phần v
văn hóa - giáo dục phật giáo
Phật giáo với sự nghiệp giáo dục và đào tạo
tại Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh
Hòa
thượng THÍCH MINH CHÂU
Viện trưởng Học
viện PG Việt Nam
tại TP HCM
Sài
Gòn-TP Hồ Chí Minh đã có 300 năm lịch sử kể từ khi được thành lập. Trong gần 1.000 ngôi chùa
hiện diện trên mảnh đất này, chùa Giác Lâm được coi là ngôi chùa xưa nhất đã
được xây dựng trên 250 năm. Điều ấy chứng tỏ Phật giáo (PG) đã gắn bó cùng
thành phố ngay từ những năm đầu tiên khi thành phố được thành lập. Trong tất
cả các mặt sinh hoạt mà PG đã đóng góp cho đất nước và nhân dân, chúng tôi
muốn nhấn mạnh ở đây sự đóng góp vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo tại Sài
Gòn-TP Hồ Chí Minh, và bài này tập trung ở hai ý chính:
* PG thành phố đã
và đang đóng góp vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.
* Những nguyên lý
cơ bản về giáo dục và đào tạo đã được áp dụng và cần được tiếp tục triển khai,
thực hiện.
I.- SỰ ĐÓNG GÓP
CỦA PG THÀNH PHỐ VÀO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Việc giáo dục và
đào tạo của PG khởi sự từ những ngôi chùa. Đầu tiên, các vị cao tăng giảng
Phật pháp, khuyến dạy đạo đức, gây ý thức về nếp sống hiền thiện cho quần
chúng Phật tử. Mặt khác, chư vị còn giáo dục, đào tạo lớp tu sĩ kế thừa,
truyền bá chánh pháp. Như thế, ý nghĩa giáo dục và đào tạo đã được thực hiện
nhằm vào đối tượng tu sĩ và cư sĩ Phật giáo.
Học thuyết Tứ đế,
Duyên khởi, Nhân quả, Luân hồi... đã quá phổ biến trong quần chúng nhân dân
vùng đất mới được thành lập, bên cạnh những hình ảnh hiền hòa, đạo đức có tính
thuyết phục của chư Tăng Ni, của những ngôi chùa trang nghiêm thanh tịnh.
Từ đầu thế kỷ 20,
khi phong trào chấn hưng PG phát triển mạnh mẽ trên khắp cả nước, các tu sĩ và
giới trí thức PG đã nhanh chóng tham gia phong trào và có những hoạt động tích
cực: Thích học đường, Phật học thư
xã được hình thành tại Sài Gòn năm 1928, Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học và tạp
chí Từ Bi Âm ra đời ngay sau đó. Suốt nhiều năm, các tạp chí Từ Bi
Âm, Pháp Âm, Tiến Hóa cũng như các ấn phẩm dịch thuật, sáng tác bằng chữ
quốc ngữ của giới PG thành phố đã góp công phổ biến giáo lý của đức Phật, kêu
gọi một nếp sống mới hiền thiện, đồng thời với việc truyền bá chữ
quốc ngữ.
đến khi cùng với các khóa Phật học ở các trường Phật học
chuyên giáo dục và đào tạo Tăng Ni, các trường Bồ Đề trung và tiểu học của
Phật giáo dạy chương trình phổ thông có kèm thêm các giờ giáo lý và một số
sinh hoạt PG cho thanh thiếu niên thành phố, thì PG đã chuyển sang giai đoạn
mới gia tăng đóng góp vào công cuộc giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.
Năm 1964, Viện Đại
học Vạn Hạnh được thành lập, mới đầu có trụ sở tạm thời tại chùa Pháp Hội, rồi
chùa Xá Lợi và sau đó dời về cơ sở khang trang, đầy đủ tiện nghi sinh hoạt cho
một đại học PG tại số 222 Trương Minh Giảng, Sài Gòn. Tuy là một đại học mới
thành lập, nhưng do mục đích và phương pháp đào tạo đúng đắn, phù hợp với thời
đại, lại có liên hệ chặt chẽ với nhiều đại học lớn trên thế giới, Viện đã thu
hút được nhiều sinh viên. Sau mười năm, số sinh viên tốt nghiệp gồm hơn 5.000
người chia đều ở các phân khoa Phật học, văn học, triết học, kinh tế, báo chí,
xã hội...
Sau ngày thống
nhất đất nước, do tình hình đất nước và do điều kiện chủ quan, Viện Đại học
Vạn Hạnh đã ngưng hoạt động. Đến năm 1985, Trường Cao cấp Phật học Việt Nam
được thành lập tại thành phố Hồ Chí Minh, kế đến là Trường Cơ bản Phật học,
lớp Cao đẳng Phật học được hình thành, rồi các khóa đào tạo giảng sư Phật học
và nhiều khóa Phật học khác được tổ chức tại thành phố nhằm đào tạo Tăng Ni
đáp ứng giai đoạn phát triển mới của đất nước và của Giáo hội. Ngoài ra, các
lớp học tình thương, các nhà giữ trẻ, các nhà nuôi dạy trẻ em khuyết tật, mồ
côi, bụi đời của PG thành phố cũng góp công vào sự nghiệp giáo dục của thành
phố. Các sách báo PG in ấn và phát hành phần lớn tại thành phố Hồ Chí Minh
cũng là những công cụ hữu hiệu nhằm giáo dục và đào tạo một lối sống lành mạnh
với trí tuệ và từ bi.
II.- NHỮNG NGUYÊN
TẮC CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỦA PG ĐÃ ĐƯỢC ÁP DỤNG VÀ CẦN PHẢI ĐƯỢC PHÁT
HUY
Đối với những
người theo đạo Phật, đức Phật là vị thầy vĩ đại. Ngài giảng pháp, chỉ rõ con
đường thoát khổ. Những nguyên tắc cơ bản về giáo dục và đào tạo được tìm thấy
trong giáo lý của Ngài, và nếu được áp dụng một cách linh động theo từng hoàn
cảnh thực tế thì thành quả sẽ vô cùng tốt đẹp.
Chúng tôi may mắn
được tiếp xúc với một số nhà giáo dục PG nổi tiếng từ nhiều nơi trên thế giới,
chúng tôi cũng có thời gian nghiên cứu về các nguyên tắc giáo dục PG qua kinh
điển và chúng tôi cũng có một số kinh nghiệm về giáo dục đào tạo trong suốt
thời gian một phần tư thế kỷ giữ chức vụ Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh và
Học viện PG Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Qua đó, chúng tôi nhận thấy
công cuộc giáo dục và đào tạo của PG đòi hỏi một số nguyên tắc cơ bản sau đây:
* Mục tiêu giáo
dục là đào tạo con người lý tưởng của PG có đủ khả năng để tiến đến giải thoát
và thực hiện giải thoát. Đó là con người theo từng mức độ tu học mà biết dập
tắt những đau khổ của mình và giúp người khác dập tắt đau khổ của họ. Đó là
con người được trang bị bằng Giới-Định-Tuệ, loại bỏ được tham sân si, thực
hiện vô ngã, sống hài hòa với mọi người, với thiên nhiên, đầy tính nhân bản,
từ bi và trí tuệ.
* Nội dung của
giáo dục là Giới-Định-Tuệ. Ba vô lậu học này có thể được hiểu một cách tương
đối nhưng rất cụ thể là đạo đức, sự ổn định tâm linh và sự sáng suốt trong
kiến thức, tư duy. Theo với thời đại, nội dung này bao gồm cả sự thực hành đạo
đức đối với bản thân, với xã hội, nhân quần; sự thực hành thiền định để khơi
dậy một nếp sống thanh tịnh, một cái tâm ổn cố; sự nỗ lực tu học để có trí tuệ
sáng suốt, tri thức cao vời cả về đạo học và thế học. Kiến thức và kỹ năng
cũng đòi hỏi sự thực hành, thực dụng, hữu hiệu trong mọi lãnh vực mà PG gọi là
Ngũ minh (nội minh, ngoại minh, thanh minh, công xảo minh, y phương minh).
* Áp dụng triệt để
giáo lý Duyên khởi trong tư duy giáo dục, trong phương pháp tổ chức và thực
hiện. Đó là việc đặt giáo dục vào môi trường của thời đại, việc đánh giá đối
tượng giáo dục theo từng hoàn cảnh, điều kiện của đối tượng. Nói chung là nhìn
sự việc, đối tượng trong mối liên hệ tổng thể của tất cả các yếu tố hiện hữu.
* Phải có cơ sở
vật chất và nhân sự phù hợp cho môi trường giáo dục đào tạo. Đức Phật và chư A
la hán giáo dục, hướng dẫn môn sinh tại các đại tinh xá lớn thời
đức Phật đã đào tạo được số đông
vị nhập vào dòng Thánh; rồi các đại học lớn về sau như cổ viện Na Lan Đà do
ngài Long Thọ làm Viện trưởng và cả Ban Giảng huấn gồm rất nhiều tôn túc đạt
ngộ, đã đào tạo được nhiều Thánh tăng mà người đời vẫn mãi truyền tụng. Do đó,
một cơ sở khang trang, đầy đủ tiện nghi, phù hợp với các sinh hoạt giảng dạy,
học tập, hội họp, các ban chuyên môn v.v... là rất cần thiết. Và, cần thiết
hơn nữa là một ban lãnh đạo, một ban giảng huấn gồm những vị có tài năng, đạo
đức, có khả năng chuyên môn, có phương pháp sư phạm vững vàng.
* Và dĩ nhiên, sự
nghiệp giáo dục và đào tạo đòi hỏi một sự đồng tình ủng hộ của số đông, từ
chính quyền, các tổ chức đoàn thể, các cơ quan và cá nhân thân hữu. Chúng ta
hãy nghĩ đến các vua quan và quần chúng thời
đức Phật đã ủng hộ giáo đoàn Tỳ
kheo như thế nào, rồi liên hệ đến thời Lý-Trần của Việt Nam, chúng ta sẽ thấy
ngay việc giáo dục và đào tạo cần đến lực lượng của số đông theo nhiều thể
cách khác nhau để đạt đến những thành quả tốt đẹp.
Hiện nay, PG thành
phố Hồ Chí Minh đang nỗ lực tiếp tục những đóng góp của mình cho sự nghiệp
giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ. Tuy đối tượng giáo dục và đào tạo hiện nay chủ
yếu là Tăng Ni, nhưng hiển nhiên, một số hoạt động khác như các khóa giảng dạy
cho Phật tử, các cơ sở từ thiện mang tính giáo dục, các sách báo PG vẫn là
nhằm phục vụ cho việc giáo dục và đào tạo con người nói chung. Các trường Cơ
bản Phật học thành phố Hồ Chí Minh đã và đang được tu sửa cho tiện nghi hơn,
lực lượng giảng huấn ngày càng gia tăng chất lượng và số lượng. Học viện PG
Việt Nam
tại thành phố Hồ Chí Minh đang được xây cất cơ sở mới với kinh phí dự trù hơn
6 tỷ đồng Việt Nam.
Đây là những dấu hiệu của quyết tâm phục vụ vào sự phát triển không ngừng của
PG thành phố ta trong việc đóng góp vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo.«
Sự đóng góp về giáo dục Phật học của Phật giáo
Gia Định-Sài Gòn-
TP Hồ Chí Minh 300 năm
THÍCH THIỆN NHƠN
lDẫn
nhập
Đạo
Phật du nhập vào Việt Nam kể từ đầu kỷ nguyên Tây lịch, nhưng
mãi cho đến hậu
bán thế kỷ XVII, đạo Phật mới được truyền đến đầu tiên trên mảnh đất Gia
Định-Sài Gòn, nay là TP. Hồ Chí Minh, do các bậc tiền bối Tổ sư, Thiền sư, cao
tăng từ Thuận-Quảng, theo bước lưu dân đến định cư lập nghiệp tại vùng đất
mới.
Qua thời gian,
công cuộc truyền bá Phật pháp, đạo Phật đã bám rễ vào lòng dân và xã hội, chan
hòa cùng dân tộc, trong suốt chiều dài lịch sử truyền thừa gần 300 năm, làm
cho chánh pháp tồn tại ở thế gian, đạo Phật mãi mãi hiện hữu trong lòng dân
tộc và nhân dân thành phố.
Sự kiện ấy bắt đầu
từ sự đào tạo, kế thừa và phát triển, chính là đầu mối của sự giáo dục Phật
học trải qua các thế hệ truyền thừa và thực hiện của Phật giáo (PG) Gia
Định-Sài Gòn-TP. Hồ Chí Minh. Công việc đó thực hiện như thế, kết quả ra sao,
đã đóng góp đến mức độ nào cho PG Gia Định-Sài Gòn-TP. Hồ Chí Minh trong gần
300 năm qua - chính là vấn đề được bàn bạc và đánh giá qua bản tham luận: SỰ
ĐÓNG GÓP VỀ GIÁO DỤC PHẬT HỌC CỦA PG GIA ĐỊNH-SÀI GÒN- TP. HỒ CHÍ MINH 300
NĂM, gồm có 5 phần như sau:
lGIAI
ĐOẠN i (1744 - 1930)
I) Các
lớp học gia giáo:
1. Chùa Từ Ân -
Khải Tường (1744-1821)
Vào buổi bình minh
của PG, những Tăng sĩ theo đoàn lưu dân từ Thuận-Quảng, đến định cư lập nghiệp
tại đất Gia Định là những dấu ấn lịch sử. Đó là Thiền sư Linh Nhạc-Phật Ý, đệ
tử Tổ Thành Đẳng-Minh Lượng cùng với một vị
tăng khác, xây dựng những am tranh để tu hành tại làng Tân Lộc
(1744), gần 10 năm sau, đến năm 1752, Tổ Linh Nhạc đã triệt hạ am tranh xây
dựng ngôi chùa mới đặt tên là chùa Từ Ân, vị Tăng khách cũng hành động tương
tự, đặt tên cho ngôi chùa mới của mình là chùa Khải Tường.
Sau khi đời sống
đã ổn định, cơ sở sinh hoạt tín ngưỡng đã thiết lập, với khả năng và học Phật
sẵn có, Thiền sư Linh Nhạc đã gia tâm giảng dạy cho
tăng chúng, thuộc môn nhơn, đệ tử và chư
tăng trong vùng, để truyền trì chánh pháp. Qua đó, Tổ
linh
nhạc đã gieo những hạt nhân tốt
trên mảnh đất Gia Định-Sài Gòn để Phật pháp tỏa khắp vùng Gia Định, Đồng Nai,
Tây Ninh, Thuận Hóa (Huế) và lục tỉnh - như TS Liễu Đạt, Tế Chánh, Tế Bổn,
Tiên Tín, Viên Quang, Mật Hạnh, Trí Tâm, Mật Hoằng v.v.. trong giai đoạn đầu
xây dựng và phát triển Phật giáo Nam Kỳ.
2. Phật học xá
Giác Lâm (1772-1861)
Chùa Giác Lâm được
xây dựng tại gò Cẩm Sơn, huyện Tân Bình, năm 1744, do Phật tử Lý Thoại Long
người Minh Hương phát tâm xây dựng, nhưng không có trụ trì. Đến năm 1772, thể
theo sự thỉnh cầu của một Phật tử, Tổ Linh Nhạc đã cử đệ tử là Tổ Tông-Viên
Quang về trụ trì. Ngài đã mở rộng cơ sở chùa Giác Lâm, để thành lập Phật học
xá, đây là Phật học đường đầu tiên tại Gia Định.
Ngài tập hợp chư
tăng cả xứ Đồng Nai-Gia Định và
lục tỉnh về cùng chung tu học trong tinh thần hòa hợp và truyền thụ và đài thọ
cho mọi chi phí trong suốt thời gian theo học... Với tinh thần đạo pháp, vì sự
mở mang trí thức cho chư tăng,
kế thừa mạng mạch đạo pháp, Tổ Viên Quang đã lèo lái Phật học xá Giác Lâm ngày
càng đi vào ổn định, tiến triển theo từng thời gian và lịch sử của đất nước.
Phật học xá hoạt
động đến năm 1792 thì tạm ngưng để trùng tu cơ sở. Công cuộc trùng tu đến năm
1804 thì hoàn thành, và chương trình giáo dục của Phật học xá lại tiếp tục cho
đến năm 1827, khi Tổ Viên Quang viên tịch.
Đến năm 1844, Phật
học xá hoạt động trở lại, do Tổ Tiên Giác-Hải Tịnh điều hành chương trình
giảng dạy. Ở đây cũng nói thêm, hệ thống giáo dục ở thời điểm này gồm có 2
trường: trường Giác Viên thành lập năm 1850, chuyên dạy về khoa ứng phú đạo
tràng; trường Giác Lâm chuyên dạy về giáo lý cho chư tăng và Phật tử. Nhưng cả hai đều bổ sung và hỗ tương tác
động cho nhau trong hệ thống giáo dục Phật giáo Nam Kỳ. Phật học xá hoạt động
đến năm 1861 thì tạm ngưng khi Pháp chiếm trọn miền Đông. Chương trình giáo
dục bị xem như gián đoạn một thời gian dài. Nhưng tiềm năng Phật giáo vẫn còn
luân lưu bất tận, do các vị Tăng tài thạc đức được đào luyện từ chùa Giác Lâm,
Giác Viên truyền bá như: Thiền sư Hải Tịnh, Hoằng Ân, Hoằng Nghĩa, Như Hiển,
Như Lợi, Như Như, Như Hòa, Đạt Lý, Huệ Liêu, Hồng Hưng v.v.. tiếp tục phát huy
chánh pháp, làm cho Phật pháp mãi mãi chuyển lưu trong xã hội, trong chư Tăng
và Phật tử ở vào giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử đất nước và Phật giáo.
3. Chùa Long
Thạnh (1760-1940)
Chùa Long Thạnh
theo truyền thuyết sử được xây dựng vào năm 1760, do Ngài Tổ Đạt-Trí Tâm, đệ
tử Thiền sư Phật Ý-Linh Nhạc sáng lập.
Trải qua nhiều đời
trụ trì, đến năm 1878 Tổ Minh Hòa-Hoan Hỷ, đệ tử Tổ Minh Nhiên... đã mở lớp
Phật pháp giảng dạy cho chư tăng
trong xứ Gia Định, Đồng Nai và lục tỉnh. Kết quả học tập đã đào tạo được các
bậc cao tăng danh đức, những nhà sư yêu nước, nhiệt tình góp phần truyền bá
chánh pháp, xây dựng phong trào chấn hưng PGVN, tham gia các phong trào chống
Pháp cứu nước, góp phần trong cao trào Cách mạng Tháng Tám: như Tổ Long
Quang-Đạt Thanh, Tổ Như Trí-Khánh Hòa, Bửu Chung, Từ Phong, Từ Vân, Minh
Huyên, Như Bằng, Như Hào, Như Nhượng (Quảng Chơn) v.v..
4. Chùa Huệ
Nghiêm (1780-1898)
Chùa Huệ Nghiêm
được xây dựng vào cuối thế kỷ 18, do Tổ sư Thiệt Thoại-Tánh Tường, đệ tử Tổ
Minh Vật-Nhất Tri kiến tạo. Bằng tinh thần đạo pháp, Phật học uyên thâm, đạo
đức đĩnh đạc, tiếp thu từ bổn sư Minh Vật, Ngài nỗ lực giáo hóa đạo chúng, quy
y Phật tử, hướng dẫn Phật pháp, nỗ lực tự học, trở thành pháp khí Đại thừa,
hoằng truyền chánh pháp. Tục Phật huệ đăng, truyền trì chánh pháp, Tổ đã đào
tạo được một số lớn chư tăng có
tài thực đức, làm mô phạm cho đời, kế vãng khai lai, phò trì Phật pháp,như
Thiền sư Tế Lý-Quảng Đức, Tế Vĩnh-Quảng Nhơn, Tế Giác-Quảng Châu (Tiên
Giác-Hải Tịnh), Liễu Xuân-Minh Chí, Đạt Lý-Huệ Lưu v.v..
5. Các lớp gia
giáo, học kinh bộ khác (1867-1930)
Sau năm 1867, khi
Pháp đã bình định xong vùng chiếm đóng, khu vực Gia Định tạm ổn định sau hơn
năm năm loạn lạc chinh chiến, chư Tăng trở lại sinh hoạt bình thường, chương
trình tu học được tiếp tục theo các mùa an cư kiết hạ, trường hương trường kỳ,
các lớp giáo lý, học kinh bộ do các Thiền sư mai danh ẩn tích, các vị Tổ sư
trụ trì tổ đình hướng dẫn tại chùa Phước Tường, Hội Sơn, Long Huê, Trường Thọ,
Giác Hải, Phụng Sơn, Long Triều v.v... nên đã tiếp tục duy trì được mạng mạch
Phật pháp làm cơ sở Phật cho phong trào chấn hưng PGVN vào những thập niên
1920-1930, như thành lập Hội Lục hòa Liên hiệp năm 1920 do Tổ Khánh Hòa đề
xướng.
lGIAI
ĐOẠN 1930 - 1950
II. Các
hệ thống Phật học viện:
1. Phật họåc
viện Linh Sơn (1933)
Trước sự thành
công của phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, Hội Nam Kỳ
nghiên cứu Phật học được thành
lập năm 1931, đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn, Sài Gòn, do Hòa thượng Thiện Chiếu
hiến cúng cho Hội : Tổ Từ Phong làm Hội trưởng,
tổ Khánh Hòa là Phó Hội trưởng.
Mục đích của Hội là đào tạo tăng
tài, hoằng dương Phật pháp, bằng cách dịch kinh sách Phật giáo từ chữ Hán ra
chữ Việt để truyền bá.
Với nhu cầu cấp
thiết của phong trào chấn hưng Phật giáo, cộng với sự quyết tâm của chính
mình, Tổ Khánh Hòa đã nỗ lực vận động, tổ chức thành lập Phật học viện. Và mặc
dù gặp phải những khó khăn, nhưng Tổ vẫn quyết tâm khai giảng Phật học viện
Linh Sơn tại hội quán vào đầu năm 1933. Nhưng Phật học viện chỉ hoạt động hơn
một tháng thì ngưng hoạt động, vì chính quyền Pháp không cho phép. Tuy nhiên,
đây cũng là tiền đề phát khởi phong trào thành lập Liên đoàn Học xã, là một
dạng trường Phật học lưu động hoạt động tại các tỉnh Trà Vinh, Cần Thơ, Bến
Tre, tiến tới thành lập Hội Lưỡng Xuyên Phật học, hoặc Học đường Lưỡng
Xuyên-Trà Vinh.
2. Lớp Phật học
chùa Từ Hòa - Hải Ấn và Kim Sơn
Xuất phát từ cái
nôi của Ni giới, đó là chùa Từ Hòa, sau đổi thành Hải Ấn ni tự, quận Tân Bình.
Năm 1936, Ni sư Diệu Tịnh, Diệu Tấn, Diệu Tánh, Diệu Thuận, Như Thanh... đã
khai giảng lớp gia giáo giảng dạy cho Ni chúng đầu tiên, làm cơ sở cho chương
trình giáo dục Phật học cho Ni giới. Đến năm 1939, lớp học được tiếp tục khai
giảng tại chùa Kim Sơn, Phú Nhuận, quy tụ hơn 20 Ni chúng, và chính hai lớp
học Ni đầu tiên này là nền tảng cho hệ thống giáo dục Ni giới sau này. Nói
khác đi, chư Ni lãnh đạo cao cấp trong Giáo hội và mô phạm trong Ni giới, đều
xuất thân từ lớp học chùa Từ Hòa (Hải Ấn) - Tân Bình, Kim Sơn - Phú Nhuận.
3. Phật học
đường Liên Hải (1946-1950)
Thừa hưởng thành
quả của phong trào chấn hưng Phật giáo Việt
Nam, các Phật học đường được thành lập từ Bắc chí Nam: Bắc có Phật học đường
Quán sứ, Bồ Đề; Trung có Phật
học đường Tây Thiên, Tường Vân, Báo Quốc, Kim Sơn; Nam có Phật học đường Lưỡng
Xuyên - Trà Vinh.
Sau khi tốt nghiệp
Cao đẳng Phật học tại trường Báo Quốc - Huế, quý Thượng tọa Trí Tịnh, Thiện
Hoa đã trở về Nam, thành lập Phật học đường Phật Quang - Trà Ôn, Cần Thơ.
Nhưng vì ảnh hưởng chiến cuộc, Phật học đường Phật Quang bị dao động và không
thuận tiện cho việc giáo dục lâu dài nên Thượng tọa Trí Tịnh trở về Sài Gòn và
thành lập Phật học đường Liên Hải tại chùa Vạn Phước - Bình Trị Đông, Chợ Lớn.
Tiếp theo sự thành
lập Phật học đường Liên Hải là Mai Sơn, Sùng Đức do Thượng tọa Huyền Dung sáng
lập, Giác nguyên do Thượng tọa
Hành Trụ sáng lập, Ứng Quang do Thượng tọa Trí Hữu sáng lập; trung bình mỗi
lớp có gần 30 học tăng và Sài Gòn, Chợ Lớn và các tỉnh miền Tây theo học
chương trình mông đẳng, sơ đẳng, trung đẳng Phật học.
Ban
giảng huấn gồm các vị Thượng tọa
tốt nghiệp Phật học đường Báo Quốc, Lưỡng Xuyên: Thượng tọa Trí Tịnh, Hành
Trụ, Quảng Liên, Huyền Quang, Trí Minh, Huệ Hưng, Trí Hữu, Nhật Liên, Quảng
Minh v.v.. phụ trách.
Nội dung môn học
là Kinh, Luật, Luận thuộc cấp mông đẳng, sơ đẳng, trung đẳng, đều là học chữ
Hán, sáng học, chiều trùng tuyên, chưa có chế độ thi cử phát bằng tốt nghiệp
và học văn hóa phổ thông.
Các Phật học đường
sơ đẳng, trung đẳng hoạt động trong một thời gian 4 năm nhằm đáp ứng nhu cầu
học vấn của chư Tăng hiện thời, là nhân tốt của đạo pháp, với tâm hồn trong
trắng, tâm linh mát dịu, trí huệ bắt đầu phát triển bằng tinh thần tu học
nghiêm túc và thăng tiến không ngừng.
4. Ni trường
Huê Lâm (1947-1975)
Trong sứ mệnh
truyền trì đạo mạch, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, đào tạo Ni tài đức cho
Giáo hội; sau quá trình học tập đã viên mãn, năm 1947, Ni sư Như Thanh thành
lập ni trường Huê Lâm - Q.11, để giảng dạy giáo lý cho Ni chúng và Phật tử.
Trong tinh thần phục vụ đạo pháp và chúng sinh không biết mỏi, Ni sư đã đào
tạo một số Ni chúng trở thành những bậc hữu ích cho đạo pháp và xã hội trong
những thập niên 1950-1970, làm cơ sở cho sự thành lập và phát triển Ni giới
miền Nam.
lGIAI
ĐOẠN 1950-1963
1. Phật học
đường
Nam
Việt (1950-1963)
Sau 14 năm du học
tại Trung Kỳ và Bắc Kỳ, Hòa thượng Thiện Hòa đã trở về Nam, trú tại chùa Sùng
Đức, Phú Lâm. Với tầm nhìn phổ quát và nhất quán trong hệ thống giáo dục, Hòa
thượng đã đề nghị các vị lãnh đạo Phật học đường Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức,
Ứng Quang, Giác Nguyên v.v.. nên hợp nhất để thành lập Phật học đường Nam
Việt. Kết quả được thành tựu, Phật học đường Nam Việt ra đời năm 1950, đầu
tiên đặt tại chùa Sùng Đức - Phú Lâm, Chợ Lớn, do Hòa thượng Thiện Hòa làm
Giám đốc.
Sang năm 1951,
Thượng tọa Trí hữu cúng chùa Ứng
Quang cho Hòa thượng Thiện Hòa và Hòa thượng đã đổi tên thành chùa Ấn Quang.
Trường dời toàn bộ số chúng về Ấn Quang, và Phật học đường Nam Việt bắt đầu đi
vào hoạt động với một quy mô rộng lớn, gồm 3 lớp: Sơ, Trung và Cao đẳng.
Chương trình được thống nhất, do Ban Giáo dục
GHTG NV biên soạn. Từ
đây, hệ thống giáo dục mới được hình thành có quy củ, có lãnh đạo nhất quán.
Đến năm 1953, Thượng tọa Thiện Hoa từ Trà Ôn lên hợp tác và đảm nhận chức vụ
Trưởng ban Giáo dục của Giáo hội kiêm Đốc giáo Phật học đường Nam Việt, không
những làm cho Phật học đường Nam Việt có một sinh khí mới, mà còn đẩy mạnh
chiều hướng phát triển cả ba mặt, sâu rộng và cao hơn.
Năm 1954, sau khi
lớp Cao đẳng mãn khóa, gồm có: Hòa thượng Huệ Hưng, Hòa thượng Bửu Huệ, Hòa
thượng Tắc Phước, Hòa thượng Tịnh Đức v.v.., còn lại lớp Sơ-Trung đến 1955
cùng mãn khóa gồm có: khóa 2: Thượng tọa Thanh Từ, Thượng tọa Huyền Vi, Thượng
tọa Thiền Định, Thượng tọa Từ Thông..., khóa 3 có: Thượng tọa Trí Quảng,
Thượng tọa Nguyên Ngôn, Thượng tọa Minh Thành... Chương trình Trung đẳng được
cải tiến như sau: về giáo lý giảng dạy bằng chữ Việt, nhẹ phần chữ Hán. Về văn
hóa, thêm chương trình phổ thông hệ 12 năm, của Bộ Quốc gia Giáo dục quy định.
Và có thể nói, chế độ thi cử tốt nghiệp, cũng như học văn hóa phổ thông bắt
đầu từ đây.
2. Trường Phật
học Lục hòa Tăng - chùa Giác Viên (1952-1968)
Thực hiện chương
trình giáo dục, đào tạo tăng
tài, phát huy chánh pháp, xây dựng cho Tăng Ni tinh thần yêu nước trong sáng,
nồng nàn và tích cực trong sứ mệnh hộ quốc an dân, duy trì đạo pháp, năm 1952,
GHLHTVN, thành lập trường Lục hòa Tăng tại chùa Giác Viên, do Thượng tọa Huệ
Chí làm giám đốc trường, là hậu
thân của lớp Phật học Lục Hòa đầu tiên mở tại chùa Khánh Hưng - Hòa Hưng.
Trường đặt dưới sự lãnh đạo của chư tôn đức trong Giáo hội và điều hành, giảng
dạy của quý Hòa thượng, Thượng tọa : Thiện Thuận, Bửu Ý, Minh Nguyệt, Thiện
Hào, Thiện Tòng, Phật Ấn, Huệ Chí, Pháp Lan, Minh Giác, Thiên Lý v.v..
Trường mở được 2
khóa: khóa I (1952-1957) đào tạo tăng
tài theo hệ thống PHV gồm các môn kinh,
Luật, Luận. Khóa 2 (1957-1960) chuyên về mặt bồi dưỡng nghiệp vụ trụ trì và
cán bộ xây dựng phát triển cơ sở. Qua 2 khóa học, trường đã đào tạo được những
danh tăng thạc đức, đã đóng góp nhiều công đức trong sự nghiệp giải phóng dân
tộc, thống nhất tổ quốc và phát triển đạo pháp, xây dựng
giáo hội trong thời hiện đại.
3. Ni trường Từ
Nghiêm, Dược sư (1957-1958)
Với tư cách là Trị
sự trưởng Giáo hội Tăng già Nam Việt, Hòa thượng Thiện Hòa luôn luôn quan tâm
đến công tác giáo dục cho chư Ni. Thành thử, năm 1957, Hòa thượng đã thành lập
ni trường Từ Nghiêm - Chợ Lớn, và năm 1958 thành lập Phật học ni trường Dược
Sư - Gò Vấp, do Hòa thượng làm Giám đốc và chư Ni trực tiếp điều hành 2 lớp
học Sơ đẳng và Trung đẳng Phật học hơn 220 học ni một cách có hệ thống và quy
củ, tuân thủ giới luật, y chỉ với Tăng, cầu Tăng làm giáo thọ.
Và theo thời gian,
Phật học ni trường Dược Sư và Từ Nghiêm tiếp tục hoạt động cho đến năm 1975
dưới sự lãnh đạo của GHPGVNTN do Ni trưởng Như Thanh, Ni trưởng Huyền Học và
Ni trưởng Như Chí lãnh đạo điều hành một cách có hiệu quả.
4. Phật học
viện Giác Sanh (1960-1975)
Trong mục đích mở
rộng phạm vi hoạt động và cơ sở Phật học đường Nam Việt,Hòa thượng Giám đốc
Thích Thiện Hòa đã thành lập Phật học viện Giác Sanh, là một bộ phận phụ thuộc
của PHĐNV, do TT. Minh Thành, TT. Liễu Minh, HT. Thiện Thành làm Giám viện, để
điều hành sinh hoạt lớp Trung đẳng Phật học hơn 54 Tăng sinh. Kết quả đã đào
tạo được số Tăng sinh có trình độ Phật pháp Trung đẳng để thi vào các PHV Cao
đẳng và Đại học Phật giáo.
lGIAI
ĐOẠN 1964-1975
Sau khi thống nhất
Phật giáo 1964, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra đời, hệ thống giáo
dục ban đầu thuộc về Tổng vụ Pháp sự và Tăng sự. Nhưng đến năm 1966 thì thuộc
về Tổng vụ Giáo dục và Phật học vụ, một chương trình giáo dục được hình thành,
xuyên suốt từ thấp đến cao, có nghĩa là từ Sơ đẳng, Trung đẳng, và Cao đẳng,
Đại học Phật học - gồm cả hai hệ Nam tông và Bắc tông.
1. Các
Phật học viện Trung đẳng
a/ Phật học viện
Huê Nghiêm (1964-1971)
Được sự ủy nhiệm
của quý Hòa thượng Thiện Hòa, Thiện Hoa, ba Thượng tọa Thích Bửu Huệ, Thiên
Tâm, Thanh Từ đã mở lớp Trung đẳng Phật học chuyên khoa, cơ sở đặt tại An
dưỡng địa Phú Lâm, Bình Chánh, Gia Định, do Thượng tọa Bửu Huệ làm
giám đốc. Lớp học quy tụ hơn 40
Tăng sinh, học theo hệ chuyên khoa Phật học, và một số môn văn hóa phổ thông,
để làm phương tiện hoằng dương chánh pháp, lợi lạc chúng sanh, thích ứng với
nhu cầu của thời đại.
Đến năm 1965, để
đáp ứng yêu cầu tu học cho Tăng Ni, thủ đô Sài Gòn và các tỉnh, Giáo hội đã
chuyển trường Trung đẳng Phật học chuyên khoa thành Phật học viện Huệ Nghiêm
và chia làm 8 lớp, có hơn 300 tăng
sinh. Về thế pháp, từ đệ thất đến đệ nhất, hệ 12 năm, theo chương trình thống
nhất của Tổng vụ Giáo dục và Phật học vụ soạn.
Tất cả Tăng sinh
từ đệ thất đến đệ tứ học tại Viện, từ đệ tam đến đệ nhất đi học tại trường Bồ
Đề Chợ Lớn và Sài Gòn thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất quản lý.
Đặc biệt, sau biến
cố Tết Mậu Thân 1968, nhà trường bị khủng hoảng về kinh tế và cơ sở. Ban Giám
đốc đã phân tán một số lớn tăng
sinh đi các nơi - Phật học viện khác tại Sài Gòn cũng như các tỉnh. Tại Viện
chỉ còn một số nhỏ khoảng 60 Tăng sinh theo học chương trình chuyên khoa Phật
học, đến cuối năm 1971, làm lễ mãn khóa và phát bằng tốt nghiệp và theo học
chương trình Cao đẳng Phật học, khi Viện Cao đẳng Phật học được thành lập.
Ngoài ra, các Phật
học viện Phổ Quang, Hải Tràng, Huỳnh Kim, Linh Sơn giảng dạy theo chương trình
Sơ -Trung đẳng Phật học 4 năm, cũng đã tạo cơ sở cho các Tăng sinh thi tuyển
hoặc xin theo học các Phật học viện Trung đẳng tại Sài Gòn và Gia Định v.v..
một cách có hiệu quả và đáng khích lệ.
b/ Phật học viện
Nam tông (1966-1975)
Trên tinh thần
thống nhất về mặt tổ chức và lãnh đạo, nhưng về mặt giáo dục vẫn tôn trọng
tinh thần và giáo lý đặc thù của hệ phái. Do đó, Giáo hội đã cho phép Phật
giáo Nam tông thành lập hai Phật học viện là Phật Bảo tại Tân Bình, do Thượng
tọa Giới Nghiêm và Đại đức Thiện Giới lãnh đạo, Phật học viện Pháp Quang - Gia
Định, do Hòa thượng Thiện Luật và Đại đức Hộ Giác lãnh đạo và điều hành.
Nội dung, chương
trình giảng dạy Tam tạng giáo điển, và Ban
giảng huấn do Giáo hội Phật giáo Nguyên thủy chủ động, và thống nhất
trong chương trình giảng dạy do Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất quy
định, thông qua Tổng vụ Giáo dục và Phật học vụ.
c/ Phật học viện
Minh Đức - chùa Thiên Tôn (1969-1975)
Sau
tết Mậu Thân 1968, trường Phật
học Lục Hòa tại chùa Giác Viên bị thiệt hại nặng nề vật chất, nhưng để chương
trình giáo dục đào tạo tăng tài
cho đạo pháp của Giáo hội được tiếp tục, HT Thích Minh Đức, Viện trưởng Viện
Hoằng đạo Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, đã nỗ lực thành lập Phật học
viện Minh Đức tại chùa Thiên Tôn, do HT làm Giám đốc, thành lập trường Tiểu
học Lục Hòa Tăng tại chùa Giác Lâm, Giác Viên, do Thượng tọa Huệ Chí làm Giám
đốc. Viện hoạt động một thời gian từ 1969-1975, có hơn 142
tăng sinh theo học. Qua sự giáo hóa, tài bồi của quý giảng sư
hữu danh, hữu đức, đã đào tạo được những
tăng sinh trở thành bậc hữu ích
cho đạo pháp và xã hội, góp phần giải phóng quê hương, thống nhất Tổ quốc, làm
tốt Đạo, đẹp Đời.
HỆ
THỐNG GIÁO DỤC CAO ĐẲNG
1. Viện Cao
đẳng Phật học Sài Gòn (1964-1965)
Thực hiện chương
trình giáo dục của Giáo hội, mang tính toàn diện, từ Sơ đẳng đến Cao đẳng Phật
học, sau khi thống nhất Phật giáo năm 1964, Giáo hội đã quyết định thành lập
Viện Cao đẳng Phật học, gọi là Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn, cơ sở đặt tại
chùa Pháp Hội và giảng dạy tại chùa Xá Lợi.
Viện Cao đẳng Phật
học Sài Gòn là một viện Phật học
chuyên khoa đầu tiên được thành lập sau mùa Pháp nạn 63, do Hòa thượng Trí Thủ
làm Viện trưởng, Thượng tọa Minh Châu làm Phó Viện trưởng.
Trong niên khóa
đầu, và trước mắt, Viện chỉ đào tạo và cấp phát văn bằng cử nhân cho 250 sinh
viên nam nữ và Tăng ni ghi danh
theo học.
Nội dung giảng dạy
và đào tạo, Viện có 6 chứng chỉ - Phật học đại cương, Văn học Phật giáo đại
cương, Duy thức học đại cương, Văn học Bát
nhã,
văn học A
tỳ đàm, Hán văn
và Pàli.
Muốn ghi danh vào
học hệ cử nhân, sinh viên phải có bằng tốt nghiệp tú tài 2, nếu là Tăng Ni
phải có bằng tốt nghiệp trung đẳng Phật học chuyên khoa. Muốn lấy bằng cử nhân
Phật học, sinh viên phải học và thi đậu 12/chứng chỉ/thời gian là 3 năm. Mỗi
chứng chỉ học một khóa, gồm khóa Đông và Xuân, gồm 8 tháng, 4 tháng thi học kỳ
1, 4 tháng thi học kỳ 2.
Tuy nhiên, vì yêu
cầu đòi hỏi và phát triển không ngừng của hệ thống giáo dục Phật học, Viện
cao đẳng Phật học Sài Gòn chỉ
hoạt động một thời gian ngắn 1964 - 1965, thì chuyển thành Viện Đại học Vạn
Hạnh, và dời về cơ sở mới ở đường Trương Minh Giảng, nay là Lê Văn Sỹ, Q.3.
2. Viện Cao
đẳng Phật học Huệ Nghiêm (1971-1991)
Để đáp ứng yêu cầu
Đại học Phật giáo chuyên khoa Phật học, ngoài hệ thống giáo dục phổ thông như
Viện Đại học Vạn Hạnh, Giáo Hội cần đào tạo một số Tăng Ni có trình độ Phật
học chuyên sâu để đảm đang công tác phiên dịch Tam tạng, giáo dục và hoằng
pháp, lãnh đạo Giáo hội trên một bình diện rộng lớn và mô phạm. Do đó, năm
1971, Giáo hội đã quyết định thành lập Viện Cao đẳng Phật học, lấy tên là Viện
Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm, cơ sở đặt tại chùa Huệ Nghiêm, Gia Định, do
Thượng tọa Trí Tịnh làm Viện trưởng, Thượng Tọa Bửu Huệ làm
phó Viện trưởng.
Khóa Cao đẳng Phật
học đầu tiên được khai giảng vào 17-10-1971, quy tụ khoảng 60 sinh viên
tăng của của lớp chuyên khoa
Phật học, và một số tăng sinh
được tuyển chọn từ các Phật học viện Linh Quang, Liễu Quán - Huế, Nguyên Thiều
- Bình Định, Già Lam, Giác Nguyên - Sài Gòn.
Chương trình đào
tạo và giảng dạy theo quy chế Đại học Phật giáo, gồm 3 cấp: cử nhân 4 năm, cao
học 2 năm, tiến sĩ 2 năm, tổng cộng là 8 năm. Bốn năm đầu học tổng quát hai hệ
tư tưởng văn học Nam-Bắc Tống, tư tưởng triết học Đông-Tây, và sự phát triển
của trào lưu văn học Phật giáo và thế giới. Hai năm cao học được phân ban, và
sinh viên tăng chọn một trong
bốn ban - ban Kinh, Luật, Luận và Thiền. Khi hoàn thành tiểu luận cao học mỗi
ban, sinh viên Tăng được gọi là Pháp sư, Luật sư, Luận sư và Thiền sư.
Trên thực tế, Viện
cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm chỉ
thực hiện và phát bằng cử nhân
Phật học và Cao đẳng Phật học. Viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm duy trì
chương trình giảng dạy theo tinh thần nội trú và thi hành hợp nhất. Nhằm thực
hiện những điều đã học, giúp cho sinh viên Tăng có đủ tư lương và chất liệu
Phật học, và tâm linh, đạo lực trong sáng, để đảm nhận công tác hoằng dương
chánh pháp, lợi lạc chúng sanh trong mọi thời gian và không gian của lịch sử
bằng tinh thần Tâm đức, Trí đức và Tuệ đức, Viện đã đào tạo một số Tăng sinh
có khả năng thực sự đã, đang phục vụ cho các cấp Giáo hội trước năm 1975 cũng
như Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay.
lGIAI
ĐOẠN 1975-1998
1. Phật học
Viện Thiện Hòa (1979-1986)
Sau ngày 30/4/1975,
trong sự đổi thay của xã hội và lịch sử đã sang trang, các Phật học viện Sơ
đẳng, Trung đẳng tại Sài Gòn-Gia Định đều ngưng hoạt động.
Để đáp ứng yêu cầu
tu học cho một số lớn Tăng, Ni thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời trong khi chờ
Giáo hội Phật giáo Việt Nam có quy trình giáo dục cụ thể, Hòa thượng Trí Tịnh,
Phó Viện trưởng Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất,
cố vấn Hội đồng Quản trị
tổ đình Ấn Quang, đã xin phép
Viện Hóa đạo và Ủy ban Nhân dân thành phố được thành lập Phật học viện Thiện
Hòa, quý danh Hòa thượng Giám đốc Phật học đường Nam Việt, cơ sở đặt tại chùa
Giác Ngộ, Giác Sanh và Ấn Quang, do Hòa thượng cùng quý tôn đức trong Hội đồng
Quản trị tổ đình Ấn Quang làm
Giám đốc.
Chương trình học
được chia làm 3 cấp, do Ban Giáo dục Tăng Ni Giáo hội Phật giáo Việt
Nam soạn. Sơ cấp 1 hai năm, Sơ cấp 2 hai năm và Trung cấp 3 năm,, tổng cộng 7
năm. Ngoài chương trình Phật học, nhà trường còn đạo tạo thêm hệ bổ túc văn
hóa cấp 1 và 2 hệ 10 năm, do Sở Giáo dục thành phố Hồ Chí Minh quy định.
Với số lượng hơn
300 Tăng Ni sinh, chia làm 3 lớp, trong quá trình hoạt động gần 6 năm, trong
tình hình thành phố vừa được giải phóng, Giáo hội, Thành hội Phật giáo thành
phố Hồ Chí Minh mới được thành lập là một vấn đề tương đối khó khăn. Tuy
nhiên, Ban Giám đốc đã vì tương lai đạo pháp, vì sự tu học của Tăng Ni thành
phố, nên đã cố gắng vượt qua tất cả những trở ngại, để hoàn thành chương
trình, công tác giáo dục đào tạo Tăng tài cho Giáo hội và đạo pháp. Và trường
chỉ hoạt động đến năm 1986 thì tạm ngưng, để
thành hội Phật giáo thành phố Hồ
Chí Minh thành lập trường Cơ bản Phật học, theo chủ trương và đường hướng giáo
dục do Giáo hội quy định, thông qua Ban Giáo dục Tăng Ni T.Ư và Ủy viên Giáo
dục TN Thành hội Phật giáo quản lý, điều hành và lãnh đạo xuyên suốt từ T.Ư
đến các Tỉnh, Thành hội trong phạm vi cả nước.
2. Trường Cơ
bản Phật học TP. Hồ Chí Minh (1988-1998)
Để đáp ứng nhu
cầu, nguỵện vọng tu học Phật pháp của Tăng Ni thuộc diện tại thành phố, đồng
thời thực hiện chương trình giáo dục Tăng Ni của Trung ương Giáo hội và Thành
hội Phật giáo, nhằm đào tạo một thế hệ Tăng Ni trẻ có năng lực và trình độ học
văn hóa và Phật học, để kế thừa đạo mạch, hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần
sinh, tốt đạo đẹp đời, ngay nhiệm kỳ đầu, 1982-1987, Thành hội Phật giáo đã có
văn thư xin phép UBND thành phố, cũng như các cơ quan chức năng lãnh đạo thành
phố. Nhưng vì lý do hành chánh, cho đến nhiệm kỳ 2 (1987-1990), UBND thành phố
mới cho phép Thành hội Phật giáo thành lập trường Cơ bản Phật học, cơ sở đặt
tại chùa Vĩnh Nghiêm - quận 3, do Thượng tọa Thích Từ Thông làm Hiệu trưởng.
Trường đã chính
thức khai giảng và hoạt động kể từ ngày 30/4/1989 với số lượng 165 Tăng Ni
sinh.
Nhằm giải quyết
dứt điểm và đáp ứng thỏa đáng nguyện vọng của Tăng Ni thành phố còn dôi ra của
khóa I, UBND thành phố đã cho phép Thành hội Phật giáo được mở thêm cơ sở 2
tại chùa Thiên Minh - Thủ Đức, cho 152 Tăng Ni sinh học.
Trường đào tạo
theo hệ chính qui và ngoại trú, tổng số Tăng Ni sinh của trường là 318 Tăng
Ni, gồm 3 hệ phái Nam tông, Bắc tông và Khất sĩ theo học.
Chương trình giáo
dục gồm có 4 năm. Năm đầu ôn tổng quát chương trình sơ cấp, 3 năm sau học
chương trình Trung cấp do Ban Giáo dục Tăng Ni T.Ư biên soạn. Trình độ từ lớp
9 đến lớp 12. Tuổi đời từ 16 đến 30. Nội dung giảng dạy: Tam tạng giáo điển
Kinh - Luật - Luận, hệ Bắc tông và
Nam tông. Nhà trường còn áp dụng chương trình hệ bổ túc văn hóa cấp 3 và một
số môn chính khóa, như công dân giáo dục và sinh hoạt Giáo hội. Tăng Ni học
riêng; Tăng học buổi sáng, Ni học buổi chiều.
Qua thời gian,
trường đã đào tạo được 2 khóa, khóa 1 - 318 Tăng Ni sinh, Khóa 2 - 365 Tăng Ni
sinh, trở thành những Tăng Ni có trình độ Phật pháp cấp trung đẳng. Một số lớn
Tăng Ni sinh trúng tuyển vào đại học tại
trường Cao cấp Phật học Việt Nam
cơ sở 2 tại TP. Hồ Chí Minh, nay là Học viện Phật giáo Việt Nam.
Hiện nay, trường
đang giảng dạy khóa 3 (1997-2001), có 457 Tăng Ni sinh, đang hoạt động có hiệu
quả, góp phần đào tạo tăng tài
cho Giáo hội PGVN và TP. Hồ Chí Minh.
3. Các lớp Sơ
cấp Phật học
Để đáp ứng yêu cầu
tu học cho các Tăng Ni mới xuất gia, tạo điều kiện thuận lợi căn bản cho các
Tăng Ni sinh theo học trường Cơ
bản Phật học thành phố, Thành hội Phật giáo đã cho phép Ban
đại diện Phật giáo Q.2, Q.4,
Q.8, Q.9, Tân Bình, Thủ Đức mở các lớp Sơ cấp Phật học thuộc phần Cơ bản Phật
học, có hơn 1.458 Tăng Ni sinh theo học và mãn khóa tốt nghiệp đang theo học
trường Cơ bản Phật học TP. Hồ
Chí Minh.
4. Lớp Cao đẳng
Phật học Tp. Hồ Chí Minh
(1995-1998)
Đáp ứng yêu cầu tu
học cho những Tăng Ni sinh đã tốt nghiệp Cơ bản Phật học muốn đi sâu vào nội
điển và nâng cao trình độ Phật pháp, do đó THPG đã xin phép Giáo hội và các cơ
quan chức năng lãnh đạo thành phố xin mở lớp Cao đẳng Phật học và lớp gối đầu,
cho hơn 650 Tăng Ni sinh theo học, lớp học đã đang hoạt động có kết quả, lạc
quan và tin tưởng theo yêu cầu của Giáo hội và THPG.
5. Trường Cao
cấp Phật học Việt
Nam cơ sở 2 (1984-1998)
Sau khi thống nhất
Phật giáo Việt Nam cả nước 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập,
một trong những công tác trọng tâm của chương trình hoạt động là giáo dục Tăng
Ni. Để đáp ứng nguyện vọng của chư tôn giáo phẩm trong Giáo hội, nhất là lời
thỉnh cầu của đức Pháp chủ, Hội đồng Bộ trưởng và Nhà nước đã cho phép Giáo
hội thành lập trường Cao cấp Phật học cơ sở 1 đặt tại chùa Quán Sứ - Hà Nội,
do Hòa thượng Thích Minh Châu làm Hiệu trưởng. Khóa 1 quy tụ được 18 Tăng Ni
sinh chính thức, 28 Tăng Ni sinh dự bị.
Đến năm 1984, Nhà
nước tiếp tục đáp ứng yêu cầu của Giáo hội, nhất là Tăng Ni các tỉnh phía Nam,
Hội đồng Bộ trưởng đã cho phép Giáo hội thành lập cơ sở 2 tại TP. Hồ Chí Minh,
tọa lạc tại số 716, đường Nguyễn Kiệm - Phú Nhuận, do Hòa thượng Minh Châu
cũng làm Hiệu trưởng. Trường được phép chiêu sinh từ Bình Trị Thiên đến Minh
Hải. Đến năm 1997 đổi tên thành Học viện Phật giáo Việt
Nam.
Qua đó, hơn 10 năm
hoạt động, trường đã thực hiện chương trình giáo dục, đào tạo có hiệu quả, vô
cùng khích lệ.
Khóa 1
(1984-1987): Đào tạo 60 Tăng Ni sinh.
Khóa 2
(1987-1993): Đào tạo 125 Tăng Ni sinh.
Khóa 3
(1993-1997): Đào tạo 234 Tăng Ni sinh.
Khóa 4
(1997-2001): Đang hoạt động: có 350 Tăng Ni sinh.
Từ khóa 1 (1984)
khóa 2 (1987) khóa 3 (1993), TP. Hồ Chí Minh đã có 66 Tăng Ni sinh tốt nghiệp
Cao cấp Phật học, có trình độ đại học, trên đại học, đều do trường Cao cấp
Phật học Việt Nam đào tạo và thành tài đạt đức hiện đang du học tại các nước
và phục vụ tại các ban ngành Trung ương và Thành phố.
Như vậy, có thể
nói các trường Phật học, các Phật học viện đã cống hiến cho đạo pháp những đóa
hoa đạo hạnh tươi thắm, trang nghiêm, những pháp khí đại thừa, những nhân tài
Phật giáo, góp phần duy trì và phát triển đạo pháp, lợi lạc chúng sanh qua các
thời đại và lịch sử khác nhau của đất nước và xã hội, làm cho ánh sáng chánh
pháp mãi mãi soi sáng tại thế gian.
HỆ THỐNG GIÁO DỤC
PHỔ THÔNG CỦA CÁC TRƯỜNG BỒ ĐỀ VÀ ĐẠI HỌC PHẬT GIÁO (1950-1975)
Thực hiện chương
trình giáo dục của Giáo hội, nhằm phát triển và nâng cao trình độ trí thức và
văn hóa cho Tăng Ni và Phật tử trong toàn Giáo hội, vì vậy, ngoài chương trình
giáo dục chuyên khoa Phật học, Giáo hội đã nỗ lực vận động xin phép
chính phủ để thành lập các
trường trung-tiểu
học tư thục Bồ đề, là hình thức, cơ sở giáo dục phổ thông tư thục cho Phật
giáo gồm: tiểu học, trung học và đại học.
GIÁO DỤC MẪU GIÁO
KIỀU ĐÀM
Mầm non của đạo
pháp, dân tộc và xã hội là các cháu, các em thiếu nhi Phật tử. Môi trường uốn
nắn, đào tạo từ buổi ban sơ trong trắng, hồn nhiên là các trường
mẫu giáo Kiều Đàm.
Vì thề, hầu hết
các trường mẫu giáo Kiều Đàm đều
được Giáo hội thành lập tại các chùa sư nữ, như Huệ Lâm - quận 11 (năm 1952).
Phước Hòa (1956), Huệ Lâm - quận 8, Kim Liên - quận 4, Kiều Đàm - quận 3, Long
Nhiễu - Thủ Đức, do chư Ni quản lý, giảng dạy.
Số lượng trung
bình mỗi trường từ 100 đến 150 em. Nội dung hướng dẫn và giảng dạy theo chương
trình của Bộ Quốc gia Giáo dục quy định.
Bằng tinh thần
trách nhiệm và lý tưởng xây dựng mầm non tuổi trẻ, quý Ni sư, Sư cô đã thành
công trong trách nhiệm giáo dục hơn 2.500 trẻ em Phật tử, làm cơ sở cho các
lớp Tiểu học Bồ đề của Giáo hội.
GIÁO DỤC TIỂU HỌC
BỒ ĐỀ
Qua quá trình uốn
nắn và xây dựång tại các trường mẫu
giáo Kiều Đàm, các em thiếu nhi tiếp tục được dạy dỗ tại các trường
tiểu học Bồ Đề, như Pháp Vân -
quận 3, Tiểu học Bồ Đề Huệ Đức - quận 11, huyện Bình Chánh, Long Nhiễu - Thủ
Đức, Bồ Đề An Khánh, Thủ Thiêm - quận 9, Phước Duyên - quận 4, Hưng Long -
quận 10... tổng số, trung bình mỗi trường có từ 150 em đến 250 em, được giảng
dạy và đào tạo theo chương trình từ lớp Năm đến lớp Nhất theo chương trình Bộ
Quốc gia Giáo dục quy định.
Bằng kinh nghiệm
sẵn có và lòng nhiệt tình của quýTăng Ni, Phật tử, lực lượng giáo viên thầy,
cô đã tận tình dạy dỗ, kết quả đã đào tạo được trên 4.500 em, thi đậu tiểu học
trên 2.560 em. Đây là một thành quả đáng khích lệ cho công tác giáo dục hệ
tiểu học Phật giáo tại các trường Bồ Đề.
GIÁO DỤC TRUNG HỌC
ĐỆ NHẤT CẤP
Thông qua hệ thống
giáo dục của Giáo hội, các trường Bồ Đề Trung học đệ nhất cấp được thành lập.
Năm 1959, Giáo hội Tăng già Nam Việt đã xin phép Chính phủ thành lập trường
trung-tiểu học Bồ Đề Giác
Ngộ - Chợ Lớn, cơ sở đặt tại chùa Giác Ngộ, số 90 đường Trần Hoàng Quân nay là
Nguyễn Chí Thanh, do Thượng tọa Quảng Liên làm Hiệu trưởng. Nhưng từ năm 1964
đến năm 1975 do Đại đức Quảng Chánh làm Hiệu trưởng.
Nội dung giảng dạy
và đào tạo gồm 2 cấp tiểu học và trung học đệ nhất cấp (ĐNC). Về tiểu học có
12 lớp, mỗi lớp trên 120 học sinh, dạy từ lớp Năm đến lớp Nhất. Chương trình
THĐNC có 16 lớp, dạy từ đệ nhất đến đệ tứ, mỗi lớp có trên 65 học sinh. Tổng
cộng tiểu học có 1.440 học sinh, trung học đệ nhất cấp có 1.040 học sinh.
GIÁO DỤC TRUNG HỌC
ĐỆ NHỊ CẤP
Để phát triển
chương trình giáo dục, mở rộng thêm cơ sở trường Bồ Đê, năm 1964, Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã xin phép Chính phủ cho thành lập Trung ương
tiểu học Bồ Đề Sài Gòn. Giáo hội đã được Bộ Quốc gia Giáo dục cho phép
thành lập trường Bồ Đề Sài Gòn. Trường do Giáo hội mua lại của trường
trung học Nguyễn Khuê, tọa lạc
tại đường Nguyễn Thái Học, quận 1.
Nội dung giảng dạy
của trường gồm 3 cấp: Tiểu học từ lớp 5 đến lớp nhất. Trung học đệ nhất cấp từ
lớp đệ thất đến đệ tứ. Trung học nhị cấp từ đệ tam đến đệ nhất, tổng cộng có
17.560 học sinh, do Thượng tọa Quảng Liên làm Hiệu trưởng.
Bằng tinh thần
giáo dục Phật giáo và chương trình giáo dục do Bộ quy định, lực lượng giáo
viên, giáo sư gồm 2 giới, cư sĩ và chư
tăng, đã tận tình dạy dỗ, phấn đấu không ngừng, hạ quyết tâm giành uy
tín cho trường về mặt giáo dục, đạo đức và đậu cao. Cụ thể cho thấy: Tiểu học
đậu 2.576 học sinh, Trung học đệ nhất cấp đậu 4.673 học sinh, Tú tài 2 đậu
6.583 học sinh trên tổng số học sinh của trường.
Đồng thời, trường
trung học Bồ Đề Hạnh Đức - Tân Bình, thành lập năm 1969 do Đại đức Thiện Trí
làm Hiệu trưởng, Thượng tọa Tâm Thanh làm Giám đốc, gồm có 3 cấp tiểu học,
trung học cấp 1, trung học cấp 2. Tổng cộng có 1.650 học sinh đều thực hiện
theo chương trình giảng dạy thống nhất do Bộ giáo dục qui định.
Qua hơn 4 năm hoạt
động, thành quả đạt được như sau: Tiểu học đậu 721 học sinh, trung học đệ nhất
cấp đậu 460 học sinh, tú tài 1 đậu 179 học sinh trên tổng số học sinh của
trường.
Bên cạnh, một số
trường trung học đệ nhất cấp cũng đã được thành lập, như Đức Trí (1968), Huệ
Đức, Huệ Quang (1970), (1969) v.v.. đã đóng góp một phần nhỏ cho chương trình
giáo dục phổ thông, đào tạo nhân tài cho xã hội, cho đạo pháp và cho đất nước.
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1. Viện
đại học Vạn Hạnh
Thực thi Nghị
quyết của Đại hội giáo dục kỳ 1, Giáo hội đã quyết định thành lập một Viện Đại
học Phật giáo, để đáp ứng nhu cầu giáo dục sau
trung học Bồ Đề. Do đó, vấn đề thành lập Đại học Vạn Hạnh là
một nhu cầu hợp lý và trình tự nhi tiến theo trào lưu của xã hội và Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Viện Đại học Vạn
Hạnh được lấy tên một vị thiền
sư có công đức lớn đối với đạo pháp và dân tộc thời Lý đặt tên cho Viện. Viện
được thành lập do quyết định số
1805/GD ngày
17-10-1964 của Bộ Giáo dục và Thanh niên, do Thượng tọa Thích Minh Châu làm
Viện trưởng. Cơ sở đặt tại số 222 Trương Minh Giảng, nay là đường Lê Văn Sỹ,
quận 3.
Hệ thống tổ chức
của Viện gồm có một Hội đồng Quản trị do Viện trưởng điều hành và lãnh đạo
toàn Viện. Viện gồm có 5 phân khoa và một trung tâm ngôn ngữ.
- Phân khoa Phật
học, do Thượng tọa Trí Tịnh làm khoa
trưởng.
- Phân khoa
văn khoa, do
giáo sư Nguyễn Đăng Thục làm
khoa trưởng.
- Phân khoa Khoa
học xã hội, do giáo sư Tôn Thất
Thiện làm khoa trưởng.
- Phân khoa Khoa
học thực nghiệm, do giáo sư Vĩnh
Chấn làm khoa trưởng.
- Phân khoa Giáo
dục, do Đại đức Nguyên Hồng làm khoa
trưởng.
- Trung tâm
ngôn ngữ, do Giáo sư Nguyễn Cẩm
Quỳnh làm Giám đốc.
Thông qua lập
trường và mục đích giáo dục, đào tạo của Viện, Viện Đại học Vạn Hạnh khẳng
định bằng 3 mục tiêu và 3 đường hướng.
Ba mục tiêu là:
- Thực hiện tinh
thần xây dựng của một nhà giáo dục, giữa những sụp đổ cá nhân, gia đình và xã
hội.
- Làm sống dậy
niềm tin cho tuổi trẻ Việt
Nam.
- Tạo ra một môi
trường thật sự đại học, giới thiệu những đường hướng giáo dục căn bản, để
trang bị cho những sinh viên những tư tưởng, kiến thức, khả năng và tác phong
cần thiết, để sinh viên chuẩn bị tiến bước vào đời. Và 3 đường hướng là:
- Đường hướng giáo
dục của Viện Đại học Vạn Hạnh là một đường hướng toàn diện, xây dựng trọn vẹn
Hạnh đức, Tâm đức và Tuệ đức cho con người.
- Đường hướng giáo
dục của Viện Đại học Vạn Hạnh là đường hướng giáo dục dân tộc, phát huy quốc
học, giúp cho sinh viên tìm hiểu cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc Việt
Nam.
- Đường hướng giáo
dục của Viện Đại học Vạn Hạnh là đường hướng giáo dục nhân tính, tạo những con
người, giữ được tình người Việt nam,
tình người Vạn Hạnh, trong cộng đồng Việt Nam và Vạn Hạnh, và xây dựng tình
người nhân loại.
Trên cơ sở đó,
Viện Đại học Vạn Hạnh, trên mọi lãnh vực hoạt động, đều dựa trên tinh thần và
châm ngôn “Duy tuệ thị nghiệp”.
Với vai trò vị trí
và trình độ tương đương, Viện Đại học Vạn Hạnh, thiết lập 3 cấp giáo dục,
tương đương với một đại học quốc gia và quốc tế : cấp Cử nhân, Cao học và Tiến
sĩ. Nhưng trên thực tế, Viện chỉ mới thực hiện và cấp phát văn bằng Cao học,
là văn bằng cao nhất của Viện.
Điều kiện căn bản
là, các sinh viên Tăng Ni, Phật tử, không phải là Phật tử, muốn ghi danh theo
học tại Đại học Vạn Hạnh, phải có văn bằng tú tài 2, nếu ghi danh theo học
phân khoa Phật học, đối với Tăng
Ni, cần phải có văn bằng tốt nghiệp trung đẳng Phật học, muốn theo học
phân khoa Giáo dục, Khoa học xã
hội, sinh viên phải qua một kỳ thi tuyển. Muốn tốt nghiệp Cử nhân, sinh viên
phải hoàn tất 128 học phần, thời gian là 4 năm, tối đa là 6 năm. Muốn tốt
nghiệp cao học, sinh viên hoàn tất tối thiểu 42 học phần, với hạng bình thứ và
trình một tiểu luận Cao học.
Qua gần 10 năm
hoạt động và đào tạo, Đại học Vạn Hạnh đã cho ra trường và cấp bằng tốt nghiệp
cho 782 sinh viên. Cụ thể như sau:
* Phân khoa Phật
học có 63 sinh viên tốt nghiệp trên tổng số 340 sinh viên.
* Phân khoa Văn
Khoa có 175 sinh viên tốt nghiệp trên tổng số 531 sinh viên.
* Phân khoa Khoa
học xã hội, có 257 sinh viên tốt nghiệp trên tổng số 1.700 sinh viên.
* Phân khoa Giáo
dục có 123 sinh viên tốt nghiệp trên tổng số 630 sinh viên.
* Phân khoa Khoa
học thực nghiệm có 51 sinh viên tốt nghiệp trên tổng số 474 sinh viên.
* Trung tâm
ngôn ngữ có 119 sinh viên tốt
nghiệp trên tổng số 760 sinh viên.
Tổng cộng là 782
sinh viên. Trong đó, cao học là 214 sinh viên, cử nhân là 568 sinh viên/4.445
sinh viên của Viện.
Ngoài công tác
giáo dục đào tạo, thông qua Ban Tu thư và Ấn quán Vạn Hạnh, Viện dã cho xuất
bản trên 150 đầu sách, tổng số trên một triệu 600.000 bản đủ loại, bao gồm các
tài liệu giảng dạy, nghiên cứu bằng 4 thứ tiếng (Hán, Anh, Pàli và Việt ngữ)
cho sinh viên nghiên cứu, học tập, đóng góp một phần lớn vào kho tàng văn hóa
Phật giáo cũng như văn hóa dân tộc đất nước.
Theo đà biến thiên
của xã hội, và quy luật vô thường của đạo Phật, trước cuộc
đại thắng mùa
xuân 1975, xã hội đã đổi thay, lịch sử đã sang trang, đường
hướng giáo dục cũng đổi thay, và cơ chế quản lý cũng không còn tồn tại đối với
Viện Đại học Vạn Hạnh. Do đó, theo chủ trương của Chính phủ, Giáo hội đã bàn
giao cơ sở cho Nhà nước quản lý, thông qua Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đồng thời,
đến đây, được xem như Viện Đại học Vạn Hạnh đã hoàn thành nhiệm vụ giáo dục
của mình đối với Giáo hội cũng như đất nước và dân tộc. Trên tinh thần vô ngã,
vị tha, dù ở bất cứ cương vị, phương sở nào, con người Vạn Hạnh vẫn luôn đóng
góp công sức và khả năng trí tuệ của mình trong sự nghiệp giáo dục của toàn
dân và toàn xã hội, góp phần nâng cao dân trí, văn minh tiến bộ và khoa học
theo từng thời đại và lịch sử khác nhau.
2. Viện Đại học
Phương
Nam
(1967-1975)
Sau Đại hội kỳ I
năm 1966, vì những điều kiện khách quan và chủ quan, Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất đã tách thành hai Giáo hội, Giáo Hội PG Ấn Quang và Việt Nam
Quốc tự. Giáo hội Việt Nam Quốc tự do Thượng tọa Tâm Châu, Hòa thượng Thiện
Tường, Hòa thượng Minh Thành, Thượng tọa Tâm Giác lãnh đạo, đã xin phép
chính phủ thành lập Viện Đại học
Phương Nam, năm 1967, cơ sở tọa lạc trong khuôn viên Việt Nam Quốc tự, số 16
đường Trần Quốc Toản, quận 10, nay là đường 3 tháng 2, quận 10, TP Hồ Chí
Minh.
Viện Đại học
Phương Nam
gồm có một Ban Giám đốc và do Giáo sư Lê Kim Ngân làm Viện trưởng.
Viện gồm có 3 phân
khoa - Kinh tế, Thương mãi, Văn khoa và Ngoại ngữ. Số lượng sinh viên tương
đối thấp, có khoảng 750 sinh viên, và chỉ hoạt động trong một thời gian ngắn,
thì xã hội đã đổi thay, lịch sử đã sang trang, nên hiệu năng và thành quả đạt
được không có gì nổi nét và rõ ràng, kết quả chỉ là tương đối, và còn nhiều
hạn chế, cuối cùng chấm dứt vai trò của Giáo hội đối với Viện Đại học Phương
Nam cũng tương tợ như Viện Đại học Vạn Hạnh.
VI/ KẾT
LUẬN
Tổng quan vấn đề,
kể từ ngày Phật giáo có mặt trên mảnh đất Gia Định-Sài Gòn, nay là TP. Hồ Chí
Minh, do những cao tăng thạc đức, gieo hạt giống đầu tiên cho đến nay, thời
gian gần 300 năm. Về hình thức giáo dục Phật học, Phật giáo Gia Định-Sài
Gòn-TP. Hồ Chí Minh đã thực hiện có thể đánh giá như sau:
1. Về mặt cơ sở
giáo dục: Có thể nói, từ buổi ban đầu, dưới dạng thức là những lớp
gia giáo, học kinh bộ, hết quyển này sang quyển khác, không hạn cuộc thời
gian. Chủ giảng là những vị Tổ sư, trụ trì cơ sở tự viện. Đến khoảng giữa thế
kỷ 20 mới hình thành các Phật học đường, Phật học viện trên một quy mô và có
hệ thống tổ chức tương đối hoàn bị và có qui củ, chia làm 4 cấp, rồi 3 cấp:
mông đẳng,
sơ đẳng, Trung đẳng và Cao đẳng Phật học.
2. Nội dung giáo
dục: Chủ yếu là Phật học, dựa trên cơ sở Tam tạng giáo điển Kinh
- Luật - luận, phần chính là chữ
Hán, đến cuối thế kỷ 20, vấn đề chuyển ngữ mới đặt ra và thực hiện ngày càng
Việt ngữ hóa, nhưng căn bản vẫn là Hán học, mặc dù đã phổ thông hóa hệ thống
giáo dục Phật giáo.
3. Đối tượng giáo
dục : phần lớn là
những Tăng Ni vùng Đồng Nai, Gia Định-Sài Gòn và lục tỉnh có nhiệt tâm vì đạo
pháp và hết lòng phục vụ chúng sinh và xã hội cũng như dân tộc; duy trì mạng
mạch Phật pháp, phát triển đạo Phật ngày càng trang nghiêm vững mạnh huy hoàng
trong lòng dân tộc.
4. Kết quả giáo
dục: Gần 300 năm giáo dục Phật giáo Gia Định-Sài Gòn-TP. Hồ Chí
Minh đã đào tạo biết bao danh tăng thạc đức, những bậåc thạch trụ chốn tòng
lâm, pháp khí Đại thừa, giàu lòng yêu nước, yêu đồng bào, hết lòng hy sinh để
phụng sự nhân dân, hòa mình hiện hữu trong lòng dân tộc nhất là trong 3 cuộc
kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ, giải phóng quê hương, thống nhất
tổ quốc.
Đặc biệt, trong sự
nghiệp duy trì và phát triển Phật pháp, không ít Tăng Ni, Phật tử đã hy sinh
tự ngã, thể hiện tinh thần vô ngã vị tha, lục hòa cộng trụ, đoàn kết hòa hợp,
thống nhất Phật giáo Việt Nam, xây dựng và phát triển Phật giáo Việt Nam ngày
càng trang nghiêm vững mạnh trong lòng dân tộc, làm cho đạo pháp mãi trường
tồn tại thế gian, “tốt Đạo, đẹp Đời”.«
Mùa Phật Đản PL 2542 - DL 1998
Hệ thống giáo dục Ni giới
tại Sài Gòn
THÍCH NỮ NHƯ HOA
Giáo
dục là vấn đề trọng yếu của người xuất gia, vì mục đích của tu sĩ là phát triển trí
tuệ và kiện toàn nhân cách. Vào thời đức
Phật, hàng đệ tử căn cơ bén nhạy chỉ cần nghe một câu kệ hay một bài pháp ngắn
là đủ lãnh hội yếu chỉ, còn hàng căn cơ yếu kém, phải học, đọc, tụng nhiều lần
mới thông suốt. Giáo dục phát xuất từ đó. Về phần Ni chúng, khi thành lập giáo
đoàn Ni, đức Phật đã trao quyền
lãnh đạo và giáo dục cho Ngài Kiều Đàm Di mẫu - vị thầy đầu tiên của Ni giới,
vị đệ nhất kinh nghiệm trong hàng đệ tử Phật. Đồng thời
đức Phật cử thêm các vị trưởng lão Tăng mỗi nửa tháng sang bên
Ni giáo giới. Như vậy, một Ni chúng chịu ảnh hưởng hai nguồn giáo huấn, một từ
Tăng bộ và một từ bổn bộ Ni. Truyền thống này được giữ từ thời
đức Phật cho đến ngày nay.
Phật giáo Sài Gòn
300 năm trong dòng lịch sử phát triển của nó đã trở thành trung tâm văn hóa
giáo dục của khu vực đồng bằng phía
Nam. Tất cả những hoạt động trên vùng đất này đều có ảnh hưởng tương quan
tương duyên với nhau, để cùng tiến đến ngày càng tốt đẹp. Vào các thập niên
1940-1950, tại Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn có các Ni trường Tăng Già, Từ Nghiêm,
Dược Sư, Huê Lâm, là những nơi tiêu biểu cho hệ thống giáo dục Ni chúng, mỗi
nơi đều có nét đặc thù riêng.
1- Ni
trường Tăng Già
Tên trường Tăng
Già được sử dụång năm 1946 đến năm 1962. Trường đầu tiên là một lớp học Phật
pháp cho Tăng và Ni, do quý Hòa thượng Hành Trụ, Hòa thượng Thới An, Hòa
thượng Thiện Tường tổ chức. Năm sau, lớp học tách riêng, trường Tăng đặt tại
Giác Nguyên, trường Ni đặt tại Tăng Già, cả hai trường chung một Ban Giám đốc
do quý Hòa thượng lãnh đạo. Có thể nói, trường Tăng Già là trường Ni sớm nhất
tại Sài Gòn. Trường xây dựng đơn sơ, nhưng tầm vóc hoạt động rộng rãi, nhờ uy
đức của quý Hòa thượng, chư Ni các nơi đến tham học đều nhớ kỷ niệm một thời ở
Tăng Già. Những vị xuất thân từ đó đều là các bậc tôn trưởng trụ trì lãnh đạo
các ni trường, ni viện, là bậc thầy của chư Ni thành phố.
Khi chư Ni đã
trưởng thành đủ sức quản lý, Hòa thượng Hành Trụ thành lập Ban trụ trì Ni để
trông nom chùa. Năm 1962, sau một trận hỏa hoạn, chùa bị cháy, quý Ni trưởng
trong Ban trụ trì ra công tái thiết, đổi hiệu Tăng Già thành Kim Liên ni tự.
Ni trưởng Tịnh Khiết đảm nhiệm việc xây cất và trở thành vị trụ trì chính
thức. Ngoài việc chăm lo đời sống tu học của Ni chúng, chùa Kim Liên còn mở
lớp tiểu học phổ thông, với mục đích giúp đỡ con em gia đình lao động nghèo có
nơi để trau giồi kiến thức văn hóa. Đó là một việc làm thể hiện tinh thần nhập
thế của đạo Phật, đóng góp xây dựng xã hội ngày càng phát triển. Y theo chí
nguyện các bậc khai sơn tiền bối, ngày nay Kim Liên đã nằm trong hệ thống sinh
hoạt của Giáo hội. Mở trường hạ cho chư Ni các nơi tập trung tu học, lớp sơ
cấp Phật học, Tuệ Tĩnh đường miễn phí, đầu tư công sức và trí tuệ làm tốt đẹp
thành phố.
2- Ni
trường Từ Nghiêm
Bản thân
ni trường Từ Nghiêm ngay từ buổi
đầu đã nằm trong tổ chức giáo dục của Giáo hội. Năm 1950, Phật học đường Nam
Việt ra đời, trường Tăng đặt tại Ấn Quang, trường Ni đặt tại Từ Nghiêm, quận
10, Chợ Lớn. Lúc đó, ni trường chỉ có 3 gian nhà lá, Ni chúng dự học 40 vị. Cả
hai trường cùng chung một Ban Giám đốc và Ban Giảng huấn. Đến năm 1952, khu
vực đường Bà Hạt bị hỏa hoạn, ni trường Từ Nghiêm bị cháy vì vật liệu đơn sơ
tre lá. Quý Hòa thượng dời Ni chúng về chùa Dược Sư, Gia Định. Dù thiếu phương
tiện vật chất cũng như trở ngại về đường sá, nhưng quý Hòa thượng trong Ban
Giám đốc vẫn chăm lo bảo bọc để Ni chúng có nơi tu học. Với hạnh nguyện hoằng
thâm như thế, nên quý Ni trưởng ngày nay kính nể quý Ngài như bậc thầy tôn
kính.
Năm 1