CHƯƠNG VII. CHẾ ĐỘ VÀ SỰ QUAN HỆ GIỮA
CHÍNH TRỊ-TÔN GIÁO.
Tiết 1: Sự Khởi Đầu Và Sự Chấm Dứt Thể Chế Chính-Giáo Hợp
Nhất.
Các vua nhà Nguyên với Lạt Ma giáo.
Nhà Nguyên khởi nghiệp ở vùng sa mạc phía bắc
Trung Hoa. Đây là triều đại cường thịnh bật nhất về vũ lực của
Trung Quốc. Nhưng lại có chính sách rất mềm mỏng đối với Tây
Tạng. Chính sách nầy có từ thời Thái tổ Thành Cát Tư Hãn, vì
muốn biểu thị sự kính trọng đối với Lạt-ma giáo, đến thời Thế Tổ
Hốt Tất Liệt, Lạt-ma giáo được người Tây Tạng truyền bá khắp các
xứ Mông-Cổ. Điều này về mặt chính trị chỉ là một phuơng pháp,
nhưng mặt tố chất thì Mật giáo Tây Tạng có hàm tố chất của Bổng
giáo nên dễ tương thông về khí chất, do vậy nên các lãnh tụ Mông
Cổ mới chọn Phật giáo làm tín ngưỡng chính của họ.
Thời sơ Nguyên, phái Tát Già của Phật giáo
Tây Tạng đang thời kỳ cực thịnh. Lúc vua Nguyên Ýù Tông (Mông
Kha Hản) tại vị, ông sai Hốt Tất Liệt thống suất đại quân chinh
phạt phương Nam từ Cam Túc đến Xuyên Tây rồi qua sông Kim Sa
đánh chiếm Đại Lý, rồi từ huyện Côn Minh của Vân Nam tiến vào
Tây Tạng. Bấy giờ vị tổ thứ năm của phái Tát Già là Phát Tư Ba
hãy còn rất trẻ. Mới bảy tuổi ông đã đăng đàn thuyết pháp và
“tung hoành vô địch”. Do đó, khi tấn kiến Hốt Tất Liệt ông nhận
được ưu lễ rất hậu, kịp đến khi Hốt Tất Liệt lên ngôi hoàng đế
liền quyết định lấy Phật giáo làm quốc giáo cho Mông Cổ. Hốt Tất
Liệt nghinh đón và tôn Phát Tư Ba làm quốc sư và ban cho ngọc
ấn, lại lệnh cho Phát Tư Ba chế tạo tân tự cho Mông Cổ. Năm Chí
Nguyên thứ sáu (1260) chính vua Nguyên Thế Tổ ban hành tân tự
Mông Cổ, và lệnh cho mọi người (Mông Cổ) trong thiên hạ trực
tiếp sử dụng loại tân tự nầy. Đến thời vua Thuận Đế, do nội địa
bị suy thóai và sau đó phải lui về laị sa mạc phía bắc. Từ thời
Thành Cát Tư Hãn đến lúc Hốt Tất Liệt lên ngôi, người Mông Cổ
dùng chữ Uùy-Ngột-Nhi do Tháp Tháp Thống A chế tạo. Do đó, người
Mông Cổ gọi chữ do Phát Tư Ba chế tác là “tân tự”. Loại tân tự
nầy có hình dạng hơi vuông, na ná giống tự dạng của Thổ Phồn và
chỉ có hơn nghìn chữ.
Do Nguyên Thế Tổ hết mực kính ngưỡng, và tôn
quý Phát Tư Ba, phong ông làm Đại Bảo Pháp Vương đồng thời lấy
mười ba vạn hộ của Tây Tạng để thù đáp công đức của Phát Tư Ba,
coi đó như lễ vật cúng dường.Chí Nguyên năm thứ 12 (1275), Phát
Tư Ba trở về lại Tây Tạng, trên đường ông đi qua các tỉnh như
Thanh Hải, Tây Khương, Tiền Tạng và Hậu Tạng. Đồng thời cũng để
điều tra số hộ khẩu của các địa khu nầy, đúng là tổng cộng có
mười ba vạn hộ. Thực tế, thời ấy nhà Nguyên coi Tây Tạng như một
quận huyện. Việc thiết lập quan chức cai trị tại Tạng thổ đều
giao do Phát Tư Ba quyết định. Phát Tư Ba với tư cách là lãnh tụ
tôn giáo nhưng lại kiêm luôn lãnh tụ chính trị tại Tây Tạng.
Mệnh lệnh của đế sư và chiếu sắc của hoàng đế nhà Nguyên được
song hành tại Tây Tạng. Đây quả đúng là thể chế chính-giáo hiệp
nhất (chính trị và tôn giáo).
Cũng từ sự kiện này dẫn đến việc kiến lập
vương triều Tát-Già ở Tây Tạng.Về phương diện gia phong hàm Đế
sư, thì đã có từ thời vị tổ thứ tư –tức thúc phụ của Phát Tư Ba.
Nhưng mãi đến đời vua Nguyên-Thuận-Đế, Chí Chính năm thứ năm
(1345), thì ưu thế và địa vị của phái Tát Già mới bị phái Già Cử
đoạt lấy. Trước sau phái Tát Già thống trị Tây Tạng ước có
khoảng trăm năm; trong khoảng thời nầy mỗi khi có vị Đế sư viên
tịch, thì người kế thừa phải là người cùng tông phái. Đồng thời
vị Đế sư tuy ở kinh thành nhưng lại ra hiệu lệnh kiến tạo tịnh
xá, và tự viện ở các nơi. Phải nói từ đông sang tây (từ Trung
Quốc đến Tây Tạng) đâu đâu cũng có hành quán của Lạt-ma giáo.
Trên từ hoàng đế, tôn thất, hậu phi, dưới đến đại thần, sĩ thứ
không ai là không bái mộ, quy y đối với Phật giáo Tây Tạng. Nhân
đó mà thời kỳ nầy Lạt-ma giáo lưu hành khắp cả Trung Hoa lẫn
Mông Cổ.
Đệ tử của Phát Tư Ba là Thiệm Ba. Ông nầy
cũng là một vị thần đồng thiên tài, mới mười tuổi mà đã tinh
thông các loại pháp-đàn Mật giáo. Về sau ông đi Ấn Độ để cầu học
giáo pháp, khi hồi hương ông trở thành một vị Lạt ma “Thần dị
trác trứ”. Lúc đến kinh thành ông được Nguyên Thế Tổ phong làm
quốc sư.
Theo sự ghi chép của Nguyên sử, thì từ đấy
về sau tất cả các vị Đại Nguyên Đế Sư đều đến từ Tây-Tạng. Thứ
tự có các vị sau: Đạt-Nhĩ-Mã-Ba-Lạp-Thiệt-Lý, Y
Đặc-Trác-Thực-Lâm-Tẩm, Sách-Lạt-Thực-Ba-Ngạc-Nhĩ-Gia Lặc, Trác
Khắc Gia Lặc Xán, Đa Nhĩ Tề Ba Lặc, Tang Tiết Trác Thiệt, Bảo Ba
Lặc Tạng Bố, Ban Châu Nhĩ Tiển Tạng.
Vị hoàng đế sau cùng của nhà Nguyên là
Thuận Đế, và người thọ phong Đế sư từ vị hoàng đế nầy là Già Sán
Chân. Thuận Đế là ông vua hôn muội, bị mê hoặc bởi bí thuật và
đắm chìm trong dâm lạc. Theo Nguyên sử thì gọi là Bình Chương
Chính Sự Cáp Ma, ông nầy sai người em rễ là Ngốc Lỗ Thiếp Mộc
Nhi đến nói với tăng nhân Tây Tạng là hãy đến trước vua mà thực
hành thuật vận khí có tên là “Diễn Thiệt Nhi” (ba chữ nầy có
nghĩa là đại hoan hỷ lạc, tức thuật nam nữ giao tiếp của pháp Vô
thượng du già). Già Sán Chân nhân đạt được bí pháp nầy mà được
phong Đế Sư, và được nhận tăng lữ Lạt-ma làm Tư đồ. Mỗi Tư đồ
được nhận ba hoặc bốn cô gái trinh con nhà lành, và coi các cô
gái này như là của “cúng dường”. Thuận Đế nhà Nguyên chìm đắm
với thuật này, nên Già Sán Chân cùng các đệ tử và những sủng
thần trước mặt vua mà coi như chỗ để bày trò nam nữ khoả thân,
và gọi nơi nầy là “Thổ Tức Ngột Lai” (ý nói là sự vô ngại).
Những tệ nạn của Phật giáo Tây Tạng cũng nhân đó mà đạt đến cực
điểm.
Lại nữa, cũng theo Nguyên sử. Sở dĩ có tệ nạn
trên là do có sự ưu đãi và bảo hộ của chế độ chính trị, kèm theo
là sự thịnh hành của Lạt-ma giáo. Đâý là nguyên nhân dẫn đến
việc các Lạt-ma tung hoành mặc sức mà không lý gì đến quốc pháp
như: trộm cướp, giết người, hoặc nhận báu vật và mỹ nhân làm của
hối lộ, hoặc tự ý che chở thương nhân để thu thuế v.v. Tất cả
đều xuất phát từ việc phái Tát Già bị cuốn hút vào quyền lực
chính trị mà ra!
Sau khi phái Tát Già bị “chìm”, thì Hồng giáo
liền có phái Già-Cử tại Tây Tạng lại nổi lên kiến lập “Xá Tháp
Vương Triều” Hiện nay vẫn còn Hồng giáo Lạt-ma tại các địa khu
như: Tây Khương, Bất Đan, Tích Kim, Ni Bạc Nhĩ và Lạp Đạt Khắc.
Phái Già-Cử là một chi phái của phái Cổ-Già–Cử. Phái Cổ-Già-Cử
còn có một tiểu chi phái tên là phái Cáp Tông (Lha – tsun-pa),
do tiểu phái này có liên hệ với Lạt-ma Cáp–Tông (tên gốc là
Kun–bzan-rnam rgyal, sinh năm 1595 hoặc 1569 ?) thuộc địa phận
Cống Ba, ở về phía đông nam Lạp Tát. Lạt-ma Cáp Tông là người
đứng ra lập giáo đoàn Tích Kim, đến nay chi phái nầy vẫn còn tại
chùa của vị đại Lạt ma Lạp Bốc Lăng (Labrang=Blabran) ở
Tích-Kim, và tại đây người ta tôn xưng ông là “Thủ hộ chủ”.
Ngoài nhiệm vụ là lãnh tụ cai quản giáo đoàn trong cả nước, ông
còn là vị Lạt ma có ảnh hưởng lớn đối với chính quyền. Đại đa số
tăng đồ của tiểu chi phái nầy đều cưới vợ, sinh con.
Phật giáo tại Bất–Đan còn do một tiểu chi
phái của phái Già Cử truyền vào từ nam bộ Tây Tạng ở thế kỷ mười
bảy(17)sau công nguyên, xưng là Nam phương phái (Lho- hbrag-
pa). Vị lãnh tụ giáo đoàn của phái này được tôn là “Lạt Ma Bảo
Vương” hoặc “Pháp Vương”. Vị lãnh tụ đời thứ nhất có vợ, nhưng
từ đó về sau tất cả các lãnh tụ giáo đoàn đều độc thân. Từ khi
du nhập đến nay luôn gây được ảnh hưởng rất lớn đối với chính
quyền, cho nên tự viện của phái nầy cũng là vương cung của Bất
–Đan. Tiếp bước phái Già-Cử là phái Gia-Nhĩ-Mã. Ung Chính năm
thứ ba (1725), đời Thanh Thế Tông, vua nước Tích Kim lễ thỉnh vị
Lạt ma đời thứ chín của phái Già Nhĩ Mã đến Tích Kim trác tích.
Nhưng về tự viện thì tự kiến lập. Càng về sau ảnh hưởng của phái
Già-Nhĩ -Mã càng nhỏ dần ở Tích Kim, duy vào năm Sùng Trinh thứ
tám (1635), đời vua Trang Liệt Đế nhà Minh, người của phái Già
Nhĩ Mã nổi lên lật đổ “Xá Tháp Vương Triều” của Tạng Ba–Hản.
Lạt Ma Giáo Và Triều Minh.
Chính sách của triều Minh đối với
Ô-Tư-Tạng vẫn theo phép trước đây của nhà Nguyên, do vì người
dân tại bản địa Tây Tạng có thói quen tôn sùng Lạt-ma giáo. Theo
“Minh sử ngoại truyện” thì: “Những năm đầu của năm Hồng-Vũ, Minh
Thái Tổ đích thân trị loạn ở đất Thổ Phồn của nhà Đường xưa. Ông
nhận ra rằng cách duy nhất để chế ngự dân bản địa là lợi dụng
tăng nhân, bằng cách nhờ tăng nhân hóa đạo dân chúng khiến họ
hướng thiện và tuân thủ quốc pháp. Lại sai viên ngoại lang hành
tỉnh Thiểm Tây là Hứa Duẫn Đức cai trị Thổ Phồn; Ông nầy liền cử
quan chức cũ của nhà Nguyên đến kinh sư rồi theo “cựu pháp” mà
nhận chức hàm. Trong khi đó vị Đế sư nhiếp chính của Ô-Tư-Tạng
là Nam Gia Ba Tạng Bốc. Trước hết ông nầy sai sứ đến kinh sư
triều cống, và được vua Minh Thái Tổ tỏ vẻ rất vui, liền ban cho
Thiền–y bằng lụa đỏ, cùng với mão, hài, ngân lượng”.
Thực thì, từ giữa triều Nguyên cho đến
những năm cuối triều Minh. Về chính trị, Tây Tạng tuy đã thống
nhất nhưng vẫn tồn tại cục diện bộ lạc phân lập. Vì thế đối với
Tây Tạng, triều Minh vẫn áp dụng chính sách như trước đây của
triều Nguyên chứ không biến đổi gì nhiều. Triều Nguyên lấy một
vị Lạt-ma tối cao trong số các Lạt ma tôn lên làm giáo chủ, và
áp dụng cách cai trị trung ương tập quyền để cai quản toàn Tạng.
Triều Minh thì tuỳ vào quyền lực của tăng nhân các phái mà phân
vùng để họ cai quản. Sở dĩ vậy là vì thứ nhất, phái Tát Già đang
trong xu thế suy sụp. Thứ hai, phái Tát Già vốn rất thân thiết
với triều Nguyên, mà nhà Nguyên nay đã lui về bắc mạc để cố thủ.
Do đó, nhà Minh lại tăng thêm vị Lạt ma thứ hai để cùng Đại Lạt
ma của phái Tát Già cai quản đất nước Tây Tạng. Vua Minh Thái Tổ
sách phong bốn vị Lạt-ma và cho họ được có địa vị và đặc quyền
ngang nhau.
Khi vua Minh Thành Tổ tức vị (1403), thì Đại
Lạt- ma Nam Gia Ba Tạng Bốc đã viên tịch. Vì vậy, đối với bảy vị
Đại Lạt-ma của Tây-Tạng, vua Thành Tổ nhà Minh đều phong tôn
hiệu “Vương”: phong Đại Bảo Pháp Vương Tây Thiên Đại Tự Tại Phật
cho vị Đại Lạt-ma của phái Gia Cử, hoặc phong Đại Thừa Pháp
Vương, Đại Từ Pháp Vương v.v. cuối đời nhà Minh, Tây Tạng có
tám người được phong Pháp vương, hai người được nhận Tây Thiên
Phật Tử, chín người được tôn làm Quán Đảnh Đại Quốc Sư và mười
tám người được phong hàm Quán Đảnh Pháp Sư. Lại chế định sau khi
vị Pháp vương viên tịch, thì phong hiệu Pháp vương cho người kế
vị pháp tự theo tập truyền. Mỗi vị Pháp vương hằng năm phải
triều cống nhà Minh một lần.
Thời sơ Minh, nhà cải cách Tông Khách Ba của
phái Tân Cam Đan vừa mới hưng khởi nên đối với chính phủ của
Minh triều chưa có ảnh hưởng mấy. Do đó, ông chỉ được thọ phong
là Vương trong tư cách là Đại Lạt-ma, còn lại phần đông là các
Đại Lạt-ma của phái Hồng-mạo. Đến đời vua Minh Thần Tông, năm
Vạn Lịch thứ tư (1576), Yêm Đáp Hản được nhà Minh phong làm
Thuận Nghĩa Vương, ông nầy liền nghinh đón vị Đạt Lai đời thứ ba
đến Môn cổ hoằng hóa. Sự giáo hóa của Hoàng giáo nhờ dó mà
truyền thẳng vào đại sa mạc phía nam lẫn phía bắc (Nội Mông và
Ngoại Mông).
Lạt Ma Giáo và Triều Thanh
Nhờ vị Đạt Lai đời thứ ba du hóa theo một
trục dài theo hướng đông xuyên qua các tỉnh như: Cam, Thanh,
Tuy, Ninh. Ngài cảm hóa các bộ tộc Mông Cổ ở Thanh Hải và Hà
Sáo, khiến Yêm Đáp Hãn một đời dụng binh bỗng dưng từ bỏ binh
nghiệp, kính tín Phật pháp, và quy y Hoàng giáo. Sau khi Nguyên
Thuận Đế-Yêm Đáp Hãn lui về sa mạc phía bắc và tuyên bố Lạt-ma
giáo là tín ngưỡng chính của Bắc mạc (Ngoại Mông). Một lần nữa
Lạt-ma giáo lại có được cơ hội truyền vào các bộ tộc Mông Cổ ở
Bắc mạc.
Nhân vì Phật
giáo Tây-Tạng dưới triều Thanh có nhiều mối quan hệ với các bộ
tộc Mông Cổ. Do đó, nay xin giới thiệu trạng huống phân bố của
các bộ tộc chủ yếu thời bấy giờ như sau:

Theo ghi chép của“Thánh Vũ-Ký”, thì do đức Đạt Lai đời thứ nhất
là Căn Đôn Châu Ba vốn là hậu duệ của Tây Tạng vương thất, do đó
ông gom cả quốc vương và giáo chủ vào tay mình rồi dần dà làm
cho Hoàng giáo nắm cả đại quyền chính trị và tôn giáo.Thực ra,
thì thời đức Đạt Lai đời thứ nhất, các địa khu của Tây Tạng cục
diện chủ yếu là do các vị Pháp vương của phái Hồng giáo phân
trị. Vì thế, dù đức Đạt Lai đời thứ nhất có nắm cả quyền
chính-giáo đi nữa thì củng chỉ là quyền mang tính cục bộ. Mãi
đến thời đức Đạt Lai đời thứ năm, do bộ Hoà Thạt Đặc của Mông Cổ
bấy lâu vẫn chăn nuôi ở Ô Lỗ Mộc Tề, bỗng cuối đời nhà Minh bộ
nầy lại di chuyển nghiệp du mục của họ đến Thanh Hải, vị thủ
lĩnh của bộ nầy là Cố Thỉ Hản, ông nầy dùng thế lực của mình gây
sức ép lên các địa phương Khương, Tạng và sai Đệ Ba Tang Tiết
cung phụng đức Đạt Lai đời thứ năm đang cư trú ở Tiền Tạng.
Trong khi đó Tạng Ba Hãn được Hồng giáo của phái Già Nhĩ Mã ủng
hộ thì đang cai trị ở Hậu Tạng. Nhân vì Đệ Ba Tạng Tiết hướng về
Cố Thỉ Hãn mà tố cáo Tạng Ba Hãn ngược đãi bộ chúng, và cố ý huỷ
diệt Hoàng giáo, và là người khinh thầy, giết bạn. Do đó, vào
năm Thuận Trị thứ hai (1645), đời Thanh Thế Tổ. Cố Thỉ Hãn xuất
quân tấn công tiêu diệt Tạng Ba Hản; lấy chùa Trát Thập Luân Bố
ở Hậu Tạng giao về cho thầy của đức Đạt Lai đời thứ năm là Ban
Thiền quản lý.
Tuy Cố Thỉ Hãn sau đó để con trai của mình
là Đạt Nhan Hãn lưu lại Hậu Tạng để trông coi việc chính trị.
Nhưng Đạt Nhan Hãn là người kính tín đức Đạt Lai đời thứ năm hết
mực, nhân đó mà việc cai trị ở Tiền Tạng lại do vị đại thần dưới
trướng của đức Đạt Lai là Đệ Ba Tang Tiết nắm giữ. Chính điều
nầy mở đầu cho việc phái Hoàng giáo thống nhất Tây Tạng và cũng
là đầu mối đưa đến việc Ban Thiền và Đạt Lai phân trị ở Tiền
Tạng và Hậu Tạng. Đồng thời cũng khởi đầu cho việc người Mông Cổ
lên làm tạng vương thống trị Tây Tạng.
Đức Đạt Lai đời thứ năm lần đầu tiên tiếp
xúc với Thanh triều là vào năm Sùng Đức thứ bảy(1642), đời vua
Thanh Thái Tông. Bấy giờ đức Đạt Lai sai sứ đến Thịnh kinh (Thẩm
Dương ngày nay) dâng biểu và gọi vua nhà Thanh là “Mạn Thù Xá
Lợi Đại Hoàng Đế”, có người nói “Mạn Thù” là chuyển âm của tiếng
“Mãn Châu”. Thanh triều rất vui, liền sai sứ đáp lễ và gọi đức
Đạt Lai là “Kim Cang Đại Sĩ”. Thanh Thuận Trị năm thứ chín
(1652), đức Đạt Lai đời thứ năm đến Bắc Kinh chầu, và được Thanh
triều phong làm” “Tây Thiên Đại Thiện Tự Tại Phật Lĩnh Thiên Hạ
Thích Giáo Phổ Thông Ngạc Tề Đạt Lai Lạt Ma”. Đó là lần đầu tiên
Hoàng giáo Tây Tạng hướng về chính phủ Trung Quốc để nhận địa vị
Pháp vương một cách hợp pháp. Thực thì thời bấy giờ đức Đạt Lai
tuy đã là lãnh tụ chính-giáo tối cao, nhưng thực tế quyền lực
của Ngài chỉ nằm ở Giáo-vụ chứ không ở Chính vụ. Thực quyền
chính trị vẫn do Đệ Ba Tang Tiết nắm giữ. Chính vì lý do nầy mà
Đệ Ba Tang Tiết mới “hiệp thiên tử dĩ lệnh chư hầu” (mạo lệnh
thiên tử sai khiến chư hầu”. Ông ta luôn nhân danh đức Đạt Lai
đưa ra mệnh lệnh chính trị, nên vào năm Khang Hy thứ hai mươi
mốt (1682) đời Thanh Thánh Tổ, đức Đạt Lai đời thứ năm viên
tịch, nhưng Đệ Ba Tang Tiết giữ bí mật không phát tang, lại còn
mượn danh đức Đạt Lai để thỉnh cầu triều đình nhà Thanh phong
ông làm quốc vương Thổ Bá Đặc (tức Tây Tạng). Không chỉ có vậy,
Đệ Ba Tang Tiết còn chống lại người cháu của Cố Thỉ Hãn đang nắm
quyền tại Tây Tạng là Lạp Tạng Hãn.Khang Hy năm thứ ba mươi lăm
(1696), nhà Thanh mới biết tin về đức Đạt Lai viên tịch. Bấy giờ
Đê Ba Tang Tiết lại mật trình lên triều Thanh vị Đạt Lai đời
thứ sáu, vị nầy vừa tròn mười lăm tuổi, có tên là La Bốc Tạng
Nhân Thanh Trác Dương Gia Mục Thố.
Lại nói về Lạp Tạng Hãn, sau khi biết rõ
âm mưu của Đệ Ba Tang Tiết, ông liền bắt và giết ngay, rồi cũng
tự mình lập lên một vị Đạt Lai đời thứ sáu, có tên là Y- Tây Gia
MụcThố. Việc làm nầy của Lạp Tạng Hãn đưa đến cục diện có hai vị
Đạt Lai chân, ngụy. Việc Lạp Tạng Hãn sát hại Đệ Ba Tang Tiết
gây nên sự bất mãn cực lớn đối với bộ tộc Chuẫn-Nhĩ-Cát ở tây
Mông-Cổ. Bởi lâu nay bộ tộc này cấu kết mật thiết với Đệ Ba Tang
Tiết . Do đó, năm Khang Hy năm mươi lăm (1716), Lạp Tạng Hãn bị
Sách Vượng A-Lạp-Bố-Đát-người của bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ mưu hại.
Một lần nữa, vị Đạt Lai đời thứ sáu do Lạp Tạng Hãn lập lên bị
cho là ngụy. Vì vậy tộc người Tạng ở tỉnh Thanh Hải mới lập
riêng một vị Đạt Lai đời thứ sáu có tên là La Bốc Cách Tang Gia
Mục Thố, và được tôn làm lãnh tụ Lạt-ma giáo tại Thanh Hải. Kết
quả, mọi người đồng ý là vị Đạt Lai do Đệ Ba Tang Tiết lập lên
làm vị Đạt Lai đời thứ sáu, còn vị Đạt Lai được lập lên ở Thanh
Hải phải đợi đến sau khi quân Thanh đánh bại bộ tộc
Chuẩn-Cát-Nhĩ mới chính thức trở thành vị Đạt Lai đời thứ bảy,
đó là vào năm Khang Hy thứ năm mươi chín (1720). Và lễ đăng
quang được tổ chức tại Lạp Tát- có nơi lại nói đó là Đạt Lai đời
thứ sáu.
Bình định xong biến loạn, nhà Thanh dùng
người con trai của Lạp Tạng Hãn là Khương Tề Nãi, cho ông nầy
nắm quyền cai trị ở Tiền Tạng, và cho Đài Kiết-Phã –La-Nãi nắm
quyền ở Hậu Tạng. Khi Thanh Thế Tông- Ung Chính lên ngôi, ông
bèn bãi bỏ nhà Tiềm-để (nơi ở của vị vua lúc chưa nhiếp chính)
và dùng nhà nầy làm chùa Lạt–Ma, sau trở thanh cung Ung Hoà ở
Bắc Kinh. Việc làm nầy là nhằm biểu thị lòng tôn sùng của các
vua nhà Thanh đối với Phật giáo Tây Tạng. Đến năm Ung Chính thứ
hai (1724), Khương Tề-Nãi gặp nạn. Trong lúc quân bình loạn của
Thanh triều chưa tới được Tiền Tạng thì Phã La Nãi đã dẹp yên
được được loạn. Nhờ có công dẹp loạn, Thanh triều phong Phã La
Nãi làm quận vương, cho tổng lý cả Tiền Tạng lẫn Hậu Tạng. Cùng
lúc Thanh triều cho lưu lại Tây Tạng hai vị chánh, phó đại thần
để điều khiển hai ngàn quân Thanh được lấy từ hai tỉnh Tứ Xuyên
và Thiểm Tây đang đồn trú tại Tạng thổ. Việc làm nầy của Thanh
triều mở đầu chế độ Trú Tạng Đại Thần của nhà Thanh đối với Tây
Tạng, và cũng từ đó Tây Tạng chính thức trở thành lãnh thổ nội
thuộc Trung Quốc.
Đời vua Thanh Cao Tông, năm Càn Long mười hai
(1747), Phã La Nãi từ trần, con trai là Châu Nãi Mặc Đặc lên kế
vị. Ông nầy lại ngầm cấu kết với bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ để làm
phản. Kết quả, vị Trú Tạng Đại Thần của Thanh triều là Truyền
Thanh và bộ hạ của ông đều bị hạ sát dưới tay của Châu Đảng.
Tiếp đó Thanh triều liền sai Tổng đốc Tứ Xuyên là Sách Lăng
thống suất đại quân tiến vào Tây Tạng để thảo phạt. Sau sự biến
nầy, chính sách của Thanh triều đối với Tây Tạng không còn phong
các tước hiệu như: Hãn, Vương, Bối Lặc, Đài Khiết.v.v.. như
trước. Cải cách của Thanh triều tại Tây Tạng là lập ra bốn Cát
Bố Luân, và phân chia địa giới cho họ cai trị, nhưng tất cả dều
do đức Đạt Lai tổng lý toàn cục. Đây cũng là dịp để khôi phục
lại chế độ chính-giáo hiệp nhất lần nữa. Trong khi đó vị Trú
Tạng Đại Thần của Thanh triều chỉ xử lý ở địa vị giám đốc.
Đây là thời kỳ đầy những náo động về việc đức
Đạt Lai đời thứ sáu là chân hay ngụy.Vị lãnh tụ tinh thần tối
cao của Tây Tạng bấy giờ là Ban Thiền đời thứ năm. Ban Thiền
vâng mệnh nhà Thanh di trú đến Tiền Tạng. Tại đây tuy xa, nhưng
Ban Thiền vẫn điều hành Chính-Giáo sự vụ ở Hậu Tạng. Năm
Khang-Hy ba mươi bốn (1695), Ban Thiền nhận được chiếu của Thanh
triều triệu đến Bắc Kinh. Tại Bắc Kinh, Ban Thiền được Thanh
Thánh Tổ phong tước hiệu Ngạch Nhĩ Đức Ni.
Càn–Long năm bốn mươi bốn (1779), Ban Thiền
đời thứ sáu đến kinh kỳ. Do trước đó vua Càn–Long đã quy y với
Ban Thiền, và đích thân nhà vua cũng đã từng lãnh thọ giáo nghĩa
Phật pháp từ Ban Thiền. Do đó, khi Ban Thiền đến kinh thành thì
cả hoàng tộc triều Thanh, các quan đại thần cùng phi tần, thái
giám ai ai cũng kính trọng Ban Thiền như kính Phật. Trên đường
từ Tây Tạng đến Bắc Kinh, Ban Thiền (đời thứ sáu) nhận được rất
nhiều tài vật cúng dường. Chẳng may năm sau đó vì mắc phải dịch
bệnh đậu mùa, Ban Thiền đời thứ sáu viên tịch tại Bắc Kinh, tục
huynh của Ngài là Thân Ba Hô Đồ Khắc Đồ phụng di cốt và toàn bộ
tài vật cúng dường về lại Tây Tạng. Trong lúc chưa kịp đem số
tài vật này ra phân phát, thì tục đệ của Ngài là Xá-Mã-Nhĩ-Ba
một tín đồ Hồng giáo, bí mật dụ người Khuếch Nhĩ Khách (Ni Bạc
Nhĩ) vào Tây Tạng cướp lấy toàn bộ của cải ở Trát Thập Luân Bố.
Hay tin, Thanh triều bèn phái Phúc Khang-An làm đại thần mang
quân từ Thanh Hải tiến vào Tây Tạng đánh bại quân Khuếch Nhĩ
Khách. Tây Tạng lại một lần nữa được yên bình. Có điều là sau
cuộc bình loạn lần nầy ở cõi ngoài, quyền lực Thanh triều trở
nên lớn mạnh hơn, bằng cách nhà Thanh trao thêm quyền bính cho
vị Trú Tạng Đại Thần, cho vị nầy có toàn quyền quyết định mọi
việc tại Tây Tạng. Tất cả mọi quyền lực về hành chánh đều do
Thanh triều nắm giữ, Đạt Lai và Ban Thiền chỉ trông coi về Tôn
giáo vụ, và hoàn toàn không dính gì đến quyền lực hành chánh, dù
rất nhỏ. Lại một lần nữa có sự chia cắt giữa chính trị và tôn
giáo, hình thức chia cắt nầy kéo dài mãi đến những năm cuối nhà
Thanh.
Chính Trị Và Tôn Giáo Tại Tây Tạng Vào Cuối
Triều Thanh .
Cuối triều nhà Thanh, do vì triều đình đối xử
bất xứng với Tây Tạng, trong đó có việc Triệu Nhĩ Phong âm mưu
đánh phá vùng biên cảnh (tức nội địa Tây Tạng), và thi hành
chính sách cải cách điền địa, gây bức hại tôn giáo, khiến đức
Đạt Lai đời thứ mười ba phải lưu xuất sang Ấn Độ. Ngài tìm đến
và trình bày rõ với người Anh (quốc) về nội tình Tây Tạng; đồng
thời yêu cầu người Anh giúp đỡ bằng cách đối kháng lại Thanh
triều. Biết được chủ ý của đức Đạt Lai, Thanh triều bèn tước bỏ
danh hiệu Đạt Lai Lạt Ma của ngài, lệnh cho vị Trú Tạng Đại Thần
phỏng tầm cho bằng được một vị Linh-nhi mới, và tôn lập thành
một vị tân Đạt Lai. Việc làm nầy của triều Thanh khiến dư luận
thế giới xôn xao. Từ đó mối quan hệ giữa Tây Tạng và Thanh triều
trở nên xấu hẳn. Khi cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) nổ ra, đức
Đạt Lai mới từ Ấn Độ phản hồi Tây Tạng. Một mặt Ngài tuyên bố
Tây Tạng độc lập, mặt khác ngài phái quân đội Tây Tạng tiến vào
vùng biên cảnh của Tứ Xuyên (nay là tỉnh Tây Khương), trực tiếp
ổn định Tây Khương, và mưu việc thu phục lại vùng biên cương mà
Thanh triều đã chiếm trước đây. Vị phó đại thần của Triệu Nhĩ
Phong đi vào khu vực “Trung-Anh lãnh thổ” bài xích triều đình
Mãn Thanh là cố chấp qua chính sách bế quan. Đến đây chế độ Trú
Tạng Đại Thần của Thanh triều coi như chấm dứt. Nhưng chính phủ
Bắc Kinh lại lập ra chế độ mới với tên gọi: Trú Tạng Biện Sự
Trưởng Quan. Chế độ nầy chưa kịp thực thi tại Tây Tạng, đức Đạt
Lai đã lập lên tại Tiền-Tạng chế độ Chính-Giáo Đại Quyền.
Năm Dân Quốc mười ba (1924), đức Đạt Lai đời
thứ mười ba và Ban Thiền đời thứ chín có sự bất hoà, nhân đó Ban
Thiện từ Thanh Hải đến Bắc Kinh và hướng về Thanh triều. Thấy
vậy, đức Đạt Lai liền khôi phục Tiền Tạng, Hậu Tạng thành thể
chế Chính-Giáo hiệp nhất. Bấy giờ chính phủ Dân quốc trung ương
vào năm thứ mười bảy (1928) bắc phạt thành công. Do đó, năm Dân
quốc mười tám (1929) sai Bắc Bình Ung Hoà Cung Lạt Ma là Cống
Giác Trọng Ni làm Uỷ-vấn chuyên viên vào Tây Tạng, và được đức
Đạt Lai bày tỏ sự hoan nghênh. Kịp đến lúc Cống Giác Trọng Ni về
lại Bắc Kinh, đức Đạt Lai liền phái người đến Bắc Kinh làm Tổng
đại biểu cho Tây Tạng, lại phái thêm Sở Thần Đan Tăng làm phó
đại biểu và thiết lập Biện Sự Xứ tại Bắc Kinh. Đây cũng là bước
đầu khôi phục lại mối quan hệ giữa chính phủ Dân quốc với Tây
Tạng. Năm Dân quốc hai mươi tám (1939), Ngô Trung Tín vào Tây
Tạng chủ tọa lễ đăng quan của đức Đạt Lai đời thứ mười bốn, sau
đó thiết lập tại Tây Tạng một cơ quan có tên là: Trú Tạng Biện
Sự Xứ, cơ quan nầy không thể so sánh với nha môn của Trú Tạng
Đại Thần của nhà Thanh. Nhưng trên phương diện quan hệ song
phương thì đây là cơ quan rất trọng yếu. Đến khi chiến tranh
kháng Nhật thắng lợi, Tây Tạng liền đặc phái một đoàn đại biểu
đến Nam Kinh chúc mừng, vì khi ấy chính phủ Dân quốc đã dời đô
về Nam Kinh. Cũng trong năm nầy (1939), vào ngày 25 tháng 12,
khai mạc Quốc Dân Đại Hội tại Nam Kinh để chế định Hiến pháp.
Tây Tạng phái một đoàn đại biểu gồm mười tám người đến tham dự.
Dân quốc năm ba mươi bảy (1948), là năm bắc đầu thi hành Hiến
pháp đã được Quốc Dân Đại Hội thông qua, đó là tiến hành tổng
tuyển cử để bầu Tổng thống và phó Tổng thống. Các tộc người Tạng
tạm cư ở nội địa Trung Quốc và địa phương Tây Tạng cũng chọn hai
mươi đại biểu, tất cả đều đến Nam Kinh tham dự. Chẳng lâu sau nổ
ra cuộc chiến tranh. Tháng 7 năm 1949, Tây Tạng ra lệnh cưỡng ép
nhân viên của Trung Ương Trú Tạng rời khỏi Lạp Tát. Như vậy mối
quan hệ song phương giữa chính phủ Dân quốc và Tây Tạng vỏn vẹn
được hai mươi năm thì cáo chung.
Trên thực tế, thì bấy giờ nhân viên do chính
phủ Dân quốc đặc phái đến Tây Tạng tựa hồ họ chẳng thiết tha gì
với bản địa. Bấy giờ có một người Tây phương ở trong hàng ngũ
quân đội Nhân Dân Giải Phóng, khi đoàn quân này tiến vào Tây
Tạng. Nhưng ông lại là người sau cùng rời khỏi Tây Tạng, ông có
tên Hán ngữ là Ninh Khang Đức. Chính ông viết cuốn “Tây Tạng
kiến văn lục”. Tiết 12, trang 133, ông có lời bình sau: “Tôi với
tư cách khách quan mà nhận xét về vị đại quan của Trung Quốc là
Trần tiên sinh và người phó của ông là Lưu tiên sinh; đối với
Tây Tạng, hai vị nầy có thái độ không tốt, tựa hồ họ chẳng lưu
tâm tìm hiểu gì về dân tình của Tây Tạng một cách căn bản, họ
tự đại thái quá, và luôn dùng uy quyền để sai khiến người dân
bản xứ, trong khi đó tâm lý của dân Tây Tạng luôn phải ẩn nhẩn
chịu đựng. Chính phủ Trung Quốc phái những người như vậy đến Tây
Tạng khó lòng tạo được sự dung hợp giữa hai bên Trung-Tạng, thật
là uổng công”. (bản dịch của Trần Trừng- Chánh Trung bản).
TIẾT II. PHẬT GIÁO MÔNG CỔ
Người Mông Cổ
Và Tôn Giáo Gốc Của Họ.
Phần mở đầu quyển một của bộ sách Đa-Tang
Mông Cổ Sử viết: “Trung bộ vùng Á Tế Á, bắc có các sơn hệ làm
ranh giới với Tây Bá Lợi Á, nam giáp Cao Ly, Trung Quốc, Thổ
Phồn, sông Tế Hồn (Sihoun), và sông Lý Hải, tây khởi từ sông
Phục Nhĩ Gia (Volga), đông giáp biển Nhật Bản. Từ thời thái cổ
đã là nơi cư trú của ba giống dân du mục mà người đời thường gọi
là Đột Quyết, Thát Đát và Mông Cổ, hoặc còn gọi là Đông-Hồ, là
Nữ-Chân. Sự khu biệt nầy là y cứ vào phương diện ngôn ngữ và
hình mạo của họ là chính. Cổ sử Trung Quốc gọi họ là Bắc Địch,
về sau còn phân ra Hung Nô, Tiển Ty, Thát Bạt, Đột Quyết, Kiết
Đan và Nữ Chân. Họ là những dân tộc du mục rất hiếu chiến, qua
nhiều thời kỳ họ thường gây tai hoạ cho đất nước Trung Hoa. Nhất
là sự xuất hiện của Thành Cát Tư Hãn - người làm chẤn Động thế
giới.
Ở phần trước chúng tôi đã trình bày về tín
ngưỡng tôn giáo của các dân tộc du mục ở vùng Trung–Á mà giới
học giả gọi tín ngưỡng nầy là Tát Mãn giáo. Theo ghi chép của Đa
Tang Mông Cổ Sử thì tín ngưỡng của dân tộc Thát Đát bị liệt vào
loại mê tín. Điều đó cũng dễ hiểu, vì đối với các dân tộc du mục
còn man dã cư trú ở khu vực bắc bộ Á Châu, tín ngưỡng của họ đều
mang tính mê tín giống nhau. Tất cả họ đều thừa nhận có một vị
Chủ tể, vị Chủ tể nầy hiệp với (Ông) Trời và có tên là Nhật Đằng
Cách Lý (Tangri). Họ sùng bái cả nhật, nguyệt, sơn, hà thuộc ngũ
hành (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ). Họ dùng cây gỗ hoặc lông thú để
chế tác ngẫu tượng có tên là Ông-Cang (Ongon) và treo lên vách
tường rồi hướng về mà lễ bái. Họ quan niệm rằng con người sau
khi chết sẽ tái sinh ở một đời khác kế tiếp, và cũng sinh hoạt
như ở đời hiện tại nầy. Họ cho rằng tai họa là do ác quỷ gây ra,
muốn khỏi thì phải dùng phẩm vật để cúng, hoặc mời (thầy) Tát
Mãn cầu đảo. Tát Mãn là một loại hình tôn giáo đầu tiên trong
sinh họa tín ngưỡng tôn giáo của thời nguyên thủy. Chức năng của
Tôn giáo-sư của thời kỳ nầy gồm nhiều chủng loại như: huyễn
thuật gia, thầy giải mộng, thầy bói toán, chiêm tinh và kiêm
luôn y thuật v.v.. Các Tôn giáo-sư tự nhận họ là người thân cận
với thần linh. Họ tự cho là họ biết được mối quan hệ bí mật giữa
quá khứ với hiện tại và tương lai. Họ đánh trống và đọc tụng
thần chú, hồi lâu phân phát cho đến ngây lịm, lúc ấy sẽ được
thần linh đỡ lấy thân thể họ và rồi họ nhảy múa tứ tung cùng lúc
họ nói ra những lời về kiết hung, họa phúc. Những việc nhân sinh
đại sự, người ta đều tin vào lời nói của Vu-Sư (tức Tôn giáo
sư). Và họ tin một cách rất thâm thiết”. (bản dịch của Hồng Thừa
Quân- trang 33).
Chương 69 của sách “Mã Khã Ba La Hành Ký”
cũng có đề cập đến “Thần Đạo của người Thát Đát”, và nói rằng:
“Người Thát Đát tin là có thần.Vị Thần có tên là Nạp-Xích Cai
(Nacigay).Đây là vị Địa thần, là thần bảo vệ và giúp đỡ con
cháu, sinh, súc vật và ruộng lúa của họ. Thần thọ nhận lễ cúng
rất lớn. Người ta dùng vải hoặc lông thú để bài trí thần vị. Đức
tin nầy của người Thát Đát, theo chú thích của Sa Hải Ngang thì:
“người Thát Đát tin là có một vị thần sáng tạo, tạo ra tất cả
mọi vật hữu hình và vô hình, mọi hành vi tốt xấu của con người,
thần đều thấu hiểu và có sự thưởng phạt phân minh” (bản dịch của
Hồng Thừa Quân –trang 246-249).
Đằng Cách Lý là tên của vị thiên thần, Nạp
Xích Cai là tên vị địa thần. Tát Mãn giáo tuy quan niệm có một
vị thần tối cao ở trên trời, nhưng kỳ thực họ thuộc tín ngưỡng
đa thần. Minh Thần Tông, năm Vạn lịch thứ năm (1577) Hoàng giáo
Tây Tạng được truyền đến Mông Cổ, và rồi Tát Mãn giáo của bản
địa dần dà bị Hoàng giáo dung hợp. Trải qua thời gian bị mất dần
thế lực.
Hốt Tất Liệt Với Hồng Giáo
Tây Tạng.
Thành Cát Tư Hãn tự mình tách khỏi và chống
lại hai mươi nước Liêu, Kim để dấy khởi cơ nghiệp. Nhưng phải
kinh qua bốn người con và hai người cháu, đó là: Oa Hoắc Đài,
Thuật Xích, Sát Hiệp Đài, Đà Lôi, Qúi Do và Mông Kha, đến đời
Hốt Tất Liệt mới diệt được nhà Nam Tống, thống nhất Trung Quốc
về dưới quyền ông. Phật giáo được người Mông Cổ đón nhận như tín
ngưỡng phổ biến của họ. Điều đó có được là nhờ vào sự mở đầu ở
thời đại Nguyên Thế Tổ-Hốt Tất Liệt.Trước đó, đại đa số dân Mông
Cổ đều tín ngưỡng Tát Mãn giáo, có nơi còn có dấu tích của Cơ
Đốc giáo.
Vậy Phật giáo được du nhập Mông Cổ vào thời
kỳ nào? Câu trả lời chậm nhất là vào đời Nguyên Hiến Tông-Mông
Kha Hãn. Đa Tang Mông Cổ Sử quyển hai, chương năm, nói: Sau khi
tức vị, Mông Kha liền sai hoàng đệ là Hốt Tất Liệt nắm quyền cai
trị vùng đất có nhiều hộ dân ở sa mạc phía nam. Lấy tăng nhân là
Hải Vân coi về Thích giáo vụ, lấy Lý Chí Thường coi về Đạo giáo
vụ, sau đó phong Tây Thẩm Tăng Na Ma làm Quốc sư, cho trông coi
bao quát mọi việc về Phật giáo. Vị “Na-Ma” nầy có người hiểu
nhầm là Lạt-ma, thực thì vị Na Ma nầy có quan hệ với vị tổ đời
thứ tư của phái Tát Già. Trong cuốn “Uy Khương Tộc Hành Ký” của
Lỗ Khắc Hắc Nhĩ cũng chép là thời Mông Kha Hãn: “ Thành Hoà Lâm
của Mông Cổ đã từng đến với tăng lữ Lạt ma Hồng giáo”. Lại thấy
trong cuốn Đa Tang Mông Cổ Sử quyển ba, chương một nói: “Trước
khi Phát Tư Ba chưa đến Mông Cổ, thì hai vị Hãn sau Thành Cát Tư
Hãn cũng từng mời vị Lạt ma có tên là Sagtcha pandita (Tát Già
Ban Trí Đạt) từ Thổ Phồn đến Mông Cổ, và nhờ vị nầy chế tác mẫu
tự cho Mông Cổ, việc chưa xong thì vị Lạt ma nầy viên tịch”.
Như vậy, rõ là trước thời Hốt Tất Liệt, Phật
giáo đã được truyền vào Mông Cổ. Chẳng qua thời nầy các vị Hãn
của Mông Cổ không nghiêng về một tôn giáo nào. Riêng Hốt Tất
Liệt là người từng đến Tây Tạng nhiều lần, hơn nữa lúc chưa lên
ngôi Hốt Tất Liệt cũng đã quy y Tam Bảo rồi. Đương thời các Lạt
ma Tây Tạng đã từng đem Phật giáo từ Uý Ngột Nhi, Thổ Phồn
truyền giảng khắp các doanh tướng của các vị vương Mông Cổ. Sau
khi Mông Kha Hãn từ trần, Hốt Tất Liệt tự lập lên làm Hãn và
dùng Phát Tư Ba làm Đế sư, đồng thời nhờ ông nầy chế tác tân tự
cho dân Mông Cổ. Nguyên Thế Tổ, năm Chí Nguyên thứ sáu (1269)
xuống chiếu ban hành sử dụng tân tự, chiếu có đoạn viết: “ Nước
ta dẫn khởi nghiệp từ phương Bắc, phong tục còn chuộng theo xưa,
chưa kịp chế tác mẫu từ. Vì thế, phàm khi dùng đến văn tự phải
cậy đến Hán tự hoặc Uý Ngột tự. Ngay bản triều ta mà nói, thì
việc chế tác văn tự cho Mông Cổ vẫn chưa hoàn bị. Do đó, Ta đặc
mệnh cho quốc sư Phát Tư Ba sáng chế ra Mông Cổ tân tự. Nay ban
hành lệnh cho muôn dân hãy dùng tân tự Mông Cổ để dịch, viết,
thay cho tất cả các văn tự khác, mục đích sao cho mọi việc đều
thuận ngôn đạt sự”. Đây quả là một cống hiến cực kỳ to lớn đối
với văn hóa Mông Cổ.
Khi đã ổn định triều chính, Hốt Tất Liệt
phỏng theo chế độ của Hán tộc mà kiến lập nhà Thái miếu ở Yên
Kinh. Chí Nguyên năm thứ ba (1266), lạc thành nhà Thái miếu,
lệnh cho tăng lữ làm các Phật sự trong bảy ngày đêm. Từ đó về
sau quy định mỗi năm đều dùng lễ nầy làm “Vĩnh thức”. Chí Nguyên
năm hai mươi hai (1285), một lần nữa Nguyên Thế Tổ sai Phát Tư
Ba và những vị tăng trong Pháp phái hãy tham khảo, đối chiếu và
khâm định lại kinh bản của Hán tạng và Thổ Phồn Tạng để tuyển
thành một bộ “ Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục”.
Nhà Nam-Tống tiêu vong vào năm Chí Nguyên
mười bảy (1280). Nguyên Thế Tổ băng hà năm Chí Nguyên ba mươi
mốt (1294). Người kế vị Nguyên Thế Tổ là Nguyên Thành Tông-Nạp
Ma Hạ. Thành Tông là người dốc lòng tin Phật một cách cực kỳ
thành tâm. Do đó, ông cho Tất Lan Nạp Thức Lý (con trai ông)
thay vua cha xuất gia làm tăng, và lệnh cho ông nầy phiên dịch
Phạn kinh ra Mông Cổ văn, và ban hiệu cho Lịch Sĩ Sổ Đại là “Phổ
Đồ Minh Quảng Chiếu Hoằng Biện Tam Tạng Quốc Sư”. Đời vua Nguyên
Võ Tông, Chí Đại năm thứ ba (1310), có cao tăng Tây Tạng là Pháp
Quang đến Mông Cổ chỉnh sửa thêm Mông Cổ tân tự do Phát Tư Ba
chế tác. Lại có các học giả Trung Quốc và các vùng ở Hồi Cốt đem
tạng kinh Tạng văn dịch ra thành tạng kinh Mông Cổ văn. Từ đó về
sau trải qua các đời vua nhà Nguyên như: Nhân Tông, Anh Tông,
Thái Định Đế, Văn Tông, Thuận Đế, đời đời đều sùng tín Phật giáo
Tây Tạng. Lúc Minh Thành Tổ hưng nghiệp ( 1369) thì Nguyên Thuận
Đế như ông già quay về quê cũ- Bắc mạc; và rồi Phật giáo Mông Cổ
có một thời bị lãng quên. Cả trăm năm sau Hoàng giáo Tây Tạng
một lần nữa được truyền đến Mông Cổ, khi ấy Phật giáo tại Mông
Cổ mới có cơ phục hưng.
Hoàng giáo Du Nhập Mông Cổ
Hoàng giáo truyền đến Mông Cổ chủ yếu là ở khu vực Nội Mông,
thuộc bộ tộc Ngạc Nhĩ Đa Tư của A Nhĩ Đát Hãn (Sử nhà Minh gọi
ông là Yêm Đáp Hãn). Thoạt tiên, A Nhĩ Đát Hãn đưa quân vào cướp
phá Trung nguyên. Về sau quy phục vua Mục Tông nhà Minh và được
phong làm Thuận Nghĩa Vương. Ông thỉnh được tạng kinh Tây Tạng
có chữ viết bằng vàng. Đồng thời ông cũng nghênh đón nhiều vị
Lạt-ma đến Nội Mông để giáo hóa dân bản địa. Có một sự kiện tối
chủ yếu liên quan đến chuyện nghinh đón Lạt-ma đến Nội Mông, đó
là người cháu ngoại của A Nhĩ Đát Hãn có tên là Triệt Thầm Hồng
Đài Cổ, sau khi ông nầy chinh phục Tây Tạng, ông lại quy y phật
giáo Tây Tạng. Chính Triệt Thầm là người cung thỉnh một vị
Lạt-ma danh tiếng của Tây Tạng là Khấu Ba Khắc Thực cùng về Mông
Cổ với ông. Minh Thần Tông, Vạn Lịch năm thứ tư (1576), Lạt ma
Khấu Ba Khắc Thực diện kiến Yêm Đát Hãn và khuyên ông quy y Lạt
ma giáo, Yêm Đát Hãn hứa sẽ thực hiện. Ngoài ra, năm Vạn Lịch
nguyên niên ( 1573), Yêm Đát Hãn đánh phá ven vùng Cáp Lạp Đỗ
Nhĩ Bá Đặc có bắt sống một số người Tạng, trong đó có Lạt ma A
Lý Khắc, ông nầy cũng khuyên Yêm Đát Hãn quy y Phật giáo.
Nhờ vậy mà Vạn Lịch năm thứ năm (1577), Yêm Đát Hãn phái chuyên
sứ vào Tây Tạng nghênh thỉnh đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ ba là
Tỏa Lãng Gia Mục Thố tuần tích Mông Cổ, và ban tặng ngài danh
hiệu “Thánh Thức Nhất Thiết Ngõa Tề Nhĩ Đạt Lai Lạt Ma”. Ông lại
vì đức Đạt Lai mà kiến tạo chùa tại thành Quy Hóa thuộc xứ Tuy
Viễn. Yêm Đát Hãn một đời chinh chiến, vậy mà ông vứt bỏ binh
nghiệp quy y đầu Phật, và nỗ lực dùng văn trị, và nghe theo sự
giáo hóa của đức Phật, tinh tấn làm việc thiện, nghiêm cấm bộ
chúng không được sát hại. Điều đó đánh dấu sự khởi đầu thịnh
hành của Hoàng giáo ở mạn nam Mông Cổ (Nội Mông). Đức Đạt Lai
đời thứ ba viên tịch, sau chuyển sinh làm Đạt Lai đời thứ tư, kế
vị với pháp hiệu là Vinh Đan Gia Mục Thố. Bấy giờ nhằm vào thời
tằng tôn của Yêm Đát Hãn là Đồ Cổ Long Hãn, nhân vì Đồ Cỗ Long
Hãn xuất thân từ giới quý tộc võ nghiệp nên ông được dân vùng
bắc mạn Mông Cổ (Ngoại Mông) hết sức yêu quý.
Khởi đầu cho việc Hoàng giáo có mặt ở ngoại Mông Cổ, trước tiên
phải nói đến công trạng của A Ba Đại Hãn. Ông là tằng tổ của Thổ
Tạ Đồ Hãn. Trong biểu văn của Thổ Tạ Đồ Hãn thuộc Khách Nhĩ
Khách bộ chép rằng: “Trong nước vốn chưa có Phật giáo, nhưng từ
lúc Tằng tổ ta bái yết đức Đạt Lai Lạt Ma, và được Ngài ban hiệu
cho tằng tổ ta là Ngoã Sát Lạt Tái Âm Hãn. Từ đó Phật giáo trong
nước mới ngày càng sáng rỡ như nhật tinh”. Trong cuốn “Mông Cổ
Cập Mông Cổ nhân” của Bao Tư Đắc Niết Phu (Pozdneyeff)thì chép:
“A Ba Đại Hãn là người Mông Cổ đầu tiên hoằng truyền Lạt ma giáo
tại Mông Cổ”. A Ba Đại Hãn cung thỉnh vị đệ tử của đức Đạt Lai
đời thứ ba là Đại Từ Mại Đạt Lý Hô Đồ Khắc Đồ đến trú tích tại
một ngôi chùa gần sông Đồ-lạp của bộ tộc Khách Nhĩ Khách để
tuyên dương Phật hóa. Đại Từ Mại Đạt Lý nhận được sự hoan hỷ và
kính ngưỡng cực lớn của người dân Mông Cổ. Nhân đó ông được A Ba
Đại Hãn tặng tôn hiệu là “Đại Từ Nặc Môn Hãn” hoặc “ Bác Thạc
Khắc Đồ Tề Nông”.
Lại nói bộ tộc Ách Lỗ Đặt ở tây Mông Cổ quy y Phật giáo, việc
nầy có khả năng là vào cuối đời nhà Minh. Vạn Lịch năm bốn mươi
bốn (1616), các Quân trưởng của bộ Ách Lỗ Đặt đều quy y Lạt ma
giáo; trong khi các địa khu khác gồm: Khoa Bố Đa, A Nhĩ Thái, U
Lê, Tháp Nhĩ Ba Cáp Đài, Thanh Hải v.v… cũng đều quy y Lạt ma
giáo. Trong số đó, con của Quân trưởng Ba Đồ Lỗ Hồn Đài Kiết
thuộc bộ Chuẩn Cát Nhĩ được cho xuất gia làm tăng. Quân trưởng
của các bộ đều cho một con trai đi xuất gia làm tăng lữ, vị Quân
trưởng nào không có con trai thì nuôi một dưỡng tử nam trong
cùng bộ tộc để cho xuất gia làm Lạt ma. Khách Nhĩ Đan Hãn của
Chuẩn Cát Nhĩ bộ cũng đã từng vào Tây Tạng làm Lạt ma, và được
đức Đạt Lai ban thưởng tôn hiệu là “Bác Thạt Khắc Đồ Hãn”. Sách
Vượng A Lạp Bố Đát cũng thuộc Chuẩn Cát Nhĩ bộ, noi theo Phá Lạp
Tạng Hãn vào Tây Tạng xuất gia làm Lạt ma và được đức Đạt Lai
ban tôn hiệu là “Bảo Quyền Đại Khánh Vương”. Về sau ông nầy kiến
lập chùa Cổ-Nhĩ-Tráp ở phía bắc sông Y-Lê để cúng dường, tăng lữ
của chùa có hơn sáu nghìn vị .
Phật Giáo Mông Cổ Với Triết Bố
Tôn Đan Ba.
Sự xuất hiện của Triết Bố Tôn Đan Ba (Rje-btsun-dam-pa-Chí Tôn
Bảo Vương), về phương diện lịch sử Phật giáo tại Ngoại Mông Cổ
mà nói, thì Triết Bố Tôn Đan Ba quả là một viên ngọc quý vô
cùng trọng yếu. Căn cứ theo danh xưng thì Triết Bố Tôn Đan Ba là
đệ tử của Tông Khách Ba đại sư, nhưng về mặt lịch sử thì ông có
liên hệ với phái Tước Nang của đại học giả Đa La Na Tha. Những
năm cuối đời ông du hóa ở vùng ngoại Mông. Về sau vị Đại Lạt Ma
là tổ thứ năm của phái Tước Nang trú tại Lạp Tát cải quy về phái
Cách Lỗ, trong khi đó Đa La Na Tha chuyển sinh thành Triết Mộc
Tôn Đạt Nhĩ Lạp Đáp của Hoàng giáo. Danh xưng Triết Bố Tôn Đan
Ba là chuyển âm của Triết Mộc Tôn Đạt Nhĩ Lạp Đáp.
Do đâu mà Triết Bố Tôn Đan Ba trở thành Khố Luân Hoạt Phật? Chế
độ Hoạt Phật khởi đầu là do Sách Vượng A Lạp Bố Đát thuộc bộ tộc
Chuẩn Cát Nhĩ, ông là người kiến tạo chùa để cúng tăng. Do vị
lãnh tụ của bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ đối địch lại triều nhà Thanh.
Do đó, đương thời triều Thanh cấm chỉ việc giao tiếp giữa Triết
Bố Tôn Đan Ba với Chuẩn Cát Nhĩ bộ, vì vậy nên Sách Vượng A Lạp
Bố Đát Hãn bèn lấy danh xưng là Tây Lặc Đồ, và mời bốn vị Đại
Lạt-ma chứng minh làm chủ trì. Từ đó, phàm hễ gặp vấn đề gì
trọng đại nghi nan, hoặc kế sách khẩn yếu ông đều vấn ý bốn vị
Đại Lạt-ma rồi mới quyết định, cũng từ đó thiết lập một hệ giáo
quyền với đầy đủ uy tín. Về sau do có sự bất hoà giữa bộ tộc
Chuẩn Cát Nhĩ và Khách Nhĩ Khách, nhân đấy Thanh Thánh Tổ phái
quân đến tiểu trừ, nhưng Thanh triều lại biểu lộ sự ưu đãi với
Phật giáo Mông Cổ. Với các Lạt-ma, nhà Thanh gia phong tước hiệu
như: Quốc sư, Thiền sư v.v… Đồng thời nhà Thanh còn cho khởi
công xây cất nhiều tự viện và tăng thêm sự phong tặng danh hiệu
Đại Lạt-ma, cho hưởng thêm nhiều đặc quyền.Lúc Đa La Na Tha du
hóa vùng biển cảnh của Ngoại Mông (vào thời của A Ba Đại Hãn. Do
đó, có thuyết nói Đa La Na Tha cũng tức là Đại Từ Mạt Đạt Lý).
Ông được bộ tộc Khách Nhĩ Khách hết sức kính ngưỡng và quy y. Bộ
tộc nầy có lập chùa tại Khố Luân. Lúc chuyển thế lại nhằm vào
đời vua Thánh Tổ nhà Thanh, và được thọ phong làm Triết Bố Tôn
Đan Ba Hô Đồ Khắc Đồ. Khang Hy năm thứ ba mươi (1691), Thanh
Thánh Tổ tuần hạnh (vua đi chơi) vùng biên cảnh Sát Cáp Nhĩ Đa
Luân Nặc Nhĩ, bấy giờ Triết Bố Tôn Đan Ba mới có dịp hội kiến
với vị hoàng đế nhà Mãn Thanh. Theo Ba Đức Lôi (Badeley) thì
Triết Bố Tôn Đan Ba sinh vào năm Sùng Trinh thứ tám (1635) đời
vua Minh Trang Liệt Đế và tịch vào năm Ung Chính nguyên niên
(1723), đời vua Thanh Thế Tông. “Đại Thanh Hội Điển Sự Liệt”
cũng chép: “Năm Khang Hy ba mươi hai phong Triết Bố Tôn Đan Ba
Hô Đồ Khắc Đồ làm Đại Lạt-ma, cho lập chùa ở Khố Luân thuộc bộ
tộc Khách Nhĩ Khách, rộng truyền phái Hoàng giáo tại đây”.
Trong khoảng thời gian từ vua
Khang Hy đến vua Càn Long, Triết Bố Tôn Đan Ba có phần nào nhận
sự ưu ngộ của triều đình nhà Thanh. Khang Hy năm thứ ba mươi
(1691), sau khi gặp Thánh Tổ cho đến năm Khang Hy thứ bốn mươi,
trong khoảng mười năm liền, năm nào ông cũng nhận được chiếu của
vua Thanh vời đến Bắc Kinh, mỗi lần hội kiến lần nào ông cũng
đều nhận được phẩm vật do Thánh Tổ ban tặng. Khi tiếp xúc, giữa
ông với vua Thanh không có sự cách ly. Khang Hy năm sáu mươi mốt
(1722), ông tuy thân suy, bệnh nặng nhưng vẫn cố gắng làm đúng
lời giao ước với Thanh Thánh Tổ từ lúc tuổi còn bảy mươi, nay
tuổi đã chín mươi là phải gặp nhau. Tiếc rằng khi ông đến kinh
kỳ thì Thánh Tổ đã băng hà. Ông yết kiến vua ở Tử-cung. Truy
điếu lại những việc giữa hai người khi vua còn sinh tiền; hai
năm sau đó, năm Ung Chính nguyên niên (1723), ông chưa kịp về
lại Khố Luân thì viên tịch tại một ngôi chùa của Hoàng giáo ở
Bắc Kinh.
Vua Thanh Thế Tông–Ung Chính vốn là một tín
đồ thuần thành của Phật giáo, nên đối với Triết Bố Tôn Đan Ba-vị
Đại Lạt-ma của Hoàng Khảo Thánh Tổ, vua càng trân trọng quý kính
vô cùng. Ung Chính dùng lễ rất hậu để tiếp đãi. Có chuyện trùng
hợp rất lạ là Thánh Tổ thăng hà nhằm ngày giáp ngọ, Triết Bố Tôn
Đan Ba cũng viên tịch ngày giáp ngọ, khiến người trong thiên hạ
cho rằng cả hai đều là bậc phi thường! Chuyện cũng lạ là không
thấy Lý Thẩm Viện cản ngăn việc vua Ung Chính phá lệ, đó là việc
nhà vua đích thân đến trước kim quan của Triết Bố Tôn Đan Ba
hành đại điếu lễ bằng cách treo màn cúng trà, và xưng hiệu là
“Khải Pháp Triết Bố Tôn Đan Ba Đại Lạt Ma”, lại còn đặc phái đại
thần hộ tống di cốt của Triết Bố tôn Đan Ba về Khố Luân.
Việc kiến tạo tự viện ở Khố Luân
xẩy ra vào năm Khang Hy thứ năm (1666), còn Triết Bố Tôn Đan Ba
thì thường vãng lai trác tích tại Khố Luân. Nhưng có một việc
được khởi sự vào năm Càn Long thứ sáu (1741). Năm Càn Long hai
mươi hai (1757), Triết Bố Tôn Đan Ba sáng lập Cao đẳng tôn giáo
học viện Trác Ni Đặc tại Khố Luân. Học viện hình thành một số
học bộ, mỗi học bộ được chia ra thành nhiều cấp học. Đại để là
thiết lập bốn học bộ:
1.Hiển giáo học bộ–một ngành học chuyên
nghiên cứu Phật giáo.
2.Mật giáo học bộ-chuyên nghiên cứu áo nghĩa
Phật giáo Tây Tạng.
3.Thiên văn học bộ-chuyên nghiên cứu các
hiện tượng tinh tú và khí hậu tự nhiên.
4.Y dược học bộ-chuyên nghiên cứu y thuật và
cách sử dụng dược liệu.
Hai học bộ 3 và 4, nguyên trước đây là chức
năng của Tát Mãn giáo. Đến thời nầy được Phật giáo hóa thành
phương tiện giúp đời.
Khi học xong chương trình, tăng
sinh phải qua một cuộc khảo thí rất chuẩn mực. Học vị tốt nghiệp
phải được Triết Bố Tôn Đan Ba- là tước hiệu (danh từ chung) chứ
không phải riêng chỉ vị Triết Bố Tôn Đan Ba như lúc ban đầu –
chuẩn nhận. Do cách tổ chức tu học có tính quy mô và sư phạm như
vậy nên Khố Luân trở thành Trung tâm chính trị, tôn giáo của
Ngoại Mông Cổ. Về mặt giáo dục, thì đây đúng là thánh địa của
Lạt-ma giáo tại Ngoại Mông. Trung tâm nầy thu hút tăng lữ khắp
nơi trong xứ Mông Cổ quần tụ về tu học.
Theo “Tuy Phục Kỷ Lược” của Tùng
Quân thì: “Sở dĩ gọi Khố Luân là Thành-quyển, vì ở đó có quá
nhiều Lạt-ma làm “cây” che chắn, nên gọi là Khố Luân” (ý nói có
quá nhiều Lạt-ma, và mọi quyền về kinh tế, chính trị, tôn giáo
đều do Lạt-ma nắm giữ.Giống cái chuồng bị vây bởi rất nhiều cây)
Lúc vua Càn Long vừa tức vị,
Triết Bố Tôn Đan Ba Hô Đồ Khắc Đồ có đến kinh thành yết kiến, và
ông được vua Càn Long ban cho hai vạn lạng bạc và “Huỳnh Sắc Vi
Kiều” (?). Càn Long năm thứ mười chín (1754), cho thiết lập
Thương Trát Đặc Ba, đặt ra chức Ty Sa Tỉ Nạp Nhĩ và một số chức
khác để trông coi “tục sự”. Ít lâu sau cho lập Trú Khố Luân Biện
Sự Đại Thần, nhằm hạn chế quyền lực của vị Hoạt Phật, cũng là để
phòng ngừa thế lực vị Hoạt Phật khi trở nên quá mạnh.
Thanh triều lệnh cho Khố Luân
hướng về Tây Tạng mà phỏng tầm Hô Tất Lặc Hãn. Thời vua Gia
Khánh tìm được vị Triết Bố Tôn Đan Ba đời thứ tư, thời vua Đạo
Quang tìm được vị đời thứ năm. Đến thời vua Hàm Phong, tuy không
còn gắn bó mật thiết với Triết Bố Tôn Đan Ba như thời Khang Hy,
nhưng cũng không gây tổn hại đến những gì tốt đẹp mà các đời vua
trước đã gây tạo.
Vào đời Thanh Đức Tông, Quang Tự
năm thứ tư (1878), tình hình có biến động, vị đại thần của Thanh
triều tại Khố Luân là Chí Cương –ông nầy từ chối việc khi đối
diện với Triết Bố Tôn Đan Ba thì phải lạy ba lạy và khấu đầu
chín lần. Ngược lại, ông ra lệnh cho vị Triết Bố Tôn Đan Ba đời
thứ tám (1870-1924) phải đứng lên mỗi khi nghinh tiếp vị Biện Sư
Đại Thần của triều đình.
Kết quả, do vị Mông Cổ Biện Sự
Đại Thần vừa mới thông hiếu với Thanh triều, do đó nhà Thanh
buộc Chí Cương phải nhượng bộ. Quang Tự năm hai mươi hai (1896),
vị Biện Sự Đại Thần của Mãn Châu trú tại Khố Luân trở nên tế nhị
trong cung cách ứng xử hơn, nhưng vẫn yêu cầu Triết Bố Tôn Đan
Ba phải đứng lên mỗi khi có sự tiếp xúc với nhau giữa hai người.
Cuối đời nhà Thanh, triều đình
trở nên hủ bại, và với Phật giáo lại càng trở nên lạnh nhạt.
Chẳng hạn năm Quang Tự thứ hai mươi bốn (1908), vị Biên cương
đại thần của hai tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam là Triệu Nhĩ Phong
phụng chỉ đi kinh lược vùng biên cảnh, nhân đấy ông phá hoại sức
mạnh của Lạt-ma giáo, đến độ ông cho quân Thanh xé lấy bìa cứng
của những quyển kinh để làm đế giầy. Cũng cùng năm nầy, đức Đạt
Lai đời thứ mười ba chống lại Bắc Kinh, buộc vị đại thần nhà
Thanh mỗi khi tiếp kiến hoặc ban yến v.v… phải quỳ mà bái lạy
ngài. Vua Thanh là Phổ Nghi, Tuyên Thống năm thứ hai (1910),
Triệu Nhĩ Phong xuất quân tiến chiếm Lạp Tát, bức hại đức Đạt
Lai, buộc ngài phải lưu vong sang Ấn Độ. Đồng thời nhà Thanh
cũng tước bỏ danh hiệu Đạt Lai của ngài. Cùng lúc tại Khố Luân,
Đức Nghĩa Sũng Mộc Phô bị thương, nhân đấy vị Biện Sự Đại Thần
của Thanh triều tại Khố Luân là Tam Đa, không lý gì đến Lạt-ma,
cứ tiến hành việc nghiêm phạt người của Khố Luân. Khiến Triết Bố
Tôn Đan Ba phải diện kiến Tam Đa để yêu cầu sớm ổn định tình
hình. Tam Đa không đồng ý lại còn quở trách và đòi bồi thường
tổn hại cho Mộc Phô, đem phạm nhân ra trước Lý Thẩm Viện xử
phạt, đồng thời tấu thỉnh triều đình cách chức các vị Lạt-ma cao
cấp đang nắm giữ chưởng quản Tục-sự và Chủ-kế.
Kết quả: Nhà Thanh bị diệt vong,
năm Dân Quốc nguyên niên ( 1912), Ngoại Mông Cổ liền tuyên bố
độc lập. Vị Triết Bố Tôn Đan Ba ở Khố Luân tự lập lên làm hoàng
đế, thành lập nhà nước Đại Mông Cổ, lấy niên hiệu là Cộng Đới.
Phật giáo và Ngoại Mông Cổ độc
lập
Năm Dân Quốc nguyên niên (1912),
đại tổng thống tuyên bố giúp đỡ và ủng hộ các vị vương công Trát
Tát Khắc của Mông Cổ. Người Mông Cổ nào có công với đại cuộc thì
chiếu chức vụ hiện hữu mà thăng lên một cấp, còn như chức Hãn và
Thân Vương vì không có cấp nào cao hơn, thì phong chức cho con
hoặc cháu của các vị ấy. Dân quốc năm thứ tư (1915), tháng sáu
nền độc lập của Ngoại Mông Cổ bị thủ tiêu, chính phủ Bắc Kinh
liền phái sứ thần đến Khố Luân sách phong Triết Bố Tôn Đan Ba
làm “Ngoại Mông Cổ Bác Khắc Đa Triết Bố Tôn Đan Ba Hô Đồ Khắc Đồ
Hãn”. Trước khi Ngoại Mông Cổ tuyên bố độc lập, thì Triết Bố Tôn
Đan Ba được tấn phong tước vị Vương Công, nay chính phủ Bắc Kinh
cũng cho ông truy nhận lại tước vị nầy. Về chính trị, chính phủ
Ngoại Mông được tự trị. Đây là thời kỳ mà Phật giáo tại Ngoại
Mông phát triển cực thịnh.
Đến năm Dân quốc thứ tám (1919),
Triết Bố Tôn Đan Ba và Vương Công của Ngoại Mông tự yêu cầu
chính phủ Bắc Kinh triệt tiêu chế độ tự trị ở Ngoại Môn. Chính
phủ Dân quốc liền phái Từ Thọ Tranh làm Tây Bắc Trù Biên Sứ
trông coi mọi việc giao hảo ở Ngoại Mông. Người kế nhiệm Từ Thọ
Tranh là Trần Nghị. Dân quốc năm thứ mười(1921) tháng hai, người
Bạch Nga là Ân Cầm Ba Long công hãm Khố Luân nhằm phò giúp Triết
Bố Tôn Đan Ba lên làm quân vương ở Ngoại Mông Cổ. Việc nầy khiến
cho vùng Ngoại Mông không do đâu mà được tự chủ và có được nền
độc lập lần thứ hai. Nhưng người của Quốc Dân Đảng ở Ngoại Mông
là Tô Ái Ba Đồ Nhĩ nổi lên đánh lại Ân Cầm nhờ có sự trợ lực của
Hồng quân do Tô-liên yểm trợ. Cũng trong năm nầy, tháng bảy Hồng
quân tấn công Khố Luân và lập lên “Mông Cổ Quốc Dân Chính Phủ”.
Lại cũng lấy Triết Bố Tôn Đan Ba làm vị nguyên thủ.
Năm Dân quốc mười ba (1924), vị Triết Bố Tôn
Đan Ba đột ngột viên tịch. Sau sự cố nầy, Ngoại Mông Cổ bước vào
hệ thống xã hội chủ nghĩa. Chế độ nầy cải tổ chính phủ thành chế
độ “Mông Cổ Nhân Dân Cộng Hòa Quốc”. Phế bỏ chế độ Chính–Giáo
hiệp nhất, cấm chỉ việc truy tìm sự chuyển sinh của Triết Bố Tôn
Đan Ba như trước, và triệu tập quốc dân hội nghị để chế định
Hiến pháp, và tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa. Bãi bỏ tất cả
mọi đặc quyền của các tước vị như: Hãn, Vương Công, Đài–Kiết, Hô
Đồ Khắc Đồ, Hô Tất Lặc Hãn v.v… Không để các Lạt-ma tham gia
hoạt động chính trị, và thanh niên từ mười tám tuổi trở lên
không được xuất gia làm tăng. Dân quốc năm thứ mười bảy (1928),
Mông Cổ nhân dân cách mạng đảng tổ chức đại hội lần thứ bảy, ra
nghị quyết tịch thu tất cả tài sản của các Chùa, cưỡng bức tăng
lữ hoàn tục. Dân quốc năm hai mươi hai (1931), nhà nước xã hội
chủ nghĩa Mông Cổ mới đưa ra chính sách ôn hoà đối với Phật
giáo.
Hiến pháp của Ngoại Mông Cổ có 81 điều, trong
đó có một điều quy định: “Người dân có quyền tín ngưỡng tôn
giáo, và có quyền phản đối tín ngưỡng tôn giáo”. Chính điều quy
định nầy khiến người dân Ngoại Mông Cổ ngày càng ít thỉnh mời
các tăng lữ tụng kinh cầu nguyện, cũng như ngày càng cạn dần
những người nhiệt thành với đức tin tôn giáo. Đồng thời người tự
nguyện xuất gia cũng giảm.
