Nằm
ở vùng biển đông mênh mông sóng nước – đảo phú quí như con cá thu khổng lồ
đang trồi lên mặt nước chở trên mình một bức tranh thiên nhiên với vốn di
sản cổ xưa quí giá. Hòn đảo được hình thành là dấu tích của hoả diệm sơn
đã tắt qua nhiều lớp phun thạch của miệng hoả sơn – chuỳ taọ thành núi cao
nhô lên khỏi mặt biển với sự bồi tụ của lượng cát biển hàng năm tạo thành
một loại đất màu nâu , vàng hay xám đen khiến ta liên tưởng đến nét rêu
phong cổ xưa của những ngôi tháp cổ sừng sửng giữa trời xanh biếc. Từ xưa
hòn đảo này đã có nhều tên gọi khác nhau đối vói cộng đồng người Chăm đây
là khu Kulau Koh Klong còn đối với cư dân Qủang Nam – Đà Nẵng thường gọi
là Thuận Tịnh, cù lao Khoai Xứ hay cù lao Thu, tên gọi Phú Quí chỉ xuất
hiện vào thời Thiệu Trị thứ 4 (1844) vì nơi đây có tầm quan trọng lớn đối
với việc quan hệ buôn bán và khả năng quân sự.
Nền văn hoá hình
thành khá sớm được đánh dấu bằng những di chỉ cổ xưa mà nhân dân nơi đây
tìm thấy như rìu, chum vò lớn, đồ trang sức bằng đá với kỷ thuật chế tác
khá tinh sảo. Căn cứ những di chỉ trên ta có thể đoán được chủ nhân
của nền văn hoá phú quý thuộc văn hoá Sa Huỳnh tồn tại cách ngàynay từ
3000 – 4000 năm. Nói thế để thấy con người đã khám phá ra hòn đảo này từ
rất sớm, có thể nói tộc người Chăm từ Qủang Nam – Đà Nẵng trở lại thường
gọi là thị tộc Dừa hay từ Phú Yên trở vào ( thị tộc này có tên gọi là
Cau), có phải vì là nơi giao lưu hành hoá – văn hoá từ khu vực Đông Nam Á
hay không mà dư âm Phật giáo còn ảnh hưởng khá sâu sắc ở hòn đảo này. Từ
tính cách đến tín ngưỡng, từ việc tế lễ đến sinh hoạt cộng đồng, đều mang
âm hưởng tư tưởng Phật với bản sắc của ngư dân vùng biển. Tuy khiêm tốn về
diện tích nhưng đảo Phú Qúi đã có trên 6 ngôi chùa được xây dựng có nhiều
ngôi chùa lâu năm như Thạch Lâm, Linh Quang….
Tiêu biểu cho 6 ngôi
chùa trên Phú Qúi, đó là cùa Linh Quang Tự: xét về thời gian chùa được xây
dựng năm 1747 đời vua lê cảnh hưng thứ 8 do các nhà sư theo các thương
buôn từ đất liền ra tạo lập. Ban đầu chỉ là mái tranh vách dứa nhưng do sự
đóang góp nảo trì của nhiều phật tử, ngôi chùa ngày một xây dựn trang
hoàng và tôn nghiêm hơn. Theo cách đánh giá của nhiều nhà sử học, đây là
chùa cổ nhất của tỉnh Bình Thuận, ngoài những nét cấu trúc hài hoà, chùa
còn lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị nghệ thuật dân gian rất lớn. Nhiều
pho tượng cổ với thể loại và chất liệu khá phong phú như đá, đất nung, gỗ,
cùng nhiều nét chạm khắc sắc sảo, tào hoa những nghệ nhân đất đảo đã để
lại cho đời sau vốn giá trị nghệ thuật lớn lao. Các pho tượng được thờ ở
chùa Linh Quang phần lớn có niên đại vào thế kỷ XVII, XVIII, XIX, đặc biệt
những bức tượng được xem cóa niên đại sớm hơn như tượng Quan Thế Aâm Bồ
Tát, Phật Nhiên Đăng… Xét về đặc điểm nhân chủng, tượng phật được lưu giữ
tại chùa Linh Quang hầu như mang âm hưởng của tính cách tượng phật tìm
thấy ở đại hữu, đồng dương thuộc nguồn gốc phật giáo Đại Thừa Chămpa. Với
khuôn mặt bầu tròn, môi dày mũi tẹt, đôi lông mày gần giao nhau ùng với sự
phóng khoáng mô típ tạc trong thế đứng hay ngồi đưa tay về thiên hướng cảm
thụ ngệ thuật hơn là để dùng trong việc tôn thờ đã cho ta thấy ảnh hưởng
trong tâm thức tạc tượng Chămpa thật sự đang hiện diện trong vùng đảo xa
khơi. Điều này là một trong những gợi hướng mở cho chúng ta hiểu thêm về
đời sống tín ngưỡng – tôn giáo của người dân đất đảo và sự giao thoa tuyệt
vời của hai nguồn văn hoá Chămpa – Đại Việt mà ngôi chùa Linh Quang là một
biểu tượng cần được tìm hiểu. Một điều làm cho chúng ta chú ý hơn là sự
xuất hiện của tượng Phật Nhiên Đăng được tôn thờ ở đây như là biểu hiện rõ
hơn về cuộc sống ngư dân biển. Ngược lại đối với ngư dân khu vực ven biển
miền Trung thường thấy rất ít khi xuất hiện quan nịêm thờ hay tạc tượng
Đức Phật Nhiên Đăng có lẽ đây là nét biểu hiện rõ nhất về phật giáo Chămpa
còn lại. Đến phú quuý, đến tâm thanh nhìn lên trên đồi cao Linh Quang Tự
đứng sừng sững oai nghiêm với cổng Tam Quan, với tầm vóc ngguy nga cho ta
thấy sự sùng tín đạo phật của người dân hun đúc tự bao đời. Hiểu được tầm
vóc quan trọng đó nên vừa qua bộ văn hoá – thông tin đã công nhận chùa
Linh Quang là di sản văn hoá quốc gia và trước đó nhiều thế kỷ vào thời
Nguyễn các vua Nguyễn đã phong tặng gồm 10 sắc phong cho ngôi chùa này.
Cuốn Thiền phả, loại văn tự cổ của chùa cũng đã ghi chép khá tỉ mỉ về sự
hình thành của chùa cũng như sự truyền bá và thịnh hành phật giáo trên
đảo.
Di tích đặc biệt
liên hoan đến đặc tính của Chămpa là đền thờ Bà Tàng Tranh. Theo truyền
thuyết cho biết Bà vốn là công chúa của vua Chămpa do sai phạm nên bị đày
về đảo này. Trong tìm thức người dân đảo vẫn cho rằng bà là ngưòi đầu tiên
đặt chân khai hoang và sinh sống tại đảo, là tiền hiền vun đáp sự sống cho
thế hệ đến sau. Ngoài truyền thuyết mang tính huyền bí về cuộc đời của Bà,
một đuề khá lý thú là hầu như ngư dân sống ở vùng đảo này đều xem Bà như
là hiện thân của Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong một lần trao đổi với chúng
tôi Thượng Toạ Thích Thiện Tâm trụ trì chùa Đạt Ma là người con đất đảo –
đã đề cập đến những câu chuyện kì bí xung quanh Bà mang đậm tính chất
phật giáo. Ngư dân mỗi lần ra hơi bị giông tố ập đến người ta hay chú tâm
cầu nguyện đến Bà. Thường thì Bà hay ấn thân để giúp đỡ và che chở. Trong
một chuyến điền giả vào năm 1994 tại đảo Phú Quý chúng tôi đã tìm về ngôi
mộ cũng là nơi thờ tự Bà. Điêu phát hiện khá trùng lặp, chính tại đây là
một di chỉ khá phong phú về giai tầng văn hoá Sa Huỳnh – Chămpa như mảnh
vỡ của sành sứ, các khí cụ bằng sắt… như vậy cho chúng ta thấy rằng trước
đó đã có cư dân Chămpa sinh sống và hình tượng tôn thờ Bà Trang Tranh hiện
nay chính là sự nối tiếp của tính tôn thờ mẫu hệ và còn là điểm mốc đầu
tiên để tưởng nhớ cư dân đi trước.
Có được như ngày hôm
nay Phú Quý đã trải qua những biến suy rồi hưng thịnh, nhiều thế hệ với
những công sức to lớn đã góp nên một Phú Quý như hiện nay, bản sắc văn hoá
được bảo tồn, đời sống kinh tế ngày càng thêm ổn định. Tuổi trẻ Phú Quý
với tinh thần Phật sự đang được củng cố và bồi đắp là nìêm tin chắc chắn
là sự bảo trì vốn van hoá đặc sắc của quê hương mình góp chung vào nền văn
hoá đa màu của dân tộc Việt Nam.