Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Lịch Sử


...... ... .

 

 

PHÂN VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC 

Hà Nội –1990

 

THIỀN UYỂN TẬP ANH

(Anh tú Vườn Thiền)

 

 NGÔ ĐỨC THỌ – NGUYỄN THÚY NGA

Dịch và chú thích

  

(Dịch theo nguyên bản chữ Hán Trùng San) 

THIỀN UYỂN TẬP ANH Khắc in năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715)

---o0o---

(QUYỂN HẠ)

THIỀN PHÁI TÌ NI ĐA LƯU CHI 

Thiền sư TÌ NI ĐA LƯU CHI(1)

Thiền sư PHÁP HIỀN 

Thiền sư THANH BIỆN 

Thiền sư ĐỊNH KHÔNG

Trưởng lão LA QUÝ AN(1)

Thiền sư PHÁP THUẬN

Thiền sư MA HA

Đạo giả THIỀN ÔNG 

Thiền sư SÙNG PHẠM

Thiền sư VẠN HẠNH 

Thiền sư ĐỊNH HUỆ

Thiền sư ĐẠO HẠNH 

Thiền sư TRÌ BÁT

Thiền sư THUẦN CHÂN 

Tăng thống HUỆ SINH

Thiền sư THIỀN NHAM

Thiền sư BẢN TỊCH

Tăng thống KHÁNH HỶ

Thiền sư GIỚI KHÔNG

Thiền sư PHÁP DUNG(1)

Thiền sư TRÍ THIỀN

Thiền sư CHÂN KHÔNG 

Thiền sư ĐẠO LÂM

NI SƯ DIỆU NHÂN

Thiền sư VIÊN HỌC

Thiền sư TỊNH THIỀN

Quốc sư VIÊN THÔNG

Thiền sư Y SƠN 

THIỀN PHÁI THẢO ĐƯỜNG

Thiền sư THẢO ĐƯỜNG

 

THIỀN PHÁI TÌ NI ĐA LƯU CHI

 

Thiền sư TÌ NI ĐA LƯU CHI(1)

(?-594) 

Chùa Pháp Vân(2), hương Cổ Châu, huyện Long Biên.

Thiền sư người miền Nam nước Thiên Trúc(3) dòng dõi Bà la môn(4), từ nhỏ có chí vượt lên thế tục, từng đi nhiều nơi trong nước Tây  Trúc mong được truyền tâm ấn của Phật, như pháp duyên chưa gặp gỡ. Rồi ông xách gậy đi về p hía đông nam. Năm Nhâm Ngọ niên hiệu Đại Kiến thứ 6(5) nhà Trần (Trung Quốc), lần đầu tiên đến kinh đô Trường An. Gặp lúc Chu Vũ đế tàn sát Phật giáo ông đi về đất Nghiệp (Hồ Nam). Hồi đó tổ thứ ba (của Thiền tông Trung Hoa) là Tang Xán lánh nạn đến ẩn ở núi Tư Không. Gặp Tăng Xán, thấy phong độ phi phàm, ông đem lòng kính mộ, liền chắp tay ba lần nhưng Tăng Xản vẫn ngồi yên không đáp. Trong lúc chờ đợi, Tì Ni Đa Lưu Chi đứng suy tư, thấy trong lòng rạng rỡ như có điều sở đắc liền sụp xuống lạy tạ ba lạy. Tổ Tăng Xán cũng chỉ gật đầu ba lần mà thôi. Ông lùi ba bước thưa rằng:

- Đệ tử từ trước đến nay chưa có cơ hội, xin hòa thượng đại từ bi cho đệ tử được hầu bên tả hữu.

Tổ Tăng Xán nói:

- Người mau đi về phương nam tiếp xúc với thiên hạ, không nên ở lâu tại đây.

Sư bèn từ biệt tổ đi xuống miền nam, ở lại chùa Chế Chỉ, trong khoảng sáu năm(1) sư dịch được các bộ kinh tượng đầu, Báo nghiệp sai biệt. Tháng 3 năm Canh tí niên hiệu Đại Tường nhà Hởu Chu (580) sư sang nước ta, trụ trì ở chùa Pháp Vân, dịch thêm kinh Tống trì, một quyển.

Một hôm sư gọi đệ tử thân cận là Pháp Hiền đến bảo rằng:

- Đại phâm tâm ấn của chư Phật không lừa dối ta. Tâm ấn ấy tràn đầy như thái hư, không thiếu, không thừa, không đi không tới, không được không mất, chẳng một, chẳng khác, chẳng thường, chẳng đoạn; vốn không ở chỗ sinh, cũng không ở chỗ diệt, không lìa xa mà cũng chẳng không lìa xa(2) vì phải đối lập các nhân duyên hư võng mà phải đặt giả ra các tên nha vậy. Cho nên chư Phật Tam thế(1) đều do đó mà đắc pháp, tổ các đời cũng do đó mà đắc pháp, ta cũng do đó mà đắc pháp, ngươi cũng do đó mà dắc pháp. Đến như có tình hay không có tình đều cũng lấy đó mà đắc pháp. Vả lại tổ ta là Tăng Xán truyền tâm ấn ấy cho ta, bảo ta mau đi về phương nam để giao tiếp với thiên hạ, không nên ở lâu tại đó. Trái từ bấy đến nay ta với người gặp gỡ, quả là ứng hợp với lời huyền ký. Ngươi phải khéo giữ gìn. Đã đến lúc ta phải ra đi rồi.

Nói xong sư chắp tay mà qua đời. Pháp Hiền làm lễ hỏa táng, thu xá lị năm sắc rồi dựng tháp phụng thờ. Bấy giờ là vào năm Giáp dần niên hiệu Tùy Khai Hoàng thứ 14 (594).

Vua Lý Thái Tông (1028 – 1054) có bài kệ truy tán thiền sư như sau:

Sáng tự lai Nam quốc

Văn quân cứu tập thiền

Ưng khai chư Phật tin

Viễn hợp nhất tâm nguyên

Hạo hạo Lăng Già nguyệt

Phân phân Bát Nhã liên

Hà thì lăn diện kiến

Tương dữ thoại trùng huyền.

Dịch:

Sang nước Nam truyền đạo

Xứng danh bậc túc thiền

Mở niềm tin đức Phật

Xa hợp một tâm nguồn

Trăng Lăng Già(1) vằng vặc

Sen Bát Nhã(2) thơm truyền

Biết bao giờ gặp mặt

Cùng nhau nói đạo huyền.

Vua phong tặng sư là...

*

*        *

Thế hệ thứ nhất (1)

 

Thiền sư PHÁP HIỀN

(?-626)

 

Chùa Chúng Thiện, núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du.

Thiên sư họ Đỗ, người huyện Chu Diên, thân cao bẩy thước ba tấc. Lúc đầu sư xuất gia thụ giới cụ túc với đại sư Quán Duyên ở Chùa Pháp Vân, hàng ngày cùng các tăng hữu nghe đại sư truyền giảng yếu chỉ Thiền tông. Bấy giờ thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi từ Quảng Châu đến chùa này. Thấy sư, Tì Ni Đa Lưu Chi nhìn kỹ rồi hỏi:

- Ngươi họ gì?

Sư hỏi lại:

- Hòa thượng họ gì?

Tì Ni Da Lưu Chi nói:

- Ngươi không có họ ư?

Sư đáp:

- Họ không phải không có. Nhưng hòa thượng cần gì phải biết?

Tì Ni Đa Lưu Chi quát bảo:

- Biết để làm gì?

Sư bỗng nhiên tỉnh ngộ liền sụp lạy, bèn được thiền chỉ. Sau khi Tì Ni Đa Lưu Chi tịch diệt, sư bèn đến núi Thiên Phúc tu tập thiền định, quên hết cả vật lẫn bản thân mình, chim rừng bay đến vây quanh, dã thú tới đùa rỡn. Người đương thời hâm mộ danh tiếng đến học đạo với sư đông không kể xiết. Nhân đó, sư dựng chùa Chúng Thiện nhận tuyển dạy học trò. Tăng đồ đến lưu học tại chùa có khi đông đến hơn ba trăm người. Dòng thiền Nam phương hưng thịnh từ đó. Thứ sử nhà Tùy là Lưu Phương tâu về triều. Tùy Cao tổ từ lâu đã nghe tiếng người nước Nam này sùng chuộng đạo phật, đã có các bậc cao tăng đức vọng, bèn sai sứ đem xá lỵ Phật và năm hòm sắc điệp sang ban cho sư để xây tháp cúng dàng. Sư bèn chia xá lỵ cho chùa Pháp Vân ở Luy Lâu và các chùa có tiếng ở các châu Phong, Hoan, Trường, Ái(1) để dựng pháp thờ. (Nguyên chú: xem thêm ở truyện Thiền sư Thông Biện).

Sư thị tịch năm Bính tuất niên hiệu Đường Vũ Đức Thứ chín (626).

*

*        *

 

Thế hệ thứ hai

1 người

Thế hệ thứ ba

1 người

Thế hệ thứ tư

1 người

Thiền sư THANH BIỆN

(?-686)

 

Chùa Kiến Dương, hương Hoa Lâm, phú Thiên Đức.

Thiền sư người hương Cổ Giao(1), họ Đỗ, năm mười hai tuổi thụ nghiệp với thiền sư Pháp Đăng, Chùa Phổ Quang. Khi Pháp Đăng sắp thị tịch, sư hỏi:

- Hòa thượng đi rồi, đệ tử sẽ nương nhờ vào ai?

Pháp Đăng nói:

- Chỉ sùng nghiệp mới xong!

Sư mờ mịt không hiểu ý. Sau khi Pháp Đăng tịch diệt, sư chuyên tâm trì tụng kinh Kim Cương(1). Một hôm có vị thiền khách đến thăm, sư hỏi:

- Kinh này là mẹ của các Phật tam thế, thầy hiểu “mẹ Phật” là thế nào?

Sư đáp:

- Tôi từ trước đến nay trì tụng kinh này nhưng cũng chưa hiểu ý ấy.

Khách hỏi:

- Trì tụng đã bao lâu?

Sư đáp:

- Tám năm.

Khách nói:

- Tám năm chỉ trì tụng một kinh mà chưa hiểu ý nghĩa thì dẫu trì tụng cả trăm năm nào có công dụng gì?

Sư bèn sụp xuống xin khách chỉ giáo. Khách bảo sư phải tìm sư Huệ Nghiêm ở chùa Sùng Nghiệp mà thỉnh vấn.

Sư tỉnh ngộ nói:

- Nay tôi mới biết hòa thượng Pháp Đăng nói đúng.

Sư bèn theo lời của vị thiền khách lên đường đi yết kiến Huệ Nghiêm. Khi đến nơi, Huệ Nghiêm hỏi:

- Ngươi đến có việc gì?

Sư đáp:

- Đệ tử trong tâm có điều chưa ổn.

Huệ Nghiêm hỏi:

- Chưa ổn cái gì?

Sư thuật lại đối thoại với vị thiền khách bữa trước. Huệ Nghiêm than rằng:

- Ngươi quên hết rồi! Sao ngươi không nhớ trong kinh có nói: “Các Phật tam thế cùng lối pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ đề(1) đều xuất xứ ở kinh Kinh Cương, thế chẳng phải là “mẹ của Phật hay sao?”

- Quả thật đệ tử còn mê muội!

Huệ Nghiêm lại hỏi:

- Thế kinh ấy là ai nói?

Sư đáp:

- Chẳng phải là lời thuyết pháp của Như Lai hay sao?

Huệ Nghiêm nói:

- Trong kinh nói: “Nếu nói Như Lai có thuyết pháp điều gì thì tức là phỉ báng Phật”. Câu ấy người ta không giải được. Cái nghĩa ta vừa nói, ngươi thử nghĩ xem, nếu nói kinh ấy không phải là lời thuyết pháp của Phật thì thế là phỉ báng kinh; nếu lại nói đó đúng là những lời thuyết pháp của Phật thì lại là phỉ báng Phật. Sao ngươi lại cứ đòi ta phải trả lời ngay?

Sư nghĩ ngợi, còn định hỏi thêm, Huệ Nghiêm bèn cầm phất trần đánh vào miệng. Sư đột nhiên tỉnh ngộ, bèn sụp lạy. Sau sư đến trụ trì chùa Kiến Dương thuyết pháp giảng hóa cho tông đồ.

Sư quy tịch năm Bính Tuất niên hiệu Đường Thùy Cung thứ 2 (686)

*

*        *

 

Thế hệ thứ năm

1 người

Thế hệ thứ sáu

1 người

Thế hệ thứ bảy

1 người

Đều chép thiếu.

Thế hệ thứ tám

3 người chép thiếu 2 người.

Thiền sư ĐỊNH KHÔNG

(?-808)

 

Chùa Thiện Chúng, hương Dịch Bảng, phủ Thiên Đức.

Thiền sư người hương Cổ Pháp, họ Nguyễn, thuộc dòng vọng tộc. Ông là người am hiểu sâu sắc vận số thế cuộc, khi xảy ra việc gì người trong hương thường suy tôn phục tùng, ai nấy đều tôn gọi ông là Trưởng lão. Khi đã nhiều tuổi, nhân đi dự hội ở chùa Long Tuyền, nghe thiền sư Nam Dương giảng kinh, ông lĩnh ngộ tôn chỉ, từ đó quy tâm theo đạo Thích. Khoảng niên hiệu Đường Trinh Nguyên (785-805) sư dựng chùa Quỳnh Lâm ở bản hương. Khi xây chùa, thợ làm móng được một bình hương và mười chiếc khánh đồng. Sư sai người đem ra sông rửa sạch, một chiếc rơi xuống sông trôi liệng mãi đến khi chạm đất (thổ) mới nằm im. Sư giải rằng:

- “Thập khẩu” là chữ Cổ; “Thủy khứ” (xuống sông) là chữ Pháp. Còn “thổ” (đất) là chỉ vào hương ta.

Nhân đó đổi tên là hương Cổ Pháp (trước tên là hương Diên Uốn). Sư có làm bài Tụng như sau:

Địa trình pháp khí

Nhất phẩm trinh đồng

Tri Phật pháp chi long hưng

Lập hương danh chi Cổ Pháp.

Dịch:

Đất dâng pháp khí

Hạng nhất đồng ròng

Gặp thời Phật pháp thịnh hưng.

Đặt tên làng Cổ Pháp.

Lại có một bài thơ khác:

Pháp lại xuất hiện

Thập khẩu đồng chung

Lý thị hưng vương(1)

Tam phẩm thành công.

Dịch:

Pháp khí hiện ra

Khánh đồng mười tấm

Họ Lý làm vua

Công đầu Tam phẩm(1)

Lại một bài khác:

Thập khẩu thủy thổ khứ

Cổ Pháp danh hương hiệu

Kê cư loan nguyệt hậu

Chính thị hưng tam bảo.

Dịch:

Mười cái xuống nước đất

Cổ Pháp tên làng ta

Gà ngồi lưng loan phượng(2)

Tam bảo đến lúc hưng.

Trước khi quy tịch, sư nói với đệ tử Thông Thiện:

- Ta muốn mở mang hương ấp, nhưng sợ ngày sau gặp nạn, tất có dị nhân đến phá hoại mạch đất của hương ta. Sau khi ta qua đời, ngươi khéo giữ đạo pháp của ta để sau gặp người họ Đinh thì truyền lại. Thế là ý nguyện của ta được toại thành.

Nói xong sư cáo biệt rồi qua đời, thọ 79 tuổi. Đó là năm Mậu Tí(3) niên hiệu Đường Nguyên Hòa thứ 3 (808). Thông Thiện dựng tháp ở chùa Lục Tổ và ghi nhớ lời di chúc của sư lúc lâm chung.

*

*        *

 

Thế hệ thứ chín

3 người, đều chép thiếu.

Thế hệ thứ mười

4 người, chép thiếu 1 người.

Trưởng lão LA QUÝ AN(1)

 

Chùa Long Lâm, hương Phù Ninh, phủ Thiên Đức.

Chân nhân(2) họ Đinh, từ nhỏ đã nhiều năm đi khắp nơi tham thiền học đạo nhưng pháp duyên chưa gặp nên sắp thoái chí. Sau nghe một lời thuyết pháp của thiền sư Thông Thiện ở chùa Thiện Chúng mà mở tâm lĩnh ngộ. Từ đó sư thờ Thông Thiện làm thầy. Trước khi viên tịch, Thông Thiện ảo sư:

- Trước đây thầy ta là Định Không dặn ta giữ gìn đạo pháp của thầy, khi gặp người họ Đinh thì truyền lại. Ngươi hãy nhận lấy sự uỷ thác ấy. Nay đã đến lúc ta phải ra đi rồi.

Sư đắc pháp, bèn đi diễn hóa các nơi, chọn đất dựng chùa. Những lời sư nói ra phần nhiều đều hợp với lời sấm ngữ. Sư từng đúc tượng Lục Tổ Huệ Năng bằng vàng đặt ở chùa Lục Tổ. Sau vì sợ cướp, sư đem chôn tượng ở chùa, dặn đệ tử:

- Gặp minh chúa đào lên, gặp hôn quân thì cất giấu.

Trước khi thị tịch, sư gọi đệ tử là Thiền Ông đến bảo rằng:

- Trước đây Cao Biền đắp thành ở sông Tô Lịch, biết đất Cổ Pháp ta có khí tượng vương giả bèn đào sông Điềm Giang, đầm Phù Chẩn để cắt yểm long mạch, tất cả mười chín nơi. Ta đã khuyên Khúc Lãm đắp lại như cũ. Ta lại trồng một cây gạo ở chùa Minh Châu để trấn chỗ đất bị cắt long mạch, đời sau tất có bậc đế vương xuất hiện để vun trồng chính pháp của ta. Sau khi ta mất, ngươi nên cho đắp đất, dựng nhiều bảo tháp, dùng pháp thuật mà yểm tàng, không để cho người ngoài biết.

Nói xong sư qua đời, thọ 85 tuổi.

Lại nói năm Bính Thân niên hiệu Thanh Thái thứ 3 (836) thời thuộc Đường, khi trồng cây gạo, sư có đọc bài kệ như sau:

Đại sơn long đầu khởi

Cù vĩ ẩn Chu Minh

Thập bát tử định thành

Miên thụ hiện long hình

Thổ kê thử nguyệt nội

Định kiến nhật xuất thanh.

Dịch:

Đại sơn đầu rồng ngước

Đuôi dài náu Chu Minh

Thập bát tử đấy nghiệp(1)

Gốc gạo hiện long hình

Thỏ gà trong tháng chuột(1)

Ất thấy mặt trời lên

*

*        *

Thiền sư PHÁP THUẬN

(?-990)

 

Chùa Cổ Sơn, hương Thư, quận Ái.

Thiền sư họ Đỗ, không rõ quê quán, là người học rộng, có tài phò vua, hiểu rõ thế cuộc đương thời. Sự xuất gia từ lúc còn nhỏ, theo học đạo với thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thụ. Từ sau khi đắc pháp, những lời sư nói ra phần nhiều hợp với sấm ngữ. Trong buổi đầu, khi nhà Tiền Lê mới sáng nghiệp, sư có công dựng bàn hoạch định sách lược. Khi thiên hạ thái bình, sư không nhận chức tước của triều đình phong thưởng. Vua Lê Đại Hành lại càng thêm kính trọng, thường không gọi tên mà gọi là Đỗ pháp sư, thường ủy thác cho sư các công việc văn hàn.

Nam Thiên Phúc thứ 7 (986) sứ giả nhà Tống là Lý Giác sang nước ta, vua sai sư thay đổi quần áo, giả là người cai quản bến đò để xem xét cử động của Giác. Lúc qua sông thấy hai con ngỗng đang bơi giữa sông. Lý Giác ngâm đùa:

Nga nga lưỡng nga nga

Ngưỡng diện hướng thiên nga(1)

Dịch:

Ngỗng ngỗng, ngỗng một đôi

Vươn cổ ngước chân trời

Sư đang cầm chèo, bước tới đọc tiếp thêm:

Bạch mao phô lục thủy

Hồng trạo bãi thanh ba.

Dịch:

Nước xanh ngời lông trắng

Sóng biếc chèo hồng bơi.

Lý Giác thấy vậy lấy làm thán phục.

Vua từng hỏi sư về vận nước ngắn dài, sư đáp:

Quốc tộ như đưàng lạc

Nam thiên lý thái bình

Vô vi cư điện các

Xứ xứ tức đao binh.

Dịch:

Ngôi nước như mây cuốn

Trời Nam mở thái bình

Vô vi trên diện gác

Chốn chốn tắt dao binh

ĐOÀN THĂNG

(TVLT1)

 

Sư qua đời năm Hưng Thống thứ hai (990), thọ 76 tuổi. Sư từng soạn sách Bồ Tát hiệu sám hối văn, một quyển, lưu hành ở đời.

*

*        *

Thiền sư MA HA

 

Chùa Quan Ái, hương Đào Gia, Cổ Miệt.

Thiền sư tên cũ là Ma Ha Ma Da(1), tổ tiên người Chiêm Thành, tự lấy họ Dương. Cha là Bối Đà, am hiểu sách là bối(2), giữ chức quan bối trưởng (cũng gọi là Đà phan) dưới triều Tiền Lê. Sư là người hiểu biết sâu rộng, giỏi cả chữ Hán và chữ Phạn. Năm 24 tuổi, nối nghiệp cha trụ trì chùa Quan Ái. Một hôm đang ngồi dịch kinh lá bối(3) sư thấy Hộ Pháp thiện thần bảo rằng:

- Dùng kiến thức ngoại học thì không thể thông nghĩa lý được đâu!

Từ đó hai mắt bị mù, sư tự hối lỗi, muốn gieo mình xuống vực sâu mà chết ngay, may gặp Đông Lâm Viễn Biệt ngăn lại mà bảo:

- Dừng lại! Dừng lại!

Sư bỗng tỉnh ngộ: Sau đó, sư đến thụ giáo với thiền sư Đỗ Pháp Thuận ở chùa Cố Sơn, chuyên tụng niệm kinh Đại bi tâm chú(4) để sám hối, liền ba năm chưa từng biếng trễ. Sư lại được Quan Âm đại sĩ dùng cành dương thủy rưới đầu rảy mặt. Mắt sư bỗng sáng lại, tâm càng thanh tỉnh.

Năm Thuận Thiên thứ năm (1014) Sư dời đến chùa Đại Vân ở Trường An, ngày ngày chuyên cần tu tập, đắc pháp Tống trì tam muội(1) cùng các phép ảo thuật, người ngoài không ai dò biết được. Vua Lê Đại Hành ba lần thỉnh sư về triều để hỏi han việc nước, sư chỉ chắp tay cúi đầu mà thôi. Gặng hỏi hai ba lần sư mới đáp rằng.

- Bần đạo chỉ là kẻ cuồng tăng ở chùa Quan Ái!

Vua cả giận, sai đưa sư đến chùa Vạn Tuế trong Đại nội đóng cửa lại, sai người canh giữ. Sáng hôm sau đã thấy sư ở ngoài tăng phòng mà cửa vẫn đóng khóa như cũ. Vua lấy làm lạ, cho phép sư muốn đi đâu tùy ý. Sư lại đi vào phía Nam, đến trấn Sa Đăng thuộc Ái Châu. Nơi đây phong tục dân chúng sùng chuộng thờ cúng quỷ thần, nhiều người làm nghề sát sinh, sư khuyên họ ăn chay kiêng thịt. Họ đều nói.

- Thiền thần của chúng tôi ban phúc giáng họa nên chúng tôi không dám làm trái.

Sư nói:

- Nếu các ngươi chịu bỏ ác theo thiện thì lão tăng này dù có bị hại cũng cam chịu.

Dân làng nói:

- Vùng này có người bị bệnh hủi lâu ngày sắp chết, các thầy lang, thầy bói đều chịu bó tay. Nếu hòa thượng chữa khỏi, chúng tôi xin theo lời hòa thượng.

Sư bèn niệm chú vào nước là rồi ngậm phun, người hủi liền khỏi bệnh. Dân làng cảm phục nhưng vẫn lấy cờ là theo tục thờ cũng đã lâu ngày nên chưa thể cải hóa theo đạo. Phật ngay được. Có người hương hào họ Ngô nhân uống rượu say, bày rượu thịt ra rồi bắt ép sư ăn uống, nói rằng.

Nếu Hòa Thượng ch ịu thưởng thức thú vui này thì bọn tôi xin quy y đạo phật.

Sư đáp:

- Bần đạo không dám từ chối, chỉ sợ bị đau bụng thôi.

Người họ Ngô cười nói:

- Đau thì để Ngô mỗ này chịu cho!

Sư phải miễn cưỡng nghe theo. Được một lúc, sư về nhà bị trướng bụng, trong bụng có tiếng sôi ùng ục. Sư bèn kêu to:

- Ngô quân hãy chịu đau cho tôi đi!

Chủ nhà họ Ngô hốt hoảng không biết làm thế nào. Bờy giờ sư chắp tay niệm “Nam mô Phật, Nam mô Phật, nam mô Tăng. Xin cứu độ cho đệ tử!”. Rồi cúi xuống nôn hết các thức ăn, các món thịt liền biết thành thú đi vật chạy, các món cá biến thành cá vùng quãy, rượu thì biến thành nước gỉ đồng.

Mọi người kinh lạ khiếp sợ. Sư nói:

- Người bệnh của ngươi ta đã chữa khỏi, còn ta bị đau bụng thì người chẳng chịu đau thay cho ta. Vậy bây giờ ngươi đã chịu theo đạo ta chưa?

Người làng đều sụp xuống lạy tạ.

Năm Thiên Thành thứ 2 (1029) đô uý Nguyễn quang Rị (?) mời sư về trụ trì chùa Khai thiên ở Phủ Thái Bình. Đến năm hứ 6 (1033) sư cáo từ, trở về Hoan Châu, sau không biết họ chung thế nào.

Nguyên chú: sách Nan tông đồ tức Nam tông tự pháp đồ ở truyện Nam Dương [thiền sư] nói Nam Dương nối pháp tự của sư Ma Ha là nhầm.

 

*

*        *

 

Thế hệ thứ mười một

4 người, chép thiếu 2 người

 

Đạo giả THIỀN ÔNG

(902-979)

 

Chùa Song Lâm, hương Phù Ninh(1) phủ Thiên Đức.

Thiền sư họ Lã, người hương Cổ Pháp, thuở nhỏ theo Nho học, sau xuất gia hầu Đinh trưởng lão (La Quý An) rồi đắc pháp.

Sư thị tịch năm Kỷ mão, niên hiệu Thái Bình thứ 10 (979) triều Đình, thọ 78 tuổi.

 

*

*        *

Thiền sư SÙNG PHẠM

(1004-1087)

 

Chùa Pháp Vân, hương Cổ Châu, huyện Long Biên.

Sư người họ Mâu, dáng mạo to lớn, tai dài đến vai. Sau khi xuất gia, sư đến tham vấn thiền sư Vô Ngại ở Hương Thành, được truyền tâm ấn. Rồi đó sư đi vâ du khắp nơi, sang tận Thiên Trúc để rộng cầu hiểu biết.. Chín năm sau, sư trở về, gồm thông cả giới, định. Rồi sư sang chùa Pháp Vân nước ta thuyết giảng Phật pháp. Học trò các nơi quy hướng rất đông. Vua Lê Đại Hành Mấy lần thỉnh sư về kinh để hỏi han huyền chỉ(1). Vua rất vừa ý, tiếp đãi long trọng.

Năm Đinh mão niên hiệu quảng Hựu thứ 3 (1087) triều Lý Nhân Tông, sư quy tịch, thọ 84 tuổi.

Vua Lý Nhân Tông có bài kê truy tán như sau:

Sùng Phạm cư Nam quốc

Tâm không cập đệ quy

Nhỉ trường hồi thụy chất

Pháp pháp tận ly vi

Dịch:

Sùng Phạm ở Nam quốc

Tâm không đắc đạo về

Tai dài là tướng tốt

Pháp pháp thảy ly vi.(1)

*

*        *

 

Thế hệ thứ mười hai

7 người, chép thiếu 2 người

 

Thiền sư VẠN HẠNH

 

Chùa Lục Tổ, hương Dịch Bảng, phủ  Thiên Đức.

Thiền sư họ Nguyễn, người hương Cổ Pháp. Gia đình đã mấy đời thờ Phật. Thuở nhỏ thông minh khác thường, học thông ba giáo, đọc kỹ trăm nhà, nhưng coi khinh công danh phú quý. Năm 21 tuổi xuất gia cùng Định Huệ theo học đạo với Thiền ông đạo giả ở chùa Lục Tổ. Những khi công việc rỗi rãi, sư chăm chỉ học hỏi không biết mệt. Sau khi Thiền Ông tịch diệt, sư bèn chuyên tâm tu tập kinh Tổng trì tam ma địa(1) lấy đó làm sư nghiệp. Bờy giờ sư nói ra điều gì, thiên hạ dều coi như lời sấm ngữ. Vua Lê Đại  Hành dặc biệt tôn kính sư. Năm Thiên Phúc thứ nhất (980) nhà Tống sai Hỗu Nhân Bảo đem quân sang xâm lược nước ta, đóng quân ở gò Tử Cương núi Giáp Lăng, vua mời sư đến hỏi tình thế thắng bại thế nào. Sư đáp:

- Chỉ trong ba, bẩy ngày giặc tất phải lui.

Sau quả đúng như thế. Vua muốn đi đánh chiếm Thành, cùng bàn bạc với triều thần, nhưng chưa quyết. Sư tâu vua xin cấp tốc tiến quân, nếu không sẽ lỡ dịp. Vua bèn đem quân đi đánh, quả nhiên thu được toàn thắng. Bấy giờ có kẻ gian là Đỗ Ngân muốn mưu hại sư, sư đoán  biết được ý đồ, bèn đưa cho hắn một bài kệ rằng:

Thổ mộc tương sinh cấn bạn câm (km) (1)

Vi hà mưu ngã uấn linh khâm.

Chân chí vị lai bất hận tâm.

Dịch:

Thổ mộc sinh ra cẩn cạnh căm (kim)

Thù ta toan định sẵn mưu ngầm

Tăng này biết chuyện lòng buồn dứt

Cả đến mai sau chẳng oán thầm!

Đỗ Ngân sợ, không dám mưu hại sư nữa. Tài tiên tri của sư đại khái là như vậy.

Đến khi Lê Ngọa triều lên ngôi, tàn ngược độc ác, trời người đều oán giận. Lý Công Uẩn lúc ấy còn giữ chức Thân vị chưa được nhường ngôi hoàng đế. Bờy giờ điềm lạ xuất hiện nhiều nơi, như xoáy lông trên lưng con chó trắng(3) ở Viện Hàm Toại chùa Ứng Thái Tâm(4), châu Cổ Pháp có hình chữ Thiên tử, cây gạo bị sét đánh để lại vết tích chữ viết(1), xung quanh mộ Hiền Khánh đại vương(2) ban đêm nghe tiếng tụng kinh râm ran, cây đa ở chùa Song Lâm có vết sâu ăn hình chữ “quốc”v.v... sư đều biện giải được, tất cả đều hợp với điềm Lê suy Lý đấy. Vì thế khi Lý Thái Tổ lên ngôi, sư đang ở chùa Lục Tổ mà biết trước sự việc. Sư nói với người chú và người bác(3) của Lý công Uẩn:

- Thiên tử đã băng hà, Lý thân vệ đang ở nhà. Người nhà thân vệ túc trực trong thành nội có hàng ngàn. Nội trong ngày, thân vệ ắt sẽ được thiên hạ(4)

Sư bèn yết bản ở các ngả đường:

Tật lê trầm Bắc thủy

Lý tử thụ Nam thiên

Tứ phương can qua tỉnh

Bát biểu hạ bình an.

Dịch:

Tật lê(5) chìm biền Bắc

Cây Lý mọc trời Nam

Bốn phương binh đao lặng

Tám hướng chúc bình an

Chú bác Lý Công Uẩn nghe xong lấy làm lo sợ, sai người ruổi gấp về Hoa Lư nghe ngóng, thì quá đúng như lời sư nói.

Ngày 15 tháng 5 năm Thuân thiên thứ 9 (1018)(1) sư không bệnh, gọi tăng chúng đến đọc bài kệ:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố uý

Thịnh suy như lộ thảo đầu phôi(2)

Dịch:

Thân như bóng chớp có rồi không

Cây cối xuân tươi thu não nùng

Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi(3)

Kia kìa ngọn cỏ giọt sương dông.

NGÔ TẤT TỐ

(VHDL)

 

Sư lại bảo các đệ tử:

- Các ngươi muốn đi đâu? Ta không lấy chỗ trụ mà trụ, cũng chẳng dựa chỗ vô trụ mà trụ.

Một lát sau sư qua đời. Vua cùng các quan dân làm lễ hỏa táng, rồi xây tháp chứa xá lỵ để đèn hương phụng thờ. Vua Lý Nhân Tông có làm bài kệ truy tán thiền sư như sau:

Vạn Hạnh dung tam tế

Chân phủ cổ sấm kỵ(cơ)

Hương quan danh Cổ Pháp

Trụ tích trấn vương kỳ.

Dịch:

Vạn hạnh không ba cõi

Lời sư nghiệm sấm thi

Từ làng quê Cổ Pháp

Chống gậy trấn kinh kỳ

Nguyên chú: Sự tích ngôi mộ của Hiển Khánh đại vương như sau: Ban đêm sư Vạn Hạnh ngồi nhập định, nghe xung quanh ngôi mộ của Hiển Khánh vương bốn phía đều có tiếng ngâm thơ.

Phía Đông ngâm:

Khánh Vạn tường nham dữ Quế Phong

Dương trường long thế dục tương tòng

Đông liệt triều tông thế tam bách

Lục tuất...(1) đối thiên bồng

Dịch:

Khách Vạn lên cao với Quế Phong

Ngoằn ngoèo rồng cuộn sẵn chờ trông

Phù tá đàng đông ba trăm vững,

Lục nguyệt Tuất niên ngước bóng rồng.

Phía Nam ngâm:

Chính nam Phù Ninh hộ trạch thần

Vinh thế nam nữ xuất đa nhân

Thiên Đức phú quý mãn ốc thịnh

Bát phương hội Nữ thường xuất quân

Dịch:

Hướng Nam, thần hộ đất Phù Ninh,

Trai gái đầy thôn nức tiếng lành

Thiên Đức giàu sang no đủ khắp

Giữa trời cao Nữ, thánh quân sinh

HUỆ CHI

(TVLT 1)

Phía Tây ngâm:

Tây vọng, viễn vọng khan thiên trụ

Cao thế nam nữ thượng tướng thủ

Thiên Đức phú quý dư viễn thế

Quân vương thọ  mệnh cửu thập cửu

Dịch:

Xa ngóng về Tây cột chống trời

Tài cao khanh tướng thảy tuân lời

Thiên Đức phú quý lâu truyền mãi

Tuổi thọ quân vương quá chín mươi

Phía Bắc Ngâm:

Chính bắc Phù Cầm đương bạch hổ

An lạc nam nữ thường vô khổ

Đại đại Thiên Đức trường thọ lạc

Thế thế quân vương kỷ Thái Tổ.

Dịch:

Bắc hướng Phù Cầm ngôi bạch hổ

Trai gái yên vui hết khổ sầu

Thiên Đức đời đời vui thọ mãi

Thái Tổ nền vương sáng nghiệp đầu.

Sư sai người ghi chép, rồi viết vào biển gỗ đóng ở bốn phía quanh khu mộ của Hiển Khánh. Sư đến xem, đọc kệ rằng:

Đông hữu Vũ Long hạng

Nam hữu Vũ long pha

Tây hữu Hạc Lâm quán

Bắc hữu Trấn Hải trì.

Dịch:

Xóm Vũ Long bên Đông

Gò Vũ Long bên – Nam

Bắc có ao Trấn Hải

Tây có quán Hạc Lâm

Sư im lặng hồi lâu rồi nói tiếp:

- Có lẽ chỉ trong vòng ba tháng nữa quan Thân vệ sẽ chống đỡ xã tắc, cầm giữ ấn chữ quốc.

Đúng là:

Mười  miệng đất xuống nước(1)

Gặp hiệu thánh Thiên Đức

Về sau châu Cổ Pháp đổi làm phủ Thiên Đức, quả ứng nghiệm như lời sư nói vậy, còn các việc khác thì đều như trong Quốc sử, ở đây không chép nữa.

*

*        *

 

Thiền sư ĐỊNH HUỆ

 

Chùa Quang Hưng, hưng Yên Trinh, Phủ Thiên Đức

Thiền sư họ Khúc, người Cầm Điền, Phong Châu. Thuở nhỏ cùn Vạn Hạnh theo hầu học đạo với Thiền Ông, được Thiền Ông truyền tâm ấn.

Trước khi thị tịch, sư truyền tâm pháp cho đệ tử là Lâm Huệ Sinh.

Nguyên chú: xét sách Nam tông tự pháp đồ nói sư nối pháp tự của Vạn Hạnh, sợ là nhầm. Nay chép đúng theo bản truyện.

*

*        *

 

Thiền sư ĐẠO HẠNH

(? – 1117)

 

Chùa Thiên Phúc, núi Phật Tích(1)

Thiền sư họ Từ, húy Lộ. Cha là Từ Vinh, làm quan đến chức Tăng quan đô án. Nguyên là Từ Vinh trọ học ở hương yên Lãng (2), lấy vợ là con gái nhà họ Tăng rồi cư trú ở đó. Ông là con bà họ Tăng đó. Bản tính ông từ nhỏ hào hiệp phóng khoáng, có chí lớn, phàm việc làm lời nói không ai đoán trước được. Ông kết bạn thân với nho sĩ Phi sinh, đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa và người kép hát là Vi Ất. Ban đêm ông miệt mài đọc sách, ban ngày thổi sáo, đá cầu, đánh bạc vui chơi, thường bị cha trách mắng là lười nhác. Một đêm Từ Vinh lén vào phòng thấy ngọn đèn đã tàn, sách vở chất đống bên cạnh, còn Từ Lộ thì đang tựa án mà ngủ, tay vẫn cầm quyển sách, tàn đèn rơi đầy cả mặt bàn. Từ đó cha ông mới không phải lo nghĩ gì nữa. Sau triều đình mở khoa thi tăng quan, ông dự thi, được trúng tuyển.

 Nguyên trước kia thân phụ ông là Từ Vinh có điều xích mích bị Diên Thành hầu(1) cho là dùng tà thuật xúc phạm đến mình, vì vậy Diên Thành hầu nhờ sư Đại Điên dùng pháp thuật đánh chết, ném xác xuống sông Tô Lịch. Thây Từ Vinh trôi đến cầu Quyết thì bật dậy, chỉ tay vào nhà Diên Thành hầu suốt một ngày. DiênThành hầu sợ hãi sai người đi báo với Đại Điên. Đại Điên đến nơi quát: “Kẻ tu hành giận không quá đêm!”. Thây Từ Vinh nghe vậy lại tiếp trôi đi. Ông muốn báo thù cha nhưng không biết làm cách nào. Một hôm nmhân lúc Đại Điên ra ngoài, sư bèn xông vào đánh. Bỗng nghe trên không có tiếng quát: “Dừng lại! Dừng lại!”. Ông sợ, vứt gậy mà chạy. Từ đó ông quyết chỉ đánh đường sang Ấn Độ cầu học phép lạ để về báo thù cho cha. Đến nước Kim Xỉ(2) gặp đường đi hiểm trở nên phải quay về. Từ đó ông vào ẩn cư trong hang đá núi Phật Tích, ngày ngày chuyên chú trì tụng Đại bi tâm Đà La Ni,(3) đủ mười vạn tám nghìn lần. Một hôm sư thấy thần nhân đến bảo: “Đệ tử là Tứ Trần thiên vương, cầm công đức của sư trì tụng kinh Đại Bi nên xin đến hầu để sư sai phái”. Sư biết là đạo pháp viên thành, đã có thể báo thù cha. Sư bèn đến bên cầu Quyết, thử ném gậy xuống giữa dòng nước xiết. Chiếc gậy liền trôi ngược dòng đến phía tây cầu Tây Dương(4) thì dừng lại. Sư mừng nói: “Phép ta thắng rồi”. Sư bèn đi thẳng đến nhà Đại Điên. Đại Điên trông thấy nói:

- Ngươi không nhớ chuyện ngày trước sao?

Sư ngước nhìn lên trời, không thấy động tĩnh gì, bèn vung gậy đánh. Đại Điên phát bệnh mà chết. Từ đó rửa sạch oán thù, việc đời như tro lạnh, sư bèn đi khắp nơi trong chốn tùng lâm để tìm thấy ân chứng. Nghe nói Kiều Trí Huyền hóa đạo ở Thái Bình, sư tìm đến tham vấn. Sư đọc bài kệ để hỏi về chân tâm:

Cửu hỗn phàm trần vị thức câm (kim)

Bất tri hà xứ thị chân tâm

Nguyện thùy chỉ đích khai phong tiệm

Liễu kiến như như đoạn khổ tâm.

Dịch:

Lẫn với bụi đời tự bấy lâu

Chân tâm vàng ngọc biết tìm đâu?

Cúi xin rộng mở bày phương tiện

Thầy được Chân Như sạch Khổ sầu

NGUYỄN LANG

(Việt Nam Phật giáo sử luận)

Trí Huyền đọc kệ đáp:

Ngọc lý bí thanh diễn diệu âm

Cá trung mãn mục lộ thiên tâm

Hà sa cảnh thị Bồ Đề đạo

Nghĩ hưởng Bồ Đề cách vạn tầm.

Dịch: