Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Lịch Sử Phật Giáo


...... ... .


LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM 
Từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế
Tiến sĩ Lê Mạnh Thát
Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Thành Phố Huế thực hiện
Nhà Xuất Bản Thuận Hóa Huế 1999

--o0o--
Chương IX
Sơ Thám về Huệ Lâm và Quán Thiện Luận

Qua nghiên cứu về Sáu lá thư xưa nhất cuả lịch sử văn học và Phật giáo nước ta ở trên, chúng tôi đã có dịp giới thiệu và phân tích sơ về một nhà sư Trung Quốc bị đuổi ra nước ta vào giữa thế kỷ thứ V tên Huệ Lâm và tác phẩm Quân thiện luận của ông. Con người cũng như tác phẩm của nhà sư này qua thế kỷ đã gây ra nhiều bàn cãi khá lôi cuốn. Không những thế, chính trong những phát biểu ở Quân thiện luận đã tạo cơ hội cho sự ra đời của sáu lá thư vừa nói, nhằm trả lời và bác bỏ những kết luận mà Quân thiện luận đề lên. Ngoài ra, Lâm có thể đóng góp không ít vào sự thành công của cuộc khởi nghĩa Lý Trường Nhân. Do vậy, con người và tác phẩm Huệ Lâm càng lôi cuốn hơn nữa đối với công tác nghiên cứu văn học Phật giáo và chính trị Việt Nam. Chúng tôi vì thế đề nghị tìm hiểu ở đây cuộc đời của Huệ Lâm và dịch lại bản Quân thiện luận vừa kể nhằm cung hiến một phần nào tư liệu cho những tra khảo sau.

Về cuộc đời Huệ Lâm [^]

Cuộc đời của Huệ Lâm, cứ Cao Tăng truyện quyển 7 ĐTK 2059 tờ 368 a11-21, thì như thế nay: "Đệ tử cuả Đạo Uyên là Huệ Lâm vốn họ Lưu, người Tần quận, giỏi hết các kinh điển và Trang Lão, hay đùa giỡn, ưa nói cười, sở trường về việc viết lách nên có Huệ Lâm tập 10 quyển, nhưng tính kiêu ngạo, lại hay tự khoe khoang. Uyên thường đến thăm Phó Lượng, Lâm tới chỗ trước, bèn ngồi. Đến khi Uyên tới, Lâm không trí lễ. Uyên giận, nóng cả mặt, Lượng bèn phạt Lâm 20 trượng. Tống Thế Tổ kính trọng Lâm, cho dẫn tới thăm thì Lâm thường lên ngồi trên cái giường một. Nhan Diên Chi, mỗi khi có dịp, đều chê trách. Vua liền không vui. Sau đó, Lâm viết Bạch hắc luận, trái với lý nghĩa Phật giáo. Thái thú Hoạnh Dương Hà Thừa Thiên cùng Lâm đọ giáp, giúp nhau kích dương, làm ra Đạt tín luận, cũng câu nệ một bên, mà chê trách Thích giáo. Nhan Diên Chi và Tôn Bính Kiểm bác hai cuốn luận ấy, mỗi người hơn một vạn lời. Lâm, khi huỷ phá áo pháp cuả mình, bị đuổi ra Giao Châu, đời nói: "Uyên công thấy ma tinh tức là con người này vậy".

Đọc qua tiểu truyện này của Lâm, một kiểm soát tư liệu ngoại tại chứng thực cho ta những chi tiết sau. Thứ nhất, về truyện "Lâm lên ngồi trên cái giường một" và sự "chê trách" của Nhan Diên Chi, chúng ta có thể tìm thấy trong tiểu sử cuả Nhan Diên Chi ở Tống thư quyển 73 tờ 7a4-6: "Lúc bấy giờ Sa môn Thích Huệ Lâm vì có tài ba và học thức nên được Thái Tổ quí trọng thương yêu. Mỗi khi cho gọi vào thăm, Lâm thường lên ngồi trên giường một. Diên Chi rất ghét, nhân đang say, bạch với vua rằng: "Xưa Đồng Tử tham cùng cỡi xe, Viên Ty nghiêm sắc mặt. Đấy là chỗ ngồi cuả bậc tam thai, há lại có thể khiến kẻ hình dư cùng ở? Vua đổi sắc luận.

Tống thư do Tề Vũ đề vào mùa xuân năm Vĩnh Minh thứ 5 (487) ra lệnh cho Trầm Ước viết và viết xong vào tháng 2 năm Vĩnh minh thứ 6 (488) Huệ Hạo viết Cao Tăng truyện khoảng năm 530 và chắc chắn là sau năm 519, do thế hẳn phải lấy chi tiết vừa nói ở Tống thư. Kiểm soát này giúp ta đính chánh một sai lầm khá to lớon, mà hình như tất cả những bản khắc từ thời Triệu Tống trở đi của Cao Tăng truyện đều phạm phải, đấy là Tống Thái Tổ của nhà Lưu Tống yêu thương và quí trọng Lâm, chứ không phải là Tống Thế Tổ, như chúng đã có. Tống Thái Tổ tức Tống Văn đế, trị vì giữa những năm 424-453; còn Tống Thế Tổ tức Tống Hiếu Vũ đế, trị vì những năm 454-464.

Chi tiết thứ hai liên quan tới chuyện Lâm viết Bạch hắc luận và đọ giáp với Hà Thừa Thiên. Văn cú cuả hai chi tiết, Hạo chắc phải rút từ bài văn "trả lời Tống Văn đế về việc tán dươong Phật giáo" của Hà Thượng Chi trong Hoằng minh tập quyển 11 ĐTK 2102 tờ 69a13-b4; "Lúc bấy giờ có Sa-môn Huệ Lâm, giả mặc áo thầy tu, mà hủy báng giáo pháp của mình, viết ra cuốn Bạch hắc luận. Thái thú Hoạnh Dương Hà Thừa Thiên cùng Lâm đọ giáo, giúp nhau kích dương, viết Đạt tính luận, cũng câu trệ về một phía, mắng chê Thích giáo. Thái thú Vĩnh gia Nhan Diên Chi và thái tử trung xá nhân Tôn Bính đều là những ngưòi tín đạo, kiểm bác hai cuốn luận ấy mỗi người hơn một vạn lời. Lâm và Thiên ban đầu cũng có thư từ lui tới, nhưng cuối cùng bị bẻ lý, họ bèn thôi. Bính nhân đó viết quyển Kinh Phật luận, để mở rộng tôn chi cuả mình. Vua khen hay".

Hà Thương Chi, cứ tiểu sử của ông trong Tống thư quyển 66 tờ 3a2-6b, sinh năm 382 và mất lúc 79 tuổi vào năm 460.

Về những chi tiết khác, chúng ta không có những tư liệu ngoại tại, mà văn cú đã được Huệ Hạo dẫn nguyên văn như hai chi tiết vừa thấy. Tuy thế, đối với một số nhân vật và chi tiết như Đạo Uyên, liên lạc của Uyên với Phó Lượng, tài ba của Huệ Lâm và việc Lâm bị đuổi ra nước ta đều có thể kiểm chứng. Thứ nhất, về Đạo Uyên, thầy Huệ Lâm, Hạo đã ghi lại thế này trong Cao Tăng truyện quyển 7 tờ 368a2-11: "Thích Đạo Uyên, họ Quan, không biết người xứ nào, xuất gia dừng lại chùa Đồng An ở kinh sư, nhỏ giữ giới luật, lớn học nghĩa tôn, các kinh những luật không gì là không thông đạt, nhưng tiềm quang ẩn đức, đời chẳng ai biết. Sau ở chùa Đồng An mở hội giảng, Uyên phẩu chiết mọi nguyên vy, làm srõ hết những chỗ sâu sắc, khiến cho tất cả những tích trệ xưa này đều bỗng nhiên bừng sáng băng giải. Từ đấy, học đồ đổi nhìn, ùa theo lập đức. Sau Uyên dời tới ở chùa Bành Thành. Tống Văn đế cho Uyên lấy đức hạnh làm vật quí, sắc đến ở chùa. Sau khi tới nhậm, Uyêm mất ở chỗ mình ở, xuân thu 78 tuổi".

Bản tiểu sử này cuả Uyên không những thiếu chính xác và thiếu đầy đủ, mà còn quá ngắn, khi so với bản tiểu sử phụ tuỳ của người đệ tử ông là Huệ Lâm. Thiếu chính xác, bởi vì nói không nói rõ chẳng hạn ngôi chùa mà Tống Văn đế sắc Uyên tới ở chùa nào. Thiếu đầy đủ, bởi cứ trong những tiểu sử khác, ta biết Uyên đã đến thụ giáo với Cưu Ma La Thập ở Trường An và tham dự vào những công tác dịch thuật vĩ đại của người này. Bản tiểu sử của Trúc Đạo Sanh trong cùng quyển đã ghi lại lời bình sau "Người đương thời bình luận rằng:

Sanh, Duệ phát thiên chân
Nghiêm, Quan oa lưu đắc
Huệ Nghĩa bành hành tấn
Quan Uyên vu mặc tắc.

Quan Uyên tức Đạo Uyên họ Quan vừa nói. Ông như vậy được xếp ngang hàng với danh sĩ Phật giáo đương thời, đây là Trúc Đạo Sanh, Huệ Duệ, Huệ Nghiêm, Huệ Quan và Huệ Nghĩa; và những người nà đều là môn đồ của La Thập, sống tại miền Nam. Sanh mất năm 435, Nghiêm năm 444, Nghĩa năm 445, còn Duệ và Quan thì chỉ biết mất trong khoảng Nguyên gia, tức những năm 424-453. Uyên cũng mất trong khoảng Nguyên gia. Niên đại ông do thế rơi vào khoảng 370-440.

Về chi tiết liên lạc giữa Huệ Lâm, Đạo Uyên và Phó Lượng, cứ tiểu sử của Lượng trong Tống thư quyển 43 tờ 10a6-17b6 và Nam sử quyển 15 tờ 11a3-12a5 thì không thấy nói. Lượng dĩ nhiên là vị công thần khai quốc của nhà Lưu Tống. Vì vụ phế thí Thiếu đế và lập ngôi Văn đế, mà Lượng sau đó đã bị Văn đế giết lúc mới 53 tuổi cùng với Từ Thiện Chi vào năm 426. Uyên và Lâm, nếu có đến thăm Lượng, thì chắc chắn phải trước năm ấy. Hơn thế nữa, chính vào năm 426, Văn đế cho gọi Huệ Lâm vào cung để bàn bạc triều chính. Cứ Tư trị thông giám quyển 120 tờ 11a13-b7, Nguyên gia năm thứ 3 (426) tháng 3 ngày tân tỵ, vưa trở về Kiến Khương, trưng Tạ Linh Vận làm bí thư giám, Nhan Diên Chi làm trung thứ thị lang, thưởng đãi rất hậu. Vua cho nhà sư Huệ Lâm giỏi bàn luận, nhân thế cùng bàn nghị triều đình đại sự, từ đó tham dự vào quyền yếu, khách khứa lui tới đông đúc, xe cộ trước cửa thường có vài chục cặp, bốn phương nối nhau dân gởi đồ biếu, chiếu vuông bảy tám bức luôn luôn đầy người. Lâm thường đi guốc cao, mặc áo lông chồn, đặt chức thông tình và thơ tá, Khổng Khải từ Hội Khế thường đến thăm, gặp khách khứa đầy nhà chào hỏi nhau mà thôi. Khải khái nhiên hỏi: "Bèn lại có tể tướng áo nâu, có thể nói là quan lý mất chỗ vậy".

Về việc cho gọi Lâm cùng Tạ Linh Vân và Nhan Diên Chi vào làm việc này, Hồ Tam Tỉnh đã chú thích là, "khi Lô Lăng vương bị phế thì người đấy bị đuổi đi, khi Từ Tiện Chi và Phó Lượng bị tru thì ba người này được tiến, có thể nói là kiểu uổng quá chính vậy". Việc tham dự vào triều chính cuả Lâm, chúng ta sẽ có dịp bàn rộng hơn ở dưới. Ở đây, ta biết, nếu Lâm vào năm 426 đã tham dự vào "triều chính đại sự", thì chắc hẳn Lượng không thể phạt Lâm hai mươi trượng vài năm trước đấy. Chuyện Lượng phạt Lâm do thế hẳn phải xảy ra khoảng trước năm 420, khi Lưu Dụ lên ngôi hoàng đế lập ra nhà Lưu Tống và Lượng đạt tột đỉnh quyền hành của mình, nếu không là trước đó năm, mười hay mười lăm năm.

Chi tiết về tài ba của Lâm có thể kiểm soát qua nhiều tư liệu khác nhau. Thứ nhất, như những dẫn chứng trên từ Nhan Diện Chi cho tới Tư Mã Quang cho thấy, ai cũng nhận Lâm "vì có tài ba học thức"_1 nên được Văn đế kính trọng và hỏi bàn việc nước. Tiếp đến, cả Tống thư quyền 97 tờ 6b9-8b13 lẫn Nam sử quyển 78 tờ 10a12-b8 đều có tiểu sử của Lâm, một vinh dự ít thấy cho những nhà sư khác.

Vì bản tiểu sử trong Nam sử đầy đủ chi tiết và gọn ghẽ hơn là bản tiểu sử của Tống thư, dẫu chúng hoàn toàn đồng nhất với nhau, chúng tôi xin dịch nói ra đây: "Huệ Lâm người Tần huyện, Tần quận, nhỏ xuất gia ở chùa Trị Thành, có tài văn chương, học kiêm nội ngoại, là chỗ bạn bè của Lô Lăng vương Nghĩa Chân. Ông thường viết Quân thiện luận, rất chê bai Phật pháp, nói rằng: "Có một bạch học tiên sinh cho thánh nhân Trung Quốc kinh luân bách thế, đức họ đã rộng, trí họ lại bao trùm mọi hiện tượng, nguyên lý của trời người họ đều rõ hết, đạo họ không có chỗ che dấu, giáo pháp họ không có chỗ thiếu sót hở hang, họ thông tuấn dới triết, thì cần gì phải nhờ đến những học thuyết khác. Có một hắc đạo sỹ khinh chê những vị đó, họ cho là không rõ con đường ư minh, chẳng đề cập đến sự biến hóa của đời sau, tuy có thể hư tâm, nhưng chưa chắc có thể hư sự, nên không thể bằng được sự thâm thúy cuả học thuyết Tây Vức. Rồi đặt hai người này làm chủ khách, đối đáp nhau, mà kết luận là "Lục độ với ngũ giáo cùng được thực hành, tín thuận với từ bi đều được thiết lập". Cuốn luận ấy ban hành ra ở đời, cựu tăng cho nó là biếm truất họ Thíh, muốn gia tẫn đuổi. Văn đế thấy nói khen thưởng. Trong khoảng Nguyên gia; Lâm tham dự vào quyền yếu, triều đình đại sự đều cùng bàn cãi. Khách khứa lui tới đông đúc, xe cộ trước cửa thường vài chục cặp, bốn phương nối đuôi nhau gởi đồ dâng biếu, thế khuynh một thời, chiếu vuông bảy tám chiếc, trên đó luôn luôn đầy người. Lâm mang guốc cao, mặc áo lông chồn, đặt chức thông trình và thơ tá, quyền hành sách với bậc tể tướng. Khổng Khải từ Hội khể thường đến thăm Lâm, gặp khách khứa chỉ ồn ào hỏi thăm mà thôi. Khải bùi ngùi nói: "Lại có tể tướng áo nâu sao? Có thể nói quan chức không đúng chỗ vậy". Lâm chú thích Hiếu kinh à thiên Tiêu diêu của Trang Tử; văn luận của ông còn truyền ở đời".

Đấy là cuộc đời Lâm theo Nam sử, Tống thư cũng chép chừng ấy truyện, nhưng nó chấm dứt sau câu "thế khuynh một thời" để tiếp kể tác phẩm của Lâm. Chỉ khác một chỗ là, trong khi Nam sử tóm tắt Quân thiện luận, thì Tống thư cho chép lại hoàn toàn, từ đó sẽ là nguồn tư liệu Quân thiện luận cuả ta sau này.

Cứ tiểu sử ấy, thì Lâm là bạn bè cuả Lô lăng vương Nghĩa Chân. Chân là con thứ hai của Vũ đế. Khi Vũ đế băng hà, người anh lên ngôi tức Thiếu đế, nhưng vì hung bạo hoang tàn, nên bị phế vào năm 423. Chân đáng lý kế ngôi, song bị Từ Tiện Chi ghét, do thế bị giết vào cùng năm. Tiện Chi cùng Phó Lượng rước người con thứ ba của Vũ đế tức Nghĩa Long về nối vị, lấy hiệu là Văn đế, cải nguyên là Nguyên gia bắt đầu năm 424. Chân bị giết lúc mới 18 tuổi. Liên lạc với Chân với Huệ Lâm được Tống thư quyển 61 tờ 2a13-b6 và Nam sử quyển 13 tờ 7b5-11 viết thế này: "Nghĩa Chân thông minh, ái mộ văn học, nhưng khinh cử không có đức nghiệp. Chân cùng với Tạ Linh Vận từ Trần quận Nhan Diên Chi từ Lang Nha và sư Huệ Lâm đi chơi khắp chốn một cách khác thường, nói rằng: "Tới ngày đắc chí thì ta sẽ lấy Linh Vận hay Diên Chi làm tể tướng, Huệ Lâm làm đô đốc Tây Dự Châu".Từ Tiện Chi và những người khác rất ghét sự khinh nhờn quá sức của Nghĩa Chân và Linh Vận, Diên Chi, nên sai Phạm Yến nhẹ răn Nghĩa Chân rằng; "Linh Vận rộng thưa, Diên Chi bạc bẽo hẹp hòi. Văn đế nhà Ngụy nói: "Văn nhâ là những kẻ ít khi có thể dùng danh tiết của mình mà tự lập". Nhưng tánh tình của Chân vì đã quen thói, chưa thể quên lời, khi gặp tặng thưởng,nên vẫn tiếp tục giao du, đem đến cùng thuyền của Nghĩa Chân đơn sơ không bằng thuyền của mẹ Chân là Tôn Tử Nghi. Nghĩa Chân cùng Linh Vận, Diên Chi, Huệ Lâm cùng ngồi xem ngũ bộ, nhân thế thiết yến ở trong thuyền, bèn sai tả hữu cắt thuyền cua mình ra khỏi thuyền bà mẹ, đem thuyền ấy tới trình để xin lấy cái đẹp nhất..." Vì Chân chết lúc mới 18 tuổi, liên lạc giữa Chân và lâm cũng như Tạ Linh Vận và Nhan Diên Chi chắc hẳn không bắt đầu thực sự khoảng ba bốn năm trước đấy, tức khoảng năm 420 trở đi. Lâm có liên lạc ấy, bởi vì tài đức của mình.

Tài ba và học thức ấy, bản tiểu sử cuả Tạ Linh Vận ở Tống thư quyển 67 không nói đến, nhưng bản tiểu sử của Nhan Diên Chi đã vạch ra, như thấy trên. Không những thế, nó đã sáng chói, để một nhà sử gia nổi tiếng kiểu Phạm Việp bình luận. Việp viết Hậu Hán thư quen thuộc ngày nay. Tiểu sử ông ở Tống thư quyển 69 tờ 9a4-10 báo cáo một chi tiết lôi cuốn sau: "Việp tính tinh vi, có nghĩ suy, đụng việc thì phần nhiều rất giỏi. Áo quần y phục của Việp không gì là không do Việp đo cắt, người đời đều lấy phép tắc. Việp soạn Hòa hương phương cái tựa nói rằng: "Xạ vốn kỵ nhiều, dùng quá phân là giết. Trầm thật dễ hòa, nhiều cân không hại. Linh hoắc hễ khô là hư. Chiêm đường hễ ướt là dắn. Cam tùng, tô hiệp, an tức, uất kim và nại đa hòa la đều là những thứ quí giá ở nước ngoài, nhưng vô dụng ở đất Trung Quốc. Còn táo cao hễ kín thì đóng cục, giáp tiễn hễ cạn thì hôi, chúng không những không giúp ích gì cho sự thơm tho, mà còn làm cho bệnh càng nặng thêm nữa". Cái, mà cái tựa đầu muốn nói, là muốn đem những gương ấy sánh với Dữu Bính Chi. Linh hoắc hễ khô là hư, tức sánh với Trần Diễn Chi. Chiêm đường hễ ước là dắn, tức sánh với Trần Diễn Chi. Táo cao hễ kín thì đóng cục, tức sánh với Dương Huyền Đảo, Giáp tiễn hễ cạn thì hôi, tức sánh với Từ Trạm Chi, Cam tùng, tô hiệp, tức sánh với Huệ Lâm đạo nhân. Và trầm thật dễ hòa, tức sánh mình vậy", Việp như vậy, mặc dù coi Huệ Lâm "bất thú ư trung thổ", khi so sánh với cam tùng và tô hiệp, đã coi Lâm là "những thứ quí giá ở nước ngoài".

Về những liên lạc giữa Lâm và Tạ Linh Vận, tiểu sử của Vận trong Tống thư quyển 67 lẫn Nam sử không nói gì đến. Nhưng một sưu tập của Đạo Tuyên trong Quảng hoằng minh tập đã giữ lại một số văn kiện trao đổi giữa hai người này. Như đã thấy trên, Vận là bè bạn của Nghĩa Chân. Tống thư quyển 67 tờ 6b8-10 viết: "Lô lăng vương Nghĩa Chân nhỏ thích văn học, cùng Linh Vận tình khoản khác thường. Tới khi Thiếu đế tức vị, quyền hành đều tại tay những đại thần. Linh Vận gây xúi dị đồng, phê bình huỷ báng những kẻ chấp chính Tư đồ Từ Tiên Chi và những người khác do thế không thích, bèn đổi Vận ra làm thái thú quận Vĩnh gia". Thế cũng có nghĩa, Vận ra Vĩnh gia vào năm 423. Trong khi làm thái thú quận này, ngoài việc du hí, Vận còn viết một tiểu luận nhan đề Biện tôn luận, mà Quảng hoằng minh tập quyển 18 ĐTK 2103 tờ 224c25-225a9, đã ghi lại cùng với vấn nạn của những người khác, trong đó có trả lời vấn nạn của Huệ Lâm ở tờ 226b6-227a25.

Biện tôn luận viết: "Cùng đi chơi với các đạo nhân đều là những vị chuyên tu đạo tâm thần, chuyên tìm hiểu ngoài lời nói. Tôi đau gối giưòng, việc ít, lại có nhiều ngày rảnh, nhân thế xin trình bày ý kiến của mình về do lai của đạo nhằm xác định sự tìm hiểu tôn chỉ.

Họ Thích bàn luận Thánh đạo tuy cao xa, nhưng phải học nhiều mới hay đến, ràng buộc hết thì sự rõ ràng mới sinh, mới có thể đáp lại sự tiện ngộ. Họ Khổng bàn luận Thánh đạo đã hay, tuy Nhan Hồi chờ nhiều, hể đạo không rõ khắp, nhưng lý về một cực. Có một đạo sỹ đưa ra học thuyết mới, cho rằng sự lặng soi vi diệu không dừng từng bậc, học nhiều không hạn, sao phải tự dứt. Nên nay bỏ quan niệm tiệm ngộ của họ Thích mà dùng lấy quan niệm có thể đến, bỏ quan niệm chờ nhiều của họ Khổng mà giữ lại quan niệm một cực. Quan niệm một cực khác với quan niệm tiệm ngộ. Quan niệm một cực khác với quan niệm tiệm ngộ. Quan niệm có thể đến chẳng qua là quan niệm chờ nhiều. Cho nên, lý do cho việc bỏ đi tuy giống nhau, cho việc giữ lại thì Khổng Thích hai đường xa khác.

Tôi cho rằng hai bàn luận trên là những lời cứu vật, xướng lên học thuyết đắc ý cuả các nhà tu hành. Tôi dám lây chúng chiết trung, tự trộm gọi là học thuyết mới vậy, nhằm đáp lại những ý kiến thấp thỏi, đợi chờ có sự hiểu biết thêm về sau".

Giữa những ý kiến mà Vận "xin đáp lại dưới đây, đợi chờ có thêm sự hiểu biết", có cả chúng vấn nạn của Huệ Lâm và Pháp Vương, người Huệ Lâm sẽ viết truy điệu hơn mười năm sau. Trong đầu mở đầu cho trả lời vấn nạn hai nhà sư này, Vận đã viết: "Vừa xem xong hai vấn nạn, mừng vui như được thấy mặt, văn đẹp ý rộng, phất phới đầy mắt, có thể nói chúng là đến từ miệng của thắng nhân" - phi lãm song nạn, hân như tạm đối, tháo phong luận bác, uý nhiên mãn mục, khả vị thắng nhân chi khấu. Chỉ cần đọc một câu mở đầu này, ta cũng có thể thấy, Vận và Lâm đã có những tình khoản gì với nhau.

Qua những liên lạc mật thiết này với những danh sỹ thời ông, tài ba và học thức của Lâm tất không phải tầm thường gì. Ngoài Quân thiện luận mà ta sẽ cho bàn riêng dưới đây, cứ theo đoạn văn dẫn trên từ Nam sử và Tống thư cùng Cao Tăng truyện, Lâm đã chú thích Hiếu kinh, thiên Tiêu diêu của Trang tử và có Huệ Lâm tập mười quyển. Một kiểm soát kinh tịch chí của Tuỳ thư quyển 32, 34 và 35 cho thấy, những tác phẩm sau hiện còn tới giữa thế kỷ thứ 7: 1) Hiếu kinh 1 quyển, Thích Huệ Lâm chú. 2) Lão tử đạo đức kinh 2 quyển, Thích Huệ Lâm chú và 3) Tống Sa-môn Thích Huệ Lâm tập 5 quyển, thư mục đời Lương có tới 9 quyển và 1 quyển lục. Thêm vào đó, ta phải kể 2 bài truy điệu do Lâm viết cho Trúc Đạo Sanh và Thích Pháp Cương, cùng với những trao đổi thư từ với Tạ Linh Vận, mà Quảng hoằng minh tập ghi lại. Ngoài ra, cứ báo cáo trên của Hà Thượng Chi thì Lâm có trao đổi thư từ với Tôn Bính và Nhan Diên Chi về cuốn Bạch hắc luận, nhưng ngày nay không một lá thư đã được bảo tồn. Trong bản mục lục Pháp luận do Lục Trừng viết vào khoảng 465-469 và Tăng Hựu chép lại trong Xuất tâm tạng ký tập quyển 12 ĐTK 2145 tờ 85a25-2a, ta thấy ngoài Quân thiện lua65n, Lâm còn tác giả 3 luận văn khác: 1) Thích Huệ Lâm nạn, 2) Hôn nông vô thượng luận và 3) Vấn nạn. Nhan đề của luận văn thứ hai tỏ ra lôi cuốn vì nó đề cập tới hôn nhân và nông nghiệp. Tóm tắt, trừ Bạch hắc luận và những bài truy điệu cùng thư từ với Tạ Linh Vận, những tác phẩm của Lâm ngày nay hầu hết đã tán thất. Dẫu thế, chỉ một cuốn Bạch hắc luận cũng đủ làm cho tiếng tăm Lâm vang dội và trở thành đầu đề bàn cãi của những trí thức lãnh đạo thời ông, đặc biệt là Hà Thừa Thiên.

Hà Thừa Thiên là một nhà thiên văn học nổi tiếng của Trung Quốc cổ đại. Tiểu sử ông tìm thấy trong Tống thư quyển 64 tờ 6b13-13b1. Ông sinh năm 370 và mất năm 448 lúc 78 tuổi. Cứ vào tiểu sử đây thì hình như Thiên không có một liên lạc nào hết với Huệ Lâm. Điểm may mắn là Tăng Hựu đã cho sưu tập lại phần lớn những phát biểu của thiên về Phật giáo và dành hầu như hoàn toàn hai cuốn thứ 3 và thứ 4 của Hoằng minh tập cho chúng. Chúng ta nhờ thế biết tường tận quan điểm và cảm nghĩ của Thiên đối với Lâm. Trong lá thư đầu tiên viết cho Tôn Bính, để gởi kèm cuốn Bạch hắc luận của Lâm, Thiên viết: "Đạo nhân Huệ Lâm ở chùa Trị Thành làm ra Bạch hắc luận, bèn bị chúng Tăng bài tẫn, may nhờ gặp Minh chúa khéo cứu, nên miễn được tội ba la di. Đã làm Tỷ-kheo, mà không chịu rõ điều ấy. Huống nữa hàng cư sỹ như tôi, sao lại không nói"

Trong lá thư trả lời, Bính không những phân tích một cách khá chi ly tác phẩm của Lâm và phê bình những kết luận của nó, trái lại còn dẫn những người từ Kỳ Vức cho tới Đạo An, Đạo Lâm và Huệ Viễn, rồi hỏi: "Thần lý phong tháo cuả họ hình như rất không sau tỷ kheo Huệ Lâm, thì đâu lại có chuyện họ bỏ bậy nhân lý, cạo vứt tóc râu, để tin theo sự giáo hóa của người không thật?". Đáp lại lá thư vừa dẫn của Bính, Thiên viết: "Túc hạ đã biết, người thường không thể ngay cả lường đo việc gần, thì nay làm sao mà họ có thể hơn được trong việc lường đo việc trăm năm về trước hay ngàn dặm nước ngoài? Lâm Tỷ kheo dù dáng mạo thầy tu, nhưng bẩm tính ngay thật, hình như sâu biết sự chân ngụy, lại rất không chịu kiêng sợ việc hộ kinh, thờ thầy, để ăn nói bằng những lời xảo mỹ. Tôi do đó mà có lòng kính trọng đối với ông ta". Hà Thiên đối với Lâm là thế.

Điểm đáng chú ý hơn nữa là thái độ của Tôn Bính trong câu trả lời nhận xét vừa nêu của Thiên. Bính viết trong lá thư trả lời cho Thiên rằng: "Tôi quả không quen biết Lâm tỷ kheo lại cũng không từng bàn luận việc đời với ông ấy. Nhưng nếu túc hạ cho ông đó ngang hàng với Dữu Văn Bính, từ đó có thể không thua gì Đạo Thúy, thì cũng đang còn thua Trúc Pháp Hộ và Vu Pháp Lan. Lời bình trước chưa hẳn là đã thất ngôn. Nếu Lâm thật có thể có mặt mũi thầy tu, bẩm tính ngay thẳng sâu biết chân ngụy, thì hà tất chẳg hóa làm Thiên đế thích, để khích lệ người mau thành Phật sao?".

Nhận xét vừa kể phải nói là đáng ngạc nhiên, nhất là khi Bính xếp Lâm lên ngang hàng với Vu Đạo Thúy, nếu không là với Vu Pháp Lan và Trúc Pháp Hộ. Đạo Thúy cố nhiên là một nhân vật quan trọng trong thời Phật giáo du nhập Trung Quốc. Ông mất trên đường qua Ấn Độ tại nước ta vào khoảng năm 320. Đạo Lâm đã ca ngợi ông với bài minh sau:

Anh anh thượng nhân
Biết rõ lẽ trong
Trí ngời ngọc chiếu
Tiếng đức thơm lan.

Giả như Lâm ngang hàng với Thúy theo xác định của Bính, thì tối thiểu vị trí của Lâm trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc cũng không phải nhỏ mọn gì. Tôn Bính có tiểu sử trong Tống thư quyển 93 và Nam sử quyển 75 tờ 3b3-4a6. Sống giữa những năm 374-443, Bính là một phật tử thuần thành, đóng góp không ít trong việc giải thích Phật giáo cho người Trung Quốc. Ông là đệ tử của Huệ Viễn (344-416), một nhân cách vĩ đại và hiếm có của lịch sử Phật giáo Trung Quốc và thế giới. Nhận xét của Bính về Lâm do thế không phải là thường.

Đối với vấn đề tham dự quyền yếu, tiểu sử của Lâm trong Tống thư chỉ bằng lòng ghi: "Trong khoảng Nguyên gia, Lâm tham dự quyền yếu..., thế khuynh một thời". Nhưng Nam sử đã thêm câu nhận xét của Khổng Khải về cuộc đời khá bận rộn và khá phong lưu của Lâm như đã thấy trên. Khổng Khái có tiểu sử ở Tống thư quyển 84 tờ 15a5-21a3. Cứ theo đó thì Khải bị chém trong vụ gây hấn Nghĩa gia năm 466, lúc mới 51 tuổi. Năm Khải sinh như vậy rơi vào khoảng 416. Thời gian để Khải phát biểu nhận xét trên về Lâm chắc chắn phải sau năm 435 trở đi. Sau năm 435, Lâm do đó phải đang còn giữ chức "tể tướng áo nâu" tại triều Văn đế. Kết luận này có thể chứng thực một cách dễ dàng bằng cách đọc lại tiểu sử của Nghĩa Khương ở Tống thư quyển 68 tờ 1a6-6a5 và Nam sử quyển 13 tờ 8a9-10a9.

Khương là người con thứ tư của Vũ đế và em khác mẹ cuả Văn đế. Trong khoảng thời gian từ năm 435 cho đến 440 Văn đế đau yếu, quyền hành đều do Nghĩa Khương xử dụng cùng với bộ hạ của mình là Lưu Trạm, Lưu Kỉnh Văn và Khổng Dân Tú. Đến năm 440, khoảng tháng 4 bệnh bớt, Văn đế nghe phong phanh Dẫn Tú bàn việc lập Khương làm hoàng đế. Trạm lại gây oán với Ân Cảnh Nhân. Đến tháng 10, Nhân cùng Văn đế ra chiếu bắt Trạm cùng các con và đảng bộ giao cho đình uý xử. Khương khiếp sợ, dâng biểu tốn vị, xin đổi ra làm thứ sử Giang Châu. Trước lúc đi, "Khương lưu lại trong điện vua hơn 10 ngày. Quế Hương hầu Nghĩa Dung, Tần du hầu Nghĩa Tôn, Bí thư giám Từ Trạm chi đều lui tới thăm hỏi yên ủi. Đến ngày nhận chức, rời để xuống chữ thượng, Khương tới gặp vua, chỉ biết nhìn và khóc, không biết nói năng gì. Vua sai Sa-môn Thích Huệ Lâm đến xem. Nghĩa Khương hỏi: "Đệ tử có thể được trở về chăng" Huệ Lâm trả lời: "Chỉ tiếc ngài không chịu đọc vài trăm cuốn sách". Khương từ đấy trở đi thất sủng, để cuối cùng bị bàn tay của Văn đế giết mười năm sau vào năm 451, lúc ông 43 tuổi. Khương bị nhận cổ chết, vì ông từ chối uống thuốc do Văn đế gởi bởi "Phật dạy tự sát thì không được lại thân người". Đến năm 440 như vậy Lâm đang còn làm việc cho Lưu Nghĩa Long. Kể tử ngày Long gọi Lâm cùng Tạ Linh Vân và Nhan Diên Chi vào triều cho tới lúc đấy đúng mười ba năm.

Cuộc sống của Lâm trong giai đoạn ấy, như Nam sử báo cáo, tương đối khá phong lưu, nếu không là khá thế tục. Ông mặc áo lông con điêu, mang guốc gỗ cao, có những tên thư ký với những chức thông trình và thơ tá. Khách khứa lui tới rộn rịp, xe cộ đầy ngõ. Nhà cửa ồn ào tiếng người hỏi han. Cũng chính trong khoảng thời gian này, một vài chi tiết khá linh động về đời sống và tính tình Lâm được ghi lại. Tiểu sử cuả Tạ Hoằng Vi ở Tống thư quyển 58 tờ 2b6-3b10 kể chyện, vào năm 427 anh của Vi là Ta Diệu mất "Hoằng Vi ăn chay lâu ngày, buồn rầu quá lễ, năm tang tuy đã hết, nhưng vẫn không chịu ăn thịt cá, Sa-môn Thích Huệ Lâm đến thăm Hoằng Vi, Hoằng Vi cùng ngồi ăn, song vẫn một mình ăn đồ chay. Huệ Lâm nói: "Đàn việt bản thân đã nhiều bệnh, lúc này xương thịt lại gầy gò; sau ngày tang, sao vẫn không chịu ăn uống như thường? Nếu lấy cái việc vô ích để làm hại đời sống, thì đâu có đúng lẽ được. Hoằng Vi đáp: "Việc đổi áo mũ tang, ấy bởi lễ không vượt, nhưng lòng vẫn còn buồn chưa thôi, nên phải vậy". Rồi bèn bỏ ăn, khóc lóc nghẹn ngào khôn xiết".

Từ chi tiết này, ta có thể rút ra hai kết luận sau: Thứ nhất, Lâm có một cái nhìn khá thực tiễn về lễ nghĩa. Hoằng Vi dĩ nhiên là một trong năm trọng thần của đầu triều Nguyên gia cùng ngang bậc với Vương Hoa, Vương Đàm Thủ, Ân Cảnh và Lưu Trạm. Việc Lâm can gián Vi, do thế chứng tỏ Lâm không những có liên lạc mật thiết với những người cao cấp này, mà còn có những quan hệ tình cảm riêng tư khá gần gũi, dẫn tới chuyện muốn đem quan niệm lễ giáo của mình để ảnh hưởng Hoằng Vi. Thứ hai, bữa ăn của Lâm với Vi chắc là một bữa ăn mặn, bởi vì trong bữa ăn hai người ấy thì "Hoằng Vi dữ chi cộng thưc, do độc tố thực" - chỉ một mình Vi ăn chay, giả thiết Lâm chắc ăn cá thịt. Cũng cần nhớ là Vy rất giỏi nấu nướng, đến nỗi cả Văn đế cũng đến nhà Vi xin nấu ăn - thượng dĩ Hoằng Vi năng doanh thiện tu, thượng tựu cầu thực - Bữa ăn do Vi đãi Lâm vì thế chắc một bữa ăn mặn. Đương nhiên, việc ăn mặn này không có gì đáng ngạc nhiên cho lắm, bởi vì thủ tục ăn chay chưa trở thành phổ quát vào thời ông. Tăng sĩ ăn chay là một ngoại lệ hơn là thông luật, nên Huệ Hạo đã có dịp ca ngợi một cách nồng nhiệt những vị sư triệt để thi hành ngoại lệ ấy trong Cao Tăng truyện.

Chi tiết thứ hai được Giản Văn đế nhà Lương ghi lại trong Kim lâu tử quyển 6 tờ 7b8-8a4. Nó đọc thế này: "Hà Thừa Thiên ở tại ghế Thái Tỏ nói giễu Dữu Đăng Chi rằng: "Nhân họa đổi thành phúc, ấy chưa chắc đều là thông minh". Dữu Đăng Chi trả lời: "Tôi cũng từng vơi ba cây ấy cùng giết". Thừa Thiên, khi Tạ Hối làm loạn, viết biểu cho Hối nói: "Đương thả thuyền xuống phía đông, giết ba cây ấy". Cho nên ông Dữu lấy cái chuyện ba cây để giễu. Thừa Thiên thất sắc. Thừa Thiên lại cùng với đạo nhân Huệ Lâm ngồi với Thái Tổ. Thái Tổ sử hai người đánh cờ. Lâm công chỉ ba con cờ mà gọi Thừa Thiên nói: "Chỉ nên theo dòng thẳng xuống giết ba cây đó". Lâm lập lời nói tới ba lần. Thừa Thiên lưng toát mồ hôi, hoảng hốt khiếp sợ, đến nỗi bèn thua cuộc".

Chi tiết này dĩ nhiên nhắc lại việc Thiên tham dự vào cuộc kháng chiến cuả Tạ Hối chống lại sự giết Từ Tiên Chi và Phó Lượng của Văn đế vào mùa xuân năm 426. Hồi đóng ở Giang Lăng, thả thuyền xuống phía đông tức xuống Giang Khẩu, nhưng bị viện binh của Đàm Đạo Tề đánh lại. Hối chạy lên bắc Ngụy mượn viện binh Thừa Thiên ra đầu hàng, được sống: Từ ngày ra hàng đến năm 430, Thiên được thăng từ chức như man phủ sự lên thượng thư điện trung lang kiêm tả thừa. Tới lúc Ân Cảnh Nhân được cất làm thượng thư bộc xã vào năm 432 thì Thiên bị Ân đổi làm nội sử Hoạnh Dưong, bởi vì "tính Thiên cương trực, không chịu khuất ý, bạn bè ở triều đình thường hay bị khinh vũ, nên đông liệt không bàn tán Thiên cho Nhân biết". Đến năm 439, Thiên được gọi về triều, giao chức trước tác tả lang, để viết quốc sử. Qua năm 442, được bổ làm quốc tử bác sỹ giảng Hiếu kinh cho Hoàng thái tử. Từ năm 446, đổi làm dình uý. Chưa tới nhiệm sở thì vua muốn phong cho làm thượng thư bộ lại. Vì tiết lộ ý muốn đó, Thiên bị miễn quan, rồi mất hình như cùng năm, thọ 78 tuổi. Cứ vào bảng liệt kê vừa thấy, Lâm chỉ đánh cờ với Thiên từ năm 439 trở về sau, khi Thiên đã hơn 70 tuổi và ở lại trong triều. Tống thư viết: "Thừa thiên rất ưa đánh cờ, thường hay đánh bỏ việc. Thái Tổ cho một bộ cờ. Thiên dâng biểu trần tạ. Vua đáp: "Cho bộ cờ, sao quyết chẳng phải là thứ vàng Trương Vũ?". Việc Lâm lập lại ba lần câu nói trào lộng cuả mình, có lẽ là nguồn gốc cuả cái mô tả trên của Huệ Hạo về chuyện "Hay đùa giỡn, ưa nói cười" của Lâm.

Cuối cùng, về chi tiết Lâm bị đuổi ra nước ta. Chi tiết gồm có hai vấn đề. Thứ nhất là vấn đề Lâm bị đuổi và thứ hai là vấn đề nơi Lâm bị đuổi đến. Vấn đề đầu, tất cả những tư liệu trước thời Huệ Hạo cũng như sau ông đều nhất loạt nói tới. Chúng ta có báo cáo của Hà Thượng Chi, Hà Thừa Thiên, Trầm Ước, Lý Diên Thọ, Đạo Tuyên và Hoài Tín. Lý do cho việc đòi đuổi Lâm nằm trong truyện Lâm viết Bạch hắc luận hay Quân thiện luận. Thế thì cuốn luận nay viết ra lúc nào? Ở trên, chúng tôi đã vạch ra cái báo cáo của Hà Thượng Chi, nhưng đã vạch ra một cách nửa chừng, bởi vì trước khi bắt đầu với "lúc bấy giờ", Chi đã cho ta biết "lúc bấy giờ" ấy là lúc nào.

Toàn phần báo cáo đấy bây giờ có thể đọc thế này: "Nguyên gia năm thứ 12 tháng 5 ngày Ất Dậu có ty tấu Đan dương doãn là Tiêu Mộ Chi dâng lời nói rằng: "Phật giáo đã phát triển tới Trung Quốc trải tới bốn triều đại, chùa tháp hình tượng ngày nay kể tới số ngàn, có thể làm động lòng đùn bước để được chiêu khuyến. Nhưng từ mấy lúc nay, lòng tín của người ta ít ỏi. Họ không lấy sự tinh thành làm mục đích, lại lấy sự cạnh tranh xa hoa là quí trọng. Chùa cũ đổ nát thì chẳng có ai sửa chữa, mà một người lại muốn riêng tạo ra một chùa mới, để tự khoe khoang với nhau. Nên đất hẹp nhà sang đến nay đều hết. Săng gỗ tre nứa, vàng đồng, gấm vải, tốn không kể xiết. Thật là vượt sự vừa phải, trái với chế định, nên gia kiểm soát. Nếu không làm để ngăn ngừa giòng tục chưa dứt. Xin rằng, từ nay trở đi ai muốn đúc tượng đều phải đến kinh sư để xin phép, ai muốn tạo dựng chùa tháp tinh xá trước hết phải đến châu thú sở tại, trình bày đầu đuôi rõ ràng, y việc bày lời, các châu tất phải báo cho phép, sau đó mới được khỉ công. Giả như có ai tự túc tượng đồng, tự làm chùa tháp thì vì không dựa vào chiếu thư luật luận, đồng vàng săng gỗ ngói gạch đều thu nhập quan khố. Vua đồng ý với lời tấu. Lúc bấy giờ có Sa-môn Huệ Lâm giả mặc áo thầy tu mà tự phá hoại đạo mình, làm ra quyển Bạch hắc luận. Thái thú Hoạnh Dương Hà Thừa Thiên cùng Lâm đọ giáo, giúp nhau kích dương, viết Đạt tính luận..." Nguyên gia năm thứ 12 tức năm 435. Vào năm 435 như vậy Bạch hắc luận đã ra đời, để cho Hà Thượng Chi kết tội Lâm là "giả mặc áo thầy tu mà tự phá hủy đạo mình" Do đó chúng ta biết chắc chắn là, Lâm phải viết nó trước năm 435.

Tiếp đến, trong những thư từ qua lại giữa Tôn Bính và Hà Thừa Thiên về cuốn Bạch hắc luận, mà Tăng Hựu đã cho sưu tập lại trong Hoằng minh tập quyển 3, Bính luôn luôn gọi Thiên là Hà Hoạnh Dương, tức ông họ Hà ở Hoạnh dương. Cứ bảng liệt kê chức tước của Thiên trên, ta biết năm 432 Ân Cảnh Nhân đổi Thiên ra làm nội sứ quân Hoạnh Dương. Thiên làm việc ở quận này cho tới năm 439 mới được gọi về triều. Như báo cáo của Hà Thượng Chi nêu lên, năm 435 Thiên đã cùng với Lâm giúp nhau kích dương Bạch hắc luận. Do vậy, mặc dù tiểu sử của Thiên không bao giờ nói Thiên giữ chức thái thú quận Hoạnh Dương, như Thượng Chi điểm chỉ và Huệ Hạo ghi lại, điểm chắc chắn là, Bạch hắc luận phải ra đời trước năm 435 và rất có thể trước năm 433.

Rất có thể trước năm 433, bởi vì trong lá thư đầu tiê gởi kèm theo cuốn Quân thiện luận cho Tôn Bính đọc và phê bình Hà Thừa Thiên kể việc Huệ Lâm, sau khi viết Quân thiện luận, bị chúng tăng đòi tẩn xuất, vì họ coi sự viết nó như một ba la di, nhưng nhờ che chở của Văn đế mà được cứu. Để một nhà sư có uy lực và danh tiếng như Huệ Lâm bị đòi lột áo thầy tu và đuổi cổ; đặc biệt khi chúng ta biết Lâm vào năm 426 đã chính thức vào làm cố vấn cho Văn đế và đã có những liên lạc khá mật thiết với những danh sĩ đương thời như Tạ Linh Vận, mà cao đức Huệ Viễn gần hai mươi năm trước đây đã cho người gọi về Lô sơn viết tán, chắc hẳn một công luận đã được tạo ra. Thời gian để cho một công luận như thế thành hình, sau khi ra đời của Bạch hắc luận tất không thể ngắn ngủi, cứ vào phương tiện truyền đạt và thông tin thời bấy giờ. Hà Thừa Thiên đã chú ý đến nó, sau lúc nó đã tạo ra những bàn tán xôn xao và dị nghỉ chỉ trích, như chính việc nói tới ba la di trong lá thư của ông. Vì vậy, giả như Thiên nhận được cuồn luận cuả Lâm chậm nhất là vào năm 433, thì tối thiểu một năm phải trôi qua trước khi nhận sự việc do Thiên ghi lại xảy ra. Quân thiện luận do thế có thể viết năm 433 hay sớm hơn.

Nói năm 434 là năm chậm nhất, để Thiên nhận cuốn luận của Lâm, bởi vì mùa hè năm 435 Hà Thượng Chi và Tống Văn đế đã nói tới cuộc bút chiến giữa Tôn Bính, Nhan Diên Chi và Thiên. Năm 34 từ đó phải để ra cho cuộc bút chiến xảy ra. Ít nhất là 12 lá thư và luận văn đã viết về Quân thiện luận và vấn đề nó đề lên, như Hoằng minh tập ngày nay đã có. Thời gian cho số lượng thư từ này lui tới tối thiểu cũng phải sáu tháng cho đến 1 năm, đặc biệt khi những người liên hệ không một ai đã sống tại kinh đô Kiến Nghiệp. Quân thiện luận như vậy phải viết năm 433, nếu không sớm hơn, sau vụ bàn cãi Biện tôn luận của Tạ Linh Vận vào năm 423.

Khi đã viết Quân thiện luận, Lâm gặp phải những phản ứng khá mãnh liệt từ tập thể tăng già Trung Quốc thời bấy giờ, biểu hiện qua việc đòi lột áo thầy tu của Lâm. Họ coi Lâm đã phạm một ba la di khi viết nó. Quả thật, nếu Lâm dám bảo "Thích Ca biện nhi bất thật" thì người ta có thể hỏi, sao Lâm vẫn còn nhận mình là "người con tinh thần cuả Thích Ca", là "Thích Tử". Để hiểu tại sao một sự tình như thế này có thể xảy ra, ở đây mặc dù phê bình một số học thuyết của "Phật giáo", một số Phật tử vẫn nhận mình là "con Phật", chúng ta cần nhìn đến tình trạng Phật học tổng quát của giới trí thức và Tăng lữ lúc ấy.

Kể từ ngày Phật giáo truyền tới Trung Quốc, kinh điển thường là những suối nguồn cuả tin yêu nhiều hơn là bàn cãi. Nhưng bắt đầu cuối thế kỷ thứIII đầu thế kỷ thứ IV, một phong trào Phật thực sự ra đời, phát triển song song với và cung cấp chủ đề nghĩ suy cho phong trào huyền học thanh đàm, và Vu Đạo Thúy có thể coi như là người khởi xướng, và chủ đề bàn cãi là vấn đề sắc không của kinh Bát nhã. Viết tựa cho Tỳ ma la cật đế kinh nghĩa sớ vào khoảng năm 409, Tăng Duệ nói: "Từ gió huê đông thổi, lời pháp chảy vang đến nay, tuy ngày àng thêm chỗ tiảng, nhưng sự cách nghĩa xa vời, trái với lời cỗi gốc, nên sáu nhà thiên trệch mà không rõ tôn chỉ của tính không".

Sáu nhà là ai? Nhờ một chút dẫn của Nguyên Khương đời Đường trong Triệu luận sớ, người ta biết, sáu nhà này là sáu nhà chủ trương những cắt nghĩa khác nhau về vấn đề sắc không. Đó là thuyết bản vô của Đạo An, bản vô dị của Pháp Thân, tức sắc của Chi Đạo Lâm, thức hàm của Vu Pháp Khai, huyễn hóa cuả Đạo Nhất, vô tâm vô của Pháp Ôn và duyên hội của Vu Đạo Thúy, trong đó thuyết của An và Thâm hình như bị Duệ đồng nhất. Trong số sáu học thuyết về sắc không này, thuyết của Thúy dĩ nhiên là xưa nhất, bởi vì Thúy sinh khoảng 290 tại Đôn hoàng và mất trên đất nước ta khoảng năm 320 lúc mới 31 tuổi. Cứ Trung luận sở-ký, "Vu Đạo Thúy viết Duyên hội nhị đế luận, nói rằn, Duyên gặp nhau nên có, ấy là tục đế, suy chiết nó thì không, ấy là chân đế, ví như săng gỗ hiệp lại làm thành nhà, nha không có cái thực chất hiện hữu ở trước nó, nó do thế có tên mà không có thực, cho nên Phật bảo La-đa: "Sắc tướng diệt hoại thì thấy được cái không". Chỉ một vấn đề sắc không, mà trong một thế kỷ tối thiểu sáu học thuyết khác nhau đã ra đời.

Tình trạng ấy bước đến đầu thế kỷ thứ V càng trở thành trầm trọng hơn, vì những trường phái Phật giáo mới xuất hiện ở Ấn Độ và sự giao thương liên tục giữa Trung Quốc và Ấn Đô của những nhà truyền giáo và tìm đạo, dẫn tới việc truyền thừa nhiều kinh điển chứa đựng những học thuyết khác nhau. Mỗi một người theo một trường phái kích bác những trường phái khác, cho chúng là tà thuyết. Mỗi một người theo một giới luật, kích bác những giới luật khác, cho chúng là phi pháp. Ta có trường hợp Giác Hiền, dịch giả của Bộ Hoa Nghiêm vĩ đại, bị tẩn xuất khỏi dịch trường La Thập. Ta có sự tình Đạo Sanh bị tẩn xuất khỏi chùa Thạch viên và phải đến ở núi Hổ Khưu, vì giảng thuyết xiển đề có thể thành Phật, mà Huệ Hạo viết: "Cựu học cho là tà thuyết, chê bai tức giận rất nhiều, họ liền trình ra cho đại chúng, đại chúng lột áo đuổi cổ đi". Thậm chí có cái thuyết khá tân kỳ của Pháp Độ, "nói rằng, chỉ chuyên học tiểu thừa, cấm học Phương đẳng, chỉ lạy Thích Ca, không lạy thập phương Phật, ăn dùng bát đồng, không dùng gì khác, lại khiến các ni nắm tay nhau mà đi". Huệ Hạo phải nhận xét: "Nhưng cũng may đạt lượng quân tử chưa từng quay gót bước lui, chỉ ni chúng dễ tin, trước theo sự giáo hóa của nó. Thật nữ nhân lý giải khó thỏa, sự tích dễ bày, nghe nhân quả thì tức khắc quay lưng, thấy biến thuật thì bôn ba theo chạy. Cái gọi là theo nhau mà rớt, chính là đây vậy". Rồi có chuyện ngồi xoạc chân ra mà ăn, như những cãi cọ giữa Phạm Thái, cha của Việp, và Huệ Nghĩa, Huệ Quan, mà Tăng Hựu cho phép ra trong Hoằng minh tập. Cũng chính trong cuộc cãi cọ này, Thái ghi lại cái thuyết "vô sanh Phương đẳng giải thị ma thơ".

Quả thật, Phật giáo tiền bán thế kỷ thứ V tại Trung Quốc đang rơi vào một giai đoạn trưởng thành mới. Trong tình trạng đó, nếu Huệ Lâm có bị tẩn xuất, chúng ta cũng không có gì ngạc nhiên hết. Ngay cả một người với phẩm cách của Đạo Sanh, mới chỉ nói tới xiển đề thành Phật, là đã bị gọi là nói tà thuyết và bị lột áo. Huống nữa là Lâm vói những ăn nói kiểu "Thích Ca biện nhi bất thật". Điểm đáng chú ý hơn nữa là, trong khi Hạo chỉ ghi Lâm bị "đuổi ra Giao Châu", cả Tống thư lẫn Nam sử đều xác định một cách rõ ràng, kẻ chủ động trong vụ tẩn xuất là "cựu tăng", một từ ngữ, mà Hạo đã dùng khi mô tả việc Sanh bị đuổi.

Lâm viết Quân thiện luận năm 433. Những bàn cãi trên cho thấy, Lâm vẫn đang còn tại kinh đô Kiến nghiệp cho tới tối thiểu khi Văn đế bị bàn tay con mình giết vào năm 453 và sự che chở của Văn đế chấm dứt. Như trường hợp của Đạo Sanh, khi bị đuổi, Lâm chắc rời chùa Trị Thành đến ở những chùa khác. Đạo Sanh sau lúc bị đuổi, tới núi Hổ Khưu, rồi một thời gian sau dời tới ở Lô Sơn và mất ở đấy vào tháng 10 năm Nguyên Gia thứ 11 (434). Đưa đám Sanh, Lâm đứng ra làm bài truy điệu. Một tháng sau, Pháp Cương, người đã viết thư chung với Lâm cho Tạ Linh Vận, cũng mất tại núi Hổ Khưu. Một lần nữa, Lâm nhận trách nhiệm viết truy điệu Cương. Cả hai bài truy điệu này, Đạo Tuyên đã bảo tồn lại trong Quảng hoằng minh tập quyển 23 ĐTK 2103 tờ 265b3-266b2. Đọc qua chúng ta sẽ có dịp thấy Lâm có những tình tự gì đối với đồng đạo của mình, sau khi lên tiếng phê bình gắt gao Phật giáo thời ông. Bài truy điệu về Sanh đã làm tư liệu cho Huệ Hạo, khi Hạo, khi Hạo viết tiểu sử của Sanh trong Cao Tăng truyện quyển 7, nhưng không đóng góp một cách trực tiếp vào sự hiểu biết hành trạng của Lâm trong liên hệ với Sanh. Tuy thế, để cho thấy Lâm đã có những tình tự gì đối với đồng đạo mình và văn tài siêu việt thế nào, chúng tôi cho dịch lại từ đây.

"Nguyên Gia năm thứ 11 mùa đông tháng 10 ngày Canh Tý Đạo Sanh pháp sư mất ở Lô Sơn. Ô hô ai tai! Người hiền cáo tận! Sự đau xót ấy không cạn, Lẽ chung bảo mất, sự tiếc thương âý lại sâu. Pháp sư vốn giòng họ Ngụy, người Bành Thành vậy. Cha là huyện lịnh Quảng Thích, nhỏ mà