm-bặc, và
Tát-la.
Ngươi muốn niệm Tăng,
nên như vậy,
Không nên lấy ngu
phân biệt thánh,
Lúc Ma-ha Ca-diếp
xuất gia,
Nạp y giá trị mười
vạn vàng,
Muốn làm người hạ
tiện xin ăn,
Lại cầu thô tệ mà
chẳng được,
Đối thánh chúng Tăng
cũng như vậy,
Tìm cầu phước điền
tối hạ tiểu,
Hãy dạy người thí gấp
mười vạn,
Lại cầu chẳng bằng,
không thể được".
"Trong biển lớn Tăng
chúng,
Kiết giới là bờ mé,
Nếu có người phá
giới,
Trọn không ở Tăng số,
Ví như nước biển lớn,
Không dung chứ tử
thi".
Đàn-việt nghe việc
ấy, thấy rõ sức thần thông, sợ hãi dựng lông, chấp tay thưa các
Sa-di rằng: các bậc thánh! Tôi nay sám hối, tôi là kẻ phàm phu,
tâm thường có tội hoài nghi, tôi có chút ngờ, nay muốn xin hỏi,
mà nói kệ rằng:
"Đại đức! đã quá
nghi,
Tôi nay được gặp gỡ,
Nếu lại không thưa
hỏi,
Thời là ngu trong
ngu".
Các Sa-di nói: Ngươi
muốn hỏi thì hỏi, ta sẽ đáp như điều đã nghe.
Đàn-việt hỏi rằng:
đối với Phật bảo có tín tâm thanh tịnh, đối với Tăng bảo có tín
tâm thanh tịnh, phước nào hơn? Đáp: Chúng ta vốn không thấy Tăng
bảo, Phật bảo có hơn thua, vì có một lần Phật khất thực tại
thành Xá-bà-đề, có người Bà-la-môn tên Bà-la-đỏa-thệ. Phật
thường thường đến nhà ấy khất thực, Bà-la-môn nghĩ rằng: Sao
Sa-môn này đến hoài, như ta nợ ông ấy? Khi ấy Phật nói kệ:
"Thường thường mưa
đúng thời,
Ngũ cốc thường thường
thành,
Thường thường tu
phước nghiệp,
Thường thường thọ quả
báo,
Vì thường thường thọ
sanh,
Nên thường thường thọ
tử,
Chánh pháp thường
thường thành,
Ai thường thường sanh
tử".
Bà-la-môn nghe kệ ấy
xong, nghĩ rằng: Phật bậc đại thánh, biết rõ tâm ta, hổ thẹn lấy
bình bát của Phật đem vào nhà đựng đầy thức ăn ngon, mà dâng cho
Phật, Phật không nhận mà nói rằng: Ta vì nói kệ nên được thức ăn
này, Ta không ăn.
Bà-la-môn nói: vậy
thức ăn nay nên cho ai?
Phật dạy: Ta không
thấy trời hay người có thể tiêu hóa được thức ăn này, ngươi hãy
đem đi để chỗ đất ít cỏ hoặc trong nước không có trùng.
O⮧ liền theo lời Phật
dạy, đem thức ăn để vào trong nước không có trùng, nước liền sôi
lớn, khói lửa bay ra, như ném cục sắc nóng to.
Bà-la-môn thấy vậy sợ
hãi nói: chưa từng có vậy, cho đến đối với thức ăn mà có thần
lực như vậy.
Trở lại chỗ Phật, lễ
dưới chân Phật sám hối, xin xuất gia thọ giới.
Phật dạy: thiện lai!
tức thời râu tóc tự rụng, bèn thành Sa-môn, dần dần dứt kiết sử,
chứng được A-la-hán đạo.
Lại có bà Ma-ha
Kiều-đàm-di đem y báu kim sắc thượng hạ cúng Phật, Phật biến
chúng Tăng có thể thọ dụng, mới nói Kiều-đàm-di đem y thượng hạ
ấy cúng cho chúng Tăng. Do vậy biết Phật bảo, Tăng bảo phước như
nhau không nhiều hay ít.
Đàn-việt hỏi: nếu bố
thí cho Phật, Tăng có thể thọ nhận và tiêu hóa được, cớ sao thức
ăn của Bà-la-môn Bà-la-đỏa-thệ, Phật không dạy khiến Tăng ăn?
Các Sa-di đáp: vì để
hiển bày Tăng có đại lực vậy. Nếu không thấy thức ăn bỏ vào nước
có đại thần lực thời không do đâu biết Tăng lực là lớn. Nếu vật
thí cho Phật mà Tăng được thọ dụng liền biết Tăng lực là lớn.
Thí như thầy thuốc muốn thử thuốc độc, trước đem cho gà ăn, gà
liền bị chết, vậy sau tự uống mới biết uy lực của thuốc là lớn.
Thế nên đàn-việt nên biết.
"Nếu ai ái kính Phật,
Cũng nên ái kính
Tăng,
Không nên có phân
biệt,
Vì đồng là bảo vậy".
Bấy giờ, đàn-việt
nghe nói sự ấy, vui vẻ nói: tôi từ ngày nay, nếu có ai nhập vào
Tăng số hoặc nhỏ hoặc lớn, tôi đều nhất tâm tín kính, không dám
phân biệt.
Các Sa-di nói: tâm
ngươi kính tín phước điền vô thượng, thời không bao lâu sẽ đắc
đạo, vì cớ sao?
"Người đa văn, trì
giới,
Trí tuệ và thiền
định,
Đều nhập vào Tăng số,
Như muôn sông về
biển,
Thí như các cỏ thuốc,
Nương tựa nơi núi
tuyết,
Cỏ cây, trăm giống
lúa,
Đều nương tựa nơi
đất,
Hết thảy các người
lành,
Đều ở trong Tăng số".
* Lại nữa, các ngươi
từng nghe Phật vì Trường quỉ thần tướng quân mà tán thán ba
thiện nam tử là A-nê-lô-đà, Nan-đề, Ca-sí-di-la chăng?
Phật dạy: Nếu hết
thảy trời và người trong thế gian nhất tâm niệm đến ba thiện nam
tử, thời được vô lượng lợi ích lâu dài. Do việc như vậy, hãy tín
kỉnh Tăng gấp bội, ba người ấy không gọi là Tăng mà Phật dạy
niệm đến ba người còn có quả báo như vậy, huống gì nhất tâm
thanh tịnh niệm đến Tăng. Thế nên đàn-việt nên dốc sức niệm
Tăng. Tăng danh như kệ nói:
"Chúng các thánh nhân
ấy,
Là đội quân hùng
mãnh,
Tồi diệt giặc ma
vương,
Là bạn đến Niết-bàn".
Các Sa-di đủ cách vì
đàn-việt nói các thánh công đức của Tăng. Đàn-việt nghe xong, cả
nhà lớn nhỏ, đều thấy lý Tứ đế, được Tu-đà-hoàn đạo.
Do nhân duyên như
vậy, hãy nên nhất tâm niệm Tăng.
Niệm giới:
Giới có hai thứ là hữu lậu giới và vô lậu giới. Hữu lậu giới lại
có hai là luật nghi giới và định cọng giới. Hành giả sơ học,
niệm đến ba thứ giới ấy, khi học ba thứ xong, chỉ niệm đến vô
lậu giới. Luật nghi giới ấy hay làm cho các đều ác không được tự
tại, khô mục gãy mòn. Thiền định giới hay ngăn ngừa các phiền
não, vì cớ sao? Vì được nội lạc, nên không cầu đến cái vui thế
gian. Vô lậu giới hay nhổ gốc rễ các ác phiền não.
Hỏi: Làm
sao niệm giới?
Đáp: Như
nói trong đoạn Niệm Tăng. Phật như vị lương y, Pháp như thuốc
hay, Tăng như người xem bệnh. Giới như uống thuốc cấm kỵ. Hành
giả tự nghĩ: nếu ta không tuân theo cấm kỵ, thì Tam bảo đối với
ta không có ích gì. Lại như đạo sư chỉ bày con đường tốt, hành
giả không theo, vị đạo sư không có lỗi. Do vậy, ta nên niệm
giới.
* Lại nữa, giới là
trú xứ của hết thảy thiện pháp, ví như cây cỏ trăm giống lúa
nương đất mà sinh. Trì giới thanh tịnh, thì hay sanh trưởng các
thiền định sâu xa và trí tuệ biết thật tướng, cũng là cửa ban
đầu của người xuất gia, chỗ nương cậy của hết thảy người xuất
gia, là nhân duyên ban đầu đưa đến Niết-bàn. Như nói do trì giới
mà tâm không hối hận, cho đến được Niết-bàn giải thoát. Hành giả
niệm giới thanh tịnh, giới không khuyết, giới không phá, giới
không lủng, giới không tạp, giới tự tại, giới không nhiễm trước,
giới được người trí khen ngợi, không có các tỳ vết kẻ hở, gọi là
giới thanh tịnh.
Thế nào là giới không
khuyết? Trong giới của năm chúng xuất gia, trừ phạm bốn giới
trọng, phạm các giới trọng khác gọi là khuyết, phạm các tội khác
gọi là phá.
* Lại nữa, tội nơi
thân gọi là khuyết, tội nơi miệng gọi là phá.
* Lại nữa, đại tội
gọi là khuyết, tiểu tội gọi là phá. Thiện tâm hồi hướng
Niết-bàn, không để cho các kiết sử ác giác quán xen vào, ấy gọi
là không lủng.
Vì Niết-bàn, vì thế
gian, thọ giới vì hướng vào cả hai nơi ấy, gọi là tạp.
Theo giới không theo
ngoại duyên, như người tự tại, không bị hệ thuộc, trì tịnh giới
ấy không bị ái câu thúc ấy là giới tự tại.
Đối với giới không
sanh các kiết sử tham ái kiêu mạng, biết thật tướng giới, cũng
không chấp thủ giới ấy. Nếu chấp thủ giới ấy, ví như người ở
ngục tù bị cùm xiềng câu thúc, tuy mong được tha mà lại bị khóa
vàng trói ngăn. Người bị ân ái trói buộc, như ở lao ngục, tuy
được xuất gia lại ưa đắm trước cấm giới, như vướng khóa vàng.
Hành giả nên biết giới là nhân duyên vô lậu mà không ưa đắm thời
được giải thoát, không bị trói buộc; ấy gọi là không nhiễm trước
giới.
Giới được chư Phật,
Bồ-tát, Bích-chi-Phật và Thanh văn khen ngợi, nếu thực hành giới
ấy, dùng giới ấy, ấy gọi là giới được người trí khen ngợi.
Giới ngoại đạo là
giới trâu, giới nai, giới chó, giới quỷ La-sát, giới câm, giới
điếc, các giới như vậy, người trí không khen ngợi, luống chịu
khổ không có thiện báo.
* Lại nữa, được người
trí khen ngợi là, trong ba thứ giới, vô lậu giới là không bị
phá, không bị hoại, nương giới đó, được trí tuệ thật, ấy là giới
được bậc thánh khen ngợi.
Vô lậu giới có ba,
như Phật nói chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng. Nghĩa của ba
nghiệp ấy như ở đoạn tám thánh đạo có nói rộng.
Hỏi: Nếu
trì giới là nhân duyên của thiền định, thiền định là nhân duyên
của trí tuệ, tại sao trong tám chánh đạo, tuệ được nói trước,
giới ở giữa, định ở sau?
Đáp: Phép
tắc đi đường, trước phải do mắt thấy đường rồi sau mới đi. Trong
khi đi hãy siêng năng, khi đang siêng năng đi, thường nhớ đến
lời đạo sư dạy, nhớ rồi nhất tâm thẳng đường đi tới, không theo
đường quấy. Chánh kiến cũng như vậy, trước lấy chánh trí tuệ
quán năm thọ uẩn đều khổ, ấy gọi là khổ; khổ từ các kiết sử ái…
hòa hợp sanh, ấy là tập; kiết sử ái… diệt sạch, ấy là Niết bàn;
như vậy quán tám phần, gọi là đạo, ấy gọi là chánh kiến.
Hành giả trong lúc ấy, tâm định biết thế gian hư vọng đáng xả
bỏ, Niết-bàn thật pháp đáng thủ chứng. Quyết định việc ấy, ấy
gọi là chánh kiến. Biết thấy việc ấy, mà tâm lực chưa lớn, chưa
thể phát ra hành động, suy nghĩ trù lượng, phát động chánh kiến,
khiến cho đắc lực, ấy gọi là chánh tư duy. Trí tuệ đã
phát, muốn dùng lời nói ra nên tiếp theo có giới chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng. Trong lúc thật hành tinh tấn không
giải đãi, không để cho trú trong định sắc vô sắc, ấy gọi là
chánh phương tiện. Dùng chánh kiến ấy quán bốn đế, thường
nhớ không quên, nhớ hết thảy phiền não là giặc, phải nên bỏ, còn
chánh kiến… là bạn chân chánh của ta, phải nên theo, ấy gọi là
chánh niệm. Đối với pháp Tứ đế, nhiếp tâm không tán loạn,
không cho hướng đến định sắc vô sắc mà nhất tâm hướng đến
Niết-bàn, ấy gọi là chánh định. AṠlà ban đầu được thiện
hữu lậu, gọi là nghĩa trong noãn pháp, đảnh pháp, nhẫn pháp. Thứ
lớp tăng tấn, sơ tâm, trung tâm, hậu tâm vào tâm vô lậu mau
chóng, trong một tâm đầy đủ, không còn phân biệt thứ lớp trước
sau.
Ba giới chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng hành theo năm phần là chánh kiến, chánh
tư duy, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định.
Chánh kiến thì lo
việc phân biệt tốt xấu, lợi ích; chánh tư duy thì lo việc phát
động chánh kiến; chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thì giữ gìn
các công đức trí tuệ không để cho tán mất; chánh phương tiện thì
thúc dục khiến tiến mau không ngừng nghỉ; chánh niệm thì nhớ bảy
việc đáng làm kia, (bảy chánh kia) không quên; chánh định thì
làm cho tâm thanh tịnh không nhơ không loạn, khiến bảy phần, là
chánh kiến, chánh tư duy… được thành. Ví như ngọn đèn ở trong
phòng không gió, thời chiếu sáng rõ ràng. Như vậy, vô lậu giới ở
trong tám thánh đạo, cũng được bậc trí khen.
Hỏi: Vô
lậu giới đáng được bậc trí khen ngợi, còn hữu lậu giới khen thế
nào?
Đáp: Hữu
lậu giới tương tợ vô lậu, theo nhân duyên đồng hành với vô lậu
nên được bậc trí khen. Ví như trong đám giặc có người làm phản
mà về với ta, kia tuy là giặc, mà nay hướng đến ta, ta hãy nạp
lấy, thì có thể phá giặc, sao không niệm được! Các giặc phiền
não ở trong thành ba cõi, các thiện căn hữu lậu giới hoặc noãn
pháp, đảnh pháp, nhẫn pháp, thế đệ nhất pháp, khác với các pháp
hữu lậu khác nên hành giả thọ dụng, do vậy mà phá được các giặc
kiết sử, được pháp tài vô lậu khổ pháp nhẫn, nên được bậc trí
khen; ấy gọi là niệm giới.
Niệm xả: Có
hai thứ xả: 1. Xả thí, 2. Xả các phiền não.
Xả thí có hai: 1. Tài
thí. 2. Pháp thí.
Ba thứ xả hòa hợp gọi
là xả. Tài thí là gốc rễ của hết thảy thiện pháp, nên hành giả
suy nghĩ; do bốn niệm trên nên được lành bệnh phiền não, vậy nay
do gì mà được bốn niệm ấy? AṠlà do đời trước, đời này đối với
Tam bảo có phần bố thí, vì cớ sao? Vì chúng sanh trong thế gian
từ vô thỉ đối với Tam bảo không biết bố thí, phước bị dứt sạch.
Tam bảo có vô lượng pháp, cho nên thí cũng không cùng tận, chắc
chắn đạt đến Niết-bàn.
* Lại nữa, chư Phật
quá khứ, khi mới phát tâm đều lấy việc bố thí ít nhiều làm nhân
duyên, như Phật dạy: bố thí là nhân duyên trợ đạo bước đầu.
* Lại nữa, mạng người
vô thường, tài vật như điển chớp, nếu người không xin, còn nên
đem cho, huống xin mà không cho. Lấy việc đáng bố thí đó làm
nhân duyên giúp đạo.
* Lại nữa, tài vật là
nhân duyên sanh ra các phiền não tội nghiệp, nếu tu các thiện
pháp trì giới, thiền định, trí tuệ, là nhân duyên đắc Niết-bàn.
Do vậy tài vật thường nên tự bỏ, huống đối với ruộng phước tốt
mà không bố thí. Ví như có hai anh em, mỗi người gánh mười cân
vàng đi giữa đường, không có bè bạn. Người anh thầm nghĩ: sao
không giết em mà lấy vàng, giữa đồng trống này không ai biết.
Người em cũng thầm nghĩ muốn giết anh để lấy vàng. Anh em đều có
ác tâm, cách nói năng nhìn ngó nhau đều đổi khác, anh em liền tự
tĩnh ngộ, trở lại sanh tâm hối hận: chúng ta chẳng phải người,
có khác gì cầm thú, anh em đồng cha mẹ sanh, sao lại vì một ít
vàng mà sanh tâm ác? Anh em cùng đi đến chỗ nước sâu, người anh
lấy vàng quăng xuống nước. Người em nói: lành thay, lành thay!
Người em liền cũng quăng vàng xuống nước. Người anh cũng nói:
lành thay, lành thay! Anh em hỏi nhau: vì sao nói lành thay,
lành thay! Đáp: chúng ta vì vàng này sanh tâm bất thiện muốn làm
hại nhau, nay bỏ nó được, cho nên nói lành thay. Cả hai lời đều
như vậy. Do đó nên biết tài vật là nhân duyên sanh ác tâm, hãy
nên tự bỏ, huống gì bố thí thì được phước lớn mà không bố thí,
như kệ nói:
"Thí là kho báu đi
(theo),
Cũng là bạn thân
thiện,
Thỉ chung lợi ích
nhau,
Không ai phá hoại
được.
Thí là lọng dày tốt,
Hay che mưa đói khát,
Thí là thuyền bền
chắc,
Hay qua biển nghèo
cùng.
Lẫn là tướng hung
suy,
Vì nó sanh lo sợ,
Rửa nó bằng nước thí,
Thời là sanh phước
lợi.
Lẫn tiếc, không áo
cơm,
Trọn đời không hoan
lạc,
Tuy rằng có tài vật,
Không khác kẻ nghèo
khốn,
Nhà của người keo
kiệt,
Không khác gì mồ mả,
Người cầu xin tránh
xa,
Trọn không ai bước
tới,
Người xan tham như
vậy,
Bị người trí vứt bỏ.
Mạng khí tuy chưa
chết,
Mà không khác người
chết,
Người lẫn, không
phước tuệ,
Không hứa chắc bố
thí,
Khi sắp rơi hầm chết,
Luyến tiếc sanh não
hận,
Khóc lóc đi một mình,
Lửa ưu hối đốt thân,
Người ưa thí an vui,
Trọn không bị khổ ấy,
Người tu hạnh bố thí,
Tiếng tăm khắp mười
phương,
Được người trí yêu
kính,
Vào giữa chúng không
sợ,
Mạng chung sanh lên
trời,
Lâu chắc được
Niết-bàn".
Các cách mắng xan
tham, khen bố thí như vậy, ấy gọi là niệm tài thí.
Thế nào là niệm
Pháp thí?
Hành giả suy nghĩ như
vầy: Pháp thí có lợi ích rất lớn, do Pháp thí nên các đệ tử Phật
đắc đạo. Lại nữa, Phật nói trong hai lối thí, Pháp thí là bậc
nhất, vì sao? Vì quả báo tài thí có hạn lượng, quả báo Pháp thí
không hạn lượng. Tài thí được quả báo trong cõi dục, Pháp thí
được quả báo trong ba cõi, cũng được quả báo ra ngoài ba cõi.
Nếu không cầu tiếng tăm, tài lợi, thế lực mà chỉ vì học Phật
đạo, mở rộng tâm đại từ bi, độ chúng sanh khỏi khổ già, bệnh,
chết, ấy gọi là Pháp thí thanh tịnh. Nếu không được như vậy, thì
việc bố thí chỉ như cách đổi chát ở chợ.
* Lại nữa, tài thí
đem thí nhiều thì tài vật bị giảm ít, còn Pháp thí, càng thí
nhiều thì Pháp càng tăng thêm. Tài thí là pháp cũ có sẵn trong
vô lượng đời, còn Pháp thí là khi có thánh pháp mới bắt đầu xuất
hiện, khó được, nên gọi là Pháp mới. Tài thí chỉ cứu được các
bệnh đói, khát, lạnh, nóng… còn Pháp thí trừ được 98 bệnh phiền
não. Các nhân duyên như vậy, phân biệt Tài thí, Pháp thí, hành
giả hãy nên niệm Pháp thí.
Hỏi: Thế
nào là Pháp thí?
Đáp: Phật
dạy mười hai bộ kinh, với tâm thanh tịnh vì phước đức nói cho
người khác nghe, ấy gọi là Pháp thí.
Lại dùng sức thần
thông làm cho người đắc đạo, cũng gọi là Pháp thí. Như trong
kinh Võng Minh Bồ-Tát nói: có người do thấy ánh sáng của Phật mà
đắc đạo hoặc sanh lên trời. Như vậy tuy miệng không nói khiến
người nghe được Phật pháp, mà cũng gọi là Pháp thí. Pháp thí thì
nên quán xét tâm tánh chúng sanh phiền não nhiều hay ít, trí tuệ
lợi hay độn, rồi tùy chỗ lợi ích mà nói Pháp cho họ nghe. Ví như
tùy bệnh cho uống thuốc thời có ích. Có người dâm dục nặng, có
người sân nhuế nặng, có người ngu si nặng, có người đủ hai thứ
lẫn lộn, có người đủ cả ba thứ lẫn lộn. Người dâm dục nặng thì
nói cho bất tịnh quán, người sân nhuế nặng thì nói cho từ tâm,
người ngu si nặng thì nói cho Pháp nhân duyên sâu xa. Người đủ
hai thứ lẫn lộn thì nói cho hai Pháp quán, người đủ ba thứ lẫn
lộn thì nói cho ba Pháp quán. Nếu người không rõ tướng trạng
bệnh mà cho thuốc lầm thì bệnh càng tăng. Nếu người chấp trước
tướng chúng sanh thì nói cho họ chỉ có năm uẩn, trong đó không
có ngã. Nếu người nói không có tướng chúng sanh thì nói cho họ
có năm uẩn tương tục, đừng để họ đọa vào đoạn diệt. Đối với
người cầu giàu vui thì nói cho họ bố thí, người muốn sanh lên
trời thì nói cho họ trì giới, kẻ nghèo thiếu nhiều ở trong loài
người, thì nói cho các việc ở trên trời. Người buồn bực lo sợ ở
nhà thì nói cho Pháp xuất gia, người mê đắm tài vật ở nhà thì
nói cho Pháp tu tại gia năm giới, nếu người không vui ở thế gian
thì nói cho ba Pháp ấn là vô thường, vô ngã, Niết-bàn. Nương
theo Kinh Pháp, tự minh diễn giảng nghĩa lý, ví như nói cho
chúng sanh trang nghiêm Pháp thí. Do các thứ lợi ích như vậy,
thường niệm Pháp thí.
Xả bỏ phiền não:
Dứt trừ hết ba kiết cho đến 98 sử, ấy gọi là xả bỏ. Niệm tưởng
xả bỏ Pháp ấy giống như xả bỏ rắn độc, gông cùm mà được an ổn
hoan hỷ.
* Lại nữa, niệm tưởng
xả bỏ phiền não cũng nhiếp vào trong sự niệm Pháp.
Hỏi: Nếu
đã nhiếp vào sự niệm Pháp, sao nay lại còn nói?
Đáp: Xả bỏ
các phiền não, Pháp ấy vi diệu khó được, vô thượng vô lượng cho
nên lại nói riêng.
* Lại nữa, niệm Pháp
với niệm xả bỏ khác nhau, niệm Pháp là niệm Phật pháp vi diệu,
còn niệm xả là niệm các tội ác phiền não, xả bỏ nó là khoái lạc.
Hành tướng riêng biệt ấy là khác. Do các nhân duyên như vậy,
hành giả nên niệm xả. Niệm xả là trong khi bắt đầu học thiền trí
sợ sanh tăng thượng mạn.
Niệm thiên:
Có trời Tứ thiên vương cho đến trời Tha-hóa-tự-tại.
Hỏi: Đệ tử
Phật nên nhất tâm niệm Phật và Phật pháp, chứ sao lại niệm trời?
Đáp: Biết
quả báo do nghiệp bố thí được thọ hưởng giàu vui trên trời, cho
nên niệm trời.
* Lại nữa, có tám
niệm. Phật tự nói nhân duyên. Người niệm trời thì nên niệm rằng:
có trời Tứ thiên vương, vị trời này do năm Pháp thiện nên được
sanh trong đó. Tin tội phước, thọ trì giới, nghe thiện pháp, tu
bố thí, học trí tuệ, thì ta cũng có năm pháp ấy. Do vậy nên hoan
hỷ nói: trời do năm pháp ấy được sanh chỗ giàu vui, ta cũng có
năm pháp ấy, ta muốn sanh kia cũng có thể sanh được, nhưng cho
phước ở cõi trời vô thường, cho nên ta không thọ lãnh. Cho đến
trời Tha-hóa-tự-tại cũng vậy.
Hỏi: Trong
ba cõi, trời thanh tịnh nhiều, cớ sao chỉ niệm trời ở cõi Dục?
Đáp: Trong
pháp Thanh văn nói niệm trời là chỉ trời cõi Dục, còn trong pháp
Đại thừa nói niệm trời là niệm hết thảy trời trong ba cõi. Hành
giả khi chưa đắc đạo, hoặc tâm đắm trước năm dục của nhân gian,
niệm Phật hay niệm trời, nếu dứt được dâm dục thời sanh lên hai
cõi trên, nếu không dứt được dâm dục thời sanh trong cõi trời
Lục dục, trong đây có dục tế diệu thanh tịnh. Phật tuy không
muốn con người sanh trở lại thọ hưởng năm dục, nhưng có chúng
sanh không thể vào Niết-bàn, nên vì hạng chúng sanh ấy mà dạy
niệm trời, như con quốc vương đứng ở chỗ cao vút hiểm nguy,
không thể cứu hộ, muốn tự nhào xuống đất, vua sai người trải nệm
bông dày, rơi thời không chết, lành lặn trong khi rơi xuống đất.
* Lại nữa, có bốn
loại trời là Danh thiên, Sanh thiên, Tịnh thiên, Tịnh sanh
thiên. Danh thiên là quốc vương gọi là Thiên tử. Sanh thiên là
từ Tứ thiên vương cho đến trời Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Tịnh
thiên là các thánh nhân trong loài người. Tịnh sanh thiên là các
thánh nhân sanh trong chư thiên ở ba cõi. Đó là Tu-đà-hoàn,
Gia-gia (thiên gia-gia, nhân gia-gia) Tư-đà-hàm, Nhất chủng
(Nhất lai), hoặc ở trên trời chứng được quả A-na-hàm, A-la-hán.
Tịnh sanh thiên ở trong sắc giới có năm bậc A-na-hàm, không còn
trở lại cõi Dục mà ở ngay tại đây chứng được A-la-hán. Ơong
cõi Vô sắc có một bậc A-na-hàm, lìa cõi Sắc sanh cõi Vô sắc, ở
tại đây tu đạo vô lậu, chứng A-la-hán mà vào Niết-bàn. Niệm hai
loài trời Sanh thiên và Tịnh sanh thiên như vậy, gọi là niệm
thiên.
Niệm hơi thở ra vào:
Như trong kinh Thiền nói.
Niệm chết: Có
hai cách chết là tự chết và do nhân duyên bên ngoài làm chết.
Hai cách chết này hành giả thường nhớ nghĩ; thân này nếu bên
ngoài không giết thì chắc chắn nó cũng sẽ tự chết. Như vậy đối
với pháp hữu vi không nên sanh tâm tin là không chết, dù trong
khoảng gảy móng tay; thân này trong mọi thời đều chết, không đợi
già, không nên ỷ vào cái thân đủ thứ ưu não, hung suy này, sanh
tâm mong an ổn không chết, người ngu mới sanh tâm ấy. Bốn đại:
đất, nước, gió, lửa trong thân tác hại lẫn nhau, giống như người
ôm hòm rắn độc, cớ sao người trí cho là an ổn? Nếu hơi thở ra
bảo đảm sẽ thở vào, hơi thở vào bảo đảm sẽ thở ra, ngủ sẽ trở
lại thức, đều là việc khó quyết chắc, vì sao? Vì trong ngoài
thân có nhiều oán, như nói:
"Hoặc ở trong thai
chết,
Hoặc khi sanh ra
chết,
Hoặc khi tuổi lớn
chết,
Hoặc khi già đến
chết,
Cũng như quả khi
chín,
Đủ duyên làm rơi
xuống,
Hãy cầu xa lìa khỏi,
Thứ oán tặc chết dữ,
Giặc này khó thể tin,
Bỏ thời được an ổn,
Giả sử người đại trí,
Sức oai đức vô
thượng,
Không trước cũng
không sau,
Hiện tại không ai
thoát,
Cũng không từ tạ
khéo,
Hay cầu xin được
thoát,
Cũng không chỗ chống
đỡ,
Có thể được thoát
khỏi,
Cũng chẳng phải giữ
giới,
Tinh tấn mà thoát
được,
Giặc chết không
thương xót,
Khi đến, không chỗ
tránh".
Vậy nên hành giả
không nên ở trong thân mạng vô thường mong manh mà tin tưởng
mong cầu sống mãi.
Như Phật dạy ý nghĩa
tưởng chết cho các Tỳ-kheo: hoặc có một Tỳ-kheo trạch vai
áo bên phải bạch Phật, con có thể tu tưởng chết!
Phật dạy: ông tu thế
nào?
Tỳ-kheo thưa: con
không hy vọng sống quá bảy năm.
Phật dạy: O⮧ là
Tỳ-kheo phóng dật tu tưởng chết.
Có một Tỳ-kheo thưa:
con không hy vọng sống quá bảy tháng.
Có Tỳ-kheo thưa: bảy
ngày.
Có vị thưa: sáu, năm,
bốn, ba, hai, một ngày.
Phật dạy: các ông đều
là Tỳ-kheo phóng dật tu tưởng chết.
Có Tỳ-kheo thưa: từ
sáng đến bữa ăn ngọ.
Có Tỳ-kheo thưa:
trong khoảng một bữa ăn.
Phật dạy: các ông đều
là Tỳ-kheo phóng dật tu tưởng chết.
Một Tỳ-kheo khác
trạch vai áo bạch Phật: con đối với hơi thở ra không mong thở
vào, hơi thở vào không mong thở ra.
Phật dạy: đây mới là
Tỳ-kheo không phóng dật, thật tu tưởng chết.
Hết thảy pháp hữu vi,
niệm niệm sanh diệt, ngưng trụ rất ngắn giống như huyễn thuật,
dối gạt kẻ vô trí. Hành giả do các nhân duyên như vậy niệm
tưởng chết.
Hỏi: Pháp
là Thầy của chư Phật ba đời, cớ sao niệm Phật trước niệm Pháp?
Tám niệm ấy vì sao có thứ lớp?
Đáp: Pháp
tuy là Thầy của chư Phật ba đời mười phương, song Phật diễn nói
ra Pháp ấy, công đó rất lớn. Ví như núi báu ở trong núi tuyết,
trên chóp núi báu có ngọc báu Như ý, có nhiều thứ bảo vật, người
muốn leo lên, hoặc chỉ nửa đường trở lui, hoặc gần đến trở lui,
có một đại đức quốc vương thương xót chúng sanh, làm cho cái
thang lớn, nhân dân lớn nhỏ cho đến trẻ con bảy tuổi, đều được
lên núi, tùy ý lấy ngọc Như ý và các bảo vật. Phật cũng như vậy,
núi báu thật tướng các pháp ở thế gian, 96 thứ dị đạo đều không
thể có được, cho đến Phạm thiên vương cầu thật tướng các pháp
cũng không thể được, huống gì các người khác? Phật đem tâm đại
từ bi thương xót chúng sanh, đầy đủ sáu Ba-la-mật, được hết thảy
phương tiện trí tuệ, thuyết ra mười hai bộ kinh, 84.000 cái
thang pháp tụ, nhờ đó các Tôn giả A-nhã Kiều-trần-như,
Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp, cho đến Sa-di Tô-ma bảy
tuổi… đều được các Pháp vô lậu năm căn, năm lực, bảy giác phần,
tám thánh đạo. Thật tướng tuy diệu, mà hết thảy chúng sanh đều
phải nhờ ơn Phật mới chứng được. Do vậy nên niệm Phật trước rồi
tiếp niệm Pháp, niệm Tăng. Tăng theo lời Phật, hiểu được Pháp
cho nên Tăng ở vào thứ ba. Các người khác không thể hiểu, Tăng
có thể hiểu được, nên xưng là bảo. Báu ở giữa loài người ấy là
Phật, báu ở giữa Pháp của 96 thứ dị đạo ấy là Phật pháp, báu ở
giữa hết thảy hội chúng ấy là Tăng.
* Lại nữa, do nơi
Phật nên có Pháp xuất hiện thế gian, do nơi Pháp nên có Tăng.
Hành giả niệm: ta làm sao có được Pháp bảo? Chỉ có được từ trong
Tăng số. Cần trừ bỏ tất cả nghiệp ác thô tế nơi thân và miệng,
cho nên tiếp theo nói về niệm trì giới.
* Lại nữa, làm sao để
phân biệt bảy chúng? Chỉ có giới mà phân biệt. Muốn trừ tâm ác,
phá xan tham nên niệm xả thí. Muốn cho người thọ Pháp
được vui nên phá sân nhuế. Tin làm phước được quả báo nên phá tà
kiến. Ơong pháp trì giới, bố thí thời là ở trong Mười thiện
đạo và lìa Mười bất thiện đạo. Mười thiện đạo có hai quả: nếu
hành Mười thiện bậc thượng thời được sanh trong cõi trời Tịnh
thiên. Nếu hành Mười thiện bậc trung thời được Sanh thiên. Do
vậy nên tiếp sau giới và thí là niệm thiên. Hành thiền
định thời được hai loại trời. Dứt các ác giác, chỉ nhóm thiện
pháp, nhiếp tâm một chỗ, cho nên niệm thiên. Tiếp đến niệm
hơi thở ra vào, niệm hơi thở ra vào dứt được các ác giác,
như mưa ngâm bụi. ThâṠhơi thở ra vào, biết thân mong manh. Do
hơi thở ra vào mà thân được tồn tại, cho nên tiếp theo niệm hơi
thở ra vào là niệm chết.
* Lại nữa, hành giả
hoặc thời ỷ có bảy niệm rồi đắm công đức ấy, sanh tâm giải đãi,
khi ấy nên niệm chết. Việc chết thường ở trước mắt, làm sao giải
đãi đắm theo pháp ái ấy. Như Tôn giả A-na-luật nói trong khi
Phật diệt độ:
"Pháp hữu vi như mây,
Người trí không nên
tin,
Kim cang vô thường
đến,
Phá núi vua thánh
chúa".
AṠlà thứ lớp tám
niệm.
Hỏi: Đó là
nói tám niệm trong pháp Thanh văn, với tám niệm của Bồ-tát có gì
sai khác?
Đáp: Thanh
văn chỉ vì tự thân, còn Bồ-tát thì vì hết thảy chúng sanh. Thanh
văn chỉ vì giải thoát già, bệnh, chết, còn Bồ-tát thời vì khắp
đầy đủ tất cả công đức, đó là sai khác.
* Lại nữa, ở trong
đây Phật cũng dạy: Xá-lợi-phất! Bồ-tát không trú pháp mà trú
trong Bát-nhã ba-la-mật nên đầy đủ Đàn ba-la-mật, cho đến đầy đủ
tám niệm, vì là không thể có được (bất khả đắc). Ban đầu có
không trú pháp, sau có bất khả đắc. Có hai ấn đó do vậy nên
khác. Nghĩa không trú và bất khả đắc. Có hai ấn đó do vậy nên
khác. Nghĩa không trú và bất khả đắc, như trước đã nói.
(Hết cuốn 22 theo bản Hán)
--o0o --
Mục Lục
Tập 2
Cuốn
21
| 22
| 23
|
24
|
25
|
26
|
27
|
28
|
29
|
30
31
|
32
|
33
|
34
|
35
|
36
|
37
|
38
|
39
|
40
--o0o --
Mục Lục Tổng Quát Luận Đại Trí Độ
Tập 01
|
Tập 02
|
Tập 03
|
Tập 04
|
Tập 05
--o0o --
Cập nhật: 01-07-2003
|
|