Do đó, mà vào năm Dân quốc thứ
sáu (1917), tăng lữ phật giáo ở Ngoại Mông Cổ có đến 116.577 vị,
đến năm Dân quốc hai mươi mốt (1931) con số nầy giảm xuống còn
82.000 vị.
Trên thực tế, chính phủ xã hội
chủ nghĩa Mông Cổ không thể coi thường tiềm lực của Phật giáo ở
chính đất nước họ; do đó mà năm 1964, chính phủ Ngoại Mông Cổ cử
một phái đoàn đại biểu Phật giáo đến Ấn Độ tham dự đại hội “Thế
Giới Phật Giáo Đồ Liên Nghị Hội” lần thứ bảy
Nội Mông Cổ Và Chương Gia Hoạt
Phật.
Chương–Gia (Lcan-skya) là danh hiệu dùng để
tôn xưng vị lãnh tụ tôn giáo ở mạn nam Mông Cổ (Nội Mông).
Chương–Gia là người đầu tiên khai mở nền Phật giáo Nội Mông,
dường như Chương–Gia cũng đồng thời với Triết Bố Tôn Đan Ba của
Ngoại Mông. Nội Mông có 49 tộc người Mông so với Ngoại Mông có
ba bộ với 39 tộc người Mông. Thời vua Thanh Thánh Tổ còn tại vị
có chế định; các vương công và các tước hiệu khác ở Ngoại Mông
khi được vua ban ngân lượng, vải lụa như thế nào, thì các vị
Quân trưởng của Nội Mông cũng y như thế mà ban tặng.
Nhờ thỉnh được vị Chương–Gia Hô Đồ Khắc Đồ là
đệ tử của đức Đạt Lai đời thứ năm đến kiến lập chùa Vị- Tông
(còn gọi là chùa Đông miếu hoặc Hoàng tự) ở Đa Luân Nặc Nhĩ, và
đồng thời cũng để truyền bá Phật giáo ở cả Nội và Ngoại Mông Cổ.
Chương Gia là người thuộc tỉnh Thanh Hải, người đời gọi ông là
A-Cát Vượng La Bố Tang Khước Lạp Đan. Ông vào Tây Tạng tu học,
nhờ đó được thân cận đức Đạt Lai đời thứ năm, và nhiều vị học
giả nổi tiếng. Ông cầu học giới luật cùng các Pháp môn khác, về
sau mới trở thành vị Chương–Gia Hô Đồ Khắc Đồ đời thứ mười bốn.
Khang Hy năm hai mươi sáu (1687), ông đến Yên Kinh yết kiến
Thanh Thánh Tổ. Khang hy năm bốn mươi bốn (1705), ông được ban
Kim Ấn và tước hiệu “Quán Đảnh Phổ Chiếu Quảng Từ Đại Quốc Sư”.
Tháng giêng, Khang Hy năm thứ ba mươi bảy
(1698). Tháng giêng, Khang Hy năm bốn mươi mốt (1702), tháng
hai, Khang Hy năm bốn mươi chín (1710), vua Thánh Tổ nhà Thanh
ba lần đích thân đến Ngũ Đài Sơn để trông coi việc trùng tu chùa
Đại Văn Thù, và chùa nầy trở thành “Bổn Sơn” của Lạt ma giáo ở
Nội Mông Cổ. Thanh Thế Tông, Ung Chính năm thứ năm (1727), vua
phát mười vạn lượng vàng, và lệnh cho Chương Gia Hô Đồ Khắc Đồ
đời thứ mười lăm kiến lập chùa Thiện–Nhân. Chùa ở về phía tây
nam chùa Vị-Tông (nên còn gọi là Tây miếu hoặc Thanh Tự). Càn
Long năm thứ sáu (1741), vua Thanh Cao Tông lệnh cho Chương Gia
đời thứ mười lăm và Ban Thiền đời thứ bảy cùng nhiều vị dịch giả
khác, đem bộ phận Đan Châu Nhĩ của Tây Tạng Đại Tạng Kinh xem có
phần nào chưa dịch ra Mông Cổ ngữ thì hãy dịch cho hoàn bị. Đồng
thời vua xuống lệnh khắc in và phổ biến.
Càn-Long năm hai mươi ba (1758), vua lại lệnh
cho Chương Gia đời thứ mười lăm và Trang Thân Vương cùng các vị
dịch giả hãy tuyển định thành một bộ “Mãn, Hán, Mông-Cổ,
Tây-Phồn Hiệp Bích Đại Tạng Toàn Chú” gồm có 88 quyển, cùng với
bộ “Đồng Văn Vận Thống” gồm 08 quyển.
Trải qua nhiều đời, các vị Chương Gia Hô Đồ
Khắc Đồ luôn hướng về triều Thanh mà giữ lòng trung thành, không
bao giờ có ý dời đổi. Những trú xứ mà các vị Chương Gia thường
trác tích là ở Đa Luân, Bắc Kinh và Ngũ Đài Sơn. Ung Chính khi
còn “tiềm để” đã từng tham học giáo nghĩa Phật pháp với Chương
Gia, và tự nói ông đối Thiền đã có được cơ chỉ, đó là nhờ sự trợ
duyên của Chương Gia đời thứ mươi lăm. Những năm vua Khang Hy
tại vị, Ung Chính luôn tinh tấn tham thiền, ngẫu nhiên ông hốt
ngộ, nhân đó cóù vị thiền tăng hiệu Tánh Âm ca ngợi ông có được
sự đại ngộ sâu xa, ông không dám tin lời tán thán của vị thiền
tăng. Ông bèn đến hỏi Chương Gia, Chương Gia bảo không phải vậy,
và khen Ung Chính tiến bộ rất nhiều trong tu thiền. Do đó, khi
lên ngôi Ung Chính hết mực kính ngưỡng Chương Gia, ông tán thán
Chương Gia là “bậc siêu nhân tái sinh, độ đại thiện tri thức,
bậc phạm hạnh tinh thuần, viên thông vô ngại, lúc bờ cõi thanh
nhàn, ta hơn mười lần tiếp trà với ngài, nhân đó mà đắc đại
phương tiện, liễu giải được cứu cánh của đạo thiền”. (Ngự Tuyển
Ngữ Lục, quyển 18). Trong “Hậu Từ Văn” ông lại nói: “Chương Gia,
người có tư chất linh dị, phù nghiệm hiển nhiên, khiến giáo pháp
lưu hành, giảng dạy đồ chúng, ngày thêm quần tụ” (Ung Chính Đế
Thiện Nhân Tự Ngự Chế Bi).
Vị Chương Gia đời thứ mười chín viên tịch tại
Đài Bắc–Đài Loan, năm 1957. Lúc còn là đồng ấu Ngài đã tỏ ra
linh dị. Sau khi đến Đài Loan, lúc nhàn rỗi Ngài tự thuật với
các pháp sư người Hán rằng; lúc tám nước liên minh đánh Bắc
Kinh, bấy giờ Từ Hy Thái Hậu hồn kinh phách tán không biết phải
hành xử như thế nào, bèn cho vời vị Chương Gia Hoạt Phật (tuy
lúc ấy tuổi còn ấu niên) đến hỏi xem nên phải làm gì. Chương Gia
chỉ đường, nhờ đó Từ Hy chạy trốn thóat hiểm. Có lần Từ Hy Thái
Hậu mắc chứng đau bụng lâu mà không ngớt, liền yêu cầu vị ấu
niên Chương Gia Hoạt Phật dùng tay đè lên bụng Thái Hậu, lúc bàn
tay Kim Cang của vị Chương Gia Hoạt Phật vừa ấn lên bụng, lập
tức cơn đau của Thái Hậu mất biến.
Khi triều Thanh kết thúc, Viên Thế Khải một
lần nữa lại dùng mỹ hiệu mà vua Khang Hy đã dùng để ban tặng
Chương Gia là “Quán Đảnh Phổ Chiếu Quảng Từ” còn thêm bốn chữ
“Hoằng Tế Quang Minh”. Về sau, Từ Thế Xương lại tặng thêm bốn
chữ “Triệu Nhân Xiển Hóa”. Sau đó còn ban tặng đức hiệu “Hộ Quốc
Tịnh Giác Phụ Giáo Đại Sư”, và Ngài cũng từng đảm nhiệm nhiều
chức vụ trọng yếu. Tóm lại, Chương Gia đời thứ mười chín là
người có đủ mọi vinh, suy trước lúc viên tịch.
TIẾT III. CHẾ ĐỘ PHẬT GIÁO MÔNG –TẠNG
Thứ Hạng Lạt-Ma:
Giáo Đoàn Lạt-Ma Mông-Tạng.
Từ đời nhà Thanh, do vấn đề chính trị, tôn
giáo hỗn hợp mới tạo nên giáo đoàn Lạt-ma Mông Tạng và được
chia ra nhiều thứ hạng. Riêng về danh xưng cũng rất phức tạp,
xin đơn cử mấy thứ hạng sau:
(1)- Phân loại theo chức hàm, có tám loại;
1-Chuyển Thế Hô Đồ Khắc Đồ, 2-Chuyển Thế Nặc Môn Hãn, 3- Hô Đồ
Khắc Đồ, 4- Nặc Môn Hãn, 5-Ban Đệ Đạt, 6-Kham Bố, 7-Xước Nhĩ
Tề, 8- Hô Tất Lặc Hãn.
(2) phân loại theo nhậm chức có mười bảy:1
-Quốc sư, 2-Thiền sư, 3-Trát Tát Khắc Lạt Ma, 4-Phó Trát Tát
Khắc Đạt Ma, 5- Trát Tát Khắc Đạt Ma, 6- Phó Đạt Lạt Ma, 7- Phó
Đạt Lạt Ma, 8- Hư Hàm Đạt Lạt Ma, 9-Tô Lạp Lạt Ma, 10-Thương Tát
Đặc Ba, 11-Đức Mộc Tề, 12- Cách Tư Qui, 13-Cách Long, 14-Ban Đệ.
Chức hàm tính từ Trát Tát Khắc Lạt Ma trở lên thì dùng Ấn, từ Tô
Lạp Lạt Ma trở xuống thì dùng Trác (thẻ), và từ Đức Mộc Tề trở
xuống mới được phép có đồ chúng. Lại nữa, tại các châu như:
Thiểm (huyện Thiểm thuộc tỉnh Hà Nam), Cam (huyện Trương Dịch
thuộc tỉnh Cam Túc), Thao (huyện Lâm Đàm thuộc tỉnh Cam Túc),
Dân (thuộc huyện Cũng-Xương thuộc Cam Túc) thì tuỳ hoàn cảnh mà
đặt định. 15-Đô Cang, 16-Tăng Cang, 17-Tăng Chánh. Các chức nầy
đều được nhận Trác(thẻ).
(3) Tuỳ theo nơi cư trú, được phân làm bốn
loại: 1-Trú Kinh Lạt ma, tức các Lạt ma trú tích tại các chùa
như: Nhiệt Hà, Thịnh Kinh (nay là Thẩm Dương), Đa Luân Lặc Nhĩ,
Ngũ Đài Sơn. Ở những nơi nầy phải là các Lạt ma có chức hàm như,
Chương Gia Hô Đồ Khắc Đồ, Mãn Châu Nhĩ Hô Đồ Khắc Đồ. 2-Tây Tạng
Lạt ma:gồm có Đạt Lai Lạt Ma, Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Ni v.v…
3-Tây Phồn Lạt ma: gồm các Lạt ma ở các chùa thuộc đất Phồn, như
: Lãng-Trang, Tây Ninh, Mộc Lý, Sạ Nha, Sát Mộc Đa, Loại Ô Tề
v.v…4-Du Mục Lạt ma: tức các vị Lạt ma ở các địa khu du mục như:
Quy Hóa Thành, Thổ Mặc Đặc, Sát Hiệp Nhĩ, Tích Tứ Đồ Khố Luân,
49 kỳ ở Nội Trát Tát Khắc, Khách Nhĩ–Khách, A–Lạp Thiện v.v….
Loại 1 và 2, phải xuất thân từ chức hàm Hô Tất Lặc Hãn, loại 3
và 4, không nhất thiết phải xuất thân từ Hô Tất Lặc Hãn.
(4) Các Lạt-ma tuỳ theo tự viẹân cư trú, và
được chia thành sáu loại: 1-Các vị tốt nghiệp từ Hiển Giáo Học
Bộ thì có: Lan Chiên Ba Lạt ma, Cát Bố Sở Lạt ma, Hiệp Nhĩ Ba
Lạt ma. 2- Các vị tốt nghiệp từ Bí Mật Học Bộ thì có: Tạp Khắc
Lâm Ba Lạt ma. 3-Các vị tốt nghiệp từ Y Học Bộ thì có: Mãn Lan
Ba Lạt ma, Mãn Sa Lạt ma. 4-Các vị tốt nghiệp Thời Luân Học Bộ
thì có: Tề Lâm Ba Lạt ma. 5-Các vị Bộ trưởng của bốn bộ thì có:
Tô Ni Đặt Lạt ma, Cầu Thứ Đặc Lạt ma, Mãn Ba Lạt ma, Điện Cát
Nhĩ Lạt ma. 6-Trên bốn bộ có Tổng Bộ trưởng của các bộ Lạt ma
với tên gọi là Tây Lôi Lạt ma. Trực thuộc Tây Lôi Lạt ma, còn có
Đạt Lạt ma và Phó Đạt Lạt ma.
(5) Những Tăng, Ni bình thường cũng được chia
thành bảy loại: 1-Cách Long, 2-Ban Đệ, 3-Học Nghệ Ban Đệ ,
4-Tăng Lữ của Đài Khiết Nguyện, 5-tuỳ vào số đồ đệ mà Lạt ma có
được chức hàm hoặc nhậm chức hàm, 6-Ô Ba Thập, 7-Sư nữ được gọi
chung là Tề Ba Hản Sát.
Cách tổ chức Tự Viện rất hiện đại của Phật
giáo Tây Tạng.
Hiện nay bên trong các ngôi đại tự viện
của Tây Tạng được chia thành nhiều Trung bộ học viện độc lập, và
tên gọi của học viện là Trát Thương; trong mỗi Trung bộ được
chia ra nhiều Tiểu bộ, và gọi là Khương Thốn. Mỗi ngôi đại tự
đều chọn một nơi thích đáng ở trung tâm để thiết lập Tổng điện –
đây là nơi mà toàn thể tăng chúng trong chùa tập trung để tụng
kinh vào giờ công phu khuya. Mỗi Trung bộ cũng có một Điện. Điện
là nơi để tất cả tăng chúng trong bộ tập trung tụng kinh vào giờ
ngọ; mỗi tiểu bộ cũng có một Điện, Điện nầy được bao quanh bởi
nhiều tăng phòng. Ở giữa Điện xây một Đan Trì. Mỗi Trung bộ đều
có trường sở dùng làm nơi giảng kinh và biện luận. Chùa Triết
Phong được chia thành bảy Trung bộ, chùa Sắc Lạp có bốn Trung
bộ, chùa Cam Đan có hai Trung bộ.
Chức sự trong chùa gồm có hai loại:
1-“Cơ Tự” là người quản lý toàn bộ tài sản
của chùa, chữ Cơ Tự có nghĩa là tổng quản lý. Có Chánh và Phó Cơ
tự. Cạnh đó còn có nhiều người trợ lý cho Chánh, Phó Cơ tự. Họ
là những người chuyên về trông coi, lo liệu mọi sinh kế trong
chùa, nhưng không chịu trách nhiệm về oai nghi của chúng tăng.
2-“Nghĩa-Ngạc” là người chịu trách nhiệm về
oai nghi của tất cả chúng tăng của chùa. Nghĩa Ngạc giống như vị
Thủ tọa của Phật giáo Trung Quốc vậy. Đây là chức vụ có quyền
tối cao đối với mọi sinh hoạt trong chùa. Có Chánh, Phó Nghĩa
Ngạc, cùng nhiều người trợ lý. Vị Duy-Na thì quản về giờ giấc,
thời khóa tụng niệm nơi đại điện; vị Lảnh chúng phụ trách việc
tụng kinh của đại chúng, nhưng không chịu trách nhiệm về oai
nghi.
Chức sự của mỗi Trung bộ lại được phân làm
ba:
1-Kham Bố-tức vị Trú trù. Vị nầy phụ trách
giáo dục tăng chúng trong một Trung bộ, cũng vừa là Giáo Thọ Sư
và Giáo Giới Sư trông coi về oai nghi của đại chúng. Khi ở Biện
luận trường, thì vị Kham Bố làm chủ trì. Kham Bố chịu trách
nhiệm giao tiếp với chính phủ về mọi Phật sự của chùa. Do đó,
Kham Bố là chức vị mà nếu không phải là người chân tu và thực
học thì không thể đảm trách. Trường hợp khi có nhân duyên đặc
thù thì lấy chức vị Cách Tây sung vào. Mỗi Trung bộ suy cử một
vị Kham Bố, và một số vị trợ lý.
2-Đương Gia, mỗi Trung bộ có một số vị
Đương-Gia với nhiều trợ lý. Các vị nầy phụ trách việc quản lý
tài sản, cũng như lo việc kinh doanh, họ là những người chi phối
mọi chi dùng trong một Trung bộ.
3-Củ-Sát, tiếng Tạng gọi là “Cách quả”
(kẻ đôn đốc mọi người làm điều thiện). Củ-Sát là vị giám đốc oai
nghi của chúng tăng khi ở nội điện cũng như lúc ở Biện luận
trường. Những vị là Phổ thông tăng đều có thể sung vào chức vị
Đương Gia và Củ-Sát, vì không cần phải có học vị Cách Tây.
Tại các tiểu Trung bộ cũng có
những vị giống như ở Trung bộ. Duy có vị chưởng quản oai nghi
của tăng chúng thì có tên là “Khương Thôn Cách Ngạch”. Ý nói đây
không phải là vị đạo sư mới đến trong năm nay của Tiểu trung bộ.
Phần lớn các chức vị trên đều tuỳ vào niên hạn mà họ đã tu học
tại chùa. Người xuất gia tại Tiểu trung bộ, sau khi nhận chức vị
Khương Thôn Cách Ngạch mới được tiến vào Lão học chúng, mới được
Yết ma (hội nghị) về các Phật sự lớn nhỏ trong Tiểu trung bộ
của mình, mới được quyền phát biểu ý kiến. Các tân học chúng mới
đến không được phép bình nghị cũng như tham gia hội nghị.
Giáo Dục Và Khảo Thí.
Việc giáo dục và khảo thí tăng lữ
được chia làm hai loại:
I. Chuyển thế tục nhiệm: Cần có sự
tuyển định Linh-nhi để xác định xem Linh-nhi đó có phải là Đạt
Lại Lạt Ma chuyển sinh hay không. Việc tuyển định do các vị Hô
Tất Lặc Hãn hoặc Hô Đồ Khắc Đồ đảm trách. Một khi sự tuyển định
được xác nhận, sau đó mới cử hành lễ đăng quang cho vị Linh nhi
là Đại Lai Lạt Ma chuyển sinh. Đồng thời cử tuyển một vị Đại Lạt
Ma có học đức khiêm-tôn làm thầy cho Linh nhi, cạnh đó cũng chọn
lấy một số vị có học tài làm phụ tá cho vị Đại Lạt-ma để lo việc
giáo dục Linh-nhi. Hàng ngày Linh-nhi vẫn phải học kinh điển và
chấp tác như các tăng lữ phổ thông, nhưng về sinh hoạt có phần
phong phú hơn; như có người trợ giúp trong việc nghiên cứu, việc
giảng biện, so với phổ thông tăng thì nhân duyên đầy đủ và thuận
lợi hơn. Đủ hai mươi tuổi Linh nhi mới được thọ cụ túc giới-Tỳ
kheo giới. Sau khi thọ giới Tỳ kheo, Linh nhi phải vượt qua cuộc
khảo thí học vị Cách Tây, thì mới chính thức được hành xử chức
vụ và quyền hạn đã có từ kiếp trước.
II .Khảo thí tấn nhậm: Đây là chế độ
của các ngôi đại tự viện. Các vị là Phổ thông tăng, trước phải
học thông Hiển giáo và phải được khảo thí để 1ấy học vị Cách
Tây. Khi đã có học vị Cách Tây mới được tiến nhập Cử-Ba- chuyên
nghiên cứu Mật pháp. Một khi được sung vào các chức vị như
Củ-Sát, Cử-Ba sau đó mới được thăng làm “Kham Bố Cử Ba”. Trong
các chức vị, Kham bố là tối tôn. Khi được chức vị Kham Bố Cử Ba
mới được thăng lên làm Pháp Vương (toàn bộ chỉ có hai vị). Từ
chức vị Pháp Vương mới được thăng lên làm tọa chủ chùa Cam- Đan,
gọi là “Cam Đan Trì Ba”. Phải trải qua các giai đoạn như thế mới
xứng là truyền nhân của đại sư Tông Khách Ba; tức phải do khảo
thí mà lần lượt thăng nhậm các danh vị tối cao và tối tôn.
Thực ra khi đã được tiến nhập Cử Ba để học
Mật pháp, lại cũng chia thành hai loại.
1. Các vị chưa từng chịu khảo thí để lấy học
vị Cách Tây bởi ba ngôi đại tự, nhưng các vị nầy trước đó đã
từng theo học và tu tập với một vị Sư trưởng và đã học xong “Tập
Mật Kim Cang Đại Giáo Chủ Kinh” và kinh “Nghi quỷ”, thậm chí là
thuộc lòng, nhưng phải đợi khi nào nhân số Cử Ba của ba ngôi đại
tự bị khuyết thì mới khảo thí để bổ khuyết. Cử Ba cũng có hai
loại: Thượng Cử Ba – tức Cử Ba của ba ngôi đại tự. Hạ Cử Ba-tức
Cử Ba trực tiếp tiến nhập. Tính luôn cả Thượng, và Hạ Cử Ba chỉ
có một nghìn vị, vì số lượng mỗi loại Cử Ba được giới hạn ở con
số năm trăm vị. Sau khi được tiến nhập, trong năm năm đầu phải
chấp tác mọi việc trong chùa trong cương vị của một Sa-di thừa
sự các Tỳ kheo, như nấu cơm, xách nước v.v… chẳng hạn. Đến năm
thứ sáu mới được thọ giới Tỳ kheo nhưng vẫn còn chấp sự của một
Sa-di. Hạng Cử Ba nầy lấy việc học tập Mật bộ Nghi quỷ làm
chính.
2. Các vị sau khi đã vượt qua
khảo thí để lấy học vị Cách Tây mới được tiến nhập Cử Ba. Khi đã
được tiến nhập Cử Ba trong năm đầu, oai nghi của các vị nầy
giống như một Sa-di, không được hành lễ ở chính điện, ngoài trừ
lúc bị thiếu, và cũng phải thừa sự các vị Tỳ kheo. Cuối năm thứ
hai, vị trí mới ngang bậc Thượng tọa, mọi việc chấp tác được có
phương tiện trợ giúp. Nếu ai có sức học vượt trội, có thể được
khảo hạch để thăng lên hạng Kham Bố.
Trình Tự Khảo Thí Cách
Tây.
Những vị chưa khảo thí Cách Tây
đều phải qua một lịch trình học tập lâu dài, và được chia ra hai
giai đoạn:
1. Những vị đã nhập tự được năm,
sáu năm thì hai năm đầu phải y chỉ một Tỳ kheo để học tập phương
thức luận sơ cấp về Nhân Minh.
2. Trong năm, sáu năm tiếp theo,
phải rộng học về giải thích “Hiện Quán Trang Nghiêm Luận” thuộc
bộ “Đại Bát Nhã Kinh”. Nếu nghiên cứu một cách thông đạt bộ luận
Hiện Quán Trang Nghiêm, tất nhiên đối với thứ đệ của Tam thừa
càng hiểu rõ hơn về thứ đệ của Đại thừa, được vậy mới là người
tu hành có được sự liễu giải kiên cố, và không bị sai lầm.
3. Sau năm thứ sáu là giai đoạn
chuyên nghiên cứu về “Nhập-Trung Luận” của Nguyệt-Xứng. Bộ luận
gồm có mười phẩm, giảng về Thập Địa và Thập Hạnh; đặc biệt là
phẩm thứ sáu chứng minh một cách rất tinh tường: Chư pháp là do
duyên khởi, chư pháp vốn là tánh không. Tu hành theo Trung Quán
mới có khả năng đoạn phiền nảo, xuất sinh tử. Do đó, đây quả là
bộ luận vô cùng thiết yếu đối với người tu.
4. Phải trải qua hai hoặc ba năm
kế tiếp để chuyên nghiên cứu Giới Luật học. Vì đến đây tuổi cũng
sắp đến hai mươi, là tuổi chuẩn bị thọ đại giới. Do đó, cần phải
hiểu rõ những gì là: “khai giá trì phạm và chỉ trì chỉ tác”.
5. Cuối cùng, trong thời gian chờ
đợi khảo thí Cách-Tây, tăng sinh phải học kỹ luận Cu- Xá. Đây là
bộ luận giải rõ một cách tường tận về sinh tử, Niết bàn, về
tổng, về biệt, về nhân duyên, nhân quả v.v… Luận Cu- Xá là một
yếu điển của A Tỳ Đạt Ma.