PHÂN VIỆN NGHIÊN
CỨU PHẬT HỌC
NHÀ XUẤT BẢN VĂN
HỌC
Hà Nội –1990
THIỀN UYỂN TẬP ANH
(Anh tú Vườn Thiền)
NGÔ
ĐỨC THỌ – NGUYỄN THÚY NGA
Dịch và chú thích
(Dịch theo nguyên bản chữ Hán Trùng
San)
THIỀN UYỂN TẬP ANH Khắc in năm Vĩnh Thịnh
thứ 11 (1715)
---o0o---
(QUYỂN HẠ)
(?-594)
Chùa Pháp Vân(2),
hương Cổ Châu, huyện Long Biên.
Thiền sư người miền Nam nước Thiên Trúc(3)
dòng dõi Bà la môn(4),
từ nhỏ có chí vượt lên thế tục, từng đi nhiều nơi trong nước Tây Trúc
mong được truyền tâm ấn của Phật, như pháp duyên chưa gặp gỡ. Rồi ông xách
gậy đi về p hía đông nam. Năm Nhâm Ngọ niên hiệu Đại Kiến thứ 6(5)
nhà Trần (Trung Quốc), lần đầu tiên đến kinh đô Trường An. Gặp lúc Chu Vũ
đế tàn sát Phật giáo ông đi về đất Nghiệp (Hồ Nam). Hồi đó tổ thứ ba (của
Thiền tông Trung Hoa) là Tang Xán lánh nạn đến ẩn ở núi Tư Không. Gặp Tăng
Xán, thấy phong độ phi phàm, ông đem lòng kính mộ, liền chắp tay ba lần
nhưng Tăng Xản vẫn ngồi yên không đáp. Trong lúc chờ đợi, Tì Ni Đa Lưu Chi
đứng suy tư, thấy trong lòng rạng rỡ như có điều sở đắc liền sụp xuống lạy
tạ ba lạy. Tổ Tăng Xán cũng chỉ gật đầu ba lần mà thôi. Ông lùi ba bước
thưa rằng:
- Đệ tử từ trước đến nay chưa có cơ hội,
xin hòa thượng đại từ bi cho đệ tử được hầu bên tả hữu.
Tổ Tăng Xán nói:
- Người mau đi về phương nam tiếp xúc với
thiên hạ, không nên ở lâu tại đây.
Sư bèn từ biệt tổ đi xuống miền nam, ở lại
chùa Chế Chỉ, trong khoảng sáu năm(1)
sư dịch được các bộ kinh tượng đầu, Báo nghiệp sai biệt. Tháng 3
năm Canh tí niên hiệu Đại Tường nhà Hởu Chu (580) sư sang nước ta, trụ trì
ở chùa Pháp Vân, dịch thêm kinh Tống trì, một quyển.
Một hôm sư gọi đệ tử thân cận là Pháp Hiền
đến bảo rằng:
- Đại phâm tâm ấn của chư Phật không lừa
dối ta. Tâm ấn ấy tràn đầy như thái hư, không thiếu, không thừa, không đi
không tới, không được không mất, chẳng một, chẳng khác, chẳng thường,
chẳng đoạn; vốn không ở chỗ sinh, cũng không ở chỗ diệt, không lìa xa mà
cũng chẳng không lìa xa(2)
vì phải đối lập các nhân duyên hư võng mà phải đặt giả ra các tên nha vậy.
Cho nên chư Phật Tam thế(1)
đều do đó mà đắc pháp, tổ các đời cũng do đó mà đắc pháp, ta cũng do đó mà
đắc pháp, ngươi cũng do đó mà dắc pháp. Đến như có tình hay không có tình
đều cũng lấy đó mà đắc pháp. Vả lại tổ ta là Tăng Xán truyền tâm ấn ấy cho
ta, bảo ta mau đi về phương nam để giao tiếp với thiên hạ, không nên ở lâu
tại đó. Trái từ bấy đến nay ta với người gặp gỡ, quả là ứng hợp với lời
huyền ký. Ngươi phải khéo giữ gìn. Đã đến lúc ta phải ra đi rồi.
Nói xong sư chắp tay mà qua đời. Pháp Hiền
làm lễ hỏa táng, thu xá lị năm sắc rồi dựng tháp phụng thờ. Bấy giờ là vào
năm Giáp dần niên hiệu Tùy Khai Hoàng thứ 14 (594).
Vua Lý Thái Tông (1028 – 1054) có bài kệ
truy tán thiền sư như sau:
Sáng tự lai Nam quốc
Văn quân cứu tập thiền
Ưng khai chư Phật tin
Viễn hợp nhất tâm nguyên
Hạo hạo Lăng Già nguyệt
Phân phân Bát Nhã liên
Hà thì lăn diện kiến
Tương dữ thoại trùng huyền.
Dịch:
Sang nước Nam truyền đạo
Xứng danh bậc túc thiền
Mở niềm tin đức Phật
Xa hợp một tâm nguồn
Trăng Lăng Già(1)
vằng vặc
Sen Bát Nhã(2)
thơm truyền
Biết bao giờ gặp mặt
Cùng nhau nói đạo huyền.
Vua phong tặng sư là...
*
* *
Thế hệ thứ nhất (1)
(?-626)
Chùa Chúng Thiện, núi Thiên Phúc, huyện
Tiên Du.
Thiên sư họ Đỗ, người huyện Chu Diên, thân
cao bẩy thước ba tấc. Lúc đầu sư xuất gia thụ giới cụ túc với đại sư Quán
Duyên ở Chùa Pháp Vân, hàng ngày cùng các tăng hữu nghe đại sư truyền
giảng yếu chỉ Thiền tông. Bấy giờ thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi từ Quảng Châu
đến chùa này. Thấy sư, Tì Ni Đa Lưu Chi nhìn kỹ rồi hỏi:
- Ngươi họ gì?
Sư hỏi lại:
- Hòa thượng họ gì?
Tì Ni Da Lưu Chi nói:
- Ngươi không có họ ư?
Sư đáp:
- Họ không phải không có. Nhưng hòa thượng
cần gì phải biết?
Tì Ni Đa Lưu Chi quát bảo:
- Biết để làm gì?
Sư bỗng nhiên tỉnh ngộ liền sụp lạy, bèn
được thiền chỉ. Sau khi Tì Ni Đa Lưu Chi tịch diệt, sư bèn đến núi Thiên
Phúc tu tập thiền định, quên hết cả vật lẫn bản thân mình, chim rừng bay
đến vây quanh, dã thú tới đùa rỡn. Người đương thời hâm mộ danh tiếng đến
học đạo với sư đông không kể xiết. Nhân đó, sư dựng chùa Chúng Thiện nhận
tuyển dạy học trò. Tăng đồ đến lưu học tại chùa có khi đông đến hơn ba
trăm người. Dòng thiền Nam phương hưng thịnh từ đó. Thứ sử nhà Tùy là Lưu
Phương tâu về triều. Tùy Cao tổ từ lâu đã nghe tiếng người nước Nam này
sùng chuộng đạo phật, đã có các bậc cao tăng đức vọng, bèn sai sứ đem xá
lỵ Phật và năm hòm sắc điệp sang ban cho sư để xây tháp cúng dàng. Sư bèn
chia xá lỵ cho chùa Pháp Vân ở Luy Lâu và các chùa có tiếng ở các châu
Phong, Hoan, Trường, Ái(1)
để dựng pháp thờ. (Nguyên chú: xem thêm ở truyện Thiền sư Thông Biện).
Sư thị tịch năm Bính tuất niên hiệu Đường
Vũ Đức Thứ chín (626).
*
* *
Thế hệ thứ hai
1 người
Thế hệ thứ ba
1 người
Thế hệ thứ tư
1 người
(?-686)
Chùa Kiến Dương, hương Hoa Lâm, phú Thiên
Đức.
Thiền sư người hương Cổ Giao(1),
họ Đỗ, năm mười hai tuổi thụ nghiệp với thiền sư Pháp Đăng, Chùa Phổ
Quang. Khi Pháp Đăng sắp thị tịch, sư hỏi:
- Hòa thượng đi rồi, đệ tử sẽ nương nhờ vào
ai?
Pháp Đăng nói:
- Chỉ sùng nghiệp mới xong!
Sư mờ mịt không hiểu ý. Sau khi Pháp Đăng
tịch diệt, sư chuyên tâm trì tụng kinh Kim Cương(1).
Một hôm có vị thiền khách đến thăm, sư hỏi:
- Kinh này là mẹ của các Phật tam thế, thầy
hiểu “mẹ Phật” là thế nào?
Sư đáp:
- Tôi từ trước đến nay trì tụng kinh này
nhưng cũng chưa hiểu ý ấy.
Khách hỏi:
- Trì tụng đã bao lâu?
Sư đáp:
- Tám năm.
Khách nói:
- Tám năm chỉ trì tụng một kinh mà chưa
hiểu ý nghĩa thì dẫu trì tụng cả trăm năm nào có công dụng gì?
Sư bèn sụp xuống xin khách chỉ giáo. Khách
bảo sư phải tìm sư Huệ Nghiêm ở chùa Sùng Nghiệp mà thỉnh vấn.
Sư tỉnh ngộ nói:
- Nay tôi mới biết hòa thượng Pháp Đăng nói
đúng.
Sư bèn theo lời của vị thiền khách lên
đường đi yết kiến Huệ Nghiêm. Khi đến nơi, Huệ Nghiêm hỏi:
- Ngươi đến có việc gì?
Sư đáp:
- Đệ tử trong tâm có điều chưa ổn.
Huệ Nghiêm hỏi:
- Chưa ổn cái gì?
Sư thuật lại đối thoại với vị thiền khách
bữa trước. Huệ Nghiêm than rằng:
- Ngươi quên hết rồi! Sao ngươi không nhớ
trong kinh có nói: “Các Phật tam thế cùng lối pháp A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ đề(1) đều
xuất xứ ở kinh Kinh Cương, thế chẳng phải là “mẹ của Phật hay sao?”
- Quả thật đệ tử còn mê muội!
Huệ Nghiêm lại hỏi:
- Thế kinh ấy là ai nói?
Sư đáp:
- Chẳng phải là lời thuyết pháp của Như Lai
hay sao?
Huệ Nghiêm nói:
- Trong kinh nói: “Nếu nói Như Lai có
thuyết pháp điều gì thì tức là phỉ báng Phật”. Câu ấy người ta không giải
được. Cái nghĩa ta vừa nói, ngươi thử nghĩ xem, nếu nói kinh ấy không phải
là lời thuyết pháp của Phật thì thế là phỉ báng kinh; nếu lại nói đó đúng
là những lời thuyết pháp của Phật thì lại là phỉ báng Phật. Sao ngươi lại
cứ đòi ta phải trả lời ngay?
Sư nghĩ ngợi, còn định hỏi thêm, Huệ Nghiêm
bèn cầm phất trần đánh vào miệng. Sư đột nhiên tỉnh ngộ, bèn sụp lạy. Sau
sư đến trụ trì chùa Kiến Dương thuyết pháp giảng hóa cho tông đồ.
Sư quy tịch năm Bính Tuất niên hiệu Đường
Thùy Cung thứ 2 (686)
*
* *
Thế hệ thứ năm
1 người
Thế hệ thứ sáu
1 người
Thế hệ thứ bảy
1 người
Đều chép thiếu.
Thế hệ thứ tám
3 người chép thiếu 2 người.
(?-808)
Chùa Thiện Chúng, hương Dịch Bảng, phủ
Thiên Đức.
Thiền sư người hương Cổ Pháp, họ Nguyễn,
thuộc dòng vọng tộc. Ông là người am hiểu sâu sắc vận số thế cuộc, khi xảy
ra việc gì người trong hương thường suy tôn phục tùng, ai nấy đều tôn gọi
ông là Trưởng lão. Khi đã nhiều tuổi, nhân đi dự hội ở chùa Long Tuyền,
nghe thiền sư Nam Dương giảng kinh, ông lĩnh ngộ tôn chỉ, từ đó quy tâm
theo đạo Thích. Khoảng niên hiệu Đường Trinh Nguyên (785-805) sư dựng chùa
Quỳnh Lâm ở bản hương. Khi xây chùa, thợ làm móng được một bình hương và
mười chiếc khánh đồng. Sư sai người đem ra sông rửa sạch, một chiếc rơi
xuống sông trôi liệng mãi đến khi chạm đất (thổ) mới nằm im. Sư giải rằng:
- “Thập khẩu” là chữ Cổ; “Thủy khứ” (xuống
sông) là chữ Pháp. Còn “thổ” (đất) là chỉ vào hương ta.
Nhân đó đổi tên là hương Cổ Pháp (trước tên
là hương Diên Uốn). Sư có làm bài Tụng như sau:
Địa trình pháp khí
Nhất phẩm trinh đồng
Tri Phật pháp chi long hưng
Lập hương danh chi Cổ Pháp.
Dịch:
Đất dâng pháp khí
Hạng nhất đồng ròng
Gặp thời Phật pháp thịnh hưng.
Đặt tên làng Cổ Pháp.
Lại có một bài thơ khác:
Pháp lại xuất hiện
Thập khẩu đồng chung
Lý thị hưng vương(1)
Tam phẩm thành công.
Dịch:
Pháp khí hiện ra
Khánh đồng mười tấm
Họ Lý làm vua
Công đầu Tam phẩm(1)
Lại một bài khác:
Thập khẩu thủy thổ khứ
Cổ Pháp danh hương hiệu
Kê cư loan nguyệt hậu
Chính thị hưng tam bảo.
Dịch:
Mười cái xuống nước đất
Cổ Pháp tên làng ta
Gà ngồi lưng loan phượng(2)
Tam bảo đến lúc hưng.
Trước khi quy tịch, sư nói với đệ tử Thông
Thiện:
- Ta muốn mở mang hương ấp, nhưng sợ ngày
sau gặp nạn, tất có dị nhân đến phá hoại mạch đất của hương ta. Sau khi ta
qua đời, ngươi khéo giữ đạo pháp của ta để sau gặp người họ Đinh thì
truyền lại. Thế là ý nguyện của ta được toại thành.
Nói xong sư cáo biệt rồi qua đời, thọ 79
tuổi. Đó là năm Mậu Tí(3)
niên hiệu Đường Nguyên Hòa thứ 3 (808). Thông Thiện dựng tháp ở chùa Lục
Tổ và ghi nhớ lời di chúc của sư lúc lâm chung.
*
* *
Thế hệ thứ chín
3 người, đều chép thiếu.
Thế hệ thứ mười
4 người, chép thiếu 1 người.
Chùa Long Lâm, hương Phù Ninh, phủ Thiên
Đức.
Chân nhân(2)
họ Đinh, từ nhỏ đã nhiều năm đi khắp nơi tham thiền học đạo nhưng pháp
duyên chưa gặp nên sắp thoái chí. Sau nghe một lời thuyết pháp của thiền
sư Thông Thiện ở chùa Thiện Chúng mà mở tâm lĩnh ngộ. Từ đó sư thờ Thông
Thiện làm thầy. Trước khi viên tịch, Thông Thiện ảo sư:
- Trước đây thầy ta là Định Không dặn ta
giữ gìn đạo pháp của thầy, khi gặp người họ Đinh thì truyền lại. Ngươi hãy
nhận lấy sự uỷ thác ấy. Nay đã đến lúc ta phải ra đi rồi.
Sư đắc pháp, bèn đi diễn hóa các nơi, chọn
đất dựng chùa. Những lời sư nói ra phần nhiều đều hợp với lời sấm ngữ. Sư
từng đúc tượng Lục Tổ Huệ Năng bằng vàng đặt ở chùa Lục Tổ. Sau vì sợ
cướp, sư đem chôn tượng ở chùa, dặn đệ tử:
- Gặp minh chúa đào lên, gặp hôn quân thì
cất giấu.
Trước khi thị tịch, sư gọi đệ tử là Thiền
Ông đến bảo rằng:
- Trước đây Cao Biền đắp thành ở sông Tô
Lịch, biết đất Cổ Pháp ta có khí tượng vương giả bèn đào sông Điềm Giang,
đầm Phù Chẩn để cắt yểm long mạch, tất cả mười chín nơi. Ta đã khuyên Khúc
Lãm đắp lại như cũ. Ta lại trồng một cây gạo ở chùa Minh Châu để trấn chỗ
đất bị cắt long mạch, đời sau tất có bậc đế vương xuất hiện để vun trồng
chính pháp của ta. Sau khi ta mất, ngươi nên cho đắp đất, dựng nhiều bảo
tháp, dùng pháp thuật mà yểm tàng, không để cho người ngoài biết.
Nói xong sư qua đời, thọ 85 tuổi.
Lại nói năm Bính Thân niên hiệu Thanh Thái
thứ 3 (836) thời thuộc Đường, khi trồng cây gạo, sư có đọc bài kệ như sau:
Đại sơn long đầu khởi
Cù vĩ ẩn Chu Minh
Thập bát tử định thành
Miên thụ hiện long hình
Thổ kê thử nguyệt nội
Định kiến nhật xuất thanh.
Dịch:
Đại sơn đầu rồng ngước
Đuôi dài náu Chu Minh
Thập bát tử đấy nghiệp(1)
Gốc gạo hiện long hình
Thỏ gà trong tháng chuột(1)
Ất thấy mặt trời lên
*
* *
(?-990)
Chùa Cổ Sơn, hương Thư, quận Ái.
Thiền sư họ Đỗ, không rõ quê quán, là người
học rộng, có tài phò vua, hiểu rõ thế cuộc đương thời. Sự xuất gia từ lúc
còn nhỏ, theo học đạo với thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thụ. Từ sau khi đắc
pháp, những lời sư nói ra phần nhiều hợp với sấm ngữ. Trong buổi đầu, khi
nhà Tiền Lê mới sáng nghiệp, sư có công dựng bàn hoạch định sách lược. Khi
thiên hạ thái bình, sư không nhận chức tước của triều đình phong thưởng.
Vua Lê Đại Hành lại càng thêm kính trọng, thường không gọi tên mà gọi là
Đỗ pháp sư, thường ủy thác cho sư các công việc văn hàn.
Nam Thiên Phúc thứ 7 (986) sứ giả nhà Tống
là Lý Giác sang nước ta, vua sai sư thay đổi quần áo, giả là người cai
quản bến đò để xem xét cử động của Giác. Lúc qua sông thấy hai con ngỗng
đang bơi giữa sông. Lý Giác ngâm đùa:
Nga nga lưỡng nga nga
Ngưỡng diện hướng thiên nga(1)
Dịch:
Ngỗng ngỗng, ngỗng một đôi
Vươn cổ ngước chân trời
Sư đang cầm chèo, bước tới đọc tiếp thêm:
Bạch mao phô lục thủy
Hồng trạo bãi thanh ba.
Dịch:
Nước xanh ngời lông trắng
Sóng biếc chèo hồng bơi.
Lý Giác thấy vậy lấy làm thán phục.
Vua từng hỏi sư về vận nước ngắn dài, sư
đáp:
Quốc tộ như đưàng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh.
Dịch:
Ngôi nước như mây cuốn
Trời Nam mở thái bình
Vô vi trên diện gác
Chốn chốn tắt dao binh
ĐOÀN THĂNG
(TVLT1)
Sư qua đời năm Hưng Thống thứ hai (990),
thọ 76 tuổi. Sư từng soạn sách Bồ Tát hiệu sám hối văn, một quyển, lưu
hành ở đời.
*
* *
Chùa Quan Ái, hương Đào Gia, Cổ Miệt.
Thiền sư tên cũ là Ma Ha Ma Da(1),
tổ tiên người Chiêm Thành, tự lấy họ Dương. Cha là Bối Đà, am hiểu sách là
bối(2), giữ chức
quan bối trưởng (cũng gọi là Đà phan) dưới triều Tiền Lê. Sư là người hiểu
biết sâu rộng, giỏi cả chữ Hán và chữ Phạn. Năm 24 tuổi, nối nghiệp cha
trụ trì chùa Quan Ái. Một hôm đang ngồi dịch kinh lá bối(3) sư
thấy Hộ Pháp thiện thần bảo rằng:
- Dùng kiến thức ngoại học thì không thể
thông nghĩa lý được đâu!
Từ đó hai mắt bị mù, sư tự hối lỗi, muốn
gieo mình xuống vực sâu mà chết ngay, may gặp Đông Lâm Viễn Biệt ngăn lại
mà bảo:
- Dừng lại! Dừng lại!
Sư bỗng tỉnh ngộ: Sau đó, sư đến thụ giáo
với thiền sư Đỗ Pháp Thuận ở chùa Cố Sơn, chuyên tụng niệm kinh Đại bi
tâm chú(4) để
sám hối, liền ba năm chưa từng biếng trễ. Sư lại được Quan Âm đại sĩ dùng
cành dương thủy rưới đầu rảy mặt. Mắt sư bỗng sáng lại, tâm càng thanh
tỉnh.
Năm Thuận Thiên thứ năm (1014) Sư dời đến
chùa Đại Vân ở Trường An, ngày ngày chuyên cần tu tập, đắc pháp Tống trì
tam muội(1) cùng
các phép ảo thuật, người ngoài không ai dò biết được. Vua Lê Đại Hành ba
lần thỉnh sư về triều để hỏi han việc nước, sư chỉ chắp tay cúi đầu mà
thôi. Gặng hỏi hai ba lần sư mới đáp rằng.
- Bần đạo chỉ là kẻ cuồng tăng ở chùa Quan
Ái!
Vua cả giận, sai đưa sư đến chùa Vạn Tuế
trong Đại nội đóng cửa lại, sai người canh giữ. Sáng hôm sau đã thấy sư ở
ngoài tăng phòng mà cửa vẫn đóng khóa như cũ. Vua lấy làm lạ, cho phép sư
muốn đi đâu tùy ý. Sư lại đi vào phía Nam, đến trấn Sa Đăng thuộc Ái Châu.
Nơi đây phong tục dân chúng sùng chuộng thờ cúng quỷ thần, nhiều người làm
nghề sát sinh, sư khuyên họ ăn chay kiêng thịt. Họ đều nói.
- Thiền thần của chúng tôi ban phúc giáng
họa nên chúng tôi không dám làm trái.
Sư nói:
- Nếu các ngươi chịu bỏ ác theo thiện thì
lão tăng này dù có bị hại cũng cam chịu.
Dân làng nói:
- Vùng này có người bị bệnh hủi lâu ngày
sắp chết, các thầy lang, thầy bói đều chịu bó tay. Nếu hòa thượng chữa
khỏi, chúng tôi xin theo lời hòa thượng.
Sư bèn niệm chú vào nước là rồi ngậm phun,
người hủi liền khỏi bệnh. Dân làng cảm phục nhưng vẫn lấy cờ là theo tục
thờ cũng đã lâu ngày nên chưa thể cải hóa theo đạo. Phật ngay được. Có
người hương hào họ Ngô nhân uống rượu say, bày rượu thịt ra rồi bắt ép sư
ăn uống, nói rằng.
Nếu Hòa Thượng ch ịu thưởng thức thú vui
này thì bọn tôi xin quy y đạo phật.
Sư đáp:
- Bần đạo không dám từ chối, chỉ sợ bị đau
bụng thôi.
Người họ Ngô cười nói:
- Đau thì để Ngô mỗ này chịu cho!
Sư phải miễn cưỡng nghe theo. Được một lúc,
sư về nhà bị trướng bụng, trong bụng có tiếng sôi ùng ục. Sư bèn kêu to:
- Ngô quân hãy chịu đau cho tôi đi!
Chủ nhà họ Ngô hốt hoảng không biết làm thế
nào. Bờy giờ sư chắp tay niệm “Nam mô Phật, Nam mô Phật, nam mô Tăng. Xin
cứu độ cho đệ tử!”. Rồi cúi xuống nôn hết các thức ăn, các món thịt liền
biết thành thú đi vật chạy, các món cá biến thành cá vùng quãy, rượu thì
biến thành nước gỉ đồng.
Mọi người kinh lạ khiếp sợ. Sư nói:
- Người bệnh của ngươi ta đã chữa khỏi, còn
ta bị đau bụng thì người chẳng chịu đau thay cho ta. Vậy bây giờ ngươi đã
chịu theo đạo ta chưa?
Người làng đều sụp xuống lạy tạ.
Năm Thiên Thành thứ 2 (1029) đô uý Nguyễn
quang Rị (?) mời sư về trụ trì chùa Khai thiên ở Phủ Thái Bình. Đến năm hứ
6 (1033) sư cáo từ, trở về Hoan Châu, sau không biết họ chung thế nào.
Nguyên chú: sách Nan tông đồ tức Nam
tông tự pháp đồ ở truyện Nam Dương [thiền sư] nói Nam Dương nối pháp
tự của sư Ma Ha là nhầm.
*
* *
Thế hệ thứ mười một
4 người, chép thiếu 2 người
(902-979)
Chùa Song Lâm, hương Phù Ninh(1)
phủ Thiên Đức.
Thiền sư họ Lã, người hương Cổ Pháp, thuở
nhỏ theo Nho học, sau xuất gia hầu Đinh trưởng lão (La Quý An) rồi đắc
pháp.
Sư thị tịch năm Kỷ mão, niên hiệu Thái Bình
thứ 10 (979) triều Đình, thọ 78 tuổi.
*
* *
(1004-1087)
Chùa Pháp Vân, hương Cổ Châu, huyện Long
Biên.
Sư người họ Mâu, dáng mạo to lớn, tai dài
đến vai. Sau khi xuất gia, sư đến tham vấn thiền sư Vô Ngại ở Hương Thành,
được truyền tâm ấn. Rồi đó sư đi vâ du khắp nơi, sang tận Thiên Trúc để
rộng cầu hiểu biết.. Chín năm sau, sư trở về, gồm thông cả giới, định. Rồi
sư sang chùa Pháp Vân nước ta thuyết giảng Phật pháp. Học trò các nơi quy
hướng rất đông. Vua Lê Đại Hành Mấy lần thỉnh sư về kinh để hỏi han huyền
chỉ(1). Vua rất
vừa ý, tiếp đãi long trọng.
Năm Đinh mão niên hiệu quảng Hựu thứ 3
(1087) triều Lý Nhân Tông, sư quy tịch, thọ 84 tuổi.
Vua Lý Nhân Tông có bài kê truy tán như
sau:
Sùng Phạm cư Nam quốc
Tâm không cập đệ quy
Nhỉ trường hồi thụy chất
Pháp pháp tận ly vi
Dịch:
Sùng Phạm ở Nam quốc
Tâm không đắc đạo về
Tai dài là tướng tốt
Pháp pháp thảy ly vi.(1)
*
* *
Thế hệ thứ mười hai
7 người, chép thiếu 2 người
Chùa Lục Tổ, hương Dịch Bảng, phủ Thiên
Đức.
Thiền sư họ Nguyễn, người hương Cổ Pháp.
Gia đình đã mấy đời thờ Phật. Thuở nhỏ thông minh khác thường, học thông
ba giáo, đọc kỹ trăm nhà, nhưng coi khinh công danh phú quý. Năm 21 tuổi
xuất gia cùng Định Huệ theo học đạo với Thiền ông đạo giả ở chùa Lục Tổ.
Những khi công việc rỗi rãi, sư chăm chỉ học hỏi không biết mệt. Sau khi
Thiền Ông tịch diệt, sư bèn chuyên tâm tu tập kinh Tổng trì tam ma địa(1)
lấy đó làm sư nghiệp. Bờy giờ sư nói ra điều gì, thiên hạ dều coi như lời
sấm ngữ. Vua Lê Đại Hành dặc biệt tôn kính sư. Năm Thiên Phúc thứ nhất
(980) nhà Tống sai Hỗu Nhân Bảo đem quân sang xâm lược nước ta, đóng quân
ở gò Tử Cương núi Giáp Lăng, vua mời sư đến hỏi tình thế thắng bại thế
nào. Sư đáp:
- Chỉ trong ba, bẩy ngày giặc tất phải lui.
Sau quả đúng như thế. Vua muốn đi đánh
chiếm Thành, cùng bàn bạc với triều thần, nhưng chưa quyết. Sư tâu vua xin
cấp tốc tiến quân, nếu không sẽ lỡ dịp. Vua bèn đem quân đi đánh, quả
nhiên thu được toàn thắng. Bấy giờ có kẻ gian là Đỗ Ngân muốn mưu hại sư,
sư đoán biết được ý đồ, bèn đưa cho hắn một bài kệ rằng:
Thổ mộc tương sinh cấn bạn câm (km)
(1)
Vi hà mưu ngã uấn linh khâm.
Chân chí vị lai bất hận tâm.
Dịch:
Thổ mộc sinh ra cẩn cạnh căm (kim)
Thù ta toan định sẵn mưu ngầm
Tăng này biết chuyện lòng buồn dứt
Cả đến mai sau chẳng oán thầm!
Đỗ Ngân sợ, không dám mưu hại sư nữa. Tài
tiên tri của sư đại khái là như vậy.
Đến khi Lê Ngọa triều lên ngôi, tàn ngược
độc ác, trời người đều oán giận. Lý Công Uẩn lúc ấy còn giữ chức Thân vị
chưa được nhường ngôi hoàng đế. Bờy giờ điềm lạ xuất hiện nhiều nơi, như
xoáy lông trên lưng con chó trắng(3)
ở Viện Hàm Toại chùa Ứng Thái Tâm(4),
châu Cổ Pháp có hình chữ Thiên tử, cây gạo bị sét đánh để lại vết tích chữ
viết(1), xung
quanh mộ Hiền Khánh đại vương(2)
ban đêm nghe tiếng tụng kinh râm ran, cây đa ở chùa Song Lâm có vết sâu ăn
hình chữ “quốc”v.v... sư đều biện giải được, tất cả đều hợp với điềm Lê
suy Lý đấy. Vì thế khi Lý Thái Tổ lên ngôi, sư đang ở chùa Lục Tổ mà biết
trước sự việc. Sư nói với người chú và người bác(3)
của Lý công Uẩn:
- Thiên tử đã băng hà, Lý thân vệ đang ở
nhà. Người nhà thân vệ túc trực trong thành nội có hàng ngàn. Nội trong
ngày, thân vệ ắt sẽ được thiên hạ(4)
Sư bèn yết bản ở các ngả đường:
Tật lê trầm Bắc thủy
Lý tử thụ Nam thiên
Tứ phương can qua tỉnh
Bát biểu hạ bình an.
Dịch:
Tật lê(5) chìm
biền Bắc
Cây Lý mọc trời Nam
Bốn phương binh đao lặng
Tám hướng chúc bình an
Chú bác Lý Công Uẩn nghe xong lấy làm lo
sợ, sai người ruổi gấp về Hoa Lư nghe ngóng, thì quá đúng như lời sư nói.
Ngày 15 tháng 5 năm Thuân thiên thứ 9
(1018)(1) sư không
bệnh, gọi tăng chúng đến đọc bài kệ:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phôi(2)
Dịch:
Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cối xuân tươi thu não nùng
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi(3)
Kia kìa ngọn cỏ giọt sương dông.
NGÔ TẤT TỐ
(VHDL)
Sư lại bảo các đệ tử:
- Các ngươi muốn đi đâu? Ta không lấy chỗ
trụ mà trụ, cũng chẳng dựa chỗ vô trụ mà trụ.
Một lát sau sư qua đời. Vua cùng các quan
dân làm lễ hỏa táng, rồi xây tháp chứa xá lỵ để đèn hương phụng thờ. Vua
Lý Nhân Tông có làm bài kệ truy tán thiền sư như sau:
Vạn Hạnh dung tam tế
Chân phủ cổ sấm kỵ(cơ)
Hương quan danh Cổ Pháp
Trụ tích trấn vương kỳ.
Dịch:
Vạn hạnh không ba cõi
Lời sư nghiệm sấm thi
Từ làng quê Cổ Pháp
Chống gậy trấn kinh kỳ
Nguyên chú: Sự tích ngôi mộ
của Hiển Khánh đại vương như sau: Ban đêm sư Vạn Hạnh ngồi nhập định, nghe
xung quanh ngôi mộ của Hiển Khánh vương bốn phía đều có tiếng ngâm thơ.
Phía Đông ngâm:
Khánh Vạn tường nham dữ Quế Phong
Dương trường long thế dục tương tòng
Đông liệt triều tông thế tam bách
Lục tuất...(1)
đối thiên bồng
Dịch:
Khách Vạn lên cao với Quế Phong
Ngoằn ngoèo rồng cuộn sẵn chờ trông
Phù tá đàng đông ba trăm vững,
Lục nguyệt Tuất niên ngước bóng rồng.
Phía Nam ngâm:
Chính nam Phù Ninh hộ trạch thần
Vinh thế nam nữ xuất đa nhân
Thiên Đức phú quý mãn ốc thịnh
Bát phương hội Nữ thường xuất quân
Dịch:
Hướng Nam, thần hộ đất Phù Ninh,
Trai gái đầy thôn nức tiếng lành
Thiên Đức giàu sang no đủ khắp
Giữa trời cao Nữ, thánh quân sinh
HUỆ CHI
(TVLT 1)
Phía Tây ngâm:
Tây vọng, viễn vọng khan thiên trụ
Cao thế nam nữ thượng tướng thủ
Thiên Đức phú quý dư viễn thế
Quân vương thọ mệnh cửu thập cửu
Dịch:
Xa ngóng về Tây cột chống trời
Tài cao khanh tướng thảy tuân lời
Thiên Đức phú quý lâu truyền mãi
Tuổi thọ quân vương quá chín mươi
Phía Bắc Ngâm:
Chính bắc Phù Cầm đương bạch hổ
An lạc nam nữ thường vô khổ
Đại đại Thiên Đức trường thọ lạc
Thế thế quân vương kỷ Thái Tổ.
Dịch:
Bắc hướng Phù Cầm ngôi bạch hổ
Trai gái yên vui hết khổ sầu
Thiên Đức đời đời vui thọ mãi
Thái Tổ nền vương sáng nghiệp đầu.
Sư sai người ghi chép, rồi viết vào biển gỗ
đóng ở bốn phía quanh khu mộ của Hiển Khánh. Sư đến xem, đọc kệ rằng:
Đông hữu Vũ Long hạng
Nam hữu Vũ long pha
Tây hữu Hạc Lâm quán
Bắc hữu Trấn Hải trì.
Dịch:
Xóm Vũ Long bên Đông
Gò Vũ Long bên – Nam
Bắc có ao Trấn Hải
Tây có quán Hạc Lâm
Sư im lặng hồi lâu rồi nói tiếp:
- Có lẽ chỉ trong vòng ba tháng nữa quan
Thân vệ sẽ chống đỡ xã tắc, cầm giữ ấn chữ quốc.
Đúng là:
Mười miệng đất xuống nước(1)
Gặp hiệu thánh Thiên Đức
Về sau châu Cổ Pháp đổi làm phủ Thiên Đức,
quả ứng nghiệm như lời sư nói vậy, còn các việc khác thì đều như trong
Quốc sử, ở đây không chép nữa.
*
* *
Chùa Quang Hưng, hưng Yên Trinh, Phủ Thiên
Đức
Thiền sư họ Khúc, người Cầm Điền, Phong
Châu. Thuở nhỏ cùn Vạn Hạnh theo hầu học đạo với Thiền Ông, được Thiền Ông
truyền tâm ấn.
Trước khi thị tịch, sư truyền tâm pháp cho
đệ tử là Lâm Huệ Sinh.
Nguyên chú: xét sách Nam
tông tự pháp đồ nói sư nối pháp tự của Vạn Hạnh, sợ là nhầm. Nay chép
đúng theo bản truyện.
*
* *
(? – 1117)
Chùa Thiên Phúc, núi Phật Tích(1)
Thiền sư họ Từ, húy Lộ. Cha là Từ Vinh, làm
quan đến chức Tăng quan đô án. Nguyên là Từ Vinh trọ học ở hương yên Lãng
(2), lấy vợ là con
gái nhà họ Tăng rồi cư trú ở đó. Ông là con bà họ Tăng đó. Bản tính ông từ
nhỏ hào hiệp phóng khoáng, có chí lớn, phàm việc làm lời nói không ai đoán
trước được. Ông kết bạn thân với nho sĩ Phi sinh, đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa và
người kép hát là Vi Ất. Ban đêm ông miệt mài đọc sách, ban ngày thổi sáo,
đá cầu, đánh bạc vui chơi, thường bị cha trách mắng là lười nhác. Một đêm
Từ Vinh lén vào phòng thấy ngọn đèn đã tàn, sách vở chất đống bên cạnh,
còn Từ Lộ thì đang tựa án mà ngủ, tay vẫn cầm quyển sách, tàn đèn rơi đầy
cả mặt bàn. Từ đó cha ông mới không phải lo nghĩ gì nữa. Sau triều đình mở
khoa thi tăng quan, ông dự thi, được trúng tuyển.
Nguyên trước kia thân phụ ông là Từ Vinh
có điều xích mích bị Diên Thành hầu(1)
cho là dùng tà thuật xúc phạm đến mình, vì vậy Diên Thành hầu nhờ sư Đại
Điên dùng pháp thuật đánh chết, ném xác xuống sông Tô Lịch. Thây Từ Vinh
trôi đến cầu Quyết thì bật dậy, chỉ tay vào nhà Diên Thành hầu suốt một
ngày. DiênThành hầu sợ hãi sai người đi báo với Đại Điên. Đại Điên đến nơi
quát: “Kẻ tu hành giận không quá đêm!”. Thây Từ Vinh nghe vậy lại tiếp
trôi đi. Ông muốn báo thù cha nhưng không biết làm cách nào. Một hôm nmhân
lúc Đại Điên ra ngoài, sư bèn xông vào đánh. Bỗng nghe trên không có tiếng
quát: “Dừng lại! Dừng lại!”. Ông sợ, vứt gậy mà chạy. Từ đó ông quyết chỉ
đánh đường sang Ấn Độ cầu học phép lạ để về báo thù cho cha. Đến nước Kim
Xỉ(2) gặp đường đi
hiểm trở nên phải quay về. Từ đó ông vào ẩn cư trong hang đá núi Phật
Tích, ngày ngày chuyên chú trì tụng Đại bi tâm Đà La Ni,(3)
đủ mười vạn tám nghìn lần. Một hôm sư thấy thần nhân đến bảo: “Đệ tử
là Tứ Trần thiên vương, cầm công đức của sư trì tụng kinh Đại Bi
nên xin đến hầu để sư sai phái”. Sư biết là đạo pháp viên thành, đã có thể
báo thù cha. Sư bèn đến bên cầu Quyết, thử ném gậy xuống giữa dòng nước
xiết. Chiếc gậy liền trôi ngược dòng đến phía tây cầu Tây Dương(4)
thì dừng lại. Sư mừng nói: “Phép ta thắng rồi”. Sư bèn đi thẳng đến nhà
Đại Điên. Đại Điên trông thấy nói:
- Ngươi không nhớ chuyện ngày trước sao?
Sư ngước nhìn lên trời, không thấy động
tĩnh gì, bèn vung gậy đánh. Đại Điên phát bệnh mà chết. Từ đó rửa sạch oán
thù, việc đời như tro lạnh, sư bèn đi khắp nơi trong chốn tùng lâm để tìm
thấy ân chứng. Nghe nói Kiều Trí Huyền hóa đạo ở Thái Bình, sư tìm đến
tham vấn. Sư đọc bài kệ để hỏi về chân tâm:
Cửu hỗn phàm trần vị thức câm (kim)
Bất tri hà xứ thị chân tâm
Nguyện thùy chỉ đích khai phong tiệm
Liễu kiến như như đoạn khổ tâm.
Dịch:
Lẫn với bụi đời tự bấy lâu
Chân tâm vàng ngọc biết tìm đâu?
Cúi xin rộng mở bày phương tiện
Thầy được Chân Như sạch Khổ sầu
NGUYỄN LANG
(Việt Nam Phật giáo sử luận)
Trí Huyền đọc kệ đáp:
Ngọc lý bí thanh diễn diệu âm
Cá trung mãn mục lộ thiên tâm
Hà sa cảnh thị Bồ Đề đạo
Nghĩ hưởng Bồ Đề cách vạn tầm.
Dịch: