| ...... ... |
. |
Tủ sách Nghiên cứu
Phật học
Giáo
tài A Tỳ Ðàm
Hòa thượng
Saddhammajotika
Tỳ kheo Giác Nguyên
dịch Việt,
Sài gòn, 1989
---o0o---
Phần [02.b]
(tiếp theo)
PHÂN NHÓM (kalaapa) SẮC
PHÁP
Kalaapa là bọn, nhóm, cụm; vậy Ruupakalaapa
là cụm sắc, bọn sắc, nhóm sắc.
Trong bọn sắc có nhiều sắc phối hợp nhau, các sắc ấy có
3 điểm tương đồng (sahavutti) với nhau:
- Ekuppaada: đồng sanh.
- Ekanirodha: đồng diệt.
- Ekanissoya : đồng nương 4 đại như nhau: những sắc nào tương
đồng nhau trên 3 điểm như thế mới được gọi là một Ruupakalaapa.
Có tất cả 23 nhóm sắc: 9 nhóm sắc nghiệp, 8 nhóm sắc
tâm, 4 nhóm sắc quí tiết, 2 nhóm sắc vật thực, như trong Abhidhammattha
Sangaha , Ngài Anuruddha cũng đã ghi :
Kammacittatukaahaara
Samu.t.thaanaa yathaakkamam
Nava.t.tha caturo dveti
Kalaapaa hi teviivati.
23 sắc này nếu tính theo chi pháp, gồm có 23 sắc thôi
bởi trừ ra giao giới và 4 sắc tướng. Giao giới chỉ là khoảng cách giữa các
nhóm sắc, 4 sắc tướng chỉ là từng giai đoạn biến thái của các nhóm sắc nên
không có chi pháp hẳn hoi. Như trong Abhidhammattha Sangaha, Ngài
Anuruddha đã xác nhận:
Kalaapaana.m paricchede
Lakkha.nattaa vicakkha.naa
Na kalaapangamiccAahu
Aakaasa.m lakkha.naani ca.
Trong 9 nhóm sắc nghiệp nếu kể theo chi pháp hẳn hoi
thì chỉ có 17 sắc (không tính giao giới). 9 bọn sắc nghiệp chỉ có đối với
loài sinh vật (Jiivita) thôi và trong mỗi người chỉ có 8 bọn sắc
nếu là nam thì không có nhóm sắc nữ giới tính, nếu là nữ thì không có nhóm
sắc nam giới tính (hay có thể gọi là nhóm sắc tố nam). 8 nhóm sắc nghiệp ở
đây chỉ cho sắc nghiệp thuần túy chớ chưa kể đến nhóm sắc quí tiết do
nghiệp trợ (Kammapaccaya - utujaruupakalaapa). Nghĩa là trong 9
nhóm sắc nghiệp cũng có tejodhaatu (sắc hỏa giới) nhưng đó là do
nghiệp trợ sanh nên sắc hoả giới đó ở đây vẫn được gọi là kammajaruupa
(sắc nghiệp). Còn sắc quí tiết do nghiệp trợ thì dù sao cũng không là sắc
nghiệp thuần túy, chính thống nên không được kể chung vào các nhóm sắc
nghiệp, nó phải nằm bên phần sắc quí tiết mới đúng.
Những bộ phận trong cơ thể chúng sanh như tóc, lông,
móng, răng đều là những sắc quí tiết nhưng điểm cần nhớ là trong công
trình tạo ra các bộ phận cơ thể đó, sắc quí tiết do nghiệp trợ (kammapaccaya-utujaruupa)
luôn ở vị trí chủ yếu, còn 3 thứ sắc quí tiết còn lại thì đóng vai trò phụ
thuộc sự có mặt của chúng mỗi bậc, nhất là khi chúng sanh đã chết, sắc
nghiệp, sắc tâm, sắc vật thực đã chấm dứt sinh hoạt, lúc bấy giờ chỉ còn
lại 4 thứ sắc quí tiết. Do đó mới nói rằng trong mỗi người có nhiều lắm
cũng chỉ 8 bọn sắc nghiệp thôi.
9 BỌN SẮC NGHIỆP PHÂN BỐ TRÊN
THÂN
Thân thể con người được chia ra 3 phần:
1) Uparimakaaya: phần trên: kể từ cổ lên đầu.
2) Majjhimakaaya: phần giữa: từ cổ xuống lổ rún.
3) Hetthimakaaya: từ rún xuống chân.
* Ở phần thượng thân có được 7 bọn sắc nghiệp:
- Cakkhudasakalaapa.
- Sotadasakalaapa.
- Ghaanadasakakalaapa.
- Jivhaadasakakalaapa.
- Kaayadasakakalaapa.
- Bhaavadasakakalaapa.
- Jiivitanavakakalaapa.
* Ở phần hạ thân có được 3 bọn sắc nghiệp:
- bọn thân,
- bọn giới tính,
- bọn mạng quyền.
-ooOoo-
SẮC TÂM
Sắc tâm có 2 nhánh: Muulakalaapa và
Muuliikalaapa.
Nhánh Muulakalaapa có 4 nhóm:
1) Suddha.t.thakakalaapa: 8 bất ly.
2) Saddanavakalaapa: 8 bất ly, cảnh thinh.
3) Kaayavi~n~nattinavakakalaapa: 8 bất ly và thân biểu tri.
4) Vaciivi~n~nattisaddadasakalaapa: 8 bất ly, khẩu biểu tri và
cảnh thinh.
Nhánh Muuliilalaapa có 4 nhóm:
1) Lahutaadi-ekaadasaka-kalaapa: 8 bất ly, 3
kỳ dị.
2) Saddalahutaadidvaadasaka-kalaapa: 8 bất ly, cảnh thinh, 3 kỳ
dị.
3) Kaayavinnattilahutaadidvaadasak-akalaapa: 8 bất ly, thân biểu
tri, 3 kỳ dị.
4) Vaciivi~n~nattisaddalahutaaditerasaka-kalaapa: 8 bất ly, khẩu
biểu tri, cảnh thinh, 3 kỳ dị.
Thích giải:
Theo Cisuddhinagga-attha-kathaa thì giải có 8
nhóm sắc tâm như vậy nhưng trong Abhidhammattha Sangaha thì Ngài
Anuruddha chỉ nêu 6 nhóm thôi, tức là trừ ra nhóm cảnh thinh (saddanavaka-kalaapa)
với nhóm thinh kỳ dị (saddalahutaadidvaadasaka-kalaapa). Và nhóm
sắc tâm này nếu nói theo chi pháp là 14 sắc tâm (trừ giao giới). Các nhóm
sắc tâm chỉ có đối với loài sinh vật (Jiivita).
1) Nhóm sắc suddha.t.thakakalaapa có mặt trong
những lúc thân không cửû động, khẩu không phát biểu, trong những khi tâm
yếu đuối không tích cực, năng động, nhóm sắc này là hơi thở ra vào, bản
tướng hiển hiện qua sự phồng xộp. Khi tâm buồn phiền thì bản tướng của
nhóm sắc này là nét mặt dủ dột, héo hắt khi tâm sợ hãi cái gì thì nhóm sắc
này là sự nổi óc, rợn gáy, lạnh lưng, hay tóc lông dựng ngược... cứ thế mà
suy diễn.
2) Nhóm saddanavakakalaapa có mặt khi có tiếng
động phát ra từ thân mà không do khẩu tác động, hoặc có mặt khi tâm yếu
đuối, thối thất, thụ động, tiêu cực. Tiếng động ở đây chẳng hạn như là
tiếng ngáy, tiếng ho, tiếng nghiến răng tiếng các khớp xương co giản...
Khi có 3 kỳ dị cùng sanh chung thì nhóm sắc này được
gọi là nhóm thinh kỳ dị (saddalahutaadidvaadasakakalaapa) và nhóm
thinh kỳ dị này có mặt khi tâm được vui vẽ hay năng động, tích cực. Dạng
hiển hiện của nhóm thinh kỳ dị cũng có thể là những tiếng động như ở nhóm
thinh nhưng trong trẻo hơn và nếu là những tiếng ù ờ cũng dễ nghe và dễ
hiểu, thay vì tiếng ù ờ thiếu kỳ dị thì nghe không rõ ràng, không trong
trẽo.
3) Nhóm kaayavi~n~nattinavakakalaapa có mặt qua
những cử động nhỏ nhặt không thường xuyên của thân thể trong lúc tâm yếu
đuối, không tích cực, năng động như việc ngồi, nằm, đứng, đi, co duỗi, dở
bước đạp... nói chung những cử động không cần tới sự nổ lực bao nhiêu. Ðó
là dạng hiển hiện của nhóm sắc này.
Khi có 3 kỳ dị cùng sanh chung thì nhóm sắc nầy được
gọi là kaayavinnattilahutaadidvaadasakakalaapa và thường hiện khởi
trong những lúc tâm tư vui vẽ,năng động chúng cũng là những oai nghi trên
nhưng có tổ chức hơn.
4) Nhóm vaciivinnattisaddadasakakalaapa có mặt
khi ta nói chuyện, đọc sách, tụng kinh mà tâm tư thiếu vui tươi hay không
năng động tích cực. Khi có 3 kỳ dị cùng sanh thì nhóm này được gọi là
vaciivinnattisaddalahutaaditarasakakalaapa và thường xuyên có mặt
trong thời bình nhật (paakati) hoặc vào những khi tâm vui vẽ năng
động, chúng cũng là những lời tụng đọc, những câu nói thôi nhưng thuận
hoạt, trôi chảy hơn.
NHÓM SẮC TÂM PHÂN BỐ TRÊN THÂN
- Phần thượng thân (uparimakaaya) là vị trí có
mặt của cả 8 nhóm sắc tâm.
- Phần trung thân (majjhimakaaya) và hạ thân (he.t.thimakaaya)
là vị trí có mặt của 4 nhóm sắc tâm nhóm bất ly (suddha.t.thakakalaapa),
nhóm thân biểu tri, nhóm kỳ dị, nhóm thân biểu tri kỳ dị (kaayavi~n~nattilahutaadidvaa-
dasakakalaapa).
SẮC QUÍ TIẾT
Sắc quí tiết có 2 nhánh muulakalaapa và
muulikalaapa .
Nhánh Muulakalaapa gồm có 2 nhóm sắc:
1) Suddha.t.thakakalaapa: 8 bất ly.
2) Saddanavakakalaapa: 8 bất ly, cảnh thinh.
Nhánh Muuliikalaapa cũng gồm có 2 nhóm sắc.
1) Lahutaadi-ekaadasakakalaapa: 8 bất ly, 3 kỳ
dị.
2) Saddalahutaadidvaadasakakalaapa: 8 bất ly, cảnh thinh, 3 kỳ
dị.
Thích giải:
4 nhóm sắc quí tiết nếu tính theo chi pháp thì có 12
sắc (trừ giao giới) cơ thể chúng sanh luôn có đủ 4 nhóm sắc quí tiết này,
riêng về những vô sinh vật thì chỉ có 2 nhóm quí tiết thôi đó là nhóm bất
ly và nhóm Thinh (saddanavakakalaapa).
SẮC QUÍ TIẾT TRONG LOÀI SINH
VẬT
1) Nhóm thuần bất ly chính là cơ thể chúng sanh, nó làm
chỗ nương cho các loại sắc khác, nếu không có nhóm sắc này thì các nhóm
sắc nghiệp, sắc tâm, sắc vật thực không thể hiện khởi được. Nhóm thuần bất
ly nầy thường sinh khởi nơi cơ thể trong thời điểm hoạt động.
Khi có 3 kỳ dị cùng đi chung thì nhóm thuần bất ly sẽ
được gọi là lahutaadi-ekadasakakalaapa tức là cơ thể trong tình
trạng hoạt động.
2) Nhóm Thinh (saddanavakalaapa) chính là một
tiếng động nào đó được thân tạo ra như tiếng sôi ruột, tiếng cọ tay hay
tiếng ngáy... những tiếng rời rạc, mơ hồ, vô tổ chức.
Khi có 3 kỳ dị cùng sanh chung thì nhóm này được gọi là
saddalahutaadidvaadasaka-kalaapa, cũng là những âm thanh phát ra từ
thân như trên nhưng rõ ràng, dứt khoát hơn.
Ðối với những vật vô tri thì sự hiện diện của sắc quí
tiết như sau:
1) Nhóm thuần bất ly là núi non, sông ngòi, gió, lữa,
nước, mặt trăng, mặt trời, tinh tú, bóng râm...
2) Nhóm thinh là tiếng gió, tiếng sét, tiếng đá lỡ, đất sụp, tiếng
chuông trống...
3 kỳ dị không bao giờ có đối với vật vô tri.
SẮC VẬT THỰC
Sắc vật thực cũng có 2 nhánh: muulakalaapa và
muliikalaapa.
Nhánh I chỉ có một nhóm thuần bất ly (suddha.t.thakakalaapa)
thôi, nhánh II là nhóm kỳ dị (lahutaadi-ekaadasakakalaapa): 8 bất
ly + 3 kỳ dị.
Tính trên chi pháp chặt chẻ thì có 2 nhóm sắc vật thực
trên đây chỉ gồm có 12 sắc thôi (trừ giao giới) và chúng chỉ sanh trong cơ
thể chúng sanh. Sau đây là qui trình sinh diễn của sắc vật thực.
1) Nhóm thuần bất ly của sắc vật thực hiện khởi khi
nào cơ thể được tiếp nhận một món ăn hay loại thuốc men nào đó, như ở
trước đã nói, bọn thuần bất ly chỉ có mặt khi cơ thể đang ở trong tình
trạng tiêu cực, thiếu hoạt động.
2) Nhóm kỳ dị, cũng sinh ra khi cơ thể được tiếp
dưỡng bằng thuốc men hay vật thực ngoại, nhưng chúng chỉ có mặt khi cơ
thể cử hoạt động, nói rộng hơn là đang ở tình trạng năng động. Tóm lại
thuần bất ly cũng là sắc vật thực nhưng thiếu sự cộng tác của 3 kỳ dị.
Còn 3 kỳ dị cũng là sắc vật thực nhưng chúng có kết hợp.
2 nhóm sắc vật thực này không có đối với giống vô sanh
vật bởi vì sắc vật thực phải luôn dựa vào kammaja-oja để sinh ra.
Kammaja-oja luôn làm điều kiện (upakaara) cơ bản cho vật
thực ngoại (bahiddhoja), nguồn sinh tố từ các thức ăn bên ngoài như
vậy đối với những thực phẩm chưa được ăn thì chất dinh dưỡng trong chúng
chỉ là sắc quí tiết chớ không phải là sắc vật thực chẳng hạn như cây cối
được phát triển, trổ hoa ra quả nhờ nương vào đất, nước, phân bón đó làm
sắc vật thực cho cây nhưng kỳ thực trong trường hợp nầy những cái đó chỉ
đóng vai tròsắc quí tiết chớ không phải là sắc vật thực bởi vì cây cối
không có ăn các chất đó như chúng ta ăn thực phẩm, chúng chỉ hấp thụ thôi,
chỉ hút các dưỡng tố đó qua củ, rể của mình. Nếu nói theo thông thường thì
đó cũng là một hình thức ăn" nhưng theo thực tính chân đế thì không phải
như thế, đó là nói theo vohaarasammuti (từ ngữ tục đế) thôi.
LỘ TRÌNH DIỄN CỦA SẮC PHÁP (Ruupapavattikkamanaya)
A.t.thaviisati kaamesu
Honti teviisa ruupiisu
Sattasasevasa~n~niina.m
Aruupe natthi ki~ncipi
? cõi dục có đủ 28 sắc pháp. Ở cõi sắc hữu tưởng chỉ có
23 (mũi, lưỡi, thân và 2 sắc tính). Ở cõi vô tưởng có 17 sắc (trừ 5 thần
kinh, cảnh thinh, 2 sắc giới tính, ý vật, 2 biểu tri).
- Nói tổng quát thì ở cõi Dục có đủ 28 sắc nhưng nếu
phân tách riêng ra nhiều trường hợp thì dĩ nhiên không phải như vậy. Ðối
với nữ nhân thì không có sắc nam tính, ngược lại nam nhân thì không có sắc
nữ tính. Hoặc khi bị tàn tật mất một giác quan nào đó thì 5 sắc thần kinh
cũng không có đủ.
- 15 cõi sắc giới hữu tưởng không có thần kinh tỷ,
thiệt, thân cùng 2 sắc giới tính vì 5 sắc này chỉ có ý nghĩa khi hưởng dục
thôi, mà ở cõi sắc giới thì coi như đã ly khai các dục nên không thể có 5
sắc này nơi 1 phạm thiên sắc giới. Nói về 2 thần kinh nhãn nhĩ, sở dĩ ở
cõi sắc giới hữu tưởng vẫn có là vì 2 cơ quan mắt tai không phải chỉ được
xài trong việc hưởng dục, mà chúng còn có nhiều lợi ích hướng thượng khác
nếu biết sử dụng như mắt còn có thể chiêm bái Thánh Nhân tai còn có thể
nghe Chánh Pháp. Mà 2 việc này vị phạm thiên có thể làm được nên ở cõi ly
dục đó thần kinh nhãn nhĩ mới đủ lý do để có mặt.
- Ở cõi vô tưởng chỉ có 17 sắc: 8 bất ly, giao giới,
mạng quyền, 3 kỳ dị, 4 sắc tướng. Vì các phạm thiên vô tưởng không có tâm
thức nên những sắc làm sở y cho tâm (như 5 thần kinh) không có trên đây.
Còn 2 sắc tính là những sắc tạo điều kiện cho tham dục tích cực nhất, mà ở
vị phạm thiên vô tưởng thì việc hưởng dục làm sao có được nên sắc tính dĩ
nhiên không có.
Ðối với Phạm thiên cõi vô sắc là những vị đã trải qua
quá trình tu tập thiền định vô sắc, một cấp thiền ly tham trong sắc (Ruupaviraagabhaavanaa).
Nhàm chán trong sắc thì làm sao lại có thể còn sắc!
SẮC PHÁP TRONG CÕI DỤC
? cõi dục giới có 28 sắc pháp. 28 sắc pháp nếu nói rộng
thì thành 74 sắc bởi vì có 18 sắc nghiệp, 15 sắc tâm, 13 sắc quí tiết và
12 sắc vật thực. Cộng 4 con số này lại ta có được 58 sắc như ta biết, sắc
pháp có 4 loại vì dựa theo nhân sanh của chúng. Trong mỗi loại ấy ta cộng
thêm 4 sắc tướng vào, vậy thành ra có đến 16 sắc tướng. Ta lấy 16 nhân với
58 sắc kể trên thì thành ra 74 sắc.
SẮC PHÁP TRONG CÕI SẮC GIỚI HỮU
TƯỞNG
Trên cõi sắc giới hữu tưởng có được 23 sắc pháp. Nếu
tính theo loại sắc thì chỉ có 3 loại (trừ ra sắc vật thực) vì chư Phạm
Thiên không có ăn uống như Nhân Loại hay Chư Thiên cõi dục giới, các vị
chỉ sống bằng pháp hỷ (jaati) thôi.
Trong 3 loại sắc còn lại ấy, sắc nghiệp chỉ có 13 (trừ
3 thần kinh tỷ, thiệt, thân cùng 2 sắc tính) sắc tâm trên đó vẫn đủ số 15,
sắc quí tiết vẫn 13. Ta cộng 3 con số này lại thành ra 41 rồi trong mỗi
loại sắc ta kể vào đó thêm 4 sắc tướng, 4 sắc tướng nhân với 3 loại sắc
thì ra 12 sắc tướng, 12 sắc tướng cộng với 4 sẽ cho ra 53 sắc. Vậy nếu nói
hẹp thì ở cõi sắc giới hữu tưởng có 23 sắc nếu kể rộng thì có 53.
SẮC PHÁP Ở CÕI SẮC GIỚI VÔ
TƯỞNG
Ở cõi vô tưởng chỉ có 7 sắc pháp nếu tính theo loại thì
chỉ có 2: sắc nghiệp và sắc quí tiết. Vì chúng sanh vô tưởng không có tâm
thức nên họ không có sắc tâm còn sắc vật thực cũng không có. Ðó là quy
luật trên ấy.
Sắc nghiệp ở cõi vô tưởng có 10 là 8 bất ly, giao giới,
mạng quyền, sắc quí tiết trên đó có 12 (trừ thinh). Vậy tổng cộng lại là
22 sắc, kể thêm 8 sắc tướng đi với chúng nữa là 30. Ðó là tính rộng. Tính
hẹp có 17 thôi.
Chú thích:
Ðúng ra lấy 4 sắc tướng cộng vào với mỗi loại sắc đó là
tính tổng quát (như 18 sắc nghiệp cộng sắc tướng thì thành 22 sắc nghiệp,
15 sắc tâm cộng với 4 sắc Tướng thành ra 19...) nếu đem 4 sắc tướng cộng
vào với từng sắc Nipphanna thì mới cặn kẽ. Tức là có tất cả 17 sắc
Nipphanna (trừ giao giới), Mỗi sắc Nipphanna đều có 4 sắc
tướng đi kèm. Vậy có tất cả 68 sắc tướng (17 x 4). Lấy 68 này cộng với 18
sắc nghiệp thì thành ra có đến 86 sắc nghiệp.
Trong 15 sắc tâm có được 9 sắc Nipphanna: 8 bất
ly và thinh (saddaruupa) trong 9 sắc này mỗi cái đều có 4 sắc tướng
đi kèm, thành ra có tới 36 sắc tướng. Lấy 36 này cộng với 15 sắc tâm.
Trong 13 sắc quí tiết có được 9 sắc Nipphanna
như trên, và mỗi cái trong 9 sắc đó cũng đều có 4 sắc Tướng đi kèm thế là
cũng có 36 sắc tướng trong sắc quí tiết. Lấy 36 này cộng với 13 sắc quí
tiết thì thành ra có tới 49 sắc quí tiết
Trong 12 sắc vật thực có được 8 sắc Nipphanna,
ta cộng 4 sắc Tướng vào với từng sắc Nipphanna sẽ cho ra 32 sắc
Tướng. Lấy 32 này cộng với 12 thì thành ra sắc vật thực có đến 44.
-ooOoo-
Trong thời tái tục (patisandhikaala: uppaadakkhana
của patisandhicitta) luôn vắng mặt 8 sắc : Thinh: 5 kỳ dị, dị và
diệt. Trong thời bình nhật thì sắc nào cũng có mặt.
Nói theo thực tính pháp thì sát-na sanh của tâm tái tục
được gọi là pa.tisandhikaala (thời tái tục), từ sát-na trụ của tâm
tái tục trở đi cho đến sát-na trụ của tâm tử được gọi là thời bình nhật (pavattikaala).
Sở dĩ trong thời tái tục không có 8 sắc kể trên là vì trong thời điểm đó
thân khẩu của chúng sanh chưa hoạt động, nói năng gì được thân xác chúng
sanh lúc đó hoàn toàn trong tình trạng tiêu cực tối đa, lại nữa trong
sát-na sanh của tâm tái tục sắc chưa có dấu hiệu biến suy, cằn cỗi nên
cũng không có dị và diệt, về điều này ta có thể hiểu như một nồi cơm mới
vừa đặt lên bếp chưa ấm nồi thì làm sao có thể sôi tim hay kêu nồi gì
được.
Trong Abhidhammattha Sangaha ghi rằng thời tái
tục chỉ thiếu 8 sắc. Xem câu đó ta dễ hiểu lầm rằng trong 20 sắc còn lại
có đủ 4 loại sắc: nghiệp, tâm, quí tiết, vật thực, kỳ thật trong lúc tái
tục chỉ có sắc nghiệp, còn 3 loại sắc kia chỉ sanh ra trong thời bình nhật
mà thôi, 20 sắc nghiệp ở đây là: 5 sắc thần kinh, 2 sắc giới tính, ý vật,
mạng quyền, 8 bất ly, giao giới, sinh, tiến.
Theo Abhidhammattha Sangaha thì trong thời tái
tục chỉ vắng mặt 8 sắc, nhưng theo atthakathaa và .tiikaa
thì có tới 9 sắc vắng mặt trong thời tái tục là trừ thêm TIẾN (santati).
Vậy theo các tài liệu đó thì vào thời tái tục chỉ có 19 sắc mà thôi.
Còn trong thời bình nhật thì 28 sắc pháp hiện khởi đầy
đủ, nói theo loại thì đủ cả 4 loại, nói theo bọn thì đủ cả 9 bọn. Ðiều cần
nhớ là không phải đối với chúng sanh nào trong thời tái tục cũng có đủ 9
bọn sắc nghiệp, bởi vì điều đó còn phải tùy vào sinh thú và sanh loại.
SANH LOẠI HỮU TÌNH (Yoni)
Tất cả chúng sanh chỉ nằm trong 3 hoặc 4 sanh loại sau
đây:
1) Samsedajayoni: thấp sanh, giống hữu tình sinh
ra từ môi trường ẩm thấp hay từ một vật chất vô sinh nào đó.
2) Opapaatikayoni: hóa sanh, giống hữu tình tự
nhiên hiện ra, không dựa vào môi trường vật chất nào cả và sự xuất hiện đó
diễn ra tựa như từ trên trời rơi xuống vậy.
3) Gabbhaseyyakayoni: thai sanh giống chúng sanh
sinh ra từ quá trình thụ kết thai bào của động vật giống cái, nếu nói rộng
sanh loại này còn được chia ra 2 nhánh:
a) Andajayoni: noãn sanh, sanh ra trong dạng
trứng.
b) Jahaabujayoni: sinh ra trực tiếp từ sản môn (và mang sẳn hình
dáng của mình).
QUÃNG THÍCH:
1) Loài hữu tình thấp sanh là loại chúng sanh sinh ra
do điều kiện hấp thụ thiên nhiên, không do quá trình kết hợp tính giao của
động vật (dù người hay thú) có thể chúng sinh ra từ máu mủ, cây cối, trái
cây, bông hoa... như nàng Ci~ncaanaanavikaa đã sinh ra từ cây me,
nàng Ve.luvatii sanh ra từ cây tre, nàng Padumavatii sinh ra
từ hoa sen, 499 đứa con trai của nàng Padumavatii (mà sau đó trở
thành những vị Ðộc Giác) đã sinh ra từ sản huyết, hoặc như các loài côn
trùng, sâu bọ sanh ra từ những môi trường tự nhiên. Giống thấp sanh cũng
trưởng thành chậm như thai sanh.
2) Loài hóa sanh nhờ nghiệp quá khứ mà sanh ra một cách
thình lình, và hình dáng hoàn chỉnh ngay lúc đó chớ không phải phát triển
từ từ như các giống hữu tình kia. Chúng sanh thuộc chủng loại này gồm có
người ở địa ngục Chư Thiên, Phạm Thiên, người thời sơ kiếp (nhân loại
trong thời điểm địa cầu mới hình thành).
3) Loài noãn sanh là giống hữu tình sinh ra từ bụng mẹ
nhưng trong dạng trứng. Sau khi trứng nở mới từ đó chun ra và lớn lên theo
thời gian giống noãn sanh gồm có những loài tiêu biểu như chim chóc, gà,
vịt, rồng, rắn ... Ðối với nhân loại cũng sanh ra trong dạng trứng như
trường hợp hai anh em vị trưởng lão nọ trong chú giải pháp cú kinh, hai vị
này là con của một cinnara (nhân điểu: giống chim đầu và mình như người
nhưng chân chim, có cánh bay được). Hai vị khi mới được sinh ra chỉ là 2
cái trứng rồi sau đó trứng nở. Lớn lên cả 2 anh em họ đều đi xuất gia.
4) Giống bào sanh (tử cung sanh) là những chúng sanh
được cưu man trong bụng mẹ với hình dáng sẳn có của mình như nhân loại và
loài bàng sanh nào đó.
SANH LOẠI VÀ CÕI
Niraye bhummavajjesu
Devesu ca na yoniso
Tisso purimikaa honti
Catassa pi gatittaye
(Sammohavimodanii-atthakathaa)
QUÃNG THÍCH:
Các loài sau đây: chúng sanh địa ngục, Chư thiên trong
6 cõi Dục thiên (trừ ra hạng địa cư thiên: bhumma.t.thadeva), loài
ngạ quỉ Nijjhaamata.nhika và Phạm thiên sắc giới đều thuộc giống
hóa sanh.
Còn nhân loại, địa cư thiên, bàng sanh (tiracchaana),
a tu la, ngạ quỉ (trừ ra loài Nijjhaamata.nhika) thuộc cả 4 sanh
loại (yoni).
* * *
SẮC NGHIỆP CỦA MỖI SINH LOẠI
1) Loài thấp sanh và hóa sanh trong thời tái tục có
được 8 bọn sắc nghiệp, bọn nhãn,... nói chung là 5 bọn thần kinh, bọn giới
tính bọn ý vật. Ðó là tính tổng quát, lấy chuẩn mức tối đa (ukkatthanaya).
Còn nếu lấy mức tối thiểu (omakanaya) thì đối với loài thấp sanh có
thể thiếu 4 bọn sắc nghiệp: bọn nhãn, bọn nhĩ, bọn tỷ và bọn giới tính.
loài đọa xứ hóa sanh trong thời tái tục có thể thiếu 3 bọn nghiệp: bọn
nhãn, bọn nhĩ, bọn giới tính. Nhân loại hóa sanh (trong thời sơ kiếp)
thiếu 1 bọn sắc nghiệp trong khi tái tục đó làbọn giới tính. Tất cả như
thiên cõi Dục trong thời tái tục có đủ các sắc nghiệp.
2) Phạm thiên sắc giới hữu tưởng trong thời tái tục có
được 4 bọn sắc nghiệp: bọn nhãn, bọn nhĩ, bọn ý vật bọn mạng quyền.
3) Phạm Thiên vô tưởng trong thời tái tục chỉ có được 1
bọn sắc nghiệp đó là bọn mạng quyền.
4) Loài thai sanh nói chung (gabbhaseyyaka)
trong thời tái tục có tối đa (ukka.t.tha) 3 bọn sắc nghiệp: bọn
thân, bọn giới tính, và bọn ý vật nói hạn chế hơn (onakanaya) thì
sanh loại này trong thời tái tục có ít nhất là 2 bọn sắc nghiệp: bọn thân
và bọn ý vật, còn bọn giới tính đôi khi có thể thiếu. Nãy giờ là giải về
sắc nghiệp tái tục của các sinh loại.
SẮC NGHIỆP BÌNH NHẬT MỖI SINH
LOẠI
* Ðối với loài thấp sanh và hóa sanh ở cõi Dục, tong
thời bình nhật thì có được thêm bọn sắc nghiệp là bọn mạng quyền. Khi gom
chung sắc nghiệp tái tục và sắc nghiệp bình nhật lại thì được 8 bọn.
* Phạm Thiên Sắc giới trong thời bình nhật cũng chỉ có
4 bọn sắc nghiệp thôi, không có thêm bọn nào nữa. Riêng về Phạm thiên vô
tưởng thì vẫn một bọn sắc nghiệp như cũ.
* Loài thai sanh (nói chung) trong thời bình nhật sinh
được 5 bọn sắc nghiệp nữa là bọn nhãn, bọn nhĩ, bọn tỷ, bọn thiệt, bọn
mạng quyền. Trong 5 bọn đó đôi khi có thể thiếu 3 bọn sau đây: bọn nhãn,
bọn nhĩ, bọn tỷ. Nói gọn lại, nếu kể tất cả bọn sắc nghiệp tái tục và bình
nhật lại thì được 8 bọn. Trong đó có 4 bọn có thể bị thiếu trong một vài
trường hợp đặc biệt.
Thời điểm
xuất hiện các sắc thần kinh đối với loài thai
sanh:
Trong bộ Paramatthavinicchaya (của Ngài
Anuruddha) có ghi rằng:
Tato para.m pavattimhi
Va.d.dhamaanassa jantuno
Cakkhudasakaadayo ca
Cattaaro honti sambhavaa.
Mười một tuần lễ sau khi tái tục 4 bọn sắc nghiệp (tức
4 sắc thần kinh đầu) sẽ khởi lên cho chúng sanh một cách tương ứng [*] và
cả 4 phải sinh cùng lượt không trước không sau nhau. Ðể khẳng định rõ điều
này khi thuyết về 4 bọn sắc nghiệp còn lại (trừ bọn thân, bọn tính, mạng
quyền, ý vật) Ðức Phật Ngài không có kể thứ lớp từng bọn theo cách
uppattikkamanaya hay còn gọi là desanaakamanaya tức nêu từng
chi trước sau như khi thuyết Ngũ Uẩn, Tứ Ðế, mà Ngài lại gom chung một lần
mà kể ra. Về vấn đề 4 bọn sắc nghiệp sanh khởi trong tuần lễ thứ 11 sau
khi tái tục. Trong bộ Kathaavatthu nói rằng "Sesaani cattaari
sattasattati rattimhi. jaayanti: 4 bọn sắc nghiệp còn lại sinh khởi
trong đêm thứ 77 sau ngày tái tục".
Còn bọn sắc mạng quyền thì khởi sinh sau ngày tái tục 1
tuần lễ.
Riêng về loài thấp sanh và hoá sanh thì bọn mạng quyền
sinh lên từ sát-na trụ (.thitik.) của tâm tái tục.
[*] Như với người muu bẩm sinh thì phải thiếu thần
kinh nhãn
QUÁ TRÌNH PHÔI THAI
Pa.thama.m kalala.m hoti
Kalalaa hoti abbuda.m
Abbudaa jaayate pesi
Pesi nibbattate ghano
Ghanaa pasaakhaa jaayanti
Kesaa lomaa nakhaapi ca.
(Sagaathaavag. Yakkha Sa.myut. - Sa.my.-nikaaya)
Quãng thích:
- Trong tuần lễ đầu tiên sau khi tái tục, bào thai chỉ
là một dịch chất trong suốt như dầu mè. Ðức Phật gọi dịch chất này là
kalala.
- Vào tuần lễ thứ hai dịch chất kalala biến dạng
thành một tí nưóc sền sệt (Chánh tạng gọi là abbuda)
- Vào tuần lễ thứ ba chất nước sẹät đó đổi sang dạng
một cục thịt đỏ hói (Chánh tạng gọi là Pesi)
Vào tuần lễ thứ tư cục thịt đỏ ấy biến thành một khối
săn chắc hơn, thay vì khi còn ở dạng pesi thì chỉ là một cục thịt mềm rệu.
Dạng này được Ðức Phật gọi là Ghana, có hình dạng giống trứng gà.
- Vào tuần lễ thứ năm khối thịt săn chắc đó bắt đầu
hình thành đầu mình tay chân. Từ tuần lễ thứ 12 đến tuần lễ thứ 42 các
tóc, lông, móng dần dần mọc ra.
SỰ XUẤT HIỆN CỦA 3 LOẠI SẮC CÒN
LẠI
Trong các cõi hữu sắc hữu tưởng sát-na tâm đầu tiên
trong một kiếp sống là tâm tái tục. Khi tâm tái tục diệt rồi thì tâm hữu
phần đầu tiên sẽ khởi lên. Ngay sát-na của tâm hữu phần này, sắc tâm được
tạo ra kể từ đó về sau, lúc nào sắc tâm cũng chỉ khởi lên ngay sát-na sanh
của tâm, còn sát-na trụ và diệt thì yếu quá không đủ sức tạo sắc tâm. Bởi
vì theo quy luật, tâm và sở hữu trong sát-na rất mạnh, còn ở 2 sát-na tiểu
sau thì yếu hơn.
- Bọn sắc quí tiết đầu tiên luôn khởi lên vào sát-na
trụ của tâm tái tục từ đó về sau nó khởi lên liên tục trong từng sát-na
tiểu. Vì sắc quí tiết không phải do tâm trợ sanh nên dù tâm đang ở tình
trạng nào: mạnh hay yếu cũng không ảnh hưởng gì đến chúng.
- Ðối với loài thấp sanh và hóa sanh khi vừa tái tục
xong thì có thể tiêu thụ thực phẩm được liền nên bọn sắc vật thực của 2
loài này cũng sinh lên ngay lộ ý môn đầu tiên của kiếp sống. Và loại sắc
này cũng không do tâm trợ sanh nên dù ở sát-na nào của tâm chúng cũng đều
có thể sinh lên được cả.
Ðối với loài thai sanh thì bọn sắc vật thực khởi lên kể
từ khi người mẹ ăn uống vào. Chất sinh tố trong thức ăn mà người mẹ dùng
đó sẽ phân bố vào bầu thai để nuôi dưỡng nó. Nhưng điều nên nhớ là trong
khi bầu thai còn trong dạng dịch chất (kalala) thì sinh tố từ bà mẹ
không nuôi được nó. Kể từ tuần lễ thứ hai trở đi sinh tố trong các thức ăn
mà bà mẹ ăn vào đó mới có thể nuôi dưỡng bầu thai. Kể từ lúc hiện khởi ấy
trở về sau, vào bất cứ sát-na nào của tâm, sắc vật thực cũng khởi lên
được. Trong sagaathaavagga (yakkhasa.myutta - Sa.myutta Nikaaya),
bậc đạo sư bảo rằng:
Ya~ncassa bhu~njati maataa
Anna.m paana~nca bhojana.m
Tena so tattha yaapeti
Maatu kucchigato tiro.
"Món ăn thức uống mà bà mẹ dùng vào (sẽ giúp cho) thai
bào nhờ đó mà hình thành cơ thể để lớn mạnh".
-ooOoo-
LỘ SẮC TỔNG QUÁT
I-* Icceva.m patisandhimupaadaaya kammasamu.t.thaanaa.
Dutiyacittamupaadaa ya cittasamu.t.thaanaa. .thitikaalamupaadaaya
utusamu.t.thaanaa, ojaaphara.namupaa- daaya aahaarasamu.t.thaanaa. Ceti
catusamu.t.thaanaruupakalaapasantati kaamaloke diipajaalaa uja nadiisoto
viya ca yaavataaykamabbhocchinnaa pavattati.
Như đã nói, sắc nghiệp bắt đầu sinh ra từ sát-na Sanh (up.kh.)
của tâm tái tục. Sắc tâm bắt đầu có mặt từ sát-na sanh của tâm hữu phần
đầu tiên trong kiếp sống. Sắc quí tiết bắt đầu hiện khởi từ sát-na Trụ
(.thi-kh.) của tâm tái tục sắc vật thực bắt đầu có mặt kể từ lúc các
oja được tiếp viện và phân bố. Sự diễn biến tiếp nối liên tục của 4 loại
sắc này trong cõi dục giống như một ngọn lữa hay như một dòng nước vậy.
II-* Mara.nakaale pana cuticittoparisattarasamacittassa
.thitikaalamupaa- daaya kammajaruupaani na uppajjanti. Puretaramuppannaani
ca kammajaruupaa -paani cuticittasamakaalameva pavattitvaa nirujjhanti.
Tato para.m cittajaahaara- jaruupa~nca vocchijjati. Tato para.m
utusamu.t.thaanaruupaaramparaa yaava mataka.levarasankhaaraa pavattanti.
Trong thời cận tử, từ sát-na trụ của tâm thứ 17 tính từ
tâm tử kể ngược lại thì các sắc nghiệp không còn sinh thêm cái nào nữa,
còn những sắc nghiệp đã sanh sẳn (trong sát-na sanh của tâm thứ 17 tính từ
tâm tử kể ngược lại) thì cứ kéo dài đời sống của mình cho tới khi tâm tử
khởi lên để cùng diệt mất một lượt với nó. Sau khi sắc nghiệp đã diệt mất
thì sắc tâm và sắc vật thực cũng diệt luôn. Khi 3 loại sắc đó đã mất hết
trong cơ thể chúng sanh thì sắc quí tiết vẫn còn tiếp tục sinh ra cho tới
khi thân xác đã trở thành tử thi.
Quãng thích:
Sau đây là giải rộng về 2 cận tử Paali vừa nêu
trên.
Ðiểm tâm yếu của bài kệ I muốn nói là sắc nghiệp bắt
đầu sinh ra. Từ sát-na sanh của tâm tái tục rồi sau đó cứ vậy mà sinh diệt
mãi cho đến hết kiếp sống chúng sanh. Trước giờ lâm chung, sắc nghiệp sanh
lên một lần cuối cùng vào sát-na sanh của tâm thứ 17 tính từ tâm từ kể
ngược lại những sắc nghiệp đó cứ đợi 17 sát-na tâm trôi qua cho hết thời
hạn tồn tại của mình để rồi cùng diệt một lượt với tâm tử vì tuổi thọ của
một sắc pháp dài bằng 17 sát-na tâm, đó là quy luật muôn đời không ai có
thể sửa đổi cho khác đi được.
Câu Paali thứ hai muốn nói rằng ngoại trừ tâm
viên tịch của vị La Hán, còn tâm tử của phàm nhân và Thánh hữu học đều có
tạo sắc tâm. Như vậy lần sinh lên cuối cùng của sắc tâm được diễn ra ngay
sát-na sanh, của tâm tử. Ðối với vị La hán thì sắc tâm sinh lên lần cuối
cùng ở sát sát-na sanh của tâm thứ hai kể từ tâm tử tính ngược lại. Ðiều
này có nghĩa là khi tâm đã diệt, người ta đã chết hẳn, sắc tâm vẫn còn tồn
tại trong một khoảnh khắc đối với phàm nhân và thánh hữu học, khi họ đã
chết rồi sắc tâm vẫn tiếp tục kéo dài thời gian tồn tại tương đương với 16
sát-na tâm. Còn vị La Hán sau khi viên tịch rồi, sắc tâm của vị ấy tiếp
tục có mặt trong một khoảng thời gian tương đương với 15 sát-na tâm rồi
diệt mất luôn. Nói theo chân đế thì là như vậy chớ nếu nói theo tục đế thì
coi như tâm tử và sắc tâm lúc nào cũng cùng diệt một lượt bởi thời gian
tương đương với 15, 16 sát-na tâm quả thật vô cùng ngắn ngủi, chưa bằng 1%
của một vinaajii (một "sao" đơn vị đo thời gian cực ngắn, tương
đương với 1% giây đồng hồ).
Nói về sắc vật thực, chúng sanh lên lần cuối cùng vào
sát-na diệt của tâm tử. Nghĩa là khi tâm tử đã diệt, sắc vật thực tiếp tục
tồn tạïi trong một thời gian tương đương 50 (năm mươi) sát-na tiểu rồi mới
diệt,
Sở dĩ nói sắc quí tiết vẫn tếp tục tồn tại trong cơ thể
chúng sanh sau khi họ đã chết là vì sắc quí tiết không bị ảnh hưởng gì tử
tâm thức cả. Kể từ lúc cơ thể đã cứng lạnh rồi siinh trương rồi chỉ còn
xương hay thậm chí tới lúc xương trở thành đất thành bụi, sắc quí tiết vẫn
tiếp nối nhau sinh diệt mãi cho tới khi nào thế giới tiêu hoại thì thôi.
Ðó là nói về sắc quí tiết trong thân xác của loài thấp sanh, thai sanh, (gab).
Riêng về sắc quí tiết của loài hóa sanh thì khi họ chết
rồi nó cũng diệt luôn bởi thân xác của họ giống như ngọn lửa, còn sống thì
còn thấy, chết rồi thì không có dư sót lại tí vật chất nào.
Từ kiếp sống này tới kiếp sống khác, sắc pháp cứ mãi
khởi lên nơi chúng sanh, từ sát-na tái tục cho tới lúc chết như các Ngài
đã nói:
Iccevam matasattaana.m
Punadeva bhavantare
Pa.tisandhimupaadaaya
Tathaaruupa.m pavattati
"Ðối với những người đã chết rồi, sang sanh hữu khác
sắc pháp lại tiếp tục hiện khởi như cũ, kể từ lúc tái tục trở về sau, cứ
vậy mà diễn biến".
-ooOoo-
NHỮNG CÂU HỎI VỀ SẮC PHÁP
1) Sắc pháp được chia chẻ mấy cách? Kể ra và hãy cho
biết ý nghĩa của mỗi cách.
2) Có bao nhiêu sắc pháp? Hãy nêu tên gọi từng cái theo
thứ tự.
3) 28 sắc pháp kể gọn có bao nhiêu kể chi tiết có bao
nhiêu?
4) Hãy lấy ra những sắc chân đế thật sự và hãy giải
thích từng loại sắc sau đây sabhaavasaaya, asabhaavaruupa,
salakkha.naruupa, alakkha.naruupa, nipphannaruupa, anipphannaruupa,
ruuparuupa, aruuparuupa, sammasanaruupa, asammasanaruupa.
5) Hãy giải thích sắc Nahaabhuuta và
Upaadaaya là thế nào. Hãy kể cho đủ những chỗ thiếu: Ðất, nước, lửa,
gió, sắc thần kinh nhãn, sắc cảnh sắc, sắc cảnh xúc, sắc nữ giới tính,
mạng quyền, thân biểu tri, khinh, sinh, diệt.
6) Hãy cho biết sự phân bố của 28 sắc pháp trên thân
thể chúng sanh.
7) Hãy cho biết thực tính chân đế của từng sắc trong tứ
đại. Và có mấy thứ nước, lửa, gió?
Nước có 2 loại:
a) Nước ở dạng quến tụ (aabandhanalakkha.na)
được u.nhatejo tác động sẽ chảy ra (paggahara.nalakkhana)
như sắt, đồng chì, kẽm... Bản tướng thủy đại của những vật chất ấy chỉ
cần được nhiệt hỏa tác động là hiển hiện. Ðó là loại nước thứ nhất.
b) Bản tướng thủy đại trong dạng chất lõng khi được
Siitatejo (hàn hỏa) tác động thì sẽ gom lại và khắn vào nhau, như
nước ở 0o c (không độ C) sẽ trở thành
aabandhanalakkha.na ngay .
8) Hãy nêu lời giải tự của các sắc thần kinh nhãn...
nói chung là 5 thần kinh.
9) Tại sao các màu sai biệt được gọi là sắc cảnh sắc,
các mùi sai biệt được gọi là sắc cảnh khí?
10) Hãy dẫn chứng câu giải tự của các sắc ý vật, mạng
quyền, vật thực, giao giới.
11) Nếu chia cho sâu sắc, 2 biểu tri có tới mấy loại? -
Hãy giải nghĩa và dịch từng câu giải tự sau đây:
- Kaayena vi~n~natti: kaayavi~n~natti.
- Viseso aakaaso: vikaaso
- Lahuno bhaavo: lahutaa
- Ruupassa lahutaa: ruupalahutaa.
- Lakkhiiyanti vinicchiiyanti dhammaa ime sankhaatatii etenaati
lakkhana.m.
12) Nếu gọi tâm theo thực tính, sắc pháp có được mấy
tên gọi? Hãy giải nghĩa từng tên gọi ấy.
13) Ajjhattikaruupa, vatthuruupa, dvaararuupa,
indriyaruupa, o.laarikaruupa, trong người của bạn (học sinh) có được
mấy, kể ra chi tiết.
14) Hãy chia sắc pháp vào từng cặp sau đây: sắc thô,
sắc tế, sắc do thủ, sắc phi do thủ, bất ly, khả ly (vinibbhoga).
15) hãy phân chia 7 sắc cảnh giới theo uppattidvaara
và kammadvaara kèm theo lời giải thích.
16) Gocaraggaahakaruupa là gì? Hãy giải nghĩa và
phân chia các Gocaraggaahakaruupa theo asampatagacar và
sampattagoccaraggaahakaruupa kèm theo lời giải thích.
17) 5 sắc thần kinh, 7 sắc cảnh giới được gọi là sắc
hữu đối xúc (sappattig), tại sao thế? Hãy giải thích. Thế nào là
sắc quyền, có mấy sắc quyền, hãy giải thích và nêu lên từng sắc một.
18) Hãy giải thích thế nào là sắc bất ly và khả ly theo
ý của bạn, dĩ nhiên phải làm sao cho có luận cứ.
19) Hãy kể rõ sắc nào.
a- Là sắc quyền mà không là sắc tế
b- Là sắc tế mà không là sắc quyền
c- Là sắc quyền mà cũng là sắc tế
d- Không là sắc quyền cũng không là sắc tế.
e- Là sắc do thủ (upaadinnaruupa) nhưng không là sắc khả ly (vinib)
f- Là sắc khả ly nhưng không là sắc do thủ.
g- Là sắc khả ly mà cũng là sắc do thủ
h- Không là sắc do thủ cũng không là sắc khả ly.
20) Hãy cho biết có mấy nghiệp, tâm, quí tiết và vật
thực có thể tạo sắc pháp và không thể tạo sắc pháp (nghiệp ở đây tính trên
tâm). Hãy kể chi tiết.
21) Có những sắc pháp sanh từ Cetasika đã diệt,
có những sắc sanh từ cetasika mới sinh, tại sao Ðức Phật không gọi
những sắc đó là cetasikaruupa? Hãy giải thích.
22) Có mấy thứ oja giúp sắc vật thực sinh khởi?
Và loại oja nào trực tiếp trợ sanh sắc thực, oja nào chỉ ở
vai trò trưởng dưỡng, tác động gián tiếp cho sinh khởi.
23) Hãy dịch câu kệ Paali sau đây
A.t.thaarada pannarasa
Terasa dvaadasaati ca
Kammacittotukaahaara
Jaani honti yathaakkama.m
Và hãy phân tích, 18 sắc nghiệp theo
ajjhattikaruupa, vatthuruupa, dvaararuupa, indriyaruupa, o.laarikaruupa.
24) Hãy chia các sắc sau đây theo 4 samu.t.thaana
(nhân sanh), 16 sắc tế, ekasamu.t.thaanikaruupa (sắc có 1 nhân
sanh), dvisamu.t.thaanikaruupa (sắc có 2 nhân sanh),
tisamu.t.thaanikaruupa (sắc có 3 nhân sanh),
catusamu.t.thaanikaruupa (sắc có 4 nhân sanh),
25) Các Ngài đã nói rằng 4 sắc tướng không có nhân sanh
nào, vậy tại sao có chỗ các Ngài lại bảo là 4 sắc tướng luôn có mặt theo
các sắc "CHỦ NĂNG"? Hãy giải thích cho đúng ý các Ngài.
26) 4 sắc quí tiết (sinh ra) trong thân là gì? Hãy giải
thích từng cái.
27) Hãy kể rõ tâm nào được 7 loại sắc tâm, kể từng chi
tiết, tâm nào tạo được loại nào.
28) Hãy cho biết (từng) sắc tâm nào sanh ra từ các tâm
sau đây: 8 tham, 2 sân, 2 si, khai ý, sinh tiếu, 8 đại thiện, 5 thiện sắc
giới, (trừ 2 tâm thông), 5 quả sắc giới, 2 tâm thông, 4 tố vô sắc, 4 thánh
quả.
29) Hãy kể 13 tâm hỷ thọ làm việc cười cho 3 người.
30) Kalaapa nghĩa là gì, có mấy ruupakalaapa?
Hãy dẫn chứng tài liệu.
31) Tại sao Ngài Anuruddha bảo rằng các sắc trong một
bọn phải tương đồng nhau trên 3 điểm sahavutti, không được nhiều
hơn mà cũng không được kém hơn?
32) Tại sao sắc giao giới và 4 sắc tướng không có chi
pháp hẳn hoi dứt khoát? Hãy giải thích và dẫn chứng tài liệu?
33) Hãy nêu rõ 9 bọn sắc nghiệp trên ý nghĩa và chi
pháp.
34) Trong mỗi người có tối đa bao nhiêu sắc nghiệp? 2
sắc tính có cùng sanh trong 1 chúng sinh không? Hãy giải thích. Hãy phân
xác thân thành 3 phần và kể từng sắc nghiệp phân bố trên đó.
35) Hãy kể tên 8 bọn sắc tâm theo thứ tự và hãy giải
thích tâm thế nào là bọn Thinh với bọn Thinh kỳ dị.
36) Từ cổ xuống rún có được bao nhiêu sắc tâm, kể ra,
và 8 bọn sắc tâm ấy là nhóm sắc nào, bao nhiêu, kể ra.
37) 13 sắc quí tiết nếu đem kể thành bọn thì được mấy
bọn? kể ra. Ðồng thời hãy chia rõ bọn quí tiết nào ở nội thân chúng sanh,
loại nào ngoài thân chúng sanh?
38) Hãy phân tích sự khác nhau giữa tiếng la lối và
tiếng nhạc cụ. Hãy phân biệt thế nào là bất ly do tâm sanh và bất ly do
quí tiết sanh?
39) 2 bọn sắc vật thực có sanh trong cơ thể chúng sanh
được không? Hãy giải thích theo cái hiểu của bạn và sao cho đúng với tài
liệu kinh sách.
40) Hãy dịch câu kệ Paali sau đây:
Viisati kaamesu
Hon ti tevisa ruupisu
Sattarasevasa~n~niina.m
Aruupe natthi ki~ncipi.
41) Các Ngài nói rằng ở cõi Phạm Thiên Sắc Giới hữu
tưởng chỉ có 4 bọn sắc nghiệp là bọn nhãn, bọn nhĩ, bọn ý vật và bọn mạng
quyền. Vậy trên mặt vị Phạm Thiên ấy ta chỉ thấy có mắt và tai thôi sao?
và tại sao trên đó vẫn còn có nhãn, nhĩ.
42) Có bao nhiêu sắc ở cõi Vô Tưởng? Trong người bạn có
mấy sắc? Kể ra? Nếu kể rộng thì có mấy sắc được nghiệp trợ sanh? Kể ra? Và
hãy cho biết nếu kể rộng thì ở cõi Dục có bao nhiêu sắc?
43) Hãy dịch câu Paali sau đây:
Saddo vikaaro jarataa
Marana~ncapapattiya.m
Na labbhanti pavattatu
Na ki~ncipi na labbhati.
44) Sắc pháp trong thời tái tục là những sắc nào kể ra.
Hãy cho biết những loại sắc nghiệp của loài thấp sanh và thai sanh trong
thời tái tục. Ðồng thời kể ra luôn sắc nghiệp tái tục của Phạm Thiên Sắc
Giới hữu tưởng.
45) Ðối với loài thấp sanh và thai sanh có thể thiếu
những bọn sắc nghiệp nào? Hãy cho biết mắt, tai, mũi, lưỡi, mạng quyền
xuất hiện nơi cơ thể bạn kể từ thời điểm nào?
46) Có mấy sinh loại sau khi tái tục xong liền trưởng
thành (có cơ thể hoàn chỉnh) lập tức? Hãy nói rõ từng giai đoạn phát triển
của mỗi bộ phận cơ thể nơi bạn từ lúc tái tục cho tới lúc thật sự hoàn
chỉnh.
47) Hãy nói rõ lần sinh ra đầu tiên và cuối cùng của 4
loại sắc (vào sát-na nào có ngoại lệ gì với ai ...)
48) 4 loại sắc nơi cơ thể bạn sẽ diệt vào thời điểm
nào, hãy nói chi tiết các Ngài Atthakathaacariya (Chú Giải Sư) và
Tikaacariya (Phụ Giải Sư) đều bảo rằng "Nhân loại có thể sống 7
ngày bằng 1 bữa cơm, ở thiên giới thì một bữa ăn có thể nuôi sống Chư
Thiên trong 1 - 2 tháng", còn Ngài Anuruddha thì lại bảo rằng: Nhân loại
có thể không ăn trong 7 - 10 tháng mà vẫn sống. Muốn biết Ngài chỉ cho
hạng người nào, và khi như vậy thì người ấy sống bằng gì?
49) Hãy minh giải, quãng thích 2 đoạn Paali dưới
đây:
a- Mara.nakaale pana cuticittoparisattaramacittassa
.thitikaalamupaadaaya kammajaruupaani me uppajjanti puretaramuppannaani
ca kammajaruupaani cuticittasamakaalameva pavattitvaa nirujjhanti.
b- Tato para.m citajaahaarajaruupa~nca vocchijjati.
50) Hãy dịch câu kệ sau đây và hãy cho biết (cùng với
lời giải thích ) là câu kệ này có áp dụng cho cả 31 cõi được không?
Icceva.m matasattaana.m
Punadeva bhavantare
Patiïsandhimupaadaaya
Tathaaruupa.m pavattati.
---o0o---
Mục Lục |
01
|
02.a
| 02.b
| 03
|
04.a
|
04.b
|
04.c
|
Bảng đối chiếu chữ Pali/Sans
-Internet
---o0o---
Source
:
BuddhaSasana Home Page
---o0o---
Trình bày : Nhị Tường
Cập nhật ngày: 01-12-2002
|
|