---o0o---
Cuốn 17
CHƯƠNG 26
GIẢI THÍCH: THIỀN
BA-LA-MẬT
KINH: Do không loạn, không
ưa
đắm, nên đầy đủ Thiền Ba-la-mật.
LUẬN:
Hỏi:
Bồ-tát là lấy việc độ
hết thảy chúng sanh
làm sự nghiệp, cớ sao lại ngồi nhàn trong rừng, chằm, ở yên
lặng trong núi, lo tốt riêng cho mình mà bỏ rơi
chúng sanh?
Ðáp:
Thân
Bồ-tát tuy
xa lìa chúng sanh, mà tâm thường
không bỏ, ở chỗ yên vắng cầu định, chứng
được
trí huệ chơn
thật để độ
hết thảy. Ví như
lúc uống thuốc nuôi thân, tạm thời dứt mọi công việc, đến khi
khí lực bình phục, tráng kiện thời làm việc lại như
cũ. Bồ-tát ở yên lặng cũng như
vậy, dùng sức thiền định, uống thuốc trí tuệ,
được
đức thần thông, trở lại ở với
chúng sanh, hoặc ở
với cha mẹ, vợ con, hoặc thầy trò tông trưởng,
hoặc trời hoặc người,
xuống đến súc sanh, dùng các thứ ngữ ngôn, phương
tiện khai đạo.
Lại
nữa, Bồ-tát
thực hành ba sự là bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, gọi là phước
đức môn, trong vô lượng
đời
được
làm Thiên-vương,
Thích-đề-hoàn-nhơn,
Chuyển luân
Thánh vương,
Diêm-phù-đề vương,
thường
đem y phục bảy báu thí cho
chúng sanh, theo sự
ưa muốn của
năm căn, đời này đời sau đều làm cho đầy đủ, như
trong kinh nói Chuyển luân Thánh vương
đem mười
điều thiện dạy dân tu, đời sau đều
được sanh
lên cõi trời, đời đời làm lợi ích chúng sanh khiến
được khoái
lạc. Nhưng
cái vui ấy vô thường,
còn trở lại chịu khổ, Bồ-tát nhân đó phát tâm đại bi, muốn đem
cái Niết-bàn thường
vui làm lợi ích chúng sanh. Niết-bàn thường
vui nầy từ trí tuệ chơn
thật sanh, trí tuệ chơn
thật lại từ nhất tâm thiền định sanh, ví như
đốt đèn, đèn tuy cháy đỏ nhưng
ở giữa gió to thời không thể dùng
được, nếu để
nhà kín, công dụng của nó mới toàn vẹn. Trí tuệ ở giữa tán
tâm cũng như
vậy, nếu không có nhà
thiền định yên lặng, thời có trí tuệ mà công dụng của nó không
toàn, nếu
được có
thiền định thời trí tuệ chơn
thật sanh. Do vậy nên Bồ-tát tuy xa lìa
chúng sanh, ở chỗ
xa vắng, để cầu
được thiền
định. Do thiền định thanh tịnh nên
trí tuệ cũng thanh tịnh, ví như
dầu và tim sạch thì ánh sáng trong. Do vậy nên người
muốn
được
trí tuệ thanh tịnh, phải
thực hành thiền định.
Lại
nữa, nếu muốn cầu việc thiển cận của thế gian, mà không
chuyên tâm thời sự nghiệp cũng không thành, huống gì cầu Phật
đạo thậm thâm mà lại không dùng đến
thiền định? Thiền
định là thu nhiếp các loạn tâm, loạn tâm nhẹ bay hơn
cả lông hồng, chạy tán loạn không dừng, nhanh hơn
gió lốc, không thể cấm chỉ, quá hơn
khỉ vượn,
vừa hiện liền mất, nhanh hơn
điện chớp. Tâm tướng
như
vậy, không thể cấm chỉ, nếu muốn chế ngăn mà không tu thiền
không thể định
được, như
kệ nói:
“Thiền là kho
giữ trí,
Là ruộng phước
công đức,
Thiền là nước
thanh tịnh,
Rửa sạch các dục
trần.
Thiền là áo
Kim-cang,
Ngăn mũi tên
phiền não,
Tuy chưa
chứng Vô dư,
Ðã
được phần
Niết-bàn.
Chứng tam muội
Kim-cang,
Xô nát núi kiết
sử,
Ðược
sáu thần thông lực,
Hoá độ vô lượng
người.
Bụi bay che mặt
trời,
Mưa
lớn làm tan mất,
Gíó giác quán
tán tâm,
Thiền định làm
tiêu diệt”.
Lại
nữa, thiền
định khó
được, hành
giả nhất tâm chuyên caàu, mới thành tựu
được. Chư
thiên và thần tiên còn không thể thành
được huống
chi người
phàm phu giải đãi! Như
Phật tọa thiền dưới
gốc cây Ni-câu-lô, ba người
con gái của Ma vương
thuyết kệ hỏi rằng:
“Ðộc tọa giữa rừng cây,
Sáu căn thường tịnh lặng,
Có người mất trân bảo,
Không cứu sầu thống khổ.
Dung mạo đời không bằng,
Mà thường
nhắm mắt ngồi,
Lòng chúng tôi có nghi:
Cầu gì mà ở đây?”
Bấy giờ Thế Tôn nói
kệ đáp:
“Ta được
vị Niết-bàn,
Không ưa
chỗ nhiễm ái,
Giặc trong ngoài đã trừ,
Cha ngươi
cũng lui mất.
Ta được
vị cam-lồ,
An lạc ngồi trong rừng,
Chúng sanh bị ân ái,
Vì chúng khởi bi tâm”.
Khi ấy
ba người
con gái sanh hổ thẹn mà tự nói rằng: “Người
này ly dục
không thể động
được, liền
biến mất không hiện.
Hỏi:
Thực
hành phương
tiện gì mà
được
thiền Ba-la-mật?
Ðáp:
Bỏ
năm sự (năm trần), trừ năm pháp (năm triền cái), hành năm hành
(Sơ
thiền năm chi là tầm, tứ, hỷ, lạc, xả).
Thế
nào là bỏ năm sự? Ðó là phải mắng trách năm dục. Thương
thay chúng
sanh thường
bị năm dục làm bức não, mà vẫn tìm
cầu không nghĩ. Năm dục
này
được nó càng
kịch liệt như
lửa hơ
ghẻ; năm dục vô ích như
chó gặm xương;
năm dục tăng sự tranh giành
như
quạ giành thịt; năm dục
thiêu đốt người
như
ngược
gió thành đuốc; năm dục hại
người
như
đạp rắn độc; năm dục không
thật như
vật
được trong
mộng; năm dục không bền như
vay mượn
giây lát. Người
đời u mê tham đắm năm dục, đến chết
không bỏ, vì nó mà đời sau chịu vô lượng
khổ. Ví như
người
ngu ham đắm quả ngon, leo lên cây ăn, không chịu trụt xuống,
người
đốn cây, cây ngã bị rớt, thân đầu tan nát, thống não mà chết.
Lại năm dục này, khi
được vui
chốc lát, khi mất khổ quá nhiều. Mật ngọt dính đầu mũi dao,
kẻ thích ngọt ham liếm không biết họa đứt lưỡi.
Năm dục ở chung với súc
sanh, người
trí biết rõ tự xa lìa
được. Như
nói có một
Ưu
-bà-tắc, cùng các khách buôn đi xa tìm kế sống, gặp lúc tuyết
lạnh, đêm đi lạc bạn, tạm trú trong một hang đá, khi ấy thần
núi biến làm một người
nữ đi đến muốn thử, nói kệ rằng:
“Tuyết
trắng phủ núi rừng,
Chim thú đều ẩn núp,
Tôi không nơi
nương
cậy,
Xin dũ lòng xót
thương”
Ưu
-bà-tắc lấy hai tay bịt tai mà đáp kệ rằng:
“Kẻ ác không biết hổ,
Nói lời bất tịnh ấy,
Nước
trôi lửa cháy đi,
Không muốn nghe tiếng ấy.
Có vợ lòng không dục,
Huống gì tạo tà dâm,
Các dục vui rất cạn,
Ðại khổ hoạn rất sâu.
Các dục được
không chán,
Mất nó khổ rất lớn.
Chưa được mong cho được,
Ðược
rồi bị khổ não.
Các dục vui rất ít,
Ưu
khổ độc rất nhiều,
Vì nó mất thân mạng,
Như nga sa vào đèn.”
Thần
núi nghe kệ đó xong, liền vác người
ấy
đưa
đến giữa chúng bạn. Ấy là kẻ trí qưở
trách dục,
không thể để cho đắm trước.
Năm dục là sắc đẹp,
tiếng hay, hương
thơm,
vị ngon, xúc mịn. Muốn cầu thiền định đều phải xa bỏ nó.
- Thế nào là xa
bỏ sắc? Quán xét tai họa của sắc. Người
đắm sắc, các ngọn lửa kiết sử đều
bừng cháy, thiêu hại thân người,
cũng như
lửa đốt vàng bạc, nước
sôi, mật nóng, tuy có sắc đẹp vị ngon, nhưng
làm đốt thân cháy miệng, phải gấp xa bỏ nó. Nếu người
nhiễm đắm sắc đẹp, vị ngon cũng như
vậy.
Lại nữa,
đẹp xấu tại người,
chứ sắc
không nhất định, sao biết? Như
ở xa trông thấy người
đáng yêu liền sanh tâm yêu mừng; nếu ở xa trông thấy người
hung ác oan gia liền sanh tâm oán hại; nếu trông thấy người
không oán không thương,
thời không giận không mừng. Nếu muốn dứt bỏ tánh mừng, tánh
nóng giận, thì phải trừ tà niệm và sắc, xả bỏ cả hai trong một
lần. Ví như
nấu vàng chảy cháy thân, nếu muốn trừ nó không thể chỉ bỏ lửa
giữ lại vàng, mà phải vàng và lửa đều bỏ. Như
vua Tần-bà-ta-la, vì mê sắc nên
thân vào nước
địch ở một mình trong phòng dâm nữ A-phạm-bà-la. Vua
Ưu-điền
vì nhiễm đắm sắc nên mới cắt tay chân năm trăm tiên nhân.
Các nhân duyên như
vậy, gọi là mắng trách sắc dục.
- Thế nào là
mắng trách tiếng? Tướng
của âm thanh không dừng, vừa nghe
được liền
mất, người
ngu si không hiểu tướng
âm thanh vô thường
biến mất như
vậy nên đối với âm thanh, vọng sanh tâm
ưa thích,
đối với âm thanh đã trôi qua còn nhớ lại mà sanh tâm đắm trước.
Như
năm trăm tiên nhân tu ở
trong núi, nghe tiếng của gái Chân-đà-la
ca lên khi đang tắm trong ao núi tuyết, liền mất
thiền định, tâm mê say cuồng dật,
không còn tự giữ
được. Ví như
gió lớn thổi các cây rừng, nghe tiếng ca dịu dàng êm ái, trong
trẻo ấy, sanh niệm tưởng
tà vạy, cho nên không tự giác
được tâm
cuồng loạn, đời này mất các công đức, đời sau phải đọa
đường ác.
Người
có trí quán biết âm thanh niệm niệm sanh diệt, trước
sau không cùng lúc, không theo kịp nhau. Biết
được như
vậy thời không sanh tâm nhiễm trước.
Những người
trí như
thế, âm nhạc của chư
Thiên còn không làm loạn
được huống
là âm nhạc của loài người?
Các nhân duyên như
vậy, là mắng trách thanh dục.
- Thế nào là
mắng trách hương?
Có
người
nói đắm hương
ít tội, nhưng
nhiễm ái hương
thời sẽ mở cửa cho các kiết sử, nên tuy năm trăm trì giới, có
thể một ngày mất hết. Như
vị A-la-hán thường
vào Long cung ăn xong
đưa
bình bát cho Sa-di rửa, trong bát còn thừa vài hạt đồ ăn,
Sa-di ngửi thấy rất thơm,
ăn rất ngon mới tìm cách vào núp dưới
giường
dây của Thầy, hai tay nắm chặt chân giường,
khi Thầy đi thì cả cái giường
cùng vào Long cung, Rồng nói: “Người
này chưa
đắc đạo, vì sao đem đến?” Thấy nói: “Vì tôi không biết... “
Sa-di
đã
được
ăn cơm
lại thấy Long nữ thân thể đoan chánh, thơm
đẹp không ai
bằng, tâm rất nhiễm trước,
liền
ước
nguyện rằng: “Ta sẽ tạo phước,
chiếm lấy chỗ Rồng ở, vào cung điện Rồng”. Rồng nói: “Lần
sau chớ đem Sa-di ấy đến”.
Sa-di trở về rồi, nhất tâm lo bố thí, trì giới, chuyên cầu sở
nguyện, nguyện sớm
được
làm Rồng. Khi ấy đi nhiễu quanh chùa, dưới
chân có nước
trồi lên, tự biết chắc
được
làm Rồng, liền đi thẳng đến bên ao lớn, chỗ trước
kia Thầy đi vào, lấy Cà-sa trùm đầu mà vào, liền chết biến làm
Rồng lớn, do phước
đức lớn, nên giết Rồng kia, cả ao đều đỏ. Trước
khi xảy ra việc ấy, Thầy và chúng Tăng qưở
trách, Sa-di nói: “Tâm tôi đã định, tướng
của tâm đã xuất hiện”. Bấy giờ Thầy
đưa
chúng Tăng đi đến ao xem. Các nhân duyên như
vậy là vì mê đắm mùi thơm.
Lại
nữa, có một Tỳ-kheo đi kinh hành bên ao sen ở trong rừng, nghe
mùi sen thơm,
mũi ngửi tâm đắm, vị Thần ao nói: “Sao ông bỏ chỗ ngồi thiền
định ở trong rừng kia, mà trộm hương
của ta?” Vì đắm hương
nên các kiết sử trước
kia đã nằm xuống nay đều tỉnh dậy. Khi ấy lại có một người
đi vào ao bẻ lấy nhiều hoa đào kéo gốc rễ, bỏ bậy bạ mà đi,
thần ao lặng lẽ không nói gì. Tỳ-kheo thấy vậy nói: “Người
này phá ao ông, lấy hoa ông, ông không nói gì cả; còn tôi chỉ
đi bên bờ ao, lại bị ông qưở
mắng cho là tôi ăn trộm hương?”
Thần ao nói: “Người
thế gian xấu ác thường
ở trong phân nhơ
tội cấu, bất tịnh, ngập đầu, nên không nói tới. Còn ông là người
tốt hành thiền, mà đắm hương
ấy, phá mất việc tốt của ông, cho nên ta qưở
ông. Ví như
lụa trắng tinh khiết mà bị dính một điểm đen thì ai cũng thấy,
còn người
ác kia ví như
áo đen có thêm chấm đen, người
ta cũng không thấy, ai hỏi làm chi. Các nhân duyên như
vậy là mắng trách hương
dục.
- Thế nào là
mắng trách vị? Nên tự giác ngộ
ta chỉ vì tham đắm vị ngon mà phải chịu các khổ, nước
đồng sôi rót vào miệng, nuốt hoàn sắt nóng. Nếu không quán
sát đồ ăn, tâm ham thích dính cứng, phải đọa trong loài trùng
bất tịnh, như
một Sa-di tâm thường
ưa
thích váng sữa, khi các Ðàn-việt thiết đãi Chúng Tăng váng
sữa, Sa-di
được
mỗi phần thừa, tâm
ưa
đắm, vui mừng
không nguôi, sau khi mạng chung sanh vào trong bình váng sữa
thừa ấy. Thầy của Sa-di đã
chứng
được đạo quả
A-la-hán, mỗi khi Tăng chia thứ
váng sữa, thì Thầy nói: “Từ từ! Chớ làm tổn thương
kẻ Sa-di
ưa
váng sữa ấy”. Mọi người
nói: Ðó là loài trùng, sao lại gọi là Sa-di
ưa
váng sữa?” Thầy đáp:” Con trùng ấy vốn là Sa-di của tôi, chỉ
vì tham váng sữa thừa nên sanh ra trong bình đó.” Thầy
được
phần váng sữa, trùng từ trong bò ra, thầy nói: “Ngươi
ưa
váng sữa hay sao mà ngươi
đến đây?” Liền lấy váng sữa
đưa
cho.
Lai
nữa, như
một Quốc thổ, vua tên là Nguyệt Phần, vua có Thái tử
ưa
đắm vị ngon, người
giữ vườn
của vua một ngày
đưa
đến một quả ngon. Trong vườn
có một cây lớn, trên cây có chim mẹ đang nuôi con, chim mẹ thường
bay đến trong núi hương
lấy trái thơm
ngon để nuôi con, bầy con dành nhau, một quả rơi
xuống đất, người
giữ vườn
sáng sớm trông thấy cho là phi thường
kỳ lạ, liền nhặt đem cho vua, vua quý quả ấy thơm
đẹp khác thường,
Thái tử thấy đòi xin, vua thương
con liền cho. Thái tử ăn quả
được
mùi vị đó, tâm nhiễm đắm sâu xa, muốn
được
quả mỗi ngày. Vua liền gọi người
giữ vườn
đến hỏi lý do của quả ấy. Người
giữ vườn
nói quả ấy
không có trồng, từ đất lượm
được, chẳng
biết do từ đâu đến.
Thái
tử khóc lóc
không chịu ăn, vua thúc dục qưở
trách người
giữ vườn:
“Ngươi
hãy kiếm cho
được”.
Người
giữ vườn
đi đến chỗ lượm
quả, thấy có ổ chim, biết chim ngậm quả đem đến, dấu thân trên
cây, rình để lấy, khi chim mẹ bay đến, liền cướp
quả đem vua, cứ mỗi ngày như
vậy, chim mẹ nổi giận, bay đến trong núi Hương
lấy quả độc, huơng
vị sắc toàn giống như
quả trước,
người
giữ vườn
cướp
được đem nộp
cho vua, vua cho Thái tử ăn, trong chốc lát thân thịt bị rã
nát mà chết. Các nhân duyên như
vậy là mắng trách vị dục.
- Thế nào là
mắng trách xúc? Xúc là nguyên nhân lớn sanh ra các kiết
sử , là gốc rễ trói buộc tâm, vì sao? Vì bốn căn kia mỗi thứ
đương lấy
phần của mình, còn xúc này biến khắp thân thức, vì chỗ phát
sanh rộng, nên sanh nhiều nhiễm
trước,
sự nhiễm trước
này khó lìa, vì sao? Như
người
nhiễm trước
sắc, quán thân có ba mươi
sáu thứ bất tịnh thời sanh tâm nhàm chán, còn nếu sanh
nhiễm trước
xúc, thời tuy biết là bất tịnh nhưng
lòng tham xúc tinh tế êm dịu, quán bất tịnh không có ích, thế
nên khó lìa.
Lại nữa,
vì nó khó xả cho nên thường
vì nó mà gây trọng tội. Nếu đọa địa ngục, địa ngục có hai
bộ: Một là băng lạnh, hai lửa cháy. Trong hai ngục này đều
lấy thân xúc chịu tội, khổ độc muôn mối. Xúc là chỗ đại hắc
ám, là
đường
hiểm nguy nan... Các nhân duyên như
vậy là mắng
trách tế hoạt xúc dục. Như
vậy là mắng trách năm dục.
Trừ năm cái (che
lấp), người
bị tham dục cái thì cách đạo rất xa, vì sao? Vì dục là trú xứ
của các thứ não loạn; nếu tâm tham đắm dục thì không do đâu
gần đạo
được. Như
bài kệ trừ dục cái nói:
“Người
vào đạo biết hổ thẹn,
Ôm bát làm phước
chúng sanh.
Tại sao phóng túng trần dục,
Chìm đắm vào nơi
năm căn.
Mặc giáp cầm dao gậy,
Thấy giặc bỏ chạy lui,
Người
khiếp nhược như
thế,
Người
đời đều khinh cười.
Tỳ kheo làm khất sĩ,
Cạo tóc mặc Cà-sa,
Bị ngựa năm căn cầm.
Chuốc cười
cũng như thế.
Lại như
người hào quý,
Mặc đẹp để nghiêm thân,
Mà đi xin cơm
áo,
Chuốc cười
nơi mọi người.
Tý-kheo bỏ trang sức,
Xấu hình để nhiếp tâm,
Mà còn cầu dục lạc,
Chuốc cười
cũng như thế..
Ðã xả năm dục lạc,
Bỏ đi không ngó lại,
Tại sao lại muốn được,
Nhu ngu mửa lại ăn.
Người
tham dục như vậy,
Không biết xét bản nguyện,
Cũng không biết tốt xấu,
Cuồng say theo khát ái.
Pháp tôn trọng tàng quý,
Tất cả đều bỏ hết,
Hiền trí không thân cận,
Kẻ ngu si ưa
gần.
Các dục khi cầu khổ,
Ðược
rồi nhiều sợ hãi,
Khi mất lòng sầu não,
Mọi thời đều không vui.
Các dục hoạn như
vậy,
Lấy gì xả bỏ nó?
Ðược
các vui thiền định,
Thời
không bị dối gạt.
Lạc dục đắm không chán,
Lấy gì diệt trừ được?
Nếu được
bất tịnh quán,
Tâm ấy tự nhiên không.
Ðắm dục không tự giác,
Lấy gì ngộ được
tâm?
Hãy quán già bệnh chết,
Mới ra khỏi bốn châu.
Các dục khó phóng xả,
Lấy gì xa được
nó?
Nếu ưa
vui thiện pháp.
Dục ấy tự nhiên dứt.
Các dục khó mở được,
Lấy gì để mở nó
Quán thân biết thật tướng,
Thời không bị ràng buộc.
Các quán pháp như
vậy,
Diệt được
các lửa dục.
Ví như
đổ mưa lớn,
Lửa nội đều dập tắt”.
Các
nhân duyên như
vậy là diệt trừ
được
dục cái.
Người
bị sân nhuế cái thì mất gốc các thiện pháp, là nguyên nhân đọa
vào các ác đạo, oan gia của pháp lạc, giặc lớn của thiện tâm,
kho chứa các thứ ác khẩu. Như
Phật nói kệ dạy đệ tử hay sân rằng:
“Ngươi nên biết suy ghĩ,
Thọ thân ở trong thai.
Nhơ nhớp tối tăm khổ,
Sanh cũng được gian nan.
Ðã được ý nghĩ này,
Mà
còn không diệt sân.
Thời nên biết bọn ấy,
Chính là ngưởi
vô tâm.
Nếu không quả báo tội,
Cũng không bị qưở
trách.
Cho nên phải từ nhẫn,
Huống người
nhiều khổ quả.
Hãy quán già bệnh chết,
Không một ai tránh khỏi.
Nên khởi tâm từ bi,
Cớ sao đem ác hại.
Chúng sanh giặc oán nhau,
Ðâm chém chịu khổ độc.
Cớ sao người
tu thiện,
Mà còn gây khổ hại.
Thường
nên hành từ bi,
Ðịnh tâm tu các thiện,
Không nên ôm ác ý,
Xâm hại đến tất cả.
Nên siêng tu đạo pháp,
Việc não hại không làm,
Thiện ác thế không đều,
Như
nước lửa trái nhau.
Sân giận che lấp tâm,
Không biết được
tốt xấu,
Cũng không biết lợi hại,
Không biết sợ ác đạo.
Không kể người
khổ não,
Không biết thân tâm mệt,
Trước
tự chịu nhân khổ,
Sau đem khổ đến người.
Nếu muốn dứt sân giận,
Hãy suy nghĩ từ tâm,
Tự độc cư
thanh nhàn,
Ngừng việc dứt nhân duyên.
Nên sợ già bệnh chết,
Chín thứ sân não trừ,
Như
vậy tư duy “từ”.
Thời dứt được
sân độc”.
Các
nhân duyên như
vậy, trừ sân nhuế cái.
Thùy
miên cái là có thể phá hỏng ba việc của đời này là dục lạc,
lợi lạc và phước
đức, có thể phá hỏng cái vui rốt ráo của đời này đời sau
không khác
gì người
chết, chỉ còn có hơi
thở. Như
một vị Bồ-tát nói kệ qưở
trách đệ tử
ưa ngủ
rằng:
“Ngươi
dậy chớ ôm thân thối nằm,
Ðủ thứ bất tịnh giả danh ngươi,
Như
mắc trọng bệnh, tên vào thân,
Các thống khổ nhòm, đâu được
ngủ!
Lửa chết đốt hết thảy thế gian,
Ngươi
đang cầu ra, không được
ngủ!
Như
người bị trói đem đi
giết,
Tai hại đến nơi,
đâu được ngủ!
Giặc kết chưa
dứt, hại chưa trừ,
Như
cùng rắn độc ngủ chung nhà,
Cũng như
lâm trận giữa gươm súng.
Bấy giờ đâu thể được
ngủ nghỉ,
Ngủ là tối tăm không thấy gì,
Ngày ngày dối gạt cướp
sáng người,
Vì ngủ che tâm không hiểu gì,
Tội lỗi như
vậy đâu được ngủ”!
Các
nhân duyên như
vậy, là mắng trách thùy miên cái.
Trạo
hối cái: trạo là dao động, phá hại tâm xuất gia, như
người
nhiếp tâm, còn
không thể trụ
được, huống
chi dao động, tán loạn. Người
dao động tán loạn
như
voi say không móc câu, như
lạc đà sức mũi, không thể cấm chỉ, như
kệ nói:
“Ngươi
đã cạo đầu mặc cà-sa,
Cầm bình bát gốm đi khất thực,
Tại sao vui đắm sự trạo hý,
Ðã không pháp lợi, mắt thể lạc”.
Hối là như
người
phạm tội lớn, thường
ôm lòng sợ hãi, mũi tên hối hận găm vào lòng, cứng không thể
nhổ, như
kệ nói:
“Không nên làm mà làm,
Nên làm mà không làm,
Lửa hối não thiêu đốt.
Ðời sau đọa ác đạo.
Nếu người
tội biết hối,
Hối rồi nên phóng xả,
Như
vậy tâm an vui,
Không nên thường
chớ nhặt.