XI. THỨC BIẾN HIỆN THỨ BA
Như vậy đã nói thức
năng biến thứ hai. Thức năng biến thứ ba, tướng nó thế nào?
Tụng nói:
Thức năng biến thứ
ba,
Sai biệt có sáu
thức,
Tánh tướng là biệt
cảnh,
Thiện, bất thiện, vô
ký.
Luận rằng: "Tiếp
theo thức tư lường năng biến thứ hai, nên hiện rõ tướng của thức liễu cảnh
năng biến.
Thức này sai biệt tóm có
sáu thứ, tùy theo sáu căn, sáu cảnh, chủng loại khác nhau, đó gọi là nhãn
thức cho đến ý thức, tùy theo căn mà đặt tên.
Căn đủ có năm
nghĩa, đó là y căn, phát căn, thuộc căn, trợ căn, như căn. Tuy sáu thức
đều nương Mạt na ý mà sanh khởi, nhưng thức thứ sáu theo chỗ nương riêng
của nó là Mạt na ý mà đặt tên là Ý thức, ví như năm thức, không bị lỗi xen
lạm. Hoặc nó chỉ nương nơi Ý cho nên gọi là Ý thức. Ðây là biện biệt sáu
thức nương sáu căn mà đặt tên, còn tâm thứ tám, ý thứ bảy thì không theo
lệ này.
Hoặc gọi là sắc thức cho
đến pháp thức, đó là theo cảnh đặt tên thuận với thức. Nghĩa là đối với
sáu cảnh, liễu biệt gọi là thức. Năm thức là sắc thức, thanh thức v.v...
thì chỉ liễu biệt sắc cảnh, thanh cảnh v.v... còn pháp thức thì liễu biệt
khắp tất cả pháp. Hoặc vì Ý thức liễu biệt pháp, nên gọi là Pháp thức. Cho
nên tên gọi sáu thức, không bị lỗi xen lạm. Trước là theo căn mà đặt tên
sáu thức, còn sau đây là theo cảnh mà đặt tên sáu thức, đều là dựa nơi năm
sắc căn khi chưa được tự tại mà nói, Nếu khi được tự tại thì các căn dùng
chung lẫn nhau, một căn phát sanh thức duyên được tất cả cảnh, nhưng vẫn
tùy theo căn mà gọi tên thì không có lỗi xen lạm.
Luận Trang Nghiêm nói:
"Năm căn của đức Như Lai, mỗi căn đều duyên đủ năm cảnh". Ðây là theo cảnh
đồng loại (tánh cảnh) thô hiển (năm trần) mà nói (ý nói năm trần thô hiển
cách ngại mà một căn phát thức còn duyên được cả, huống pháp trần vô hình
mà không duyên được).
Kinh Phật Ðịa nói:
"Trí thành sở tác của Phật quyết trạch được tâm hạnh sai biệt của hữu tình
để khởi lên ba nghiệp giáo hóa và bốn thứ ký đáp". Nếu năm căn của Phật
không duyên cùng khắp thì không có khả năng ấy.
- Nhưng căn sở y và cảnh
sở duyên của sáu chuyển thức thô hiển dễ thấy rõ, cho nên ở đây không nói.
Trước đây theo nghĩa thuận tiện đã nói căn sở y, còn nghĩa của cảnh sở
duyên khi gặp nghĩa thuận tiện sẽ nói.
- Câu tụng thứ hai nói "Tánh
tướng là biệt cảnh", là hiển thị cả tự tánh và hành tướng của sáu
thức. Sáu thức lấy sự liễu biệt cảnh làm tự tánh, cũng lại dùng sự liễu
biệt cảnh làm hành tướng. Do đó câu tụng giải thích chung cả hai tên, vì
nó liễu biệt cảnh nên gọi là thức. Như Khế kinh nói: "Nhãn thức thế nào?
Ðó là thức nương nhãn căn liễu biệt các sắc. Nói rộng cho đến ý thức thế
nào? Ðó là thức nương nơi ý căn liễu biệt các pháp."
Kinh kia chỉ nói chỗ nương
riêng của sáu thức với kiến phần và cảnh sở duyên của nó, khi ở địa vị
chưa chuyển y, còn khi ở địa vị đã chuyển y thì căn sở y và cảnh sở liễu
của sáu thức chung thông như trước đã nói.
- Sáu chuyển thức này
nhiếp thuộc về tánh nào?
Nhiếp thuộc cả ba tánh là
thiện, bất thiện và câu phi. Câu phi tức là vô ký, chẳng phải thiện và bất
thiện.
Khả năng làm cho thuận lẽ
phải và có lợi ích đời này, đời sau thì gọi là thiện; còn lạc quả của nó ở
cõi Người, cõi Trời, tuy thuận lẽ phải và có lợi ích đời này nhưng không
phải lợi ích đời sau, nên không gọi là thiện. Khả năng làm trái lẽ phải và
tổn hại đời này, đời sau thì gọi là bất thiệ; còn khổ quả của nó ở cõi ác
tuy trái lẽ phải và tổn hại đời này, nhưng không phải tổn hại đời sau, nên
không phải bất thiện. Lưng chừng ở giũa thiện, bất thiện, lợi ích và tổn
hại không rõ ràng, thì gọi là vô ký.
Sáu chuyển thức này nếu
tương ưng với mười một pháp như Tín, Tàm, Qúy v.v... thì nhiếp thuộc tánh
thiện, nếu tương ưng với mười pháp như Vô tàm, Vô quý v.v... là nhiếp
thuộc về tánh bất thiện. Còn không tương ưng với cả hai thứ trên là nhiếp
thuộc về tánh vô ký.
- Có ý kiến cho rằng ba
tánh của sáu thức không khởi đồng khởi, vì sáu thức đồng chuyển hướng ra
bên ngoài, ba tánh thường trái nhau; vì năm thức phải do ý thức đạo dẫn,
đồng thời sanh khởi, đồng duyên theo cảnh, mới thành thiện hoặc nhiễm..
Nếu chấp nhận năm thức có đủ ba tánh cùng hiện hành, vậy thời lúc bấy giờ
ngũ câu ý thức cũng phải thông cả ba tánh, bèn trái chánh lý. Cho nên
quyết định ba tánh không cùng khởi một lần.
Nhưng luận Du già
v.v... nói: " Tạng thức một lúc cùng với các chuyển thức tương ưng cả
ba tánh mà nhất thời khởi lên", nhất thời đây là dựa theo nghĩa thức trải
qua nhiều niệm mà nói. Như nói "nhất tâm", không phải là nói chỉ trong một
lần sanh diệt, nên không có lỗi trái nhau.
- Có ý kiến cho rằng sáu
thức đều có đủ ba tánh, vì năm thức suất nhĩ và đẳng lưu hoặc nhiều hoặc
ít cùng khởi lên. Lại năm thức và ý thức tuy cùng sanh khởi, nhưng tánh
thiện, ác không hẳn đồng nhau. Trên kia cật nạn nói: "Năm thức phải do ý
thức đạo dẫn" đến đây trở thành uổng công. Cho nên luận Du già nói như
người nhập định, khi gặp duyên của tiếng khánh mà ra định, đó là nhĩ thức
với thiện ý thức có định tương ưng cùng khởi lên, chứ không phải chỉ một
mình ý thức tương ưng với định kia mà có thể tiếp nhận được tiếng khánh
đó. Nếu không có nhĩ thức, thì đối với âm thanh này một mình ý thức không
lãnh thọ được, không thể xuất định cũng không phải khi tiếp nhận âm thanh
là xuất định ngay. Sau khi lãnh thọ âm thanh rồi, nếu có hy vọng, sau đó
mới xuất định.
Khi ở trong định, nhĩ thức
suất nhĩ nghe âm thanh, đó chẳng phải thiện. Vì khi chưa chuyển y, dù tâm
suất nhĩ, tâm ấy chỉ là vô ký.
Do đó chứng minh ngũ câu ý
thức không nhất định là đồng tánh thiện với năm thức. Các chỗ khác chỉ
nói: Ngũ câu ý thức cũng duyên năm cảnh như năm thức, như không nói đồng
nhau.
Luận Tạp Tập nói:
"Trong địa vị đẳng dẫn (định) không có năm thức". Ðó là y theo đa phần ở
trong định mà nói.
Nếu trong năm thức có ba
tánh đồng khởi, ý thức theo năm thức đó chuyên chú về cảnh nào thì ý thức
cùng với năm thức đồng tánh đó. Còn không chuyên chú thì là tánh vô ký.
Cho nên biết sáu chuyển thức có đủ ba tánh (như nhãn thức duyên tượng
Phật, là thiện, nhìn hoa mà tham là bất thiện tánh).
khi được địa vị tự tại thì
nhiếp thuộc về tánh thiện, vì Phật sắc (tướng hảo công đức), Phật tâm (bốn
trí) nhiếp về Ðạo đế (không có bất thiện), đã trừ sạch chủng tử hý luận
(chẳng phải vô ký).(32)
- Sáu thức tương ưng
với bao nhiêu tâm sở?
Tụng rằng:
Ðây tâm sở Biến
hành,
Biệt cảnh, Thiện,
Phiền não.
Tùy phiền não, Bất
định,
Ðều tương ưng ba
thọ.
Luận rằng: "Sáu
chuyển thức này chung cùng tương ưng với sáu vị Tâm sở". Ðó là năm Biến
hành, năm Biệt cảnh, mười một thiện, sáu căn bản phiền não, hai mươi Tùy
phiền não, bốn Bất định.
Thường nương tâm khởi,
tương ưng với tâm, hệ thuộc theo tâm, cho nên gọi là Tâm sở. Như vật gì
thuộc của ta, gọi là ngã sở.
Tâm đối với cảnh sở duyên
chỉ nhận lấy tướng chung, Tâm sở còn nhận lấy tướng riêng, giúp thành việc
của tâm, nên được gọi là Tâm sở. Như thầy trò thợ vẽ, thầy làm mô hình trò
tô màu sắc. Cho nên luận Du già nói: "Thức" có khả năng liễu biệt tướng
chung của sự vật.
Tác ý có khả năng
liễu biệt các tướng, chưa liễu biệt đó của thức Tâm vương, tức có nghĩa
các Tâm sở nhận biết tướng riêng.
Xúc có khả năng
liễu biệt các tướng khả ý v.v... đó của thức Tâm vương.
Thọ có khả năng
liễu biệt các tướng nhiếp thọ đó của thức Tâm vương.
Tướng có khả năng
liễu biệt các tướng nhiếp thọ đó của thức Tâm vương.
Tưởng có khả năng
liễu biệt tướng nhân của ngôn thuyết (ngôn thuyết nhân) đó của thức
Tâm vương.
Tư có khả năng
liễu biệt các tướng chánh nhân đó củ thức Tâm vương.
Cho nên tác ý, xúc v.v...
gọi là Tâm sở pháp. Chữ "đó" là biểu thị Tâm sở cũng duyên tướng chung đó
của Tâm vương (chứ không phải chỉ duyên tướng riêng mà thôi).
Chỗ khác lại nói "Dục"
cũng có khả năng liễu biệt tướng của các việc khả lạc của thức Tâm vương.
Thắng giải cũng có
khả năng liễu biệt tướng của các việc đã quyết định của thức Tâm vương.
Niệm cũng có khả
năng liễu biệt tướng của các việc đã tập quen của thức Tâm vương.
Ðịnh, tuệ cũng có
khả năng liễu tướng của các việc đắc, thất của thức Tâm vương.
Do thế mới có thể đối với
cảnh khởi lên các Tâm sở thiện hoặc nhiễm, và đối với cảnh duyên cũng đều
nhận biết được tướng riêng.
Tuy các Tâm sở có danh và
nghĩa không khác, nhưng theo chủng loại sai biệt chia làm sáu vị, là: Biến
hành có năm, Biệt cảnh có năm, Thiện có mười một, Phiền não có sáu, Tùy
phiền não có hai mươi, Bất định có bốn. Như vậy sáu vị cộng là 51 Tâm sở.
Trong tất cả tâm đều có,
nên gọi là tâm sở Biến hành.
Duyên riêng mỗi cảnh mà
sanh khởi, nên gọi là tâm sở Biệt cảnh.
Chỉ trong thiện tâm mới có
sanh khởi, nên gọi là tâm sở Thiện.
Tánh nhiếp thuộc về phiền
não căn bản, nên gọi là tâm sở Phiền não.
Chỉ là tánh đẳng lưu của
phiền não căn bản, nên gọi là tâm sở Tùy phiền não.
Thiện hay nhiễm ô không rõ
rệt nhất định, nên gọi là tâm sở Bất định.
Nhưng luận Du già hợp sáu
vị làm năm, vì Phiền não và Tùy phiền não chung lại đều là nhiễm.
Lại dùng bốn món nhất
thiết để biện biệt năm vị sai khác. Bốn nhất thiết là nhất thiết
tánh (thiện, ác, vô ký) nhất thiết địa (ba cõi, chín địa), nhất thiết thời
(hữu tâm vô tâm, hữu lậu, vô lậu), nhất thiết câu (tám Tâm vương). Trong
năm vị, Biến hành đủ cả bốn nhất thiết. Biệt cảnh chỉ có hai nhất thiết
đầu. Thiện chỉ có một, đó là nhất thiết địa. Nhiễm thì không có bốn nhất
thiết, Bất định chỉ có một, đó là nhất thiết tánh. Do đó năm vị có chủng
loại sai khác.
- Sáu chuyển thức này thay
đổi không định cho nên có thể tương ưng với cả ba thọ. Vì sáu thức đều có
thể lãnh thọ cảnh thuận, nghịch và câu phi. Khi lãnh nạp tướng của cảnh
thuận hợp làm vui thích thân tâm thì gọi là lạc thọ. Lãnh nạp tướng của
cảnh trái nghịch làm bức bách thân tâm thì gọi là khổ thọ. Lãnh nạp tướng
của cảnh trung dung đối với thân tâm không khổ không vui, thì gọi là bất
khổ, bất lạc thọ.]
Ba thọ như thế hoặc mỗi
thứ chia hai: Thọ tương ưng với năm thức, gọi là thân thọ, vì nó nương
riêng nơi thân. Thọ tương ưng với ý thức, gọi là tâm thọ, vì nó chỉ nương
nơi tâm.
- Lại ba thọ đều thông cả
hữu lậu vô lậu. Khổ thọ cũng do vô lậu khởi (Khi tu vô lậu đạo trải qua
gian khó cũng cảm thọ khổ).
Hoặc ba thọ mỗi thứ chia
làm ba: Là kiến sở đoạn (thọ tương ưng với phân biệt hoặc), tu sở đoạn,
(thọ tương ưng với câu sanh hoặc), phi sở đoạn (thọ tương ưng với vô lậu).
Lại Học, Vô học, và chẳng
phải hai, là ba.
Hoặc chung cả ba thọ lại
chia làm bốn tánh, đó là tánh thiện, bất thiện, hữu phú vô ký, vô phú vô
ký.
- Có ý kiến cho rằng cả ba
thọ, mỗi thọ đều chia làm bốn tánh. Vì Tham, Si tâm sở nhậm vận cùng với
năm thức trước đồng khởi lên và phiền não nhậm vận khởi nhưng không phát
ác nghiệp của trong cõi thuần khổ, là thuộc tánh hữu phú vô ký. Và tánh
hữu phú vô ký đó đều tương ưng với khổ thọ căn.
- Luận Du già nói:
"Nếu tất cả phiền não nhậm vận sanh thì đều đủ cả ba thọ hiện hành. Nếu
phiền não ấy thông với sáu thức trước thì nó tương ưng khắp cả ba thọ
trong tất cả thức thân. Nếu không thông tất cả thức thân, thì phiền não ấy
chỉ tương ưng với tất cả ba thọ căn nơi ý địa (ý thức)".
Luận Tạp Tập nói:
"Nếu những phiền não hệ thuộc Dục giới mà nhậm vận sanh ác hành, thì nó
cũng là bất thiện. Còn những phiền não không phát sanh ác hành, thì nó là
hữu phú vô ký". Cho nên biết ba thọ, khổ, lạc, xả đều đủ cả bốn tánh
thiện, ác, hữu phú vô ký, vô phú vô ký.
Hoặc chung cả chia làm năm
thọ là khổ, lạc, ưu, hỷ, xả. Trong ba thọ khổ lạc, xả riêng khổ và lạc thọ
mỗi thứ lại chia hai; vì tướng vui, tướng khổ nơi thân và nơi tâm khác
nhau, và do không phân biệt (xả, lạc) có phân biệt (ưu, khổ) rất nặng
(khổ, lạc) và rất nhẹ (ưu, hỷ) sai khác. Còn bất khổ bất lạc thọ không
chia hai vì không có tướng khổ bức thân tâm, tướng vui thích thân tâm sai
khác, vì bình đẳng vô phân biệt.
Những sự cảm thọ vui thích
tương ưng với năm thức, thì thường gọi là lạc thọ; còn tương ưng với Ý
thức, nếu là ở cõi Dục, Sơ Thiền, và Nhị Thiền cận phần thì gọi là hỷ, vì
chỉ là vui tại tâm. Nếu ở Sơ Thiền và Nhị Thiền căn bản định thì gọi là
lạc và hỷ, vì sự vui ở cả thân và tâm. Nếu ở tại đệ Tam Thiền cận phần và
căn bản định thì gọi là lạc, vì ở đây sự an tịnh rất lớn, không có phân
biệt.
Những sự cảm thọ bức bách
tương ưng với năm thức, thường được gọi là khổ; còn nếu tương ưng với Ý
thức, có ý kiến cho chỉ gọi là ưu, vì nó chỉ bức bách tâm. Vì các Thánh
giáo nói sự thọ lo buồn của Ý thì gọi là ưu căn.
Luận Du già nói:
"Loài huân tập sanh trong địa ngục, thức Dị thục không gián đoạn, có Dị
thục sanh, có khổ và ưu tiên liên tục không dứt. Lại nói: "Ở địa ngục có
tâm tư ưu (tức sự ư ở ý). Một phần ngạ quỷ và bàng sanh cũng thế". Cho nên
biết ở ý thức có cái thọ lo buồn rất nặng, còn gọi là ưu huống gì các sự
bức bách nhẹ khác.
Có ý kiến cho rằng Ý thức
thông cả hai thọ là ưu và khổ. Ở trong loài Người, loài Trời thì thường
gọi là ưu, vì sự bức bách không phải quá nặng. Ở loài bàng sanh, ngạ quỷ
mới gọi là ưu và khổ, vì một đàng tạp thọ, một đàng thuần thọ có khinh có
trọng khác nhau.
Ở trong Nại lạc ca (địa
ngục) chỉ gọi là khổ, vì thuần thọ khổ rất nặng, không thể phân biệt được.
- Luận Du già nói:
"Nếu tất cả phiền não nhậm vận sanh thì có đủ ba thọ khổ, lạc, xả hiện
hành". Nói rộng như trước.
- Lại nói phiền não Tát ca
gia kiến câu sanh (thân ngã kiến) chỉ có tánh hữu phú vô ký. Biên chấp
kiến nên biết cũng thế. Nên tương ưng với khổ thọ thì chỉ nhiếp về khổ căn
không phải nhiếp về ưu căn, vì Luận nói ưu căn chẳng phải là vô ký.
- Lại luận Du già nói:
"Hữu tình trong địa ngục có đủ các căn, ngoài ra quyết định không thành
tựu được có ba thọ căn hiện hành. Trong cõi ngạ quỷ, bàng sanh thuần khổ
cũng thế". Ba thọ căn nói đây là lạc, hỷ, ưu căn. Vì ở địa ngục kia quyết
chắc có xả thọ hiện hành, không phải nói không có xả thọ ở trong địa
ngục. Ðã không biết văn luận Du già chỉ nói có xả thọ thì không nên nói ở
địa ngục chắc thành tựu ý căn, vì Luận chấp nhận ở địa ngục sáu thức kia
có lúc không có.
Không nên cho Luận kia chỉ
nói xả thọ, mà còn nói chung cả các căn, vì không có nhân chi khác để chỉ
nói có xả thọ. Lại nếu Luận kia y nơi xả thọ mà nói, thì tại sao còn nói ở
dịa ngục định thành tựu tám thọ căn?
Nếu bảo năm thức trước
không tương tục nên quyết định nói ưu căn là căn thứ tám. Nhưng ở địa vị
khi chết, khi sanh, và khi muộn tuyệt thì đâu có ưu căn?
Có người cho khổ căn là
chỉ căn thứ tám, thì bị phá đồng như đây
Giả sử chấp ở địa ngục có
một hình thể (tức nam, nữ căn) là căn thứ tám, cũng không đúng lý; vì thân
hình ở địa ngục bất định; vì ở địa ngục do ác nghiệp chiêu cảm, không thể
có hình (tức nam, nữ căn); vì ở đó do ác nghiệp khiến cho năm căn luôn
thường thọ khổ. Cho nên ở đó có nhãn căn v.v... thì nó đối với một hình
thể (tức nam, nữ căn) đâu có tác dụng gì. Không thể nào ở trong đại địa
ngục Vô gián mà có thể có sự mong cầu việc dâm dục.
Do đó căn thứ tám nói đây
quyết định chỉ cho xả căn, vì đệ thất, đệ bát hai thức có xả căn tương ưng
vậy. Như ở chỗ rất vui, Ý thức vui thích gọi là lạc, không có hỷ căn. Cho
nên ở chỗ rất khổ như địa ngục, Ý thức bị bức bách gọi là khổ, không có ưu
căn. Cho nên nói chữ "ngoài ra còn ba căn" là chỉ cho ba căn ưu, hỷ, lạc
(không có ở địa ngục).
- Có chỗ khác nói:
"Ở địa ngục có cái vui đẳng lưu". Nên biết câu nói đó là y theo mặt lý tùy
chuyển (chuyển lý Ðại thừa mà nói lý Tiểu thừa) mà nói. Hoặc kia nói chung
về chỗ có sự thọ khổ vui lẫn lộn. Vì ở đó không có Dị thục lạc, gọi à
thuần khổ.
Nhưng trong Thánh giáo
nói: "Sự cảm thọ lo buồn ở ý thức gọi là ưu căn", đây là y theo đa phần mà
nói, hoặc y theo mặt lý tùy chuyển mà nói, nên không có lỗi trái nhau.
- Luận Du già nói:
"Các loài hữu tình sanh trong địa ngục, thức Dị thục không gián đoạn mà có
Dị thục sanh với sự thọ khổ, ưu tương tục không dứt". Lại nói: "Ở địa ngục
có tầm, tứ, ưu cùng khởi, một phần ngạ quỷ bàng sanh cũng thế". Ðây cũng
là y theo mặt lý tùy chuyển mà nói. Lại nói: "Khổ căn tương ưng với ý thức
đó là cùng một loại ưu với các cõi kia mà giả nói là ưu. Hoặc khổ căn kia
tổn hại thân tâm, nên tuy nó nhiếp thuộc khổ căn mà cũng gọi là ưu. Như hỷ
ở cận phần định vì lợi ích cho thân tâm nên tuy nó là hỷ căn mà cũng gọi
là lạc".
Luận Hiển Dương đều hiển
bày nghĩa này, nhưng ở "vị chí địa", quyết định không có lạc căn. Vì nói ở
đó chỉ có 21 căn vậy (chứ không có đủ 22 căn là nhãn, nhĩ, thiệt, thân, ý,
khổ ,lạc, ưu, hỷ, xả, nam căn, nữ căn, mạng căn, tín, tấn, niệm, định,
tuệ, vị trí, đương tri, dĩ tri, cụ tri).
Do đó nên biết sự cảm thọ
lo buồn nơi ý mà ở chỗ thuần thọ khổ, cũng nhiếp về khổ căn.
Những Thánh giáo như thế
có nhiều cách nói khác nhau, sợ dài dòng nên không thuật hết.
- Có ý kiến cho rằng sáu
thức không tương ưng ba thọ khổ, lạc, xả. Vì nó hướng ra bên ngoài duyên
cảnh hay chống trái nhau. Ngũ cây ý thức đồng duyên một cảnh với năm thức
trước. Năm thức trước tương ưng ba thọ, thì Ý thức cũng vậy. nói thế là
trái chánh lý. Cho nên sáu thức chắc không tương ưng cả ba thọ.
Luận Du già nói:
"Tạng thức một lúc cùng với chuyển thức tương ưng ba thọ cùng sanh khởi".
Ðây là y theo nhiều niệm mà nói. Như nói "nhất tâm" không phải là chỉ nói
tâm một lần sanh diệt, nên không có lỗi trái nhau.
- Có ý kiến cho rằng sáu
thức tương ưng với ba thọ. Trong ba cảnh thuận, nghịch, trung dung đều có
cảm thọ.
Ý thức không nhất định
cùng năm thức đồng cảm thọ, khi nó chuyên chú cảnh nào thì cảm thọ theo
cảnh đó; còn không chuyên chú thì khởi xả thọ. Do đó sáu thức có đủ ba
thọ. Khi ở địa vị đắc tự tại thì chỉ có lạc, hỷ, xả, vì các đức Phật đã
dứt hết việc ưu và khổ.
- Trước đã lược nêu sáu
vị Tâm sở, nay nên nói rõ tướng sai khác của các Tâm sở ấy.
Hai vị tâm sở Biến hành và
Biệt cảnh đầu, tướng nó thế nào?
Tụng rằng:
Trước là Biến hành:
Xúc v.v...
Tiếp là Biệt cảnh:
Dục,
Thắng giải, Niệm,
Ðịnh, Tuệ.
Cảnh sở duyên không
đồng.
Luận rằng : Trong sáu
vị Tâm sở, vị đầu tiên là Biến hành tâm sở tức là năm thứ xúc, tác, ý
v.v... như trước đã nói rộng.
Nên biết tướng của Biến
hành này thế nào? Do giáo và lý làm định lượng để biết.
Trong đây về "giáo" là,
như Khế kinh nói: "Nhãn và sắc làm duyên sanh ra nhãn thức. Ba thứ đó hòa
hợp lại là "xúc", cũng sanh theo xúc có "thọ", "tưởng", "tư" cho đến nói
rộng". Do xúc ấy v.v... biến khắp bốn thứ nên gọi là Biến hành.
Lại Khế kinh nói:
"Nếu căn không hư hoại và cảnh giới hiện tiền, ngay lúc tác ý khởi lên,
mới sanh ra thức". Các kinh khác lại nói: "Nếu lại ở nơi cảnh đó khởi tác
ý thì chính ở đó có liễu biệt thì chính ở đó tác ý. Cho nên hai thứ tác ý
và liễu biệt đó thường chung hòa hợp, cho đến nói rộng". Do đó tác ý cũng
là Biến hành.
Những "Thánh giáo" như
thế, làm chứng không ít.
Còn về "lý" là, khi thức
khởi phải có ba sự hòa hợp, do ba hòa hợp đó quyết định sanh ra "Xúc" mà
ba sự hòa hợp lại phải do xúc mới có. Nếu không có xúc thì Tâm và Tâm sở
pháp không thể hòa hợp nơi một cảnh.
Tác ý có khả năng
dẫn tâm khiến đi đến cảnh của chính nó. Nếu không có tác ý, thì tâm không
thể có.
Thọ có khả năng
lãnh nạp cảnh thuận, nghịch, trung dung, khiến tâm khởi lên tướng vui, lo
và xả, vì không khi nào tâm khởi lên mà lại không tùy theo một tướng nào
trong đó.
Tưởng có khả năng
an lập phần hạn ranh giới của tự cảnh, nếu khi tâm khởi lên mà không có
"tưởng" này thì không thể nắm được phần ranh giới của cảnh.
Tư có khả năng
khiến tâm nằm tướng chánh nhân, tà nhân, tạo tác nghiệp thiện ác. Không
khi nào ở địa vị có tâm khởi lên mà không theo một nghiệp, cho nên phải có
"Tư".
Do đó chứng biết năm pháp
xúc, tác,ý v.v... hễ tâm khởi lên là có nó, nên gọi nó là Biến hành. Ngoài
ra, không phải Biến hành, khi gặp đến nghĩa ấy sẽ nói:
- Tiếp đến, Biệt cảnh tâm
sở là "Dục" .. "Tuệ". Vì cảnh sở duyên của nó phần nhiều không giống nhau,
nên trong sáu vị tâm sở, nó được nối tiếp theo vị tâm sở Biến hành thứ
nhất.
Dục là thế nào? Là
tánh hy vọng đối với cảnh vui, va có nghiệp dụng làm chỗ nương cho "cần"
(siêng năng).
- Có ý kiến cho rằng được
vui là cảnh đáng ưa thích, đối với việc đáng ưa thích có hy vọng thấy muốn
nghe.
Hỏi: Ðối với việc đáng
chán thì chỉ muốn nó đừng hợp lại, hy vọng nó xa ra mà đừng hợp lại, là
riêng có tự thể của sự hân thích hợp lại chứ không phải hy cầu việc đáng
chán mà khởi hy vọng. Cho nên nơi cảnh đáng chán và cảnh trung dung không
ưa, không chán, thì chỉ một bề không dục. Vậy khi duyên việc đáng ưa
thích, nếu không hy vọng thì cũng không có tâm dục khởi hay sao?
- Có ý kiến cho rằng được
vui là đối với cảnh có sự cầu mong. Với việc đáng thích thì mong hợp, với
việc đáng chán thì mong lìa, đều có sự hy vọng; còn đối với cảnh trung
dung thì chỉ một mực không dục (không mong muốn). Khi duyên việc đáng ưa,
đáng chán, nếu không mong cầu, thì cũng không có dục khởi.
- Có ý kiến cho rằng được
vui là muốn quán sát cảnh. Ðối với việc nếu muốn quán sát thì có mong cầu,
nếu không muốn quán sát, thì cứ tùy theo nơi tình thế của cảnh mà nhậm vận
duyên, tức hoàn toàn không dục (không mong cầu). Do lý lẽ ấy mà Dục không
phải là tâm sở Biến hành.
- Có thuyết cho rằng phải
do năng lực của cảnh hy vọng, các Tâm, Tâm sở mới tiếp nhận cảnh. Cho nên
kinh nói: "Dục là gốc các pháp" (nên Dục là tâm sở Biến hành).
- Kia nói thế không đúng.
Tâm tiếp nhận cảnh là do tác ý, vì các Thánh giáo nói: "Khi tác ý hiện
tiền thì sanh ra các thức", chứ chưa từng có chỗ nào nói: "Dục sanh ra
Tâm, Tâm sở". Như nói: "Dục là gốc của các pháp", là ý muốn nói từ Dục mới
khởi tạo các sự nghiệp. Hoặc nói thiện dục thì phát sanh chánh cần, do đó
giúp thành mọi việc thiện. Cho nên luận nói "Dục" có công dụng làm chỗ
nương cho "Cần".
Thắng giải là thế nào?
Là tánh tin tưởng ấn trì đối với cảnh đã quyết định, và có nghiệp dụng
không thể bị lôi kéo lay chuyển. Nghĩa là do sức chứng minh của giáo lý
hoặc tà hoặc chánh mà đối với cảnh nhận biết, thẩm định, quyết đoán, ấn
trì, không bị duyên gì khác lôi kéo lay chuyển. Cho nên nếu đối với cảnh
đang do dự, thì hoàn toàn không có thắng giải. Tâm không thẩm định, quyết
đoán thì không có thắng giải. Do đó thắng giải không nhiếp vào tâm sở Biến
hành.
- Có thuyết cho rằng khi
Tâm nắm bắt tự cảnh không câu chấp chướng ngại, thì đều có thắng giải.
Kia nó phi lý. Vì sao? Vì
không làm chướng ngại đó chính là các pháp, không bị chướng ngại đó chính
là các tâm; còn làm duyên tăng thắng cho Tâm và Tâm sở phát khởi, thì đó
là căn và tác ý. Nếu do thắng giải mà duyên tăng thắng phát khởi, thì
thắng giải đó lại phải đợi có cái duyên khác mới phát khởi, bèn mắc phải
lỗi vô cùng.
Niệm là thế nào? Là
tính khiến Tâm ghi nhớ rõ ràng không quên đối với việc đã từng tập quen,
và có nghiệp dụng làm chỗ nương cho định. Nghĩa là thường ghi nhớ việc đã
tiếp thọ không để quên mất, nhờ đó dẫn đến định. Còn đối với thể loại cảnh
chưa từng tiếp thọ mà không thể nhớ rõ thì niệm cũng không sanh. Cho nên
niệm không nhiếp vào tâm sở Biến hành.
- Có thuyết cho rằng khi
Tâm khởi lên là có niệm cùng khởi, làm nhân cho sự ghi nhớ về sau. – Nói
thế không đúng. Vì không thể trước có si hoặc tín v.v... cùng khởi với Tâm
làm nhân rồi sau mới có si, tín. nhưng do Tâm, Tâm sở lúc trước hoặc do
thế lực của tưởng cũng đủ để làm nhân cho sự ghi nhớ lúc sau.
Ðịnh là thế nào? là
tính đối với cảnh sở quán làm cho Tâm chuyên chú không tán loạn và có
nghiệp dụng làm chỗ nương cho trí. Nghĩa là quán cảnh được, mất, trung
dung, nhờ định khiến tâm chuyên chú vào cảnh đó không tán loạn. Nương nơi
đó bèn có trí lựa chọn phát sanh. Nói "tâm chuyên chú" là hiển thị tâm
muốn trụ ở đâu thì liền trụ được, chứ không phải chỉ trụ duy nhất một
cảnh. Nếu không thể, ở địa vị kiến đạo quán khắp các đế lý cõi trên cõi
dưới cảnh trước sau khác nhau, thì không thể có đẳng trì (định). Nếu không
buộc tâm chuyên chú vào cảnh thì định không khởi được, cho nên định không
phải tâm sở Biến hành.
- Có thuyết cho rằng, khi
nó không buộc tâm chuyên chú vào cảnh cũng có định khởi, chỉ vì tướng nó
vi ẩn khó thấy Nên nó là tâm sở Biến hành). – Nên nói lời đúng thật rằng,
nên bảo định có thể khiến cho Tâm và Tâm sở hòa hợp đồng hướng đến một
cảnh, mà cho đó là Biến hành, cũng không đúng lý; vì khiến Tâm, Tâm sở hòa
hợp là tác dụng của xúc. Còn nếu bảo định khiến tâm trong một khoảnh khắc
sát na không thay đổi cảnh duyên, nên nó nhiếp thuộc vào Biến hành, cũng
không đúng lý; vì tâm trong một khoảnh khắc sát na tự nó không thay đổi
đối với cảnh duyên (chứ đâu phải do định mà tâm không thay đổi). – Còn nếu
nói do định mà tâm nắm bắt cảnh sở duyên, nên định nhiếp về Biến hành,
cũng không đúng lý; vì chính tác ý mới khiến tâm bắt cảnh sở duyên, chứ
đâu phải định Tâm sở.
Lại có thuyết cho rằng thể
của định chính là tâm, vì kinh nói định học là tâm học; lại nói định có
tánh khiến tâm chuyên nhất nơi một cảnh.
Dẫn kinh làm chứng như thế
không đúng; vì nhờ định nhiếp tâm, khiến tâm chuyên nhất mộtt cảnh, nên
nói như vậy. Ðịnh nhiếp vào năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám đạo chi,
như niệm, tuệ v.v... chứ không phải định chính là tâm.
Tuệ là thế nào? Là
tánh giản biệt lựa chọn đối với quán sát, và có nghiệp dụng dứt nghi.
Nghĩa là quán cảnh được, mất, trung dung, nhờ tuệ suy tìm mà đi đến quyết
định. Vì trong khi đối với cảnh không phải quán sát, thì tâm ngu muội
không giản trạch suy tìm, cho nên tuệ không nhiếp vào Biến hành.
- Có thuyết cho rằng bấy
giờ trong tâm ngu muội cũng có tuệ sanh khởi, chỉ vì tướng nó vi ẩn tợ như
một tí vật rất nhỏ bỏ vào trong cái đồ rất lớn làm sao biết nó là có. Vì
trong luận Ðối Pháp nói: "Nó là đại địa pháp".
- Các bộ luận Ðối Pháp qua
lại nói mâu thuẫn nhau, làm sao các Ông cứ chấp đó làm định lượng? Chỉ có
xúc, tác ý thảy năm thứ, kinh nói là Biến hành thôi; còn nói mười Ðại địa
pháp thì không phải kinh nói, chớ nên cố chấp.
Nhưng dục, thắng giải
v.v... không phải là xúc, tác ý v.v... nên quyết không phải là Biến hành.
Như tâm sở Tín, tâm Tham v.v... không phải Biến hành.
- Có ý kiến cho rằng năm
thứ dục, thắng giải v.v... giúp đỡ lẫn nhau, tùy khi một thứ khởi, là phải
có bốn thứ kia.
- Có ý kiến cho nó không
nhất định như thế. Luận Du già nói: "Năm Tâm sở Biệt cảnh này không có hai
nhất thiết thời, nhất thiết tâm của trong bốn thứ nhất thiết". (thêm nhất
thiết tánh, nhất thiết địa thành bốn).
- Lại nói năm thứ Biệt
cảnh này duyên theo bốn cảnh mà sanh. Vì sở duyên hay năng duyên, không
nhất dịnh cùng khởi, nên nói năm thứ ấy có khi chỉ khởi lên một, nghĩa là
đối cảnh đáng vui, chỉ khởi tâm hy vọng (dục); hoặc đối với cảnh quyết
định, chỉ khởi tâm ấn giải (thắng giải); hoặc đối với cảnh từng tập quen
chỉ khởi tâm ghi nhớ (niệm); hoặc đối với cảnh sở quán chỉ khởi tâm chuyên
chú (định). Nghiã là loài ngu muội vì muốn ngăn tâm tán loạn, tuy có
chuyên chú vào cảnh sở duyên nhưng không thể lựa chọn suy tìm. Ðời đều
biết hạng người đó có định mà không có tuệ. Vì hạng kia ở địa vị gia hạnh
có chút ít nghe, suy nghĩ, cho nên nói ở địa vị đẳng trì (định) duyên cảnh
sở quán. Hoặc dựa đa phần định tuệ cùng có cho nên nói ở địa vị đẳng trì
duyên cảnh sở quán. Như cõi trời Hỷ vong (trời Dục giới) chuyên chú vào
một cảnh khởi lên tâm tham, sân, đó là có định mà không có tuệ, các loại
như thế rất nhiều. Hoặc đối với cảnh sở quán chỉ khởi tâm giản trạch;
nghĩa là chỉ dong ruỗi tìm cầu, chứ không chuyên chú (đó chỉ có tuệ không
có định).
Hoặc có khi khởi hai tâm
Biệt cảnh một lần, đó là khi đối với cảnh đáng ưa và cảnh quyết định, mà
khởi lên tâm dục và tâm thắng giải. Hoặc đối với cảnh đáng ưa và cảnh từng
tập quen, mà khởi lên tâm dục và niệm. Cứ như thế cho đến đối với cảnh
đáng ưa mà khởi lên tâm định và tuệ. Hiệp lại có mười hai trường hợp khởi
hai tâm Biệt cảnh.
Hoặc có khi khởi lên ba
tâm, đó là đối với cảnh đáng ưa, quyết định và tập quen, mà khởi lên tâm
dục, thắng giải và niệm. Như vậy cho đến đối với cảnh từng quán sát khởi
lên tâm niệm, định, tuệ. Hợp lại có mười ba trường hợp khởi ba tâm Biệt
cảnh.
Hoặc có khi khởi lên bốn
tâm, đó là đối với cảnh đáng ưa, quyết định, tập quen và quán sát mà khởi
lên tâm dục, thắng giải, niệm định. Như vậy cho đến đối với cảnh quyết
định, tập quen và quán sát mà khởi lên bốn tâm dục, thắng giải, niệm,
định. Hợp lại có năm trường hợp một lúc khởi lên bốn tâm.
- Hoặc có khi khởi đủ năm
tâm, đó là khi đối với cảnh đáng ưa, quyết định, tập quen, quán sát mà
khởi lên đủ năm tâm sở Biệt cảnh.
Như vậy đối với bốn trường
hợp khởi lên năm tâm sở Biệt cảnh tổng biệt hợp lại có ba mươi mốt trường
hợp.
Hoặc khi ở địa vị hữu tâm,
cả năm tâm sở Biệt cảnh đều không khởi. Như lúc không phải bốn cảnh, suất
nhĩ ở tâm và năm Biệt cảnh tương ưng với Tạng thức. Loại này không phải
một.
Ở thức thứ bảy, thứ tám,
tùy từng địa vị mà hoặc có hoặc không năm tâm sở Biệt cảnh, như trước đã nói. Còn ý
thức thứ sáu, ở các địa vị đều có đủ, dù khi chuyển y hay chưa chuyển y
đều không ngăn ngại.
- Có ý kiến cho rằng ở năm
thức không có năm Biệt cảnh. Vì năm thức duyên cảnh có trước mắt nên không
có hy vọng (dục). Vì nó không có khả năng thẩm xét quyết định, nên không
có ấn trì (thắng giải). Vì nó hằng duyên cảnh mới nên không có tâm truy ức
(niệm). vì tự tánh nó tán động nên không chuyên chú (định). Vì nó không có
khả năng suy đạt, nên không có lựa chọn (tuệ).
- Có ý kiến cho rằng năm
thức đều có đủ năm Biệt cảnh. Tuy không có hy vọng nhiều đối với cảnh
nhưng có cảnh vui vi tế yếu ớt. Tuy không có sự thẩm định mạnh nhưng có
cảnh ấn trì vi tế yếu ớt. Tuy không nhớ rõ cảnh đã từng tập quen nhưng có
cảnh ghi nhớ vi tế yếu ớt. Tuy không có tác ý buộc niệm vào một cảnh nhưng
có sự chuyên chú vi tế yếu ớt. Vì ngăn đẳng dẫn mà nói tánh nó tán động,
chứ không phải ngăn đẳng trì. Cho nên được có định (Tam ma hê đa dịch Ðẳng
dẫn, Tam ma địa dịch Ðẳng trì. Ðịnh có nhập, trú, xuất. Nhập định xuất
định là Ðẳng dẫn, trú định là Ðẳng trì). Tuy đối cảnh sở duyên không thể
suy đạt nhưng có sự chọn lựa vi tế yếu ớt. Do đó Thánh giáo nói: "Có nhãn
thông, nhĩ thông, đó là trí tuệ tương ưng với nhãn thức, nhĩ thức, tỷ,
thiệt, thân ba thứ chuẩn theo đây, đều có tuệ" là không có lỗi.
Khi ở địa vị chưa tự tại
thì năm Biệt cảnh hoặc không có, khi được tự tại, năm Biệt cảnh, nhất định
phải có. Vì ưa quán các cảnh nên Dục tâm sở không thiếu. Vì ấn trì cảnh
nên thắng giải thưòng không thiếu. vì nhớ cảnh từng tập quen nên niệm
không thiếu.
Lại năm thức của Phật
duyên suốt cả ba đời, vì đức Như Lai không có tâm bất định, vì năm thức
đều có trí Thành sở tác sự.
Năm Biệt cảnh này tương
ưng với thọ nào?
- Có ý kiến cho rằng tâm
sở Dục có ba thọ tương ưng, trừ thọ khổ và ưu, vì hai cảnh khổ và ưu không
phải đáng ưa (dục). Ngoài ra bốn tâm sở kia thông cả bốn thọ, trừ khổ thọ,
vì tánh thẩm định, ở năm thức không có.
- Có ý kiến cho rằng cả
năm tâm sở Biệt cảnh đều tương ưng năm thọ. Luận nói: Ưu căn (ưu thọ), đối
với vô thượng pháp mà hâm mộ (Dục tâm sở) lo sầu cầu (ưu) làm sao mau
chứng được. Còn ở chỗ thuần thọ khổ (khổ thọ) thì hy cầu (Dục tâm sở) được
thoát khỏi. Ở Ý thức có khổ thọ căn, thì như trước đã nói.
Luận nói: "Khi tham
ái thì có cả ưu và khổ tương ưng", tương ưng với tham ái thì chắc chắn có
dục. Khổ thọ căn đã có tương ưng với ý thức, mà y thức tương ưng với thắng
giải, niệm, định, tuệ tâm sở, vậy nói khổ thọ cũng tương ưng với thắng
giải, niệm, định, tuệ thì có lỗi gì?
- Lại năm Biệt cảnh tương
ưng với năm thức, vì năm thức cũng có sự ấn trì, truy ức, chuyên chú, giản
trạch cảnh một cách vi tế, như trước đã nói.
Do đó biết dục, thắng giải
v.v... tương ưng với cả năm thọ.
Năm thứ tâm sở Biệt cảnh
này lại còn được phân biệt theo các mặt ba tánh, ba cõi, ba học v.v... như
lý nên suy nghĩ.
(Hết cuốn V
của bản Hán)
XI. THỨC
BIẾN HIỆN THỨ BA ( tiếp theo phần 1)
Ðã
nói hai tâm sở Biến hành và Biệt cảnh, còn tâm sở Thiện tướng nó như thế
nào?
tụng
rằng:
Thiện là tín, tàm, quý,
Ba
thiện căn: không tham v.v...
Cần, an, bất phóng dật,
Hành xả và bất hại.
Luận
rằng: Thức Liễu biệt cảnh chỉ cùng khởi với tâm sở Thiện, nên gọi là
Thiện tâm sở. Ðó là tín, tàm v.v... mười một thứ.
Tín
là thế nào? Tánh của lòng tin là tâm thanh tịnh, nhẫn chịu sâu sắc đối
với Thật, vui thích sâu sắc đối với Ðức, ưa muốn (hy vọng) sau sắc đối với
Năng Nghiệp của tín là đối trị tâm không tin, vui thích cầu các việc lành.
Nhưng
Tín sai khác nhau lược có ba thứ:
1.
Tin Thật có – Là đối với thật sự (tục đế) thật lý (chơn đế) của các
các pháp, tin sâu sắc là thật có mà tùy thuận nhẫn chịu theo.
2.
Tin có Ðức – Là đối với Tam Bảo đầy đủ chơn tịnh đức, tin sâu sắc mà
vui thích theo.
3.
Tin có Năng – Là đối với tất cả điều thiện của thế và xuất thế gian,
tin sâu sắc nó có năng lực, và mình có năng lực thực hành theo là có thể
được quả báo vui và sẽ chứng thành Thánh đạo, mà khởi tâm hy vọng, mong
muốn.
Do đó
Tín nhằm đối trị không tin nơi Thật, Ðức, Năng kia, đồng thời ưa thích
chứng tu điều thiện của thế và xuất thế gian.
Hỏi: -
"Nhẫn chịu" tức là "Thắng giải" (trong Biệt cảnh ), đó chính là nhân
của Tín. "Vui thích, ưa muốn" tức là "Dục" (trong Biệt cảnh), đó chính là
quả của Tín. Vậy chưa xác định tự tướng của Tín là thế nào!
Ðáp: -
Há không vừa nói Tín lấy tâm thanh tịnh làm tự tánh đó sao?
Hỏi: -
Ðây còn chưa rõ nghĩa chữ "tâm thanh tịnh" kia.
Nếu tịnh
tức là Tâm (Tâm vương) thì tín không phải là Tâm sở (làm sao gọi là tâm sở
Tín?). Còn nếu nói làm cho Tâm vương được tịnh mà gọi là Tín tâm sở, thì
Tín đó có khác gì tâm sở Tàm, Quý (cũng làm cho tâm thanh tịnh )? Nếu nói
có pháp tịnh cùng khởi với tâm, mà gọi là tâm tịnh, thì cũng nạn vấn như
thế.
Ðáp: -
Tánh của Tín là lặng trong, có khả năng làm tịnh được Tâm, Tâm sở. Nhưng
vì Tâm vương thắng hơn Tâm sở nên chỉ nói "tâm tịnh". (chứ không nói Tâm
sở tịnh). Ví như hạt ngọc thanh thủy tánh nó vốn trong lại có khả năng
làm trong nước đục. Tàm, Quý v.v... tuy thiện nhưng không phải tánh vốn
thanh tịnh; còn tâm sở Tín thì tánh vốn thanh tịnh, nên không có lỗi xen
lạm với Tàm, Quý v.v...
Lại các
pháp ô nhiễm đều có tướng riêng, nhưng chỉ có tâm bất tín là có tự tướng
hỗn trược, lại làm hỗn trược các Tâm, Tâm sở khác. Như vậy rất nhớp, tự
nhớp lại làm nhớp cái khác. Tín ngược với Bất tín, Tín lấy tịnh làm tướng.
- Có ý
kiến cho rằng Tín lấy ưa vui làm tướng. Nói vậy thì có thể thông cả ba
tánh, tức Tín thông tánh thiện, ưa thông tánh nhiễm, vui thông vô ký. Và
đã thông ba tánh thì thể nó chính là dục trong Biệt cảnh (còn Tín chỉ
thông tánh thiện). Lại có thể Khổ Tập đế, không phải là sở duyên của Tín.
- Có
người cho Tín lấy sự tùy thuận làm tướng. – Nói vậy thì Tín nên thông ba
tánh, mà thông ba tánh thì chính là thắng giải và dục (chứ không phải
Tín). Vì nếu ấn thuận tức là thắng giải trong Biệt cảnh. Nếu thuận vui tức
là dục trong Biệt cảnh, lìa hai thể này thì không có tướng tùy thuận.
- Do đó
nên biết, tâm tịnh là Tín.
Tàm
là thế nào? Là tính biết hỗ với mình, do dựa vào sức mình và
giáo pháp đã học mà sùng trọng hiền thiện, nó có nghiệp dụng đối trị tâm
không biết hỗ, và ngưng dứt ác hành. Nghĩa là dựa nơi chính bản thân và
giáo pháp mình mà biết tôn quý, tăng thượng (mạnh mẽ) đối với bản thân và
giáo pháp, do đó sùng trọng người hiền việc thiện, xấu hỗ tội ác không dám
làm nữa, đối trị tâm không biết hỗ, dứt các ác hành.
Qúy
là thế nào? Là tính biết thẹn với người, dựa vào sức thế gian mà khinh
khi chống cự điều bạo ác, nó có nghiệp dụng đối trị tâm không biết thẹn,
ngưng dứt ác hành. Nghĩa là dựa nơi sự sự chê bai, khinh khi chống cự bạo
ác của thế gian mà biết thẹn, nó có công dụng đối trị tâm không biết thẹn,
ngưng dứt nghiệp ác.
Hỗ và
thẹn tội lỗi, hai tướng thông nhau của hai pháp Tàm và Qúy. Cho nên Thánh
giáo giả nói là tự thể. Nếu chấp hỗ và thẹn hai tướng khác nhau thì Tàm và
Qúy chỉ có một thể, hai pháp một thể thì quyết không tương ưng nhau, vì
không có hai thể thọ và hai thể tưởng mà có nghĩa cùng tương ưng nhau
được. Nếu đợi có tướng tự lực mình và tha lực thế gian mới có hai Tàm và
Quý riêng, thì Tàm và Quý không phải thật có, bèn trái với Thánh giáo. Nếu
chấp nhận Tàm và Qúy có thật nhưng khởi riêng thì trái với luận nói mười
thứ biến khắp thiện tâm (Luận nói mười một Thiện tâm sở, trong đó khinh an
không biến khắp các thiện tâm, còn mười thứ kia trong đó gồm Tàm và Quý,
biến khắp các thiện tâm. Nếu cho Tàm và Quý là một, thì còn lại chín thứ
biến khắp sao?). Sùng trọng và khinh khi chống cự, nếu hai tướng ấy khác
nhau thời sở duyên của nó phải khác, có thể không cùng sanh. Nói hỗ và
thẹn cùng sanh hay khác sanh đều có lỗi giống nhau, tại sao lại quở trách
thiên lệch về lỗi khác sanh?
-
Luận chủ: - Ai nói hai pháp có cảnh sở duyên khác nhau?
- Người
khác nói: - Không vậy, thì như thế nào?
- Khi
Thiện tâm khởi lên, tùy duyên cảnh thiện hoặc ác đều có sự sùng trọng
người thiện việc thiện và khinh cự người ác việc ác. Cho nên biết Tàm và
Quý đều biến khắp thiện tâm, sở duyên đồng nhau.
- Ðâu
phải tôi đã không nói đến nghĩa Tàm và Quý hai tướng thông nhau?
- Chấp
Tàm và Quý tự tướng đã đồng như ông, lẽ gì có thể ngăn sự thiết nạn trước
đó cho có mười thứ biến khắp thiện tâm.
Nhưng
Thánh giáo nói: "Nhìn vào tự, tha đối đãi". Việc nơi mình gọi là tự, thế
gian gọi là tha. Hoặc trong đó sùng thiện đối với mình có ích gọi là tự,
chống ác đối với mình không tổn gọi là tha.
Vô
tham thảy là chỉ cho vô sân, vô si, ba thứ này gọi là gốc thiện (thiện
căn) vì nó có khả năng sanh thiện mạnh hơn cả và vì gần nhất thì nó đối
trị ba căn bất thiện.
Vô
tham là thế nào? Là tính không tham đắm vào ba cõi (Hữu) và các hữu cụ
của ba cõi, công dụng của nó là đối trị tâm tham đắm, ưa làm điều thiện.
Vô
sân là thế nào? Là tánh không sân hận đối với khổ và nghiệp nhân của
khổ (khổ, khổ cụ), công dụng của nó là đối trị sân hận, ưa làm thiện.
Khi
thiện tâm khởi lên hễ duyên theo cảnh gì đều không tham đắm, không sân hận
đối với hữu hữu cụ, khổ khổ cụ. Hai thiện căn vô tham vô sân này chỉ quán
sát nơi hữu và khổ để lập, chứ không phải đợi khi duyên đến hữu và khổ mới
lập; cũng như Tàm và Quý trước đây, là do quán sát theo cảnh thiện ác mà
lập (tức quán sát sự sùng thiện mà lập Tàm, quán nơi sự khinh ác mà lập
Quý). Cho nên hai thứ Tâm sở này đều biến khắp thiện tâm.
Vô si
là thế nào? – Là tánh minh giải đối với các sự lý. Nó có công dụng đối
trị ngu si, ưa làm lành.
- Có ý
kiến cho rằng "tuệ" là tánh của Vô si (dựa tuệ mà giả lập ra Vô si). Tập
Luận nói Vô si lấy sự quyết trạch của báo, giáo, chứng, trí, làm thể, vì
các tuệ do sanh đắc (báo) do nghe (giáo), do suy nghĩ (chứng) và do tu
(trí), thứ lớp như thế đều có tánh quyết trạch (tuệ). Vô si tuy là tuệ
nhưng để hiển thị nó có công năng thù thắng hơn tuệ, (Vô si là thuần
thiện, chứ tuệ thông cả thiện và nhiễm) cũng như ác kiến trong năm căn bản
phiền não (ác kiến thuần ác, chứ tuệ thì thông cả ác, thiện), cho nên nói
riêng ra.
- Có ý
kiến cho rằng Vô si không phải chính là tuệ, mà nó có tự tánh riêng, vì nó
chính thức đối trị vô minh, cũng như vô tham, vô sân, nhiếp về ba thiện
căn. Vì luận Du già nói: "Tâm đại bi nhiếp về vô sân, Vô si chứ không phải
nhiếp về tuệ căn (trong hai mươi hai căn)". Nếu Vô si lấy tuệ làm tánh,
thì tâm đại bi cũng như mười lực, bốn vô úy, nên nhiếp về tuệ căn (trong
hai mươi hai căn).
Lại nếu
Vô si không có tánh riêng thì như tâm bất hại, (lấy Vô sân làm thể) không
có thật vậy, bèn trái với Luận nói: "Trong mười một thiện, ba thứ không
phóng dật, xả, bất hại chỉ có trong thế tục, các thứ còn lại (trong đó có
Vô si) đều là thật có".
Nhưng
Tập Luận nói Vô si lấy tuệ làm thể, là nêu tính nhân quả của ba tuệ để
hiển thị tánh minh giải của nó. Cũng như lấy nhẫn và lạc để biểu thị tự
thể của Tín. Lý phải như vậy.
Vì tham,
sân, si là chính phiền não tương ưng sáu thức, nó khởi ác mạnh hơn cả, nên
lập tên nó là ba thứ bất thiện căn. Dứt nó phải do sự đối trị chung và
riêng, chung đối trị chỉ là do thiện tuệ, riêng đối trị chính là do ba
thiện căn. Do đó nên phải có riêng Vô si.
Cần
tức là tinh tấn, có tánh Dõng Hãn trong việc tu thiện đoạn ác, và có
nghiệp dụng đối trị giải đãi, dầy đủ việc thiện. Dõng là biểu thị thắng
tấn, không phải như các pháp nhiễm; Hãn là biểu thị tinh thuần, không phải
như tịnh vô ký (vô phú vô ký). Tức khi hiển thị tinh tấn nó chỉ nhiếp vào
tánh thiện.
Tướng
sai biệt của tinh tấn có năm, là : Bị giáp, gia hành, vô hạ, vô thối, vô
túc. Chính khi nói có thể có dõng, có cần, kiên mãnh, và không bỏ cái ách
thiện, theo thứ lớp nên biết.
Năm
tướng này sai khác nhau, tướng sơ phát tâm (bị giáp, có thế) tự phần tu
hành thắng tấn (gia hạnh, có dõng). Trong tự phần tu hành có ba bậc
thượng, trung, hạ (vô hạ, vô thối, vô túc), đó là năm. Hoặc tướng sơ phát
tâm và bốn tướng tu sai khác là trường thời tu, vô gián tu, ân trọng tu,
vô dư tu là năm. Hoặc có năm đạo sai khác là tư lương, gia hạnh, kiến đạo,
tu đạo, vô học đạo.
Hoặc Nhị
thừa cứu kính vô học đạo có tâm ham thích đại Bồ đề, hoặc chư Phật ở cứu
kính đạo mà ưa làm lợi ích hóa tha, hoặc hai địa vị gia hạnh là vô gián và
giải thoát có sự thắng tấn khác nhau, đều gọi là Cần.
An
là khinh an, có tánh kham nhậm, xa lìa thô trọng là khinh, điều sướng
thân tâm là an; và có công dụng đối trị hôn trầm, khiến thân tâm được
chuyển thành an vui. Nghĩa là nó dẹp trừ pháp thường làm chướng ngại Thiền
định, khiến cho thân tâm y chỉ được an thích.
Bất
phóng dật, là không buông lung, gồm Tinh tấn và ba Thiện căn, có tánh
phòng ngừa điều ác phải đoạn, không cho khởi lên, và siêng tu điều thiện
phải tu, làm cho tăng trưởng; và có công dụng làm thành tựu trọn vẹn mọi
thiện sự của thế, xuất thế gian. Nghĩa là chính nhờ bốn pháp là Tinh tấn
và ba thiện căn mà có thể phòng điều ác phải đoạn, tu điều Thiện phải tu,
nên gọi là không buông lung, chứ không ngoài bốn pháp kia mà có tự thể
riêng, vì không có tướng khác; vì đối với việc phòng ác và tu thiện, nếu
lìa bốn công năng trên thì không có công dụng riêng. Tuy Tín, Tàm, Quý
v.v... cũng có khả năng phòng ác tu thiện nhưng so với bốn pháp là Tinh
tấn và ba Thiện căn thì thế lực và công dụng nó vi tế yếu ớt, nó không
phải ba căn và tinh tấn sách lệ mọi sự, cho nên Tín, Tàm, Quý không phải
chỗ nương của bất phóng dật.
Nạn: -
Há không phải chính phòng ác tu thiện là tướng và dụng của bất phóng
dật?
Ðáp: -
Nếu vậy, phòng ác tu thiện khác gì với Tinh tấn và ba Thiện căn?
Nạn: -
Bốn pháp kia phải chờ có bất phóng dật mới có phòng ác tu thiện?
Ðáp: -
Nếu vậy, bất phóng dật cũng phải chờ cái khác nữa, thì thành lỗi vô cùng.
Nạn: -
"Cần" chỉ là cùng khắp sách tấn thiện pháp, "thiện căn" chỉ là khắp làm
chỗ nương cho thiện pháp, tại sao nói nó công dụng phòng ác tu thiện?
Ðáp: -
Ông nói công dụng phòng ác tu thiện tướng nó như thế nào? Nếu khắp dựa vào
tất cả thiện tâm gọi là phòng ác tu thiện thì chính đó là ba Thiện căn vô
tham, vô sân, vô si. Nếu cùng khắp sách lệ thiện pháp thì có khác gì tinh
tấn. Nếu ngừng ác tấn thiện thì chính đó là chung cả bốn pháp là Tinh tấn
và ba Thiện căn. Nếu khiến tâm không tán loạn, thì đó là đẳng trì (định).
Nếu khiến Tâm, Tâm sở đồng thủ cảnh, thì đó có khác gì xúc. Nếu khiến Tâm
không quên mất, thì đó chính là Niệm. Suy tầm như vậy, thấy cái công dụng
của bất phóng dật. Nếu lìa bốn pháp là Tinh tấn và ba Thiện căn, thì hoàn
toàn không thể có được. Cho nên biết bất phóng dật không có tự thể riêng.
Hành
xả là thế nào? Là Tinh tấn và ba Thiện căn, có tánh khiến tâm được
bình đẳng chánh trực vô công dụng mà an trú, và có nghiệp dụng đối trị
trạo cử, được trú yên tịnh. Nghĩa là chính nhờ bốn pháp là Tinh tấn và ba
Thiện căn khiến tâm xa lìa các chướng trạo cử v.v... được trú yên tịnh gọi
là Xả. Nói bình đẳng, chánh trực, vô công dụng mà an trú đó là biện biệt
ba cấp sơ, trung, và hậu sai khác của Xả.
Do Bất
phóng dật, trước trừ tạp nhiễm, Hành xả lại khiến tâm tịch tịnh mà an trụ.
Hành xả không có tự thể riêng, cũng như bất phóng dật lìa bốn pháp kia thì
không có tướng và dụng riêng. Khả năng làm cho được tịch tịnh chính là bốn
pháp. Ðược làm cho tịch tịnh đó chính là tâm.
Bất
hại là thế nào? Là tánh không sân hận, không làm tổn não các hữu tình;
và có nghiệp dụng đối trị hại, có lòng thương xót. Nghĩa là chính từ sự
không giận, không làm tổn não các hữu tình mà giả gọi là không hại. Vô sân
ngược lại với Sân là dứt mạng sống chúng sanh, Bất hại ngược lại với Hại
là hay làm tổn não chúng sanh. Vô sân thì cho vui, Bất hại thì cứu khổ. Ðó
là hai thô tướng sai khác của Bất hại. Ðúng thật, Vô sân thật có tự thể,
còn Bất hại là nương một phần của Vô sân mà giả lập. Vì để hiển thị hai
tướng Từ và Bi khác nhau, trong việc lợi lạc hữu tình thì hai thứ Vô sân
và Bất hại, Từ và Bi này hơn cả.
- Có ý
kiến cho rằng không Hại không phải chính là không sân, mà nó có tự thể
riêng, đó là tánh hiền thiện. Tướng đó thế nào? Ðó là không làm tổn não,
không sân cũng thế, không có tánh riêng. Nghĩa là không làm tổn não loài
hữu tình, từ biến hiền thiện là không sân vậy.
- Bài
Tụng nói chữ "cập, (và) để hiển rõ ngoài mười một tâm sở Thiện vừa nói,
còn có những Tâm sở khác. Ðó là Thiện tâm sở "Hân" và "Chán" v.v... Những
Tâm sở này tùy nghĩa có khác nhau nên nói ra nhiều tên, nhưng thể nó vẫn
là một, cho nên không lập riêng. "Hân là hân thích, cùng đi với "Dục", là
một phần của không giận, vì không giận ghét đối với cảnh vui thích. Không
phẫn, hận, não, tật v.v... cũng thế. Tùy theo đó, thứ này đảo ngược lại
thành thứ kia. Như đảo ngược lại với bất phẫn và phẫn (giận), là một phần
của sân, "Chán" cùng đi với Tuệ, là một phần của vô tham, vì không nhiễm
trước đối với cảnh đáng chán. Không xan lẫn, không kiêu mạn v.v... nên
biết cũng giống như thế. Tùy theo đó mà đảo ngược lại thành xan lẫn, kiêu
mạn, đều là một phần của Tham. Không che dấu, không gian trá, không dua
nịnh là một phần của không tham, không si, tùy theo đó mà đảo ngược lại
thành che dấu, gian trá, dua nịnh, đều là một phần của Tham, Si.
- Có ý
kiến cho rằng không che dấu chỉ là một phần không si. Không có chỗ nào nói
che dấu là một phần của Tham.
- Có ý
kiến cho rằng không kiêu mạn là một phần của Tín. Nghĩa là tin ai thì
không kiêu mạn với họ.
- Có ý
kiến cho rằng không kiêu mạn là một phần của Hành xả, vì tâm bình đẳng thì
không kiêu mạn.
- Có ý
kiến cho rằng không kiêu mạn, một phần nhiếp vào vào Tàm (hổ) vì sùng
trọng ai đó thì không kiêu mạn với họ.
- Có ý
kiến cho rằng không nghi chính là nhiếp về Tín, vì tin điều gì thì không
còn do dự nghi ngờ.
- Có ý
kiến cho rằng không nghi chính là Thắng giải, vì khi đã quyết định thì
không do dự nghi ngờ.
- Có ý
kiến cho rằng không nghi chính là Chánh tuệ, vì khi có chánh kiến thì
không do dự. Thể không tán loạn tức nhiếp tuệ. "Bất vong niệm", chính là
Chánh niệm. Hối, Miên, Tầm, Tứ thông cả và bất nhiễm như xúc, dục v.v...
Nên không có nghĩa đảo ngược lại.
- Vì sao
những tâm nhiễm đảo ngược lại thành tâm thiện mà có cái lập riêng, có cái
không lập riêng?
- Tâm
nào có tướng và dụng khác nhau thì lập riêng; còn các tâm thiện thì không
có tâm nào đảo ngược lại nên không lập riêng, không nên gạn trách.
Lại vì
các nhiễm pháp bất thiện là tham, sân, si, vô tàm, vô quý, bất tín, giải
đãi, hôn trầm, trạo cử, phóng dật biến khắp cả sáu thức mạnh hơn, cho nên
đảo ngược lại lập thành mười pháp thiện là vô tham, vô sân, vô si, tàm,
quý, tín, cần, khinh an, hành xả.
Mạn,
phẫn v.v... chỉ tương ưng với ý thức, nên đảo ngược lập riêng. "Hại" tuy
cũng thế, nhưng vì nó thường hiện khởi làm tổn não người khác và làm
chướng ngại tâm bi là thắng nhân của vô thượng thừa, vì để nói rõ tội lỗi
lớn lao đó của hại, nên đảo ngược với hại mà lập riêng ra bất hại.
Thất
niệm, tán loạn, bất chánh tri, đảo ngược lại thì thành niệm, định, tuệ
trong Biệt cảnh thiện, nên không nói riêng.
Hỏi:
- Tâm sở nhiễm và Tâm sở tịnh đảo ngược nhau, mà sao số Tâm sở tịnh lại ít
hơn số Tâm sở nhiễm?
Ðáp: -
Tâm sở tịnh thù thắng,Tâm sở nhiễm yếu kém, đó là tịnh ít định nhiễm
nhiều.
Lại vì
thiện thì ngộ giải thông lý, nên tuy Tâm sở thiện nhiều mà đồng thể, còn
Tâm sở nhiễm vì mê tình cuộc theo sự tướng nhiều mới chia ra nhiều thứ.
Cho nên không nên trách về số lượng nhiều ít của Tâm sở nhiễm và Tâm sở
tịnh.
- Trong
mười một thiện tâm ấy, ba thứ là không phóng dật, hành xả, không hại là
giả có, như trước đã nói, còn tâm thứ kia thật có tướng và dụng khác nhau.
- Có ý
kiến cho rằng trong mười một thiện, có bốn thứ biến khắp thiện tâm, đó là
Tinh tấn và ba Thiện căn, còn bảy thứ kia thì bất định, vì khi suy tầm sự
lý chưa quyết định thì không sanh tín tâm. Tàm và Qúy thì đồng loại nhưng
chỗ nương khác nhau, tùy khi khởi lên tâm này thì tâm kia không khởi.
Khinh an thì đợi khi có đạo thế gian đoạn phiền não khởi lên thì mới có
được. Tâm Bất phóng dật và Hành xả, thì khi có đạo vô lậu mới khởi lên
được. Khi có tâm bi mẫn loài hữu tình mới có tâm Bất hại.
- Luận
nói 11 thiện được khởi lên trong sáu địa vị. Ðó là khi ở địa vị quyết định
mới có Tín tương ưng. Khi ngưng dứt nhiễm mới có tâm Tàm Qúy khởi lên nhìn
lại mình và người. Ở địa vị thiện có tâm Tinh tấn và ba Thiện căn. Khi có
thế gian đạo (bốn Thiền tám Ðịnh) thì có tâm Kinh an khởi. Khi có đạo xuất
thế (vô lậu đạo quán vô ngã) thì có tâm Hành xả và Bất phóng dật khởi. Khi
nhiếp hoá chúng sanh thì có tâm Bất hại khởi lên.
- Có ý
kiến cho rằng kia nói thế chưa đúng lý. Khi suy tầm sự lý, tâm chưa quyết
định, tín nếu không sanh thì không phải là thiện, như khi nhiễm tâm là vì
không có tịnh tín. Tàm và Quý khác loại, nương tha thì khác mà cảnh duyên
thì đồng, nó điều biến khắp thiện tâm, như trước đã nói.
Nếu có
xuất thế đạo mà tâm Khinh an không sanh thì Khinh an giác chi ấy chẳng
phải vô lậu. Nếu có thế gian đạo mà không có Hành xả và Bất phóng dật thì
không phải tịch tịnh phòng ác tu thiện, lại không thể dẹp trạo cử, phóng
dật. Thiện tâm hữu lậu đã có đủ bốn pháp là Tinh tấn và ba Thiện căn thì
nó như xuất thế đạo,nên có hai tâm là Hành xả và Bất phóng dật. Lại khi
thiện tâm khởi lên đều không tổn hại vật, chính do pháp trái với sự tổn
hại đó mà có tên Bất hại.
Nhưng
Luận nói: "Trong sáu trường hợp có mười một thiện tâm khởi lên là
nương nơi sự tăng mạnh của mỗi thứ mà nói tên mỗi thứ đó"; cho nên ý kiến
đầu tiên kia nói, nhất định không đúng lý.
Nên nói
rằng trong mười một Thiện, Tín, Tàm, Quý v.v... mười thứ biến khắp các
thiện tâm, trừ "Khinh an" thì không biến khắp. Phải khi ở địa vị Thiền
định mới có Khinh an. Vì sự điều sướng thân tâm ở địa vị khác (không phải
Thiền định) không có được.
Trong
Quyết trạch phần của luận Du già nói: "Mười Thiện tâm sở dù ở địa vị Thiền
định hay không Thiền định nó đều biến khắp thiện tâm, chỉ trong định địa
thì "Khinh an" tăng hơn".
Có ý
kiến cho rằng ở địa vị định gia hạnh cũng được gọi là định địa, vì ở đó
cũng có sự điều sướng thân tâm vi tế. Do đó ở cõi Dục cũng có Khinh an.
Không như vậy thì trái với Bản địa phần trong luận Du già nói: "Mười một
thiện như Tín, Tàm, Quý v.v... thông hết thảy địa.
- Có ý
kiến cho rằng Khinh an chỉ khi có định mới có, vi do định tư dưỡng, mới có
sự điều sướng. Luận nói: "Các Tâm, Tâm sở ở cõi Dục vì thiếu Khinh an nên
gọi là bất định địa". Nói hết thảy địa đều có mười một thiện, vì nó thông
cả ba địa là địa có tầm có tứ, địa không tầm chỉ có tứ, địa không tầm
không tứ (căn bổn Sơ Thiền gọi là hữu tầm hữu tứ Tam ma địa; Nhị Thiền,
gia hạnh gọi là vô tầm duy tứ Tam ma địa).
-
Mười một thiện này trước đã nói đủ, đệ thất, đệ bát thức tùy theo địa
vị hoặc có hoặc không (khi địa vị mê thì không có, khi ở địa vị ngộ thì
hai thức đều có đủ mười một thiện); còn đệ lục thức ở các địa vị thì đều
có đủ. Nêú không phải định vị là chỉ thiếu Khinh an.
Có ý
kiến cho năm thức chỉ có mười thứ, vì tự tánh năm thức tán động nên không
có Khinh an.
Có ý
kiến cho rằng năm thức cũng có Khinh an. Vì thiện do định dẫn phát cũng có
sự điều sướng Khinh an. Vì thiện cùng đi với Thành sở tác trí, chắc chắn
có Khinh an.
- Mười
một Thiện tâm sở này tương ưng với thọ nào? Mười Thiện tâm sở tương ưng
với đủ năm thọ, chỉ Khinh an tâm sở, không tương ưng ưu thọ, khổ thọ, vì
có ưu khổ thì không có điều sướng Khinh an.
- Mười
một Thiện tâm sở này đều cùng tương ưng với năm Biệt cảnh. Vì Tín, Tàm,
Quý v.v... với Dục, Thắng giải v.v... không trái nhau vậy.
- Mười
một thứ Tâm sở này chỉ là thiện.
- Trừ
Khinh an không có ở cõi Dục, còn mười thứ kia thông ở cả ba cõi.
- Mười
một thứ tâm sở Thiện, không chướng kiến đạo, nên không phải loại bị kiến
đạo diệt trừ. Luận Du già nói: "Sáu căn là Tín, Tấn, Niệm, Ðịnh, Tuệ và Vị
tri đương tri căn (nếu thuộc hữu lậu, chỉ do tu mới đoạn, chứ không phải
do kiến đoạn được".
Còn phân
biệt mười một thiện này theo các phương diện (môn) khác nữa, như lý nên
biết.
- Như
vậy đã nói tâm sở thiện, còn tâm sở Phiền não tương ưng với sáu thức,
tướng nó như thế nào?
Tụng
nói:
Phiền não là tham, sân,
Si, mạn, nghi, ác kiến.
Luận
rằng: "Sáu thứ tham, sân v.v... tánh nó thuộc về căn bản phiền não nên
được gọi là phiền não".
Tham
là thế nào? Là tánh nhiễm đắm đối với hữu và hữu cụ. Nó có nghiệp dụng
làm chướng ngại vô tham, phát sanh khổ não. Nghĩa là vì do năng lực của
tham ái mà có thủ uẩn sanh thành.
Sân
là thế nào? là tánh ghét giận đối với khổ và khổ cụ. Nó có nghiệp dụng
làm chướng ngại vô sân và làm chỗ nương cho tánh bất an ổn và ác hành.
Nghĩa là vì sân nên chắc chắn khiến thân tâm nóng bức, khởi lên các ác
nghiệp bất thiện.
Si
là thế nào? Là tánh mê muội đối với các sự lý, nó có nghiệp dụng
chướng ngại vô si, và làm chỗ nương cho tất cả tạp nhiễm. Nghĩa là do vô
minh (si) khởi lên các căn bản phiền não nghi, tà kiến, tham, v.v... và
các tùy phiền não mà tạo tác nghiệp ác có thể chiêu cảm pháp tạp nhiễm ở
đời sau.
Mạn
là thế nào? Là tánh ỷ mình mà cao ngạo đối với người, và có nghiệp
dụng là chướng ngại tánh không kiêu mạn, và phát sanh khổ não. Nghĩa là
nếu có mạn thì tâm không khiêm hạ đối với Tam bảo chơn tịnh đức và người
có đức; do đó mà bị sanh tử luân chuyển vô cùng, chịu các khổ não. Mạn này
sai biệt có bảy (mạn, quá mạn, mạn quá mạn, ngã mạn, tăng thượng mạn, ty
liệt mạn, tà mạn), hoặc chín thứ là đối nơi ba bậc thượng, trung, hạ về
ngã, đức và xứ sở (ta hơn, ta bằng, ta thua) mà thành ra chín mạn.
Tấc cả
mạn đều thông cả kiến sở đọan. Ở nơi Thánh vị, câu sanh ngã mạn đã không
còn hiện hành, thời các loại mạn từ nó khởi lên cũng không có lỗi.
Nghi
là thế nào? là tánh do dự chẳng quyết đối với các đế lý, và nó có
nghiệp dụng làm chướng ngại tâm không nghi, chướng ngại thiện pháp. Nghĩa
là do dự thì điều thiện không sanh.
Có ý
kiến cho rằng nghi này lấy thiện làm thể. Do dự trong sự lựa chọn nên nói
là nghi. Vì chữ "Tỳ" (trợ giúp) mạt để (tuệ) là nghĩa của nghi. Vì nghĩa
chữ "mạt để" và chữ Bát nhã là một (Tỳ mạt để hay Tỳ Bát nhã là giúp cho
Bát nhã, giúp cho giác ngộ. Có nghi mới có ngộ, không nghi ắt không ngộ,
cho nên giúp cho ngộ đó là nghi).
Có ý
kiến cho rằng nghi này có tự thể riêng, nó làm cho tuệ không quả quyết,
chứ nó không phải tuệ.
Luận
Du già nói: "Trong sáu phiền não, chỉ ác kiến là thế tục có, vì nó là
một phần của tuệ, còn các thứ phiền não kia đều thật có tánh riêng. Do chữ
"Tỳ" trợ giúp chữ Mạt để " thành "Tỳ mạt để" mà chấp tuệ là nghi, thế thì
có thể do chữ "Tỳ" trợ giúp "Nhã nam" (trí) thành "Tỳ nhã nam", mà trí
biến thành thức được sao? Chẳng phải do trợ giúp mà nghĩa của nó biến
chuyển khác đi được, thế nên nghi này không phải lấy tuệ làm thể.
Ác
kiến là thế nào? Là tánh của tuệ ô nhiễm suy đạt điên đảo đối với các
đế lý, nó có nghiệp dụng làm chướng ngại thiện kiến, chiêu cảm sự khổ.
Nghĩa là người ác kiến phải chịu nhiều khổ não. Hành tướng của ác kiến sai
biệt có năm (tức năm lợi sử).
1.
Tát ca gia kiến (thân kiến) - Tức là đối với năm thủ uẩn chấp cho là
ngã và ngã sở; nghiệp của nó là làm chỗ nương cho hết thảy kiến thủ (thân
kiến thông cả phân biệt và câu sanh). Kiến này sai biệt có 20 câu, 65 câu,
chúng đều là phân biệt khởi chứ không phải câu sanh sanh (năm thứ ác kiến
này, hãy xem rõ kinh Phạm Võng trong Trường Bộ Kinh, hoặc kinh Phạm Ðộng
trong Trường A hàm).
2.
Biên chấp kiến - Tức là chấp Tát ca gia kiến kia là đoạn là thường, nó
chướng ngại sự tu hành hạnh xuất ly theo trung đạo phi đoạn phi thường. Sự
sai biệt của kiến này là trong các kiến thú. Như đối với đời quá khứ chấp
bốn Biến thường luận. Nhất phần thường luận, đối với đời vị lai chấp có
mười sáu Hữu tưởng, tám Vô tưởng và tám Câu phi. Và bảy Ðoạn diệt luận
v.v... đều thuộc về phân biệt khởi.
3. Tà
kiến - Tức là phỉ báng nhân quả, phỉ báng tác dụng, phỉ báng sự thật.
Và gồm những tà chấp khác ngoài bốn ác kiến kia là thân kiến, Biên kiến,
kiến thủ, giới cấm thủ. Cũng như tăng thượng duyên là gồm tất cả những
duyên còn lại ngoài ba duyên là Nhân duyên, Ðẳng vô gián duyên, Sở duyên
duyên; vì nó có danh và nghĩa rất bao quát. Sự sai biệt của kiến này là ở
trong các kiến thủ, chấp hai Vô nhân luận về quá khứ, chấp bốn Hữu biên
luận, Bất tử kiểu loạn luận, và chấp vị lai năm hiện Niết bàn; hoặc chấp
trời Tự Tại, Thế chủ, Thích, Phạm và các vật loại khác là thường hằng biến
đổi; hoặc chấp trời Tự Tại là nguyên nhân của mọi vật; hoặc chấp bướng các
lối giải thoát tà vạy; hoặc vọng chấp phi đạo là đạo. Những lối chấp như
thế đều nhiếp vào tà kiến này.
4.
Kiến thủ - Tức là chấp các tà kiến trên và các thủ uẩn mà các tà kiến
dựa vào để chấp, cho là tối thắng, có thể làm chúng sanh thanh tịnh;
nghiệp dụng của nó là làm chỗ nương cho mọi sự đấu tranh.
5.
Giới cấm thủ là thuận theo giới cấm của tà kiến đó và các uẩn mà tà
kiến dựa vào để chấp, cho là tối thắng, có thể làm cho chúng sanh thanh
tịnh; nghiệp dụng của nó là làm chỗ nương cho sự khổ hạnh vô ích.
Nhưng có
chỗ nói chấp nó là tối thắng (không phải quả chấp là quả) thì gọi là kiến
thủ, chấp nó có thể làm cho được thanh tịnh (không phải nhân tốt mà chấp
là nhân tốt), thì gọi là giới thủ. Ðây là lối nói ưóc lược phản ảnh. Hoặ
là nói theo phương diện tùy chuyển (tùy chuyển nghĩa là nói tối thắng tức
trong đã có thanh tịnh, nói thanh tịnh là trong đã có tối thắng). Không
như vậy thì tại sao phi tịch diệt chấp tịch diệt, phi đạo chấp là đạo thì
gọi là tà kiến, mà chẳng phải hai thủ là kiến thủ và giới thủ?
- Trong
mười thứ phiền não tổng và biệt như trên, có sáu thứ là tham, sân, si,
mạn, thân kiến, biên kiến thông cả câu sanh và phân biệt khởi. Hoặc nhậm
vận hoặc tư sát đều khởi lên ác kiến được cả. Còn nghi và ba kiến là tà
kiến, kiến thủ, giới cấm thủ thì chỉ là phân biệt khởi; vì cần phải do bạn
ác và năng lực tà giáo, tự thẩm xét, tư sát mới được sanh khởi.
- Có
thuyết cho rằng trong biên chấp kiến, thứ nào thông câu sanh thì nó thuộc
loại đoạn kiến, còn tướng của thường kiến thô phù, phải có năng lực của
bạn ác và tà giáo mới dẫn sanh ra được. Như luận Du già nói: "Biên chấp
kiến nào là thứ câu sanh? Ðó là thứ biên chấp kiến thuôc loại đoạn kiến.
Người học hiện quán sanh tâm sợ như vầy: "Cái ta của ta nay ở tại chỗ nào?
"Cho nên như loài cầm thú nếu gặp nghịch duyên, đều sợ cái ta đoạn mất, mà
sanh tâm sợ hãi".
- Có ý
kiến cho rằng Luận kia nói đó là y theo thô tướng mà nói. Lý thật, câu
sanh cũng thông cả thường kiến. Nghĩa là như cầm thú vì chấp cái ta thường
còn nên hăng hái tạo tác chứa nhóm các đồ dùng để lâu dài. Các luận như
Hiển Dương v.v... đều nói: "Ðối với năm thủ uẩn chấp đoạn chấp thường,
hoặc là câu sanh, hoặc là phân biệt".
-
Mười thứ phiền não ấy thứ nào tương ưng với thứ nào?
- Tham
nhất định không cùng sanh với sân và nghi, vì hai cảnh yêu và ghét không
đồng nhau. Ðối với cảnh còn nghi ngờ không quyết chấp thì không có tham
đắm. Tham có thể tương ưng với mạn và kiến, nhưng vì cảnh tham ái và kiêu
mạn chẳng phải một, nên không cùng sanh một lần. Còn cảnh ô nhiễm của ái
và cảnh ỷ thị của mạn có thể đồng nhau, nên được tương ưng. Vì đối với
cảnh của năm ác kiến đều có thể tham ái, nên tham và năm kiến tương ưng
nhau, không lỗi gì.
- Sân
với mạn, nghi, hoặc có thể cùng khởi một lần, vì cảnh sân và cảnh ỷ thị
chẳng phải một, nên nói sân với mạn không tương ưng nhau. Cảnh miệt thị và
cảnh ghen ghét có thể là một cho nên nó có thể cùng sanh. Vì lúc đầu còn
do dự (nghi) thì chưa ghét, nên nói sân và nghi không cùng sanh. Suy nghĩ
lâu mà vẫn không quyết được, mới phát giận, nên sân và nghi có thể được
tương ưng. Nghi cảnh thuận hay nghịch tùy theo đó cũng vậy. Sân và hai thủ
là giới cấm thủ và kiến thủ chắc không tương ưng, vì khi đã chấp cho đó là
đạo thù thắng, thì không ghét nó. Sân với ba kiến là thân, biên, tà kiến
hoặc được tương ưng mà không nhất định. Vì đối với thân năm uẩn đáng ưa
mới khởi lên chấp cho thân là thường, mà không ghét nó, đó là sân không
tương ưng. Nếu đối với thân năm uẩn khổ đau đáng ghét mà khởi lên chấp
thân thường thì sanh tâm ghét giận nó, nên nói sân được cùng khởi. Ðối với
đoạn kiến, thì ngược lại với đây mà xét sân có tương ưng hay không. Tà
kiến thì bài bác luôn cả việc xấu, việc tốt, theo thứ tự đó mà xét sân có
hay không có tương ưng với tà kiến.
Mạn tâm
sở là đối với cảnh đã quyết, còn Nghi tâm sở thì không thể. Cho nên mạn và
nghi không tương ưng nhau. Mạn và năm kiến thì câu khởi, vì hành tướng hai
thứ không chống trái nhau. Nhưng mạn thì không câu sanh với "đoạn kiến",
vì khi chấp ngã bị đoạn thì không thể ỷ thị kiêu mạn với ai được. Mạn có
một phần không câu sanh với thân kiến, và tà kiến cũng vậy.
Nghi là
không thẩm quyết, nên trái với năm kiến, cho nên nghi và năm kiến không
thể câu sanh. Năm kiến cũng không tương ưng câu khởi với nghi, vì không
thể trong một tâm có nhiều tuệ (kiến).
Si và
chín phiền não kia đều được tương ưng, vì các phiền não sanh ra được, phải
do si mới có.
-
Mười phiền não này tương ưng với thức nào?
- Tạng
thức hoàn toàn không có. Mạt na thức có bốn, Ý thức có đủ mười. Năm thức
trước chỉ có ba đó là tham, sân, si. Vì năm thức trước không có tánh phân
biệt nên không có mạn v.v... vì do có phân biệt so sánh mới khởi kiêu mạn
v.v...
-
Mười phiền não nàu tương ưng với thọ nào?
- Câu
sanh tham, sân, si và phân biệt tham, sân, si, tất cả đều tương ưng với
năm thọ; vì khi tham mà gặp cảnh duyên trái nghịch thì cả ưu và khổ thọ
cùng sanh, gặp cảnh duyên thuận thì cả hỷ thọ và lạc thọ cùng sanh.
Có ý
kiến cho rằng mạn câu sanh và phân biệt khởi tương ưng với bốn thọ, trừ
khổ thọ. Vì chúng sanh ỷ thị thân ngũ uẩn xấu khổ của mình, mà sanh ưu
thọ, nên mạn tương ưng với ưu thọ.
Có ý
kiến cho rằng nếu là câu sanh thì mạn cũng tương ưng với khổ thọ; vì nơi ý
thức có khổ thọ, như trước đã nói. Nếu là phân biệt mạn v.v... thì nó
không có ở những nơi thuần chịu khổ, vì ở nơi ấy không có tà sư tà giáo.
Nhưng chúng sanh ở chỗ chỗ thuần khổ đó không tạo nghiệp dẫn đến đường ác,
vì phải cần có phiền não phân biệt từ ý thức khởi mới tạo nghiệp dẫn đến
chỗ ác đó.
Nghi và
ba kiến là tà kiến, kiến thủ kiến và giói cấm thủ chỉ tương ưng với bốn
thọ, trừ khổ thọ. Ở cõi Dục, nghi không tương ưng với khổ nhưng tương ưng
với hỷ và ưu. Kiến thủ và giới thủ nếu duyên theo cảnh của ưu tương ưng
với kiến thì bấy giờ nó tương ưng với ưu thọ.
Có ý
kiến cho rằng câu sanh thân kiến, biên kiến chỉ tương ưng với hỷ, lạc, xả
thọ. Hai kiến này không tương ưng năm thức nên không có khổ thọ, vì năm
thức là vô ký, nên không có ưu thọ. Còn phân biệt thân kiến, biên kiến chỉ
tương ưng với bốn thọ, trừ khổ thọ. Chấp thân ngũ uẩn cùng sanh với khổ là
ngã, ngã sở, mà thường, thì thân, biên kiến đó có ưu thọ. Nếu chấp thân
ngũ uẩn cùng sanh với lạc là ngã, ngã sở mà đoạn, thì thân biên kiến đó
cũng tương ưng với ưu thọ.
Có ý
kiến cho rằng thân kiến, biên kiến nếu là câu sanh thì tương ưng với khổ
thọ; vì ở chỗ thuần khổ chỉ duyên với thân ngũ uẩn cực khổ, nên tương ưng
với khổ thọ.
Luận
nói: "Tất cả phiền não não câu sanh đều cùng hiện hành với ba thọ".
Nói rộng như trước. Còn các nghĩa khác như trước đã nói.
- Dưới
đây theo nghĩa thật nói, nói theo tướng thô, thì tham, mạn và bốn kiến đều
tương ưng với lạc, hỷ, xả thọ. Sân chỉ tương ưng với khổ, ưu, xả thọ. Nghi
thì tương ưng đủ năm thọ. Nghi và tà kiến tương ưng bốn thọ, trừ khổ thọ.
Tham, si tương ưng với lạc thông ở bốn địa dưới là Ngũ thú tạp cư địa đến
Tam Thiền địa; còn bảy thứ là năm ác kiến, mạn và nghi kia tương ưng với
lạc, thì trừ Dục giới địa, nó thông ba địa là Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam
Thiền. Nghi và độc hành si, nếu ở cõi Dục thì chỉ tương ưng với ưu và xả
thọ. Các thọ khác câu khởi như thế nào, cứ theo lý suy biết.
-
Mười phiền não này mấy thứ tương ưng với Biệt cảnh tâm sở?
- Tham,
sân, si, mạn cùng khởi với năm Biệt cảnh. Vì chuyên chú một cảnh là có
Ðịnh tâm sở. Nghi và năm Kiến mỗi mỗi tương ưng với bốn Biệt cảnh, vì nghi
không tương ưng với thắng giải, vì nghi thì không quyết định. Kiến không
phải tương ưng với tuệ, vì nó không khác tuệ.
-
Mười thứ phiền não này nhiếp thuộc về tánh gì?
- Sân
chỉ có tánh bất thiện, vì nó làm tổn hại mình, người. Chín thứ còn lại
tương ưng cả thiện và bất thiện. Nếu ở hai cõi trên là Sắc, Vô sắc giới
thì nhiếp về vô ký, vì ở đó nó bị đè bẹp. Nếu hệ thuộc cõi Dục mà sân phân
biệt khởi thì chỉ nhiếp về bất thiện, vì nó phát sanh ác hành. Nếu sân câu
sanh ác hành thì cũng nhiếp về bất thiện, vì nó làm tổn hại mình, người.
Các phiền não còn lại nhiếp về vô ký, vì vi tế không làm chướng ngại thiện
mà không có làm tổn hại mình, người quá lắm. Nên biết câu sanh thân kiến
và biên kiến chỉ nhiếp về tánh vô ký. Vì không phát sanh nghiệp ác, tuy
thường hiện khởi, song không làm chướng ngại thiện pháp.
-
Mười thứ phiền não này hệ thuộc vào cõi nào?
-
Sân chỉ hệ thuộc cõi Dục, chín thứ còn lại thông cả ba cõi. Khi sanh ở địa
dưới, chưa lìa sự ô nhiễm của địa dưới, thì phiền não địa trên không hiện
tiền. Phải được căn bản định ở địa trên kia, khi đó phiền não ở địa trên
kia mới hiện tiền.
Các hữu
lậu đạo (chỉ bốn Thiền tám Ðịnh, không có quán hai không, nên gọi là hữu
lậu đạo) tuy không dẹp được phiền não phân biệt và phiền não câu sanh vi
tế trong thức thứ bảy, nhưng có thể dẹp trừ được phiền não câu sanh thô
phù ở thức thứ sáu, để dần dần chứng được căn bản định của địa trên. Vì
phiền não câu sanh đó chỉ là mê sự, hướng ra bên ngoài sanh khởi, tán loạn
thô động, chính thức làm chướng ngại Thiền định, nên khi được định địa
trên rồi, vậy sau các phiền não câu sanh và phân biệt ở địa trên này đều
hiện tiền. Nếu người khi sanh địa trên, các phiền não phân biệt câu sanh
địa dưới đều được hiện khởi. Như người sanh ở Vô tưởng thiên trong đệ Tứ
Thiền, trung hữu của họ do phỉ báng đạo giải thoát mà phải sanh vào địa
ngục.
Lại khi
thân đang ở địa trên mà sắp sanh xuống địa dưới, khởi lên câu sanh ái để
nhuận sanh xuống địa dưới. Như có chỗ nói người sanh địa trên không khởi
phiền não địa dưới, đó là dựa theo đa phần mà nói, hoặc nói theo môn tùy
chuyển.
Phiền
não ở địa dưới cũng duyên địa trên mà khởi. Luận Du già nói: "Tham" hệ
thuộc cõi Dục mà vẫn câu sanh địa trên là vì thích định địa trên, cũng như
đã bao sân nhuế, cũng ghen ghét, tật đố khi duyên Diệt đế và Ðạo đế mà
khởi, thì cũng nên nói ghen ghét và tật đố duyên Ly dục địa mà khởi. Vì
tổng duyên các hành sắc tâm ba cõi mà chấp ngã ngã sở (thân kiến) là đoạn
hoặc là thường (biên kiến) mà khởi mạn, thì đó là đều được duyên cõi trên
mà khởi lên. Còn lại năm kiến duyên cõi trên mà khởi, lẽ đó chắc chắn.
Nhưng có
chỗ nói tham, sân, mạn v.v... không duyên cõi trên, đó là nói theo tướng
thô; hoặc dựa theo duyên khác mà nói. Không thấy người thế gian nào chấp
các pháp của tha địa là ngã v.v... và biên kiến thì phải dựa thân kiến mới
có được. Phiền não ở địa trên cũng duyên pháp ở địa dưới là nói kẻ sanh
lên cõi trên, đối với hữu tình hạ giới, ỷ thị đức mình cao hơn mà sanh tâm
lấn lướt.
Duyên
chung các hành mà chấp làm ngã, ngã sở là đoạn hoặc thường mà ưa thích nó
thì được duyên hạ địa.
Nghi và
ba kiến sau, như lý nên xét biết. Nhưng mà nói phiền não cõi trên không
duyên cõi dưới, đó là dựa theo đa phần mà nói, hoặc theo duyên khác mà
nói.
-
Mười phiền não này nhiếp thuộc học vị nào?
- Chỉ
nhiếp thuộc học vị phi học, phi vô học, chứ không nhiếp thuộc vào học và
vô học vị, vì học và vô học vị chỉ là thiện mà nó là ô nhiễm.
-
Mười phiền não này do kiến sở đọan, tu sở đoạn hay phi sở đoạn?
-
Nó không phải phi sở đoạn. Vì phi sở đoạn là thứ không ô nhiễm. Mười phiền
não này nếu là phân biệt khởi thì chỉ do kiến đạo là đoạn, vì thô dễ đoạn.
Nếu là câu sanh thì chỉ do tu đạo đoạn được, vì vi tế nên khó đoạn. Mười
thứ phiền não phân biệt khởi thuộc kiến đạo đoạn, thật sự là kíp đoạn một
lần, vì chơn kiến đạo một lần tổng duyên đủ Tứ đế. (Do mê lý Tứ đế mà có
mười thứ phiền não phân biệt khởi lên, nên khi thấy rõ lý Tứ đế thì mười
phiền não phân biệt khởi này kíp được dứt sạch).
Nhưng mê
tướng Tứ đế có tổng có biệt. Tổng nghĩa là mười thứ phiền não đều do mê lý
Tứ đế mà có. Khổ, Tập đế là nhân, là chỗ nương của mười phiền não; Diệt,
Ðạo đế là chỗ mười phiền não sợ hãi. Biệt nghĩa là riêng mê tướng Tứ đế mà
khởi các phiền não, như trong đó hai thứ thân kiến và biên kiến chỉ do mê
Khổ đế mà khởi, còn tám thứ kia do mê chung cả Bốn đế mà khởi. Vì thân và
biên kiến chỉ đối với thân khổ quả mà khởi. Vì riêng tướng không và tướng
vô ngã là thuộc Khổ đế (Khổ đế có bốn tướng là vô thường, khổ, không, vô
ngã). Nghĩa là nghi và ba kiến trực tiếp mê lý khổ, còn hai thứ là chấp
vàp ba kiến đó, và chấp giới cấm thủ cùng thân ngũ uẩn cho là thù thắng có
thể đạt thanh tịnh. Ðối với tự kiến và tha kiến và quyến thuộc của nó mà
thứ tự tùy lúc khởi lên tham, sân, mạn (tức đối mình khởi tham, đối người
khởi sân, đối quyến thuộc khởi mạn), tương ưng với vô minh (tức là thứ vô
minh đi chung với tham, sân ...) cùng với chín thứ kia đồng mê lý Khổ đế
mà khởi. "Bất cộng vô minh" (hay Ðộc hành vô minh, nó không đi chung với
tham, sân v.v... nên chỉ cho kiến đạo đoạn) thì trực tiếp mê lý Khổ đế mà
khởi. Nghi và tà kiến thì trực tiếp mê lý Tập đế ... mà khởi. Hai thủ và
tham v.v... chuẩn theo Khổ đế nên biết. Nhưng sân cũng có thể trực tiếp mê
Diệt và Ðạo đế, vì sợ hãi Diệt và Ðạo đế mà sinh ra ghen ghét, sân giận.
Trực
tiếp mê lý Tứ đế và gián tiếp mê lý Tứ đế về thô tướng là như thế. Nếu nói
tướng vi tế của nó là tham, sân, mạn, ba kiến và nghi câu sanh, thì tùy
khi thích ứng mà nó cũng mê lý Tứ đế như trên. Còn hai kiến câu sanh và
ái, mạn, vô minh tương ưng với nó, tuy là do mê Khổ đế mà có, nhưng vi tế
khó đoạn, phải tu đạo mới đoạn được. Sân và độc đầu ái, mạn cùng vô minh
tương ưng với nó là do mê riêng hữu tình hoặc cảnh sự tướng mà có, không
trái với trí quán đế lý (vì mấy thứ này không phải do lý Tứ đế mà khởi,
nên nó không làm chướng ngại trí quán lý Tứ đế), nên cần phải khi tu đạo
mới đoạn được.
Tuy các
phiền não này đều có tướng phần, nhưng bản chất để cho nó nương cậy mà
biến ra tướng phần thì hoặc có hoặc không, và được gọi là phiền não duyên
hữu sự hay là phiền não duyên vô sự (như duyên cảnh hiện tại có thật mà
sanh phiền não, gọi là phiền não duyên hữu sự có bản chất, còn duyên cảnh
quá khứ, vị lại v.v... mà sanh phiền não, thì gọi là phiền não duyên vô
sự, không có bản chất). Tướng phần thân sở duyên của nó tuy đều là pháp
hữu