Tập I - Thiên Có Kệ
Chương I : Tương Ưng Chư Thiên
I. Phẩm Cây Lau
I : Bộc Lưu (S.I,1)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi(Xá-vệ),
Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Độc).
Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần
tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn,
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị
Thiên ấy bạch Thế Tôn:
-- Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt
khỏi bộc lưu ?
-- Này Hiền giả, không đứng lại,
không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.
-- Thưa Tôn giả, làm sao không đứng
lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu ?
-- Này Hiền giả, khi Ta đứng lại,
thời Ta chìm xuống. Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt;
do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi
bộc lưu.
(Vị Thiên):
Từ lâu, tôi mới thấy.
Bà-la-môn tịch tịnh.
Không đứng, không bước tới,
Vượt chấp trước ở đời.
Vị Thiên ấy nói như
vậy và bậc Đạo Sư chấp nhận. Vị Thiên ấy biết được: "Thế Tôn
đã chấp nhận ta". Vị ấy đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng
về Ngài, rồi biến mất tại chỗ.
II. Giải Thoát
(Si.2)
... Ở Sà 趡tthi. Rồi
một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng
toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế
Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
-- Thưa Tôn giả,
Ngài có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh không ?
-- Này Hiền giả, Ta
có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh.
-- Thưa Tôn giả, như
thế nào Ngài biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh?
Hỷ,
tái sanh đoạn tận,
Tưởng,
thức được trừ diệt,
Các
thọ diệt, tịch tịnh,
Như
vậy này Hiền giả,
Ta
biết sự giải thoát,
Thoát
ly và viễn ly,
Cho
các loại chúng sanh.
III.
Đưa Đến Đoạn Tận - (Tạp 36.9. Đại 2,262b. Biệt Tạp 8.7, Đại
2,427b). (S.i,2)
... Đứng
một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Mạng
sống bị dắt dẫn,
Tuổi
thọ chẳng là bao,
Bị
dẫn đến già nua,
Không
có nơi dừng bước.
Ai
đem tâm quán tưởng,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
làm các công đức,
Đưa
đến chơn an lạc.
(Thế
Tôn):
Mạng
sống bị dắt dẫn,
Tuổi
thọ chẳng là bao,
Bị
dẫn đến già nua,
Không
có nơi dừng bước.
Ai
đem tâm quán tưởng,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
bỏ mọi thế lợi,
Tâm
hướng cầu tịch tịnh.
IV. Thời Gian Trôi
Qua (Biệt Tạp 8.8, Đại 2,427b) (S.i,3)
... (Nhân duyên ở
(Sàvatthi ), đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt
Thế Tôn:
Thời
gian (lặng) trôi qua,
Đêm
(ngày luôn) di động,
Tuổi
tác buổi thanh xuân,
Tiếp
tục bỏ chúng ta.
Những
ai chịu quán sát,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
làm các công đức,
Đưa
đến (chơn) an lạc.
(Thế
Tôn):
(Thời
gian lặng) trôi qua,
Đêm
(ngày luôn) di động,
Tuổi
tác buổi thanh xuân,
Tiếp
tục bỏ chúng ta.
Những
ai chịu quán sát,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
bỏ mọi thế lợi,
Tâm
hướng cầu tịch tịnh.
V. Bao
Nhiêu Phải Cắt Đoạn. (S.i,5)
... Đứng một bên,
vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Phải
cắt đoạn bao nhiêu,
Phải
từ bỏ bao nhiêu,
Tu
tập thêm bao nhiêu,
Vượt
qua bao trói buộc,
Để
được có danh xưng,
Tỷ-kheo
vượt bộc lưu ?
(Thế
Tôn):
Phải
cắt đoạn đến năm,
Phải
từ bỏ đến năm,
Tu
tập thêm năm pháp (lực),
Vượt
qua năm trói buộc,
Để
được có danh xưng,
Tỷ-kheo
"vượt bộc lưu".
VI. Tỉnh
Giác (S.i,5)
... Đứng một bên,
vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Có
bao pháp mê ngủ,
Khi
pháp khác tỉnh giác ?
Có
bao pháp tỉnh giác,
Khi
pháp khác mê ngủ ?
Có
bao nhiêu việc làm
Đưa
ta đến trần cấu ?
Có
bao nhiêu việc làm
Khiến
ta được thanh tịnh?
(Thế
Tôn):
Có
năm pháp mê ngủ,
Khi
pháp khác tỉnh giác,
Có
năm pháp tỉnh giác,
Khi
pháp khác mê ngủ.
Chính
có năm việc làm
Đưa
ta đến trần cấu,
Chính
có năm việc làm
Khiến
ta được thanh tịnh.
VII.
Không Liễu Tri (S.i,4)
... Đứng một bên,
vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Những
ai với các pháp,
Không
liễu tri thấu suốt,
Bị
hướng dẫn lầm lạc,
Vòng
quanh các dị giáo.
Họ
mê ngủ triền miên,
Họ
không có tỉnh giác,
Nay
thật đã đến thời,
Họ
cần phải thức tỉnh.
(Thế
Tôn):
Những
ai với các pháp,
Khéo
liễu tri sáng suốt,
Không
bị dẫn lầm lạc,
Vòng
quanh các dị giáo,
Họ
chứng Chánh đẳng giác.
Họ
liễu tri viên mãn,
Trên
đường không thăng bằng,
Họ
bước thật thăng bằng.
VIII. Mê Loạn (Tạp
22.5, Đại 2,154b. Biệt Tạp 9.5, Đại 2,435c) (S.i,4)
... Đứng một bên,
vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Những
ai đối các pháp,
Quá
đắm say mê loạn,
Bị
hướng dẫn lầm lạc,
Vòng
quanh các dị giáo,
Họ
mê ngủ triền miên,
Họ
không có tỉnh giác,
Nay
thật đã đến thời,
Họ
cần phải thức tỉnh.
(Thế
Tôn):
Những
ai đối các pháp,
Không
đắm say mê loạn,
Không
bị dẫn lầm lạc,
Vòng
quanh các dị giáo,
Họ
chứng Chánh đẳng giác.
Họ
liễu tri viên mãn,
Trên
đường không thăng bằng,
Họ
bước thật thăng bằng.
IX. Mong Muốn Kiêu
Mạn (Tạp 36.4, Đại 2,261a. Biệt Tạp 8.2, Đại 2,426a) (S.i,4)
... Đứng một bên,
vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Đối
vị ưa kiêu mạn,
Ở
đây không điều phục,
Không
trí tuệ sáng suốt,
Không
định tỉnh nhiếp tâm,
Độc
thân trú rừng núi,
Sống
với tâm phóng dật,
Vị
ấy không vượt khỏi,
Sự
chi phối ma lực.
(Thế
Tôn):
Từ
bỏ mọi kiêu mạn,
Tâm
tư khéo nhiếp định,
Với
tâm khéo tư sát,
Giải
thoát mọi phiền trược,
Độc
thân trú rừng núi (giới),
Với
tâm không phóng dật,
Vị
ấy vượt thoát khỏi,
Sự
chi phối ma lực.
X. Rừng Núi (Tạp
36.3, Đại 2,260c. Biệt Tạp 8.1, Đại 2,426a) (S.i,5)
... Đứng một bên,
vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thường
sống trong rừng núi,
Bậc
Thánh sống Phạm hạnh,
Một
ngày ăn một buổi,
Sao
sắc họ thù diệu ?
(Thế
Tôn):
Không
than việc đã qua,
Không
mong việc sắp tới,
Sống
ngay với hiện tại,
Do
vậy, sắc thù diệu.
Do
mong việc sắp tới,
Do
than việc đã qua,
Nên
kẻ ngu héo mòn,
Như lau xanh rời cành.
II. Phẩm Vườn Hoan Hỷ
I. Vườn Hoan Hỷ (Tạp
22.1, Đại 2,153c) (S.i,5) (Tăng 31.9. Tứ Lạc, Đại 2,672b) (Biệt Tạp 9.1, Đại
2,435a)
Như vậy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn
trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika
(Cấp Cô Độc). Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo"
-- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn".
Các Tỷ-kheo ấy
vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Thuở xưa, này
các Tỷ-kheo, có vị Thiên thuộc cõi trời Ba mươi ba, với chúng Thiên nữ
vây quanh, du hí ở vườn Hoan Hỷ, thọ hưởng năm thiên dục công đức. Bây
giờ, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này:
Chúng
không biết đến lạc,
Nếu
không thấy Hoan Hỷ,
Chỗ
trú cả Trời, Người,
Cõi
ba mươi lừng danh.
Được nghe nói vậy,
này các Tỷ-kheo, một vị Thiên khác đáp vị Thiên ấy với bài kệ:
Kẻ
ngu, sao không biết,
Vị
Ứng Cúng đã nói:
"Mọi
hành là vô thường,
Tự
tánh phải sanh diệt,
Sau
khi sanh, chúng diệt,
Nhiếp
chúng là an lạc."
II. Vui Thích (Tạp
36.12,Đại 2,263a) (S.i,6) (Biệt Tạp 8,11, Đại 2,428a)
... Đứng một bên,
vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Cha
đối con vui thích ,
Chủ
với bò vui thích,
Người
sanh y, vui thích ,
Không
sanh y, không vui.
(Thế
Tôn):
Cha
đối con sầu muộn ,
Chủ
với bò sầu muộn,
Người
sanh y, sầu muộn,
Không
sanh y, không sầu.
III. Không Ai Bằng
Con (Tạp 36.14, Đại 2,263b) (S.1,6) (Biệt Tạp 12.19, Đại 2,458c)
... Đứng một bên,
vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thương
ai bằng thương con,
Của
nào bằng bò nhà,
Sáng
nào bằng mặt trời,
Nước
nào hơn biển cả.
(Thế
Tôn):
Thương
ai bằng thương mình,
Của
nào bằng lúa gạo,
Sáng
nào bằng trí tuệ,
Nước
nào hơn mưa rào.
IV. Giai Cấp Sát
Đế Lỵ (Tạp 36.15 Sát-lỵ, Đại 2,263b) (S.i,6)
Giữa
các hàng hai chân,
Sát-lỵ
là tối thắng,
Giữa
các loài bốn chân,
Bò
đực là tối thắng,
Trong
các hàng thê thiếp,
Quý
nữ là tối thắng.
Trong
các hàng con trai,
Trưởng
nam là tối thắng.
(Thế
Tôn):
Giữa
các loài hai chân,
Chánh
giác là tối thắng.
Giữa
các loài bốn chân,
Thuần
chủng là tối thắng.
Trong
các hàng thê thiếp,
Nhu
thuận là tối thắng.
Trong
các hàng con trai,
Trung
thành là tối thắng.
V. Tiếng
Động Rừng Sâu (hay Thân tịch tịnh) (S.i,7)(Tạp 50.II, An trú, Đại
2,360b) (Biệt Tạp 16.26, Đại 2,490b)
Nay
là thời giữa trưa,
Loài
chim nghỉ yên lặng,
Vang
động tiếng rừng sâu,
Ta
run, ta khiếp sợ.
(Thế
Tôn):
Nay
là thời giữa trưa,
Loài
chim nghỉ yên lặng,
Vang
động tiếng rừng sâu,
Ta
vui, Ta thích thú.
VI. Ngủ Gục, Biếng
Nhác (Tạp 22.23, Đại 2,160a) (S.i,7)(Biệt Tạp 9.15, Đại 2,437c)
Ngủ
gục, nhác, ngáp dài,
Không
vui, ăn quá độ,
Ở
đây, đối chúng sanh,
Thánh
đạo không hiển lộ.
Ngủ
gục, nhác, ngáp dài,
Không
vui, ăn quá độ,
Với
tinh tấn, đoạn chúng,
Thánh
đạo được thanh tịnh.
VII. Khó Làm (hay
Con rùa) (Tạp 22.25, Đại 2,169b) (S.i,7) (Biệt Tạp 9,14, Đại 2,437b)
Khó
làm, khó kham nhẫn,
Thiếu
trí, hành Sa-môn,
Chỗ
kẻ ngu thối đọa,
Chỗ
ấy đầy chướng ngại.
Bao
ngày hành Sa-môn
Nếu
tâm không chế ngự,
Mỗi
bước, phải sa đọa,
Nô
lệ cho suy tư,
Như
rùa rút chân cẳng,
Trong
mai rùa của mình.
Vị
Tỷ-kheo cũng vậy,
Thâu
nhiếp mọi suy tư,
Không
tham dính vật gì,
Không
làm hại người nào,
Hoàn
toàn thật tịch tịnh,
Không
chỉ trích một ai.
VIII.
Tàm Qúy (S.i,7)
Người
được tàm chế ngự,
Tìm
được ai ở đời ?
Ai
biết ngăn chỉ trích,
Như
ngựa hiền bóng roi.
Người
được tàm chế ngự,
Sống
thường thường chánh niệm,
Vị
ấy đạt kết quả,
Khổ
đau được đoạn tận,
Bước
những bước thăng bằng,
Trên
đường không thăng bằng.
IX.
Am Tranh (S.i.8)
Ngài
không có am tranh,
Ngài
không có tổ ấm,
Ngài
không có dây giăng,
Ngài
thoát khỏi hệ phược.
(Thế
Tôn):
Ta
không có am tranh,
Ta
không có tổ ấm,
Ta
không có dây giăng,
Ta
thoát khỏi hệ phược.
(Vị
Thiên):
Con
nói am là gì ?
Nói
tổ ấm là gì ?
Nói
dây giăng là gì ?
Nói
hệ phược là gì ?
(Thế
Tôn):
Ông
nói am là mẹ,
Nói
tổ ấm là vợ,
Nói
dây giăng là con,
Nói
hệ phược là ái.
(Vị
Thiên):
Lành
thay, Ngài không am !
Lành
thay, không tổ ấm !
Lành
thay, không dây giăng !
Lành
thay, Ngài thoát phược !
X. Samiddhi (Tạp 38.17, Đại
2,281c) (S.i,8) (Biệt Tạp I.17) Đại 2,379a)
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn
ở Vương Xá tại Tapodàràma (Tịnh xá Suối nước nóng).
2) Tôn giả Samiddhi,
khi đêm đã gần tàn, thức dậy và đi đến suối nước nóng để tắm rửa
tay chân. Sau khi tắm rửa tay chân, ra khỏi suối nước nóng, Tôn giả đứng,
đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô.
3) Rồi một vị
Thiên, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng
suối nước nóng, đi đến Tôn giả Samiddhi, sau khi đến, đứng giữa hư
không, nói lên bài kệ với Tôn giả Samiddhi:
Không
hưởng, Ông khất thực,
Nay
khất thực, không hưởng,
Hãy
hưởng rồi khất thực,
Chớ
uổng phí thời gian.
(Samiddhi):
Thời
Ông, ta không biết.
Thời
ta, ẩn không hiện.
Không
hưởng, ta khất thực,
Không
uổng thời gian ta.
4) Rồi vị Thiên ấy
đứng xuống đất và thưa với Tôn giả Samiddhi :
-- Này Tỷ-kheo, Ông
còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu, tóc còn đen nhánh trong tuổi
thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các
ái dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ hưởng các ái dục của người đời. Chớ
có bỏ hiện tại mà chạy theo những gì bị thời gian chi phối.
5) -- Này Hiền giả,
ta không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và
này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy
theo hiện tại. Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói, các dục bị thời gian
chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não (Upàyàsà); nguy hiểm ở đấy
càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi
phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới
tự mình giác hiểu.
6) -- Và này Tỷ-kheo,
như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều
khổ đau, nhiều phiền não, nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn ? Như thế nào
thuộc về hiện tại là pháp này, không bị thời gian chi phối, đến để
mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác
hiểu ?
7) -- Này Hiền giả,
tôi là người mới xuất gia, mới đến đây không bao lâu. Tôi không thể
giải thích rộng rãi cho Ông pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc
A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nay ở Ràjagaha (Vương Xá) tại tịnh xá Tapoda
(Suối nước nóng) hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả
lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
8) -- Này Tỷ-kheo,
không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp bậc Thế Tôn ấy, một bậc
được chư Thiên khác, có đại uy lực đoanh vây. Này Tỷ-Kheo, nếu Ngài
đi đến bậc Thế Tôn ấy và hỏi ý nghĩa này, chúng tôi có thể đến để
nghe pháp.
9) -- Thưa vâng, Hiền
giả.
Tôn giả Samiddhi
vâng đáp vị Thiên ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn
rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế
Tôn:
10) -- Ở đây, bạch
Thế Tôn, sau khi đêm đã gần tàn, con thức dậy và đi đến suối nước
nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa tay chân, ra khỏi suối nước
nóng, con đứng đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô. Bạch Thế Tôn,
rồi một vị Thiên, sau khi đêm vừa mãn, với dung sắc thù thắng, chói
sáng toàn vùng nước nóng, đi đến con, sau khi đến, đứng giữa hư không
và nói lên bài kệ này:
"Không
hưởng, Ông khất thực,
Nay
khất thực, không hưởng,
Hãy
hưởng rồi khất thực,
Chớ
uổng phí thời gian."
11) Khi nghe nói vậy,
bạch Thế Tôn, con trả lời với vị Thiên ấy bằng bài kệ:
"Thời
Ông, ta không biết,
Thời
ta, ẩn không hiện,
Không
hưởng, ta khất thực,
Không
uổng thời gian ta."
12) Bạch Thế Tôn, rồi vị Thiên
ấy đứng xuống đất và thưa với con:
"-- Này Tỷ-kheo,
Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu, tóc đen nhánh, trong tuổi
thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các
dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ hưởng các dục lạc của người đời. Chớ có
bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối."
13) Khi được nói vậy,
bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên ấy:
"-- Này Hiền giả,
ta không bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và
này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy
theo hiện tại. Những gì thuộc thời gian, này Hiền giả, là các dục,
được nói đến là nhiều khổ đau, nhiều phiền não (upàyàsa), nguy hiểm
ở đấy lại nhiều hơn. Còn pháp này thuộc hiện tại, không bị thời
gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người
trí mới tự mình giác hiểu."
14) Khi được nói vậy,
bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với con:
"-- Và này Tỷ-kheo,
như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều
khổ đau, nhiều phiền não, nguy hiểm ở đây càng nhiều hơn ? Như thế nào
thuộc về hiện tại là pháp này không bị thời gian chi phối, đến để
mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác
hiểu ?"
· 15) Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn,
con nói với vị Thiên ấy:
· "-- Này Hiền giả, tôi là người mới
xuất gia, mới đến đây không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng
rãi cho Ông về pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng
Giác nay ở Ràjagaha (Vương Xá), tại tịnh xá Tapoda (Suối nước nóng).
Hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho Ông như
thế nào, hãy như vậy thọ trì."
· 16) Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị
Thiên ấy nói với con:
· " -- Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho
chúng tôi được đến gặp bậc Thế Tôn ấy, một bậc được các chư
Thiên khác có đại uy lực đoanh vây. Này Tỷ-kheo, nếu Ngài đi đến bậc
Thế Tôn và hỏi ý nghĩa ấy, chúng tôi cũng sẽ đến và nghe pháp."
· -- Bạch Thế Tôn, nếu vị Thiên ấy nói
sự thật, thời vị ấy ở đây, không xa bao nhiêu.
· 17) Khi được nói vậy, vị Thiên ấy nói
với Tôn giả Samiddhi như sau:
· -- Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo ