phần vI
phật giáo trong sinh hoạt văn hóa
Phật giáo trong
sinh hoạt văn hóa
tại Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh
VÕ ĐÌNH CƯỜNG
Văn
hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình phát
triển của lịch sử, định hình cho sự hiện hữu của con người. Sự hiện hữu này
tùy thuộc vào hoàn cảnh chung quanh và vào chính thể cách, tư duy, tình cảm
của một cộng đồng con người ở một địa phương. Do đó, trong cái chung của một
nền văn hóa loài người, có những nền văn hóa mang tính riêng biệt để có thể
gọi là văn hóa của làng xã, quận huyện, đô thị, quốc gia, khu vực địa lý
v.v... Vì văn hóa định hình cho sự hiện hữu con người, thể hiện sự hiện hữu ấy
nên văn hóa còn mang tính hướng dẫn và dự phóng cho sinh hoạt của tương lai.
Phật giáo (PG) cũng như nhiều tôn giáo lớn khác của loài người, đã được thể
hiện trong sinh hoạt tại những nơi mà tôn giáo của Từ bi và Trí tuệ này đâm
chồi và nẩy nở, tức là, đã dự phần làm nên văn hóa và định hình cho nếp sống
của cộng đồng.
Các chúa Nguyễn từ
đầu thế kỷ XVII, khi mở mang bờ cõi phía Nam, trong nỗ lực xây dựng một thế
lực, một bờ cõi chống với nhà Trịnh, đã tìm cách phát triển PG để có thể xây
dựng một nền văn hóa vững mạnh, hậu thuẫn cho chính trị và định hình cho sự
phát triển quốc gia. Việc cho xây cất chùa Linh Mụ tại Huế (1601) khi mới chân
ướt chân ráo đến Thuận Hóa, chúa Nguyễn Hoàng đã đặt cơ sở cho việc thực hiện
ý định ấy. Chúa Nguyễn Phúc Chu trùng tu, xây dựng thêm cho chùa Linh Mụ, việc
mời các Thiền sư Nguyên Thiều, Thạch Liêm... từ Trung Hoa sang cũng là một nỗ
lực xây dựng văn hóa Phật giáo.
Năm Mậu Dần 1698,
chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Kỉnh vào Nam chia đất Đông Phố,
lập huyện Phước Long, dinh Trấn Biên (thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay), lập huyện
Tân Bình, dinh Phiên Trấn (thuộc Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh ngày nay) thì PG cũng
theo các đoàn di dân mà phát triển tại vùng đất này. Bấy giờ ở Đồng Nai đã có
nhiều chùa Phật và hai chùa đã được chúa sắc tứ. Cũng chẳng bao lâu, tại Phiên
Trấn, PG phát triển nhanh chóng. Ngôi chùa cổ nhất thành phố chúng ta hiện nay
còn tồn tại là chùa Giác Lâm, được xây dựng năm 1744 đời chúa Nguyễn Phúc
Khoát là một bằng chứng cho sự hiện diện và đóng góp của văn hóa PG từ khi
thành phố được thiết lập.
Mỗi ngôi chùa là
một trung tâm sinh hoạt văn hóa. Từ việc thực hiện nghi lễ, việc huấn luyện
nếp sống tâm linh hiền thiện, đến việc giáo dục, nghiên cứu, biên soạn kinh
sách, phát hành các pháp khí như tranh tượng, sách báo PG ở chùa, tất cả đã
làm phong phú các sinh hoạt văn hóa của thành phố.
Từ đầu thế kỷ XX,
phong trào chấn hưng PG tại Sài Gòn-Gia Định đã đóng góp tích cực cho việc
phát triển văn hóa của thành phố. Việc phiên dịch kinh sách ra chữ quốc ngữ,
việc thành lập Thích học đường, Phật học Thư xã, Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật
học, xuất bản tạp chí Từ Bi Âm... là những bằng chứng hùng hồn cho sự
đóng góp văn hóa của PG.
Những đặc trưng
của văn hóa PG cần được nghiên cứu sâu hơn trong suốt 300 năm lịch sử thành
phố ta qua cách kiến trúc chùa, nghệ thuật đúc chuông, tượng, tranh vẽ, âm
nhạc, đặc biệt trong thể cách tụng đọc kinh kệ, trong cung cách thực hiện nghi
lễ, trong sinh hoạt hội đoàn Phật tử trong sách vở, báo chí, kịch nghệ, phim
ảnh PG tại thành phố ta. Theo với đà phát triển, nền giáo dục PG từ tiểu,
trung, đại học cũng phát triển, góp phần làm phong phú, đa dạng cho sinh hoạt
văn hóa nước nhà. Nhân đây, chúng tôi xin bày tỏ niềm mong ước của mình là làm
sao giới PG thành phố ta nỗ lực nghiên cứu sâu hơn về những đóng góp văn hóa
của PG cho thành phố. Cụ thể là chúng ta cần những bổ sung tiếp cho cuốn
lịch sử Phật giáo thành phố Hồ
Chí Minh mà tôi đã có dịp được đọc bản thảo.
Sau ngày giải
phóng đất nước, năm 1981, Giáo hội PG Việt
Nam được thành lập, PG thành phố ta đã nhanh chóng vươn lên, góp phần hữu hiệu
cho việc xây dựng và phát triển thành phố. Qua đó, những hoạt động văn hóa của
PG thành phố đã chứng tỏ được sức phát triển của hoạt động PG không những tại
địa phương mà còn tiêu biểu cho văn hóa PG cả nước. Gần 100 trong khoảng 1.000
ngôi chùa tiêu biểu cho bộ mặt PG tại thành phố đã và đang được trùng tu, tôn
tạo. Kinh sách PG in ấn càng lúc càng nhiều, Thành hội PG đều đặn cho in ấn và
phát hành năm bảy chục đầu sách, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Ban Văn
hóa Trung ương Giáo hội cũng đóng góp vào việc nghiên cứu Phật học và con số
trên mười đầu sách được thực hiện hàng năm cũng là những đóng góp đáng kể.
Tuần báo Giác Ngộ, nguyệt san Giác Ngộ, Tập Văn của Ban Văn hóa
Trung ương Giáo hội được phát hành rộng rãi trong và ngoài nước. Các cuộc hội
thảo do PG thành phố tổ chức đã thu hút được nhiều giáo sư, học giả từ nhiều
giới trên khắp cả nước và kể cả một số ở nước ngoài. Các băng từ các bài
thuyết giảng Phật pháp, phim ảnh PG, tranh tượng và nhiều pháp khí khác được
sản xuất tại thành phố cũng được quần chúng hoan hỷ đón nhận.
Một dấu hiệu đầy
khích lệ đáng ghi nhận là các giáo sư, học giả và giới văn nghệ sĩ thành phố
ta càng lúc càng thể hiện tình cảm và thiện chí đóng góp đối với PG. Các cuộc
lễ lạc, hội thảo, các bài nghiên cứu, sáng tác PG cũng như những công trình
xây dựng văn hóa đều có sự tham gia của lực lượng quan trọng này.
Hoạt động văn hóa
của PG thành phố hiện nay là những kế thừa của Phật sự mà 300 năm qua PG đã
đóng góp cho thành phố. Chúng ta có điều kiện để vươn lên, để mở rộng các sinh
hoạt văn hóa của mình. Đó là quyết tâm vì Đạo pháp và Dân tộc, là sự ủng hộ
của giới trí thức và của đông đảo quần chúng Phật tử, sự giúp đỡ tận tình của
Nhà nước. Bên cạnh đó, chúng ta cũng còn nhiều khó khăn cần vượt qua, trong đó
nổi bật cả về mặt chủ quan và khách quan là việc tổ chức và hành chánh. Thành
hội PG cần có thêm nhân sự chuyên môn và điều hành hành chánh trong các sinh
hoạt văn hóa. Trong lúc đó, dù Nhàâ nước vẫn lưu tâm giúp đỡ Thành hội, nhưng
những thủ tục hành chánh đối với sinh hoạt văn hóa PG còn rườm rà, phứác tạp.
Ví dụ, các giấy phép tổ chức hội thảo, giấy phép in ấn sách vở, tài liệu PG,
thủ tục phát hành các băng từ về Phật học và văn nghệ PG, thủ tục nhận sách vở
báo chí Phật học từ nước ngoài cũng như từ trong nước gởi đi v.v... tất cả đã
gây trở ngại nhiều cho các hoạt động văn hóa PG.
Mong sao, PG thành
phố ta tiến hành tốt đẹp việc thực hiện lý tưởng vì Đạo vì Đời, trong đó, việc
xây dựng và phát triển văn hóa của nước nhà có sự đóng góp tích cực của PG,
tạo nên một bản sắc văn hóa dân tộc, định hình cho một bản chất, một lối sống
tâm linh đẹp đẽ, phong phú của người Việt Nam.«
Kỷ niệm 300 năm
Phật giáo Gia Định-Sài Gòn
Sa môn
THÍCH THÔNG BỬU
I. KHÁI QUÁT VỀ
CHỦ ĐỀ KỶ NIỆM 300 NĂM PHẬT GIÁO (PG) GIA ĐỊNH - SÀI GÒN “THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH”
Trước
300 năm, vùng này rải rác một vài sắc dân sống theo tục lệ du canh du cư, dựa trên sông Đồng
- sông Cửu, và cũng chính nhờ nhân tố này mà các thương thuyền từ miền Trung
Việt Nam dừng chân buôn bán với thổ dân. Đất đai phì nhiêu, khí hậu mát mẻ,
nước ngọt, rau ngon đã khiến những người dân nước ngoài lần lượt đến đây lập
nghiệp và họ trở thành nông dân, hoặc vợ trông nom nông trại, chồng kiêm cả
thương lẫn nông.
Cũng thuở ấy ở
Trung Hoa, nhà Thanh thắng nhà Minh. Quan trường nhà Minh, một số không chịu
đầu hàng, họ giong thuyền tỵ nạn, tìm nơi đất lành tạm trú để chờ dấy nghiệp
“phản Thanh, phục Minh”. Họ chạy sang phía Việt Nam, dựa theo sông Đồng - sông
Cửu, họ gặp người Việt Nam và một số sắc dân an cư lạc nghiệp ở đây, nên họ
nhập vào cùng ăn cùng ở cùng làm. Lúc bấy giờ chưa có nền hành chánh. Quan
trọng trong số quan tướng nhà Minh có 3 vị: Thượng tướng Trần Thượng Xuyên, ở
Biên Hòa (vùng Cù lao Phố), sau dời về vùng bến Lê Quang Liêm (Chợ Lớn bây
giờ). Vị thứ nhì là quan văn Mạc Cửu, ở tại Hà Tiên, và thứ ba là quan văn
Dương Ngạn Địch, ở vùng Mỹ Tho. Sau đó người nhà ám sát Dương Ngạn Địch, gây
nội chiến. Cùng lúc, lại có giặc Xiêm La (Thái Lan) xua quân đánh phá vùng
này. Triều đình vua nhà Nguyễn cử quân dẹp loạn. Khi an bình, nhà Nguyễn lập
nền hành chánh tại đây. Từ đây, vùng này được mang tên Gia Định và sau đó dần
dần có tên Nam Kỳ lục tỉnh. Tất cả các quy thức chính trị, quân sự, hành
chánh, xã hội, văn hóa... đều rập khuôn theo triều đình nhà Nguyễn (Tham khảo
tài liệu Việt
Nam
nhất thốngchí
và sử liệu của học giả Trần văn Giàu và thi
phẩm Từng giọt ma ni).
Lúc bấy giờ về tôn
giáo thì có Nho - Thích - Lão; nhưng Nho và Lão có lẽ còn lẻ loi, nên dấu vết
văn hóa chẳng còn bao nhiêu. Các cơ sở của PG, chùa tháp đã hiện hữu trong nền
văn hóa và tín ngưỡng dân chúng đa số. Nhưng khi Pháp chiếm Việt
Nam thì Nam Kỳ lục tỉnh bị nhượng cho Pháp và nửa phần đất Gia Định bị cắt
cống hiến đứt cho Pháp một nửa. Từ đây mới có hai chữ Sài Gòn (mà người Hoa
gọi là Tây Cống). Vì quyết tâm Tây hóa phần đất Sài Gòn, nên người Pháp đã dỡ
phá rất nhiều ngôi chùa, đập nhiều ngôi tháp ở vùng này. Tuy vậy nay vẫn còn
nhiều ngôi chùa “đại già lam” với tầm vóc kiến thiết quy mô, nên nay được liệt
kê vào nơi văn hóa lịch sử.
Chứng tích những
ngôi chùa bị Pháp dỡ, điển hình nhất là pho tượng Phật bằng gỗ của chùa Phước
Tường, hiện nay vẫn còn tại Viện Bảo tàng
lịch sử thành phố Hồ Chí Minh
(Thảo cầm viên).
Đạo Phật tại Việt
Nam, vào thời kỳ Pháp đô hộ, không chỉ riêng ở Nam Kỳ lục tỉnh (miền Nam Việt
Nam), hoặc ở riêng Sài Gòn là bị đập tháp, dỡ chùa, phá bỏ tượng Phật, mà cả
nước cũng đều chung số phận. Thảm khốc hơn hết là mất tự do tín ngưỡng. Đây
mới chính là điều nghiệt ngã nhất của người Việt
Nam. Ngày 6-8-1950,
người Pháp mật lệnh cho Quốc trưởng Bảo Đại ban hành đạo
dụ số 10, tinh thần đạo
dụ là triệt hạ tôn giáo. Riêng
chỉ có đạo Thiên Chúa được công nhận là tôn giáo duy nhất mà thôi. Các đạo
khác, nhất là PG, một tôn giáo chiếm đa số dân chúng và đã hiện diện lâu đời ở
đất nước này thì lại bị đạo dụ
số 10 hạ xuống ngang hàng là một hiệp hội, như hiệp hội đua ngựa, hiệp hội đá
gà... Nhiều người Việt Nam
có tín ngưỡng PG vẫn hoài tưởng Pháp, là vì họ chưa hiểu được dã tâm tiêu diệt
PG Việt Nam,
qua đạo dụ số 10 của thực dân
Pháp. Chẳng những riêng đối với PG, mà cả dân tộc Việt Nam, người Pháp đã áp
dụng đúng chính sách “thực dân”. Chữ “thực” ở đây là trồng dân, chứ không phải
là ăn - thực dân là trồng dân. Ai vô dân Tây - nhận theo quốc tịch Pháp thì
được ưu tiên, nhất là đồng tín ngưỡng như người Pháp.
Vua nhà Trần dâng
công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành, được vua Chiêm đáp nghĩa hai châu Ô,
Lý và phong công chúa Huyền Trân lên ngôi Hoàng hậu Chiêm bang; vua nhà Nguyễn
cắt nửa phần đất Gia Định, cống hiến cho vua nước Pháp. Vua Pháp chẳng những
không đáp nghĩa, mà còn đập phá đền miếu, chùa tháp của dân tộc Việt
Nam.
Người Pháp thuở đó
còn có cái bệnh “được chân lân đầu”. Khi được đất, được người lại muốn làm
cha, làm cố, làm ông, làm bà người Việt
Nam. “Mẫu quốc Pháp vạn tuế”. Từ các công sở, tư sở cho đến nơi tín ngưỡng,
đâu đâu cũng bắt người Việt Nam xưng mình là ông cha ông cố, ông Tây, bà
đầm... dù ông Tây bà đầm ấy tuổi chỉ đáng cháu con! Người Pháp đã áp dụng
chính sách cai trị hà khắc hơn bất cứ thời đại nào trong lịch sử Việt Nam bị
xâm lược. Người dân Việt Nam bần cùng khốn khổ, hơn bất cứ thời kỳ nào. Nhất
là những người Việt Nam có tín ngưỡng Phật giáo, rất thấm thía rằng chưa từng
thấy lúc nào bị khinh miệt, bị ngược đãi, bị “kỳ thị tôn giáo” như thời kỳ
được mẫu quốc Pháp bảo hộ. Bị chửi mắng “mẹc xà lù”, đá đít, bạt tai... tù
đày, thủ tiêu... Con chó bị xéo đến đường cùng, nó còn tự vệ, tức là bảo tồn
lẽ sống, huống gì con người, mà lại là con người có ngót năm ngàn năm lập quốc
và đã từng chiến thắng vẻ vang biết bao lượt xâm lược hung hãn bạo tàn.
Tức nước vỡ bờ,
toàn dân không phân biệt đạo - đời, hướng theo tiếng gọi giành độc lập từ vườn
hoa Ba Đình, ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945. Tất cả đều đứng dậy, giành độc lập,
dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt
Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc trường kỳ kháng chiến 9 năm kết
thúc bằng những trận đánh uy hùng khắp nơi, cao điểm nhất là trận Điện Biên
Phủ. Việt Nam bắt buộc chính quyền Pháp và nước Pháp phải đầu hàng. Pháp vẫn
chưa buông tay, lại tiếp tục sang nhượng Việt Nam cho Mỹ. Mỹ thay Pháp, đưa vị
cựu thượng thơ Ngô Đình Diệm lên
địa vị Thủ tướng, sau đó lên Tổng thống Việt Nam
cộng hòa - từ
bến Hải đến Cà Mau.
Việc làm đầu tiên
của người Mỹ tại Việt
Nam là xóa hiệp định Genève về
hòa bình Việt Nam.
Mỹ cho Ngô triều ban hành nhiều sắc luật và đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật,
đặc biệt nhất là việc duy trì đạo dụ
số 10 của Pháp, để tiếp tục tiêu diệt PG. Những Mỹ tinh vi hơn, biết cách sử
dụng Phật tử để tiêu diệt PG. Như trường hợp dùng Nguyễn Văn Đẳng - tỉnh
trưởng Thừa Thiên-Huế và Thiếu tá Đặng Sĩ là Phật tử, sử dụng xe tăng Mỹ cán
chất 6 em Phật tử tại Huế. Tại Phú Yên chôn sống 47 Phật tử chung ba hầm,
trong lúc đó vị tỉnh trưởng Phú Yên lại là một Phật tử... Khắp nơi, từ Cà
mau đến
bến Hải, nơi nào PG đồ cũng bị
đàn áp dã man. Công chức, tướng lãnh, sĩ quan, quân nhân nào có lý tưởng tôn
thờ đạo Phật thì bị đày đến các vùng tử địa. Tăng
ni Phật tử bị thủ tiêu, bị bắt
bớ, tù đày, tra tấn dã man. Tại Huế, ba ngôi chùa lớn, trụ sở
trung ương của Tổng hội PG bị phong tỏa (nội bất xuất, ngoại bất nhập),
cúp điện, cúp nước. Nói chung, đâu đâu cũng phủ trùm một màn tang thương, vận
mạng PG đặt trong tình trạng “hấp hối”. Phong trào đấu tranh của toàn dân,
nhất là mặt trận giải phóng cũng đang gặp nhiều gian nan, bởi quốc sách ấp
chiến lược của Ngô triều.
Trong lúc đạo pháp
và dân tộc lâm nguy thì vùng đất Gia Định-Sài Gòn lại bừng lên khí thế đấu
tranh. Đấu tranh để giành sự sống. Buổi lễ cầu siêu lần thứ 4, từ chùa Phật
Bửu (đường Cao Thắng) đến chùa Xá Lợi (đường Bà Huyện Thanh Quan) của hàng
ngàn tăng
ni Phật tử đã đổi thành cuộc
diễu hành. Ngay trong cuộc diễu hành quy mô này, đất Gia Định-Sài Gòn có một
ngài Hòa thượng, bước ra chuyển cuộc diễu hành thành cuộc biểu tình bất bạo
động. Đoàn biểu tình đi đến ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt, liền đổi
thế hàng dọc, thành hình vòng tròn hoa sen. Y áo
tăng
ni màu vàng, nên hình vòng tròn
như một bông sen vàng. Ngài Hòa thượng Thích Quảng Đức, trụ trì chùa Quán Thế
Âm, Phú Nhuận, thuộc tỉnh Gia Định; Ngài rời đoàn biểu tình, bước ra ngồi giữa
vòng tròn như một gương sen, giữa đóa sen vàng. Ngài tẩm xăng vào người và
chính tay châm lửa tự thiêu thân mình, để cứu nguy dân tộc và đạo pháp. Lửa
bốc cao phủ kín thân ngài. Ngài
vẫn ngồi vững yên 15 phút. Khi Ngài nằm xuống, tay vẫn còn kiết ấn cam lộ.
II. QUẢ TIM BẤT
DIỆT VÀ NGÔ TRIỀU
Ngày trưa hôm ấy,
ngày 20-4 nhuần Quí Mão (Dương lịch là 11 tháng 6 năm 1963). Đài
phát thanh Sài Gòn truyền thanh
lời Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông có vẻ xúc động đối với việc tự thiêu của
ngài Thích Quảng Đức. Nhưng em dâu của Tổng thống là bà vợ ông
cố vấn Ngô Đình Nhu - thì ngược
lại.
Cùng ngày hôm ấy,
giả thân của ngài Thích Quảng Đức đem về quàn tại chùa Xá Lợi, sau một tuần lễ
mới di quan đến lò thiêu An dưỡng địa (Phú Lâm) làm lễ trà tỳ. Hàng triệu
người uất nghẹn lặng lẽ tiễn đưa. Suốt tám tiếng đồng hồ với lửa nung ngàn độ
mà quả tim vẫn không cháy. Nung lại một lần nữa - cũng không cháy. Ngay chiều
hôm ấy, nguồn tin QUẢ TIM BẤT DIỆT được truyền đi khắp năm châu. Ngô triều bối
rối, cấp tốc mở phiên họp gia tộc, bàn thảo kế hoạåch ngăn chặn lợi thế đấu
tranh của PG, qua ảnh hưởng quả tim bất diệt. Bác sĩ Trần Kim Tuyến - chúa
trùm ngành tình báo của Ngô triều, lãnh sứ mệnh đi khám nghiệm quả tim tại
chùa Xá Lợi, bác sĩ Tuyến về phúc trình rằng, ông đã đủ cách, nhưng không còn
chất hóa học nào, kể cả a-xít cực mạnh, cũng chẳng thể làm hủy diệt được quả
tim! Đúng là quả tim bất diệt! Bác sĩ Tuyến đề nghị Ngô triều nên “HÒA” với
PG. Vợ chồng ông cố vấn Ngô Đình
Nhu không chấp nhận lời đề nghị của bác sĩ Tuyến. Thế là đêm 20-8-1963, chiến dịch “Nước lũ”
tổng tấn công các chùa, bắt tất cả tăng
ni. Điểm chính là chùa Xá Lợi,
để cướp quả tim bất diệt của Bồ Tát Quảng Đức. Nhưng khi cướp được quả tim đem
về, lúc ấy mới vỡ lẽ rằng họ đã thu chiến lợi phẩm là một quả tim giả bằng
thạch cao!
Ngày 30-4-1975,
đất nước hoàn toàn thống nhất, quả tim bất diệt được Nhà nước Việt Nam giữ gìn
và bảo quản cho đến ngày nay.
Lúc Hòa thượng Trí
Thủ làm Chủ tịch Giáo hội PG Việt Nam, có đề nghị chúng tôi, hãy nhân danh
trưởng tử Bồ Tát, làm đơn xin nhận lãnh quả tim về tôn thờ tại nơi di tích
cuối cùng của Bồ Tát Quảng Đức, chờ khi nào Giáo hội có chùa thì giao lại cho
Giáo hội! Chúng tôi ngại vì chưa xây được bảo tháp, nên không dám nhận lãnh
bảo quản. Nay quả tim bất diệt vẫn được Nhà nước Việt Nam giữ gìn và bảo quản
cẩn trọng, vì đây chẳng những là của quý bảo riêng PG và cũng chẳng phải riêng
gì của Việt Nam, mà là của cả nhân loại và muôn loài.
Ngoài quả tim bất
diệt, Bồ Tát Quảng Đức còn lưu lại hậu thế những vần thơ kệ, những huyết tâm
thư, nhất là những lời dặn bảo huyền nhiệm nhập đời. Trích một đoạn thơ kệ của
Ngài:
“Đệ tử hôm nay
nguyện đốt mình
“Làm đèn soi sáng
nẻo vô minh
“Khói thơm cảnh
tỉnh bao người ác
“Tro trắng phẳng
san hố bất bình
Đúng vậy! Thân
ngài làm đèn đã soi sáng nẻo vô minh và tro trắng của thân Ngài đã phẳng san
hố bất bình - trước nhất là bình đẳng tôn giáo; chẳng những chỉ có thời đó, mà
còn là nhu cầu cho mãi mãi ngàn sau, chẳng những quả đất, mà còn cho cả liên
hành tinh. Ba ngàn thế giới đều được nhuần triêm.
(Cần tham khảo thêm chi tiết, xin đón xem
tập Kỷ yếu kỷ niệm năm thứ 35 Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu và Chư Thánh
tử đạo, do tổ đình Quán Thế
Âm biên soạn).
* * *
Trên phần đất Gia
Định-Sài Gòn thuở xưa, giới Tăng tín đồ PG, nhất là các bậc chân tu, đã đóng
góp tâm sức mình cùng hợåp với mọi giới, xây dựng và bảo vệ Việt Nam, trong đó
có Gia Định-Sài Gòn. Cũng trên phần đất Gia Định-Sài Gòn, ngày nay giới Tăng
tín đồ PG lại cũng đổ mồ hôi, nước mắt, lẫn tim tủy, kể cả xương máu của mình,
để hợp sức đồng tâm với toàn dân cả nước bảo vệ quê hương. Đặc biệt là Bồ Tát
Quảng Đức - đã lưu tâm trạng mình cho hàng đệ tử Gia Định-Sài Gòn bằng những
dòng thơ kệ:
“Gia Định-Sài Gòn
hỡi các con
“Năm mươi năm hạnh
nguyện đã tròn...
“Những gì đáng độ
Thầy đã độ
“Thầy tranh chánh
pháp lúc mất còn!
Chăng riêng gì Bồ
Tát Quảng Đức ở vùng đất Gia Định-Sài Gòn, mà còn biết bao Tăng Ni Phật tử đã
hy sinh để bảo vệ Đạo pháp và Dân tộc:
* Đại đức Thích
Thiện Mỹ (ngày
27-10-1963) đã tự thiêu tại Công trường Sài Gòn.
* Cũng trên đất
Gia Định-Sài Gòn, Đại đức Thích Huệ Hồng tự thiêu tại đường Công Lý (nay là
Nam Kỳ Khởi Nghĩa), quận Ba.
* Thượng tọa Thích
Thiện Lai, năm 1970 tự thiêu tại chùa Phổ Quang (Phú Nhuận - Gia Định) để cầu
nguyện hòa bình.
* Đại đức Thích
Thiện Ân, năm 1970 bị thảm sát tại Việt Nam Quốc tự - Sài Gòn.
* Đại đức Thích
Thành Tuệ, bị bắt tại Gia Định-Sài Gòn, đày đi Côn
đảo và chết ở Côn Đảo.
* Đại đức Thích
Nguyên Tài, năm 1964 mất tích tại Hóc Môn - Gia Định.
* Ni cô Thích nữ
Huệ Lạc, năm 1967 tự thiêu để bảo vệ Hiến chương tại tỉnh Gia Định.
Ngoài chư Tăng Ni
thì còn nhiều Phật tử tại Gia Định-Sài Gòn đã hy sinh để bảo vệ Đạo pháp và
Dân tộc:
* Nữ sinh Quách
Thị Trang (1963) biểu tình chống bạo quyền, bị thảm sát tại chợ Bến Thành!
Bồ tát Quảng Đức
và các bậc tiền nhân đã lưu truyền bí pháp gì, lời dạy gì. Hay là ngày nay,
các cấp lãnh đạo thế quyền lẫn giáo quyền có truyền dạy những phương pháp gì,
những lời dạy gì cho đàn hậu tấn, cho lớp trẻ đang sống trên mảnh đất thân
yêu. Trên quê hương Gia Định-Sài Gòn, nay là thành phố Hồ Chí Minh, để lớp
người thừa kế đủ khả năng hầu dấn bước trên con đường xây dựng quê hương, hài
hòa cùng nhân loại và muôn loài, chẳng những riêng quả địa cầu, mà cả liên
hành tinh, cũng đều là tình huynh đệ.
Kỷ niệm những ngày
qua và sẵn sàng cho những ngày đến, cả hai phải song hành!«
Mùa Phật Đản 2542 năm Mậu Dần (1998)
Hoạt động báo chí Phật giáo
trong 300 năm phát
triển của Gia Định-Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh
THÍCH THIỆN BẢO
I. TỔNG QUÁT TÌNH
HÌNH IN ẤN XUẤT BẢN BÁO CHÍ
1/
Thời kỳ khai hoang (buổi đầu đến 1859):
Theo đà Nam tiến, người Việt đã dần dần đặt chân đến vùng đất phương Nam để
khai phá, lập nên thêm làng và kiến tạo cuộc sống nơi vùng đất mới... để rồi,
năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh chính thức thiết lập chế độ hành chánh-cai trị, đặt
phủ lập huyện trên vùng đất Đồng Nai-Sài Gòn.
Phật giáo (PG) có
mặt rất sớm trong sinh hoạt của cư dân. Với những am tranh vách lá trong buổi
đầu nhưng chùa đã đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của những người xa xứ. Chùa cũng
phát xuất từ những am, cốc bằng tranh vách lá này được hình thành, phát triển,
và những nhu cầu cảm thụ về văn hóa, nghi lễ, giáo dục, truyền bá Phật pháp
cho cư dân cũng được các Tăng nhân đáp ứng phục vụ cho tinh thần tín ngưỡng
của nhân dân.
Với hàng nghìn năm
bị Nhà nước phong kiến Trung Hoa đô hộ, người Việt chủ yếu dùng chữ Hán làm
văn tự chính. Sự truyền bá giáo lý lúc đó chỉ bằng các bản chép tay, hoặc khắc
trên bản gỗ, và đó là yếu tố hạn chế không phổ biến giáo lý được sâu rộng
trong quần chúng nhân dân thời bấy giờ.
Người Việt Nam
cũng đã biết làm giấy rất sớm, trong sách Địa Dư Chí của Nguyễn Trãi có
chép, ở xã Yên Thái (tức làng Bưởi) trước năm 1435 đã làm giấy. Nghề in sách
cũng xuất hiện khá sớm ở Việt Nam, vào khoảng TK 12, người Việt đã có in sách
như: Cuốn Thiền tông chỉ nam được khắc bản gỗ sau khi vua Trần Thái
Tông (1218-1277) viết xong. Năm 1295, nhà vua cho in kinh Địa Tạng, năm
1319 Thiền sư Pháp Loa cho in 5.000 cuốn kinh Địa Tạng, được lưu
trữ ở Viện Quỳnh Lâm. Đây là một ví dụ điển hình cho sự hình thành của công
việc in ấn. Ở Đàng Trong cũng được tiếp tục phát triển mà thành tựu, tiêu biểu
là nghề in tranh ởã làng Sình (Phú Xuân) và các tác phẩm Hán-Nôm khác. Các bản
gỗ in kinh ở xứ Gia Định xưa thì muộn hơn và đa phần là cuối thế kỷ XIX.
2/ Thời
kỳ Pháp thuộc: Từ khi người Pháp đặt chân lên đất Nam
bộ, nhằm thực hiện ý đồ thống
trị và đồng hóa nhân dân ta nên họ đã nghĩ ra phương cách truyền bá chủ trương
đường lối của “mẫu quốc”, và chữ Quốc ngữ ghi bằng mẫu tự La-tinh ra đời thay
cho chữ Hán - Việt và chữ Nôm, và nó đã trở thành văn tự hành chính chính
thức. Các vị Tổ sư vẫn khắc bản gỗ, chép tay những kinh sách bằng chữ Hán, chữ
Nôm nhằm phổ biến giáo lý trong nội tự hoặc cho tín đồ, bằng nhiều loại hình
khách nhau, nổi bật trong thời kỳ này là quyển: Hứa sử vãn truyện, Tỳ ni Sa
di nhật dụng yếu lược do Tổ Hoằng Ân-Minh Khiêm, chùa Giác Viên, tổ chức
in ấn bằng bản khắc gỗ với những thợ in tại chùa... Những tài liệu này đã trở
thành những giáo tài giảng dạy cho người xuất gia tại các trường hương, trường
kỳ, trường hạ lúc bấy giờ; và kế đó là các bản in kinh của chùa Kim Cang.
Giai đoạn sau này,
chúng ta nhận thấy báo, tạp chí PG chưa thấy xuất hiện, vẫn là những tác phẩm
in ấn bằng gỗ như: Phát Bồ đề tâm văn, Quy nguyên trực chỉ của ngài Từ
Phong... và một số tác phẩm chép tay lưu hành nội bộ.
Khi toàn bộ Nam Kỳ
bị người Pháp chiếm, với những chính sách thuộc địa được đặt lên đất nước ta,
người Pháp đã sử dụng phương tiện thông tin đại chúng làm công cụ hữu hiệu và
đắc lực cho chính sách thực dân. Năm 1863, viên Thống đốc Nam
kỳ đã gởi thư cho Bộ trưởng
thuộc địa Pháp yêu cầu
chính phủ Pháp gởi thợ sắp chữ
sang Việt Nam,
dần dần nhu cầu về thông tin đa dạng, phong phú, nên các viên chức thuộc địa
phải đào tạo công nhân in tại chỗ. Năm 1862, đường dây điện thoại đã được nối
từ Sài Gòn - Biên Hòa, và năm 1863, Bưu điện Sài Gòn đã xây dựng hoàn chỉnh.
Cũng từ đây, hệ thống viễn thông phát triển, góp phần tích cực thúc đẩy sự
nghiệp báo chí ở Nam
kỳ. Và năm 1865, tờ Gia Định báo ra đời, đánh dấu khởi điểm của lịch sử
báo chí Việt Nam.
Tuy nhiên, tờ báo này còn ít nhiều mang tính chất công báo, chứ chưa là một tò
báo thật sự; và phải đến đầu thế kỷ XX, mới có các tờ báo của những người làm
báo Việt Nam, lấy báo chí làm cơ quan ngôn luận cho phong trào
duy
tân, cho chủ đích xã hội - văn
hóa của mình.
II. NHỮNG BƯỚC
CHUYỂN MÌNH CỦA PHONG TRÀO DUY TÂN TÁC ĐỘNG VÀO NỘI TÌNH PHẬT GIÁO
Đứng trước cảnh
người Pháp chiếm Nam Kỳ, phong trào Duy Tân của cụ Phan Châu Trinh nhằm phục
hưng Quốc học, mục tiêu khai hóa cho nền dân trí, xác định ý thức hệ dân tộc
để khỏi bị đánh mất tinh thần dân tộc trong lúc đất nước ta đang bị ngoại bang
đô hộ. Phong trào Đông Kinh nghĩa
thục đã tác động mạnh vào những Tăng nhân thạc đức trước thực trạng suy
vi của đạo Phật. Đây chính là tiền đề khơi nguồn cho phong trào chấn hưng PG.
1.
Phong trào chấn hưng Phật giáo tại miền Nam:
Ngoài sự tác động
của nhân sĩ trí thức lúc bấy giờ, phong trào chấn hưng PG tại miền Nam còn
chịu sự tác động của phong trào chấn hưng PG Trung Hoa do Thái
hư Đại sư khởi xướng trên tạp
chí Hải Triều Âm (Trung Quốc). Nhìn vào bối cảnh chung của đất nước, ai
có tâm huyết đối với đất nước đều cùng chung một quan điểm là muốn thoát khỏi
sự nô lệ của người Pháp, trong đó từng đoàn thể xã hội phải có sự chuyển mình
để làm cho tinh thần dân tộc được khơi dậy. Đây chính là yếu tố PG bước vào
giai đoạn chấn hưng.
2. Các
tổ chức hội, báo, tạp chí Phật học ra đời:
a/ Như ở phần trên
đã trình bày, những Tăng nhân và các vị tôn đức nhìn thấy đất nước bị đô hộ,
Phật giáo đang lâm vào con đường suy vi, nên các Ngài đã thao thức lo lắng cho
tiền đồ của PG, nên đứng ra tập hợp thành lập tổ chức đoàn thể Tăng già nhằm
chấn hưng lại những nội tình Tăng già.
trong số đó có Hòa thượng (HT) Khánh Hòa, một trong những vị tiên phong
chấn hưng Phật giáo tại miền
Nam. Chí nguyện đó được sự đồng tình ủng hộ của HT Huệ Quang, Khánh Anh, Thiện
Chiếu... Muốn gây ý thức phong trào trong Tăng đoàn, ngoài những cuộc vận động
thuyết phục, hợp tác thành lập hội, Ngài còn cho ra đời tạp chí Pháp Âm,
số ra mắt đầu tiên ngày 13-8-1929. Đây là tờ báo PG đầu tiên tại Việt Nam và
cũng là tờ báo làm tiền đề cho những báo, tạp chí Phật học xuất hiện tại miền Nam.
Người tiếp sức cho
tờ Pháp Âm và tờ Phật Hóa Tân Thanh Niên của
sư Thiện Chiếu đặt trụ sở tại
chùa Chúc Thọ (xóm Gà - Gia
Định) với mục đích thiết thực hơn Pháp Âm, nhưng mới chỉ ra được 2 số
thì bị đình bản.
b/ Đến năm 1931,
Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học
ra đời và ngày 1-1-1932, tờ Từ Bi Âm của Hội cũng được xuất bản số đầu
tiên do HT Khánh Hòa làm chủ
nhiệm, trụ sở đặt tại chùa Linh Sơn cổ tự, quận 1 (đường Cô Giang ngày nay).
Báo ra được 45 số thì HT Khánh Hòa xin từ chức, HT Chánh Tâm (Thiên Phước -
Trà Ôn) được đề cử làm chủ nhiệm. Từ Bi Âm hiện diện 11 năm, đến năm
1942 thì đình bản do kiệt quệ về tài chánh.
c/ Năm 1937, Hội
Cư sĩ Tịnh Độ cho xuất bản tờ Pháp âm
do Lê Văn Hậu làm chủ nhiệm và
Trần Quỳnh làm chủ bút, ra được
16 số thì đình bản.
d/ Năm 1958, Hội
Phật học Nam Việt cho xuất bản tạp chí Từ Quang do Chánh Trí Mai Thọ
Truyền làm chủ bút, ra đuợc 214
quyển. Sau khi Mai Thọ Truyền mất, tạp chí này kéo dài cho đến tháng 4-1975
mới đình bản. Trong VNPGSL, Nguyễn Lang cho rằng tạp chí Từ Quang
đã đóng góp đáng kể trong việc truyền bá tinh thần Phật học tại Sài Gòn nói
riêng và cả nước nói chung, được Tăng Ni cả nước hưởng ứng viết bài công tác.
e/ Tịnh
độ tạp chí: của Hội Tịnh Độ
tông Việt Nam do Đoàn Trung Còn làm chủ
nhiệm và Hội trưởng, mỗi năm ra 4 số từ năm 1955, đặt trụ sở tại 143 Đề Thám,
quận 1.
f/ Tạp chí
Phật giáo Việt
Nam
của Tổng hội PG Việt Nam do HT Huệ Quang làm
chủ nhiệm, xuất bản vào năm
1955, nhưng chỉ được 3 năm sau thì đình bản.
III. NHỮNG THẬP
NIÊN SAU THỜI KỲ CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO
1/ Giai
đoạn 1963-1975:
Ở giai đoạn này,
khi công nghệ in được phát triển mạnh, với sự du nhập thông tin từ nhiều nguồn
bên ngoài đổ về, các luồng tư tưởng nhiều khuynh hướng cũng được đưa vào đất
nước Việt Nam, sách báo PG bắt đầu bùng nổ, các nhà xuất bản như Lá Bối, An
Tiêm, Sen Vàng, Phật học tùng
thư v.v.. với nhiều loại hình sách báo PG ra đời trong các cuộc đấu tranh về
quan điểm tư tưởng và cả phong trào bất bạo động của PG tại miền
Nam. Có người cho giai đoạn này là giai đoạn phát khởi mạnh mẽ nhất, là giai
đoạn bùng nổ kinh, sách, báo PG.
Sau công cuộc đấu
tranh năm 1963, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) ra đời, Viện
Hóa đạo đã cho xuất bản tuần báo Hải Triều Âm (tuần báo văn nghệ -
thông tin - nghị luận do HT Nhất Hạnh làm
chủ bút, HT Hộ Giác làm
chủ nhiệm, số đầu tiên ra ngày
21-4-1964, dày 12 trang. Tòa soạn và trị sự đặt tại 220 Lê Thánh Tôn, Q.1).
Một năm sau, do tình hình thực tế của Giáo hội, đáp ứng nhu cầu của PG lúc bấy
giờ, Hải Triều Âm được đổi thành nhật báo Chánh Đạo, nhưng ngày
13-9-1969 thì bị đình bản do đăng nhiều bài công kích chính quyền Sài Gòn, TT
Thiện Minh bị chính quyền truy tố ra tòa án quân sự
vùng 3 và kết tội “tán trợ đào
binh, chứa chấp vũ khí và liên lạc với cộng sản”.
Sau khi báo
Chánh Đạo bị đóng cửa không cho hoạt động, GHPGVNTN đã xuất bản báo
Thiện Mỹ vào ngày 27-10-1964 gồm 16 trang, do ông Lê Văn Hiếu làm
chủ nhiệm, cư sĩ Võ Đình Cường
làm Tổng thư ký, nhưng chỉ được
53 số thì bị đình bản.
Năm 1971, GHPGVNTN
cho ra nhật báo thứ 2 với tên Gió Nam, do TT Huyền Diệu làm
chủ nhiệm, nhưng chỉ hơn một năm
sau thì bị đình bản do GHPGVNTN tố cáo tội ác vụ Sơn Mỹ, Mỹ Lai, trước tòa án
Hoa Kỳ, nên phiên xử ngày 31-12-1969 ủy quyền cho luật sư Paul Marking đại
diện quyền lợi nạn nhân và bị đình bản. Đây là hai tờ báo nhật báo đầu tiên từ
khi PG du nhập vào Việt
Nam cho đến ngày nay.
Ngoài ra, có các
tạp chí như Giữ thơm quê mẹ (do nhà sách Lá Bối xuất bản), tạp chí Vạn
Hạnh (do HT Đức Nhuận làm chủ
nhiệm), Tư Tưởng (của Đại học Vạn Hạnh), tạp chí Thiện Chí (của
đoàn
thanh niên Thiện Chí), Đất Tổ (do Lê Văn Hòa làm
chủ nhiệm, xuất bản 1965),
Tin Tưởng (của sinh viên Phật tử, xuất bản 1968)... Bên cạnh đó, các tạåp
chí của các Tổng vụ GHPGVNTN cũng được ấn hành nhằm truyền bá tinh thần Phật
học như: Bát Nhã của Tổng vụ Tài chánh-Kiến thiết do HT Thích Trí Thủ
làm chủ nhiệm, tạp chí Hoằng
pháp của Tổng vụ Hoằng pháp
do HT Huyền Vi làm chủ nhiệm,
tạp chí Văn Hóa của Tổng vụ Văn hóa do HT Mãn Giác làm
chủ nhiệm, tạp chí Hải Triều
Âm của Tổng vụ Thanh niên do HT Thiện Minh, Giác Đức, Nhật Thường luân
phiên giữ trách nhiệm, tạp chí An Lạc của TT Thích Thông Bửu làm
quản nhiệm.
2/ Giai
đoạn 1975 cho đến ngày nay:
Vào ngày 1-1-1976,
báo Giác Ngộ ra số đầu tiên do Ban Liên lạc PG
yêu nước TP. Hồ Chí Minh quản
lý, HT Thích Minh Nguyệt làm chủ
nhiệm, cư sĩ Võ Đình Cường làm Tổng Biên tập, đây là tờ báo bán nguyệt san,
mỗi tháng 2 kỳ.
Vào ngày 20-10-1990,
báo Giác Ngộ trực thuộc
THPG TP.HCM do HT Thích Trí Quảng làm Tổng Biên tập. Kể từ 6-4-1996, báo GN
đã trở thành tuần báo, ra thêm tờ nguyệt san.
Với gần 23 tuổi,
báo GN đã 3 lần thay đổi khổ báo và nội dung. Ngày nay Giác Ngộ
đã trở thành tiếng nói duy nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN), từng
bước thay đổi nội dung và hình thức, phù hợp với tình hình xuất bản báo chí
hiện đại, hòa vào hệ thống báo chí của TP. HCM nói riêng và báo chí VN nói
chung.
Tập
văn do Ban
văn hóa T.Ư GHPGVN xuất bản sau
khi thống nhất Phật giáo 1981, cư sĩ Võ Đình Cường chủ biên, đến nay đã được
41 số. Đây là tập văn chuyển tải những tư tưởng Phật học của các nhà nghiên
cứu Phật học trong cả nước.
IV. MỘT VÀI Ý KIẾN
THAY CHO LỜI KẾT
- Tuy từng thời
điểm trong sự chuyển mình của lịch sử đất nước Việt Nam có khác nhau, nhưng
tất cả đều nỗ lực truyền bá tư tưởng đạo Phật Việt Nam trở nên phổ biến để mọi
người hiểu được giá trị đích thực của nền giáo lý Phật Đà.
- Những giai đoạn
sống còn để vươn lên tìm lối đi đúng với chánh pháp có những sự xung đột giữa
cũ và mới trong cuộc đấu tranh nội bộ PG nhưng vẫn giữ được bản sắc ôn hòa,
khoan dung và độ lượng, xem trọng việc tu tập hướng về sự giải thoát giác ngộ
để giải quyết vấn đề khổ đau của con người là chính. Mọi quan niệm tư tưởng, ý
thức hệ chỉ là những phương tiện để làm sáng tỏ lối đi đến chân lý đúng với
tinh thần đức Phật đã dạy.
Nhìn lại chặng
đường đã đi qua của các bậc tiền bối tổ sư đã dày công đóng góp xây dựng,
chúng ta mọi người con Phật mới thấy được giá trị đích thực mà các ngài đã đặt
chân lên đất Gia Định-Sài Gòn-TP.Hồ Chí Minh trong suốt chiều dài lịch sử, từ
lúc khởi đầu khai hoang lập ấp của nhân dân vùng đất mới này. Cũng từ đó chúng
ta nhận ra được giá trị thiêng liêng mà chúng ta đang thừa hưởng, ngõ hầu tiếp
bước “theo dấu chân xưa”, phát huy tinh thần tích cực của báo chí PG trong
giai đoạn bùng nổ thông tin, nhằm góp phần giữ được bản sắc của nền văn hóa
dân tộc, đồng thời làm cho gHPGVN
sánh vai cùng các nước trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Đó là nhiệm
vụ của những người lãnh đạo về mặt tinh thần của PG Việt
Nam, làm sáng tỏ hơn nữa tinh thần khế lý, khế cơ mà
đức Phật đã để lại, nó đã được một thời huy hoàng và thịnh
vượng trên quê hương Việt Nam trong nhiều thế kỷ qua.
Sách
tham khảo:
- Việt nam Phật giáo sử luận -
Nguyễn Lang (tập 3)
- Lịch sử báo chí Việt
Nam -
Hồng Chương
- Phật giáo
Nam bộ -
Trần Hồng Liên
- 50 năm chấn hưng Phật giáo -
HT Thiện Hòa
300 năm ngày thành lập
Gia Định-Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh
tiểu ban nghi lễ thành hội pg tp hcm
Nội
dung bài này trong góc độ chuyên môn của mình, chúng tôi xin lược vài nét về vai trò
nghi lễ của Phật giáo (PG) trong sự hình thành phát triển của Gia Định-Sài
Gòn-TP. Hồ Chí Minh nói riêng và cho đời sống con người nói chung.
Nói đến nghi lễ
hoặc nói riêng NGHI và LỄ là một vấn đề sinh động, rộng lớn, nó bàng bạc trong
đời sống tinh thần, cư xử giữa con người với con người, giữa con người với
thiên nhiên.
Nghi
là những việc phải làm.
Lễ
là những việc phải tuân.
Làm con người sống
không chỉ biết cơm ăn, áo mặc, nhà ở... bởi lẽ thiếu nghi con người sẽ
thiếu nghĩa, thiếu nhân bản để sống trong xã hội, đem lại tình thương xây dựng
trên nền tảng trái tim biết nói và lòng nhân hậu của con người. Thiếu lễ
xã hội sẽ loạn ly, lâm vào tình trạng vô cương đưa đến mất luân thường đạo
lý. Qua đây chúng ta xóa bỏ được định kiến ngộ nhận nghi lễ là hình thức, là
phương tiện đàn tràng! Trái lại, nó là chất liệu thiết yếu phải luôn hiện hữu
trong tư duy, trong tập quán con người. Sự tiếp nối nòi giống con người, sự
truyền thừa giềng mối của Tổ đạo, đều phát nguyên từ đạo lý thiết lập những
nghi thức và lễ nghĩa. Ở mức độ cao, hình thức nghi lễ biểu hiện qua lăng kính
văn hóa, giáo dục v.v..
Do vậy, những bước
chân đầu tiên của chư Tổ đã hoằng hóa tại đất Gia Định như... Nguyên
Thiều-Siêu Bạch chùa Kim Cang, Thành Đẳng-Minh Lượng chùa Đại Giác - Biên Hòa,
Phật Ý-Linh Nhạc chùa Từ Ân, Tổ Tông-Viên Quang chùa Giác Lâm, Đạt Bổn chùa
Kim Cương, Thiệt Thoại-Tánh Tường chùa Hoa Nghiêm, đều ở đất Gia Định, cũng đã
mang trên mình hành trang nghi lễ hòa nhập cùng với di dân với vùng đất mới.
Mặt tích cực của
lịch sử dân tộc chúng ta khó có thể quên những công lao của Sĩ Nhiếp trong
những năm đầu công nguyên đã hướng dẫn cho dân chúng Đại Nam những phương cách
sống về nghi lễ, văn hóa, thời tiết, về nông nghiệp. Những triết lý “uống nước
nhớ nguồn” “lễ bái lục phương” như trong kinh Thiện Sanh, dạy cho mọi người lễ
nghi của đạo làm người. Sống cho đủ tình, chết cho trọn đạo, đó là thao thức
hai mặt trong đời sống con người. Những thao thức đó đã được nhà chùa dùng lễ,
dùng nghi đáp ứng đòi hỏi của thực tế. Nhà khoa học kỹ thuật nghiên cứu, nhà
văn học nghệ thuật sáng tác, nhà bác học chế tác, nhà sư thì có khả năng hun
đúc tinh thần của cộng đồng dân chúng, để thăng hoa tâm hồn, sản sinh những
tâm linh hoàn thiện. Lời kinh tiếng kệ những cung bậc âm điệu du dương của
nghi lễ đã làm lắng đọng lòng người, quên đi những ưu phiền hướng tâm tư về
chân thiện mỹ.
Vị thầy - vị sư
được xuất thân từ chốn thiền môn, nơi mà những ngày đầu nhập đạo sa cơ đã được
học luật Tỳ ni, để rèn luyện cho vị thầy tương lai có phong cách đĩnh đạc, đạt
tới đạo phong với đầy đủ lễ nghi, theo tinh thần của Tỳ ni “Hữu uy khả úy, hữu
nghi khả kính”. Đó là những bài pháp không lời giáo hóa đắc dụng đã đi vào
lòng người một cách dịu êm và thiết thực.
Vì thế, giáo dục
của PG không chỉ là sự dạy và học mà còn là quá trình chuyển hóa nội tâm, cải
tạo cái xấu, bồi dưỡng và phát triển cái tốt, trang bị cho mỗi cá nhân những
nhận thức chánh kiến của đức tin chân chánh, những phẩm chất tâm linh, ý chí
và đạo đức nhân bản, để họ làm hành trang tư lương cho đời sống an lạc, hạnh
phúc cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội.
Năm 1992 nhân mùa
Vu Lan báo hiếu, nhà
văn hóa
thanh niên TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức một buổi mạn đàm về
người mẹ, điều đó thể hiện truyền thống đạo Phật đã thâm nhập và thích hợp với
xã hội gần đây, một thống kê nhu cầu tín ngưỡng đi lễ chùa.
Chúng ta thường
nói khi nào đất nước bình yên thì đạo Phật phát triển hoặc PG hưng thì đất
nước thanh bình thịnh trị. Trong đó đất nước phát triển nhờ có minh quân chính
chúa. Đạo Phật xương minh nhờ có minh sư khéo điều ngự trong vận cách lễ nghi
mà thể hiện bằng nhân trị và đức trị của xã hội qua nhiều lĩnh vực.
Qua đó, chúng ta
thấy rằng giáo dục cũng chính là lễ nghi, là việc thiết yếu hướng dẫn con
người trong sinh hoạt, nó góp phần duy trì lâu dài cuộc sống sinh học và tâm
linh tốt đẹp hơn.
Tóm lại, suốt
chặng đường 300 năm của Gia Định-Sài Gòn đến TP. Hồ Chí Minh, PG khi ẩn khi
hiện, khi thịnh khi suy, vẫn luôn luôn hòa mình trong lòng con người và mảnh
đất, đã góp công sức của mình vào công cuộc kiến quốc; trong đó phạm trù nghi
lễ đã góp vai trò quan trọng trong nền tảng đạo đức xã hội cho việc trị quốc
an dân, duy trì phát triển cơ sở và niềm tin của Đạo, của Đời.
Ôn lại 300 năm của
thành phố cũng là 300 năm của PG, dòng chữ số 1698 trên bức phù điêu
nghĩa trang
liệt sĩ TP.HCM thể hiện công sức của các bậc tiền nhân đã
đứng lên và nằm xuống để trang điểm cho thành phố này luôn thăng hoa trong
suốt ba thế kỷ qua. Tôn giáo nói chung, PG nói riêng, vẫn luôn hòa nhập với
người Việt
Nam trên tinh thần thể nhập.
“Trang sử Phật
cũng là trang sử Việt
Trải bao độ hưng
suy
Có nguy mà chẳng
mất”
(V.H.C.)
Việc làm của chúng
ta hôm nay là việc làm đầy hiếu kính và lễ nghi của truyền thống uống nước nhớ
nguồn, đền đáp bốn ơn, trong đó có ơn đất nước quốc gia, mà trang sử PG Gia
Định-Sài Gòn-TP. Hồ Chí Minh đã góp phần tô điểm thành phố quang huy, trở
thành trung tâm cho các mặt phát triển đến các tỉnh đồng bằng Nam Bộ.
Một chặng đường
300 năm đi qua với bề thế quy mô của PG trong các thời đại và xã hội ngày nay,
đã và đang xây dựng để nói lên tiếng nói của mình trong âm ba vang dội của
thời đại mới, xã hội mới. Tiến trình 300 năm tới của PG, chúng ta sẽ làm gì để
nối tiếp đạo mạch truyền thừa, để thừa tự di sản của tiền nhân. Làm gì để giữ
gìn nghi lễ, đạo đức, đào tạo cho thế hệ tương lai để xây dựng Giáo hội, xây
dựng xã hội, trong thời đại mới vẫn đầy đủ thuần phong mỹ tục, giữa cộng đồng
dân tộc, giữa lòng TP.Hồ Chí Minh ngày nay đang hướng về phía trước vẫn còn là
những đóng góp cần khám phá và định hướng của PG thành phố chúng ta.
Một số vấn đề chung quanh di sản chữ Hán
(gồm câu đối liên và hoành phi)
trong các chùa ở đất Gia Định xưa
GS HUỲNH MINH ĐỨC
I.- THỰC TRẠNG
Gia
Định xưa gồm chung Phước Long và Tân Bình, là mảnh đất mà các chúa Nguyễn đã
chọn làm bổn doanh đầu tiên trong công cuộc khai khẩn đất đai để hoàn thành
cuộc Nam
tiến. Trong khoảng thời gian 300 năm, nơi này đã nhận lấy nhiều sự kiện lịch
sử.
Trong phạm vi hạn
hẹp của tài liệu nghiên cứu này, chúng tôi muốn nhận định lại bức tranh mang
tầm vóc của một chứng tích lịch sử thuộc văn hóa : “Qua các chữ Hán trên các
câu đối trong các chùa, cổ nhân muốn để lại gì và căn dặn gì với con cháu?”.
Trước hết, về mặt
tư liệu, chúng tôi muốn kiểm chứng rồi đánh giá lại xem, qua một thời gian dài
nhiều biến cố tàn phá (do con người, do chiến tranh, do thời gian), hiện trạng
nguyên thỉ của nó như thế nào. Dĩ nhiên khi nghiên cứu, chúng ta chỉ dựa vào
những phần còn mang giá trị nguyên thỉ, xứng đáng mà thôi.
Chúng ta đều biết,
suốt 300 năm hình thành và phát triển vùng đất Gia Định này, nhiều tư liệu
lịch sử, trong đó có những câu đối, hoành phi trong các chùa... hiện đang bị
mất mát, hoặc bị thay hình đổi dạng rất nhiều. Thực trạng này qua điều tra,
thu thập trong bước đầu, chúng tôi có phân tích như sau:
Chùa là nơi luôn
có người ở và gìn giữ. Tuy vậy, so với các đình miếu thì tư liệu chữ Hán trên
các câu đối hoặc hoành phi tại các chùa lại:
a)- Mất mát nhiều
hơn. Ở đây, chúng tôi muốn nói về số lượng chứ chưa nói về chất lượng.
b)- Thậm chí có
những ngôi chùa rất cổ, lại bị mất trắng, không còn câu nào. Một trong những
lý do bị mất mát, theo chỗ suy đoán của chúng tôi, không phải do bị trộm, mà
chính vì do sửa chữa nhiều lần, mỗi lần sửa chữa thì chùa có vẻ mới hơn, rực
rỡ hơn, nhưng những tấm gỗ có khắc câu đối lại bị bỏ rơi, thất thoát.
c)- Có nơi, người
ta lại tự động viết thêm lên các vách những câu đối có tính hình thức, mà chữ
viết thật nguệch ngoạc, nội dung tầm thường.
d)- Cũng có khi vì
muốn làm mới câu đối, bằng cách cho phục chế câu đối cũ, người ta đã phục chế
sai cả chánh tả chữ Hán.
e)- Ngoài ra, còn
một số ngôi chùa được đưa từ miền Bắc vào trong thời gian vài chục năm gần đây
thôi. Chúng tôi chưa dám kết luận gì về giá trị tư tưởng của những câu đối
này, nhưng chúng tôi không thể đưa vào chung với những ngôi chùa cổ tại đất
Gia Định.
f)- Có một vài
ngôi chùa cổ, qua nhiều lần sửa chữa, tất cả các câu đối mất hết, thay vào đó,
các vị sư trụ trì cho treo lẻ tẻ vài cặp câu đối, nội dung hay tuyệt vời,
nhưng lại thuộc thuần túy dạy làm người theo tư tưởng Nho giáo. Theo lời của
thầy trụ trì thì đây là do thầy nhặt được trong một dịp thăm nhà quen, thấy
được hai cặp câu đối bị thất lạc nơi từ đường của một gia đình, thầy vội xin
về treo phía hậu liêu chùa. Nếu thầy không xin và mang về chùa treo thì nó sẽ
bị thất lạc. Thế là câu đối của từ đường lại được treo trong chùa. Ví dụ chùa
Long Phú ở Biên Hòa (Đồng Nai).
g)- Nhưng cũng có
trường hợp, câu đối liên của chùa, nhưng không biết vì sao bị thất lạc, người
ta lại mang vào đình miếu, treo xen lẫn vào nhau với các câu đối ca tụng thần
linh. Ví dụ tại đình An Hòa (Biên Hòa, Đồng Nai).
II.-
Giá trị tư liệu
Tất cả tư liệu
thuộc di sản chữ Hán còn lại tại hiện trường trong các chùa đều ở hình thức
câu đối liên và hoành phi, toàn viết bằng chữ Hán.
a)- Giá trị hình
thức cấu tạo theo luật âm dương bằng trắc
Hình thức câu đối
liên được quy định một cách chặt chẽ về luật âm dương. Câu đối là kết tinh của
phú. Dịch Quân Tả trong quyển Văn học sử Trung Quốc (GS Huỳnh Minh Đức
dịch), đã định nghĩa: “Phú... giống với tản văn mà cũng khác với tản văn,
giống với thi mà cũng khác với thi. Nó là một hỗn hợp giữa thi và văn. Nói
theo danh từ hiện đại thì nó là loại tản văn mang tính chất thơ, hoặc nó là
loại thơ có hình thức tản văn. Về mặt cú pháp, phú được viết theo những câu
dài ngắn không đều nhau. Theo nghĩa cổ điển thì phú có nghĩa là trình bày việc
gì đó một cách trực tiếp... Điểm đặc biệt của nó là “âm luật”, nghĩa là chú
trọng đến “vận”.
Ông nói tiếp: “Sự
hình thành của Hán phú hiển nhiên đã chịu ảnh hưởng của Kinh Thi lẫn Sở từ”.
Dần dần, Hán phú
chịu ảnh hưởng nặng nề của âm luật của biền văn thời Lưỡng Tấn Nam Bắc triều,
cho ra lối văn đi từng cặp như biền văn. Văn tế và phú thí dụ điển hình của
lối Đường phú. Về hình thức, thực chất bài văn tế gồm nhiều cặp biền văn hợp
lại. Mỗi cặp có quy định âm luật và số chữ riêng. Nếu tách riêng từng cặp thì
gọi là “cặp đối liên”.
Có một điều khá
thú vị là, căn cứ vào sự nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi có thể khẳng định
rằng lối văn đối liên tuy đến đời Đường mới thành hình, nhưng về mặt ứng dụng
để sáng tác thì :
* Trung Quốc chỉ
ứng dụng để làm riêng từng cặp câu đối liên mà thôi.
* Việt Nam chúng
ta chẳng những làm riêng từng cặp đối liên, mà còn dùng chúng ghép thành bài
văn tế, phú...
Việt Nam ta có
những bài văn tế hoặc phú làm bằng chữ Nôm rất nổi tiếng như : Hàn Nho
phong vị phú của Nguyễn Công Trứ, bài Tài tử đa cùng phú của Cao Bá
Quát, bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc và Văn tế Trương Công Định
của Nguyễn Đình Chiểu...
Dù gọi là phú hay
văn tế thì hình thức cấu tạo đại thể cũng như nhau : không có câu riêng lẻ, mà
chỉ cấu tạo thành từng cặp một. Trong phạm vi này, chúng ta không đi sâu vào
phú hay văn tế. Phú và văn tế như chúng ta vừa kể trên ở Việt
Nam ít thấy đề cập trong văn học sử Trung Quốc.
Văn tế Việt
Nam được làm theo lối Đường phú.
Chúng ta thử phân
tích về mặt cấu tạo hình thức các cặp đối liên:
1-
Câu viết theo lối tứ tự : Mỗi vế độc lập gồm 4 chữ.
Ví dụ : (Văn tế
Trương Công Định của Nguyễn Đình Chiểu)
................tứ
tự................ /................tứ tự................
Giặc
cỏ
bò
lan
/ Tướng
quân
mắc
nạn
vần bằng
vần trắc
2-
Câu viết theo lối bát tự : Mỗi vế độc lập gồm 8 chữ.
................bát tự ................/................bát tự................
Ví dụ : (Văn tế
Trương Công Định của Nguyễn Đình Chiểu)
Tiền vàng ơn chúa,
trót đã rỡ ràng/ Yên bạc mưu binh, nào còn trễ nãi
vần bằng
vần trắc
3-
Câu viết theo lối song quan (hai cánh cửa) : Mỗi vế có từ 5 chữ đến 9 chữ.
................song quan................/ ................song
quan................
Ví dụ : (Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu)
Mười tám ban võ
nghệ nào đợi tập rèn/ Chín chục trận binh thư không chờ bày bôë
vần bằng
vần trắc
4-
Câu viết theo lối cách cú : Mỗi câu gồm 2 vế, một dài một ngắn.
................a................/ ................b................
................a’................/ ................b’................
Vế a đối với vế a’
qua sự cách ngăn của b, hoặc b đối với b’ phải qua sự cách ngăn của a’.
Ví dụ : (Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu)
Bữa thấy bòng bong
che trắng lốp muốn tới ăn gan
vần trắc
vần bằng
Ngày xem ống khói
chạy đen sì muốn ra cắn cổ
vần bằng
vần trắc
5-
Câu viết theo lối hạc tất (gối hạc) : Mỗi câu gồm 3 vế.
................a................/ ................b................/
................c................
................a’................/ ................b’................/
................c’................
a đối với a'
b đối với b'
c đối với c'
Ví dụ : (Văn tế
dân Lục tỉnh của Nguyễn Đình Chiểu)
Tiếc non nước
ấy nhân dân dường ấy gây sự này nào thấy phép tẩy oan
vần trắc
vần trắc
vần bằng
Biết cha mẹ đâu
tộc loại ở đâu chạnh tình đó mới ra ơn điều khuất
vần bằng
vần bằng
vần trắc
Điểm lại thì tất
cả các câu đối liên trong tất cả các chùa, trong phạm vi nói riêng và có lẽ ở
khắp nơi trên nước Việt Nam, khi làm câu đối đều phải tuân thủ tuyệt đối các
luật đối và luật bằng trắc như chúng tôi đã trình bày trên. Chỉ có điều là tùy
theo trình độ của tác giả cao hay thấp mà các chữ đối có chỉnh hay không mà
thôi.
* Cấu tạo đối theo
luật hư và thực :
Ví dụ :
trắng lốp đối với đen sì (tính từ đối với tính
tưâ, đối đúng và hay)
ăn gan
đối với cắn côí (danh từ đối với danh tưâ, đối
đúng và hay)
Ngày xưa các cụ
thường gọi là hư phải đối với hư, thực phải đối với thực.
III.- KẾT LUẬN
Quá trình hoằng
dương Phật pháp là trách nhiệm của cộng đồng Phật giáo (PG). Chùa (tự) là trụ
sở vừa là nơi để tu hành và đồng thời cũng là nơi thuyết pháp để hoằng dương
Phật pháp. Vấn đề dùng kinh kệ để thuyết pháp là vấn đề khác. Ở đây, chúng tôi
muốn đề cập đến hình thức dùng những cặp đối liên để hoằng dương Phật pháp.
Như chúng ta đã
biết, hình thức câu đối rất ngắn, gọn, không dài dòng lê thê như văn xuôi, như
thi ca, như bài minh, bài kệ. Cho nên, khi dùng câu đối liên thì phải cô đọng
tối đa tư tưởng muốn phát biểu vào trong phạm vi hai câu, vừa ngắn, vừa phải
tuân thủ một cách nghiêm khắc của luật bằng trắc.
Tuy nhiên, chúng
ta phải hãnh diện về vấn đề này, vì, nếu so ra với các chùa thuộc các quốc gia
quanh ta như Campuchia, Lào, Thái Lan... thì các chùa này xây cất chắc chắn
hơn, trang trí thếp vàng rực rỡ hơn, nhưng bên trong tuyệt không có chữ nghĩa.
Mà chữ nghĩa dĩ nhiên là những chứng tích cao cấp của văn minh, văn
hóa.
Chúng tôi có những
đề nghị như sau:
1- Từ nay nếu có
sửa chữa chùa, xin cố gắng giữ lại tất cả những cặp đối liên và các bức hoành
phi vốn vô cùng quý giá trong các ngôi chùa cổ.
2- Nâng cao thật
sự trình độ Hán văn thuộc kinh điển PG và Nho giáo cho các tu sĩ trẻ đang có
trọng trách hoằng dương Phật pháp cho tương lai.
3- Phải có một kế
hoạch, một chương trình, dịch kinh điển PG sang Việt văn thật khoa học, chú
giải rõ ràng, Hán-Việt đối chiếu... Những kinh sách Phật đã dịch hiện nay,
chưa đạt đến tầm cao.
4- Phải lập một ủy
ban thu tập, điều tra tình trạng còn hay mất tất cả các câu đối, hoành phi
trong các chùa thuộc phạm vi đất Nam Kỳ.
5- Thu tập xong,
phải có một ủy ban phân loại, dịch giải, xiển dương tư tưởng Phật giáo còn
tiềm ẩn trong những mảnh gỗ vô tri treo trên các hàng cột của các chùa.
Xong, mong các vị
tu sĩ trong mỗi chùa, tối thiểu phải thông hiểu những gì mà chùa mình đang cất
giữ (nếu có), đang treo trên vách. Nói khác đi, đã đến lúc chúng ta phải học
và biết rõ những vị đại sư các thế hệ trước đã muốn nói gì với con cháu hiện
nay qua các câu đối đó? Hay là các câu đối đó chỉ treo cho đẹp mà thôi? Tôi
nghĩ các câu đối trong chùa cũng là một cách hoằng pháp tuyệt vời chứ không
chỉ treo cho đẹp mà con cháu cứ vứt bỏ.
Những nhận xét về
hiện trạng của các câu đối liên như đã nói trên, tôi cũng chỉ mong tìm hiểu
lại một hình thức hoằng pháp của cổ nhân mà thôi.
Biết đâu khi chúng
ta hiểu được ý nghĩa của những câu đối liên và hoành phi trên một cách rõ ràng
thì nội thất của ngôi chùa lại chẳng sáng hẳn lên?
Hy vọng trong một
ngày rất gần đây, tôi sẽ lần lượt cho ra những tác phẩm liên quan đến vấn đề
trên trong các chùa, đình miếu và từ đường tại đất Gia Định từ 300 năm nay.«
TP Hồ Chí Minh,
Mạnh hạ, cát nhật, tháng 5-1998
Vài đặc điểm của giáo phái
Bửu Sơn Kỳ Hương
THÍCH PHƯỚC SƠN
Vị
giáo chủ đầu tiên của đạo giáo Bửu Sơn Kỳ Hương là
đức Phật Thầy Tân An, thế danh
Đoàn Minh Huyên. Sau khi ông qua đời, có các vị Phật Trùm,
đức Bổn sư Ngô Lợi, ông sư Vãi
Bán Khoai..., các vị này được xem là hậu thân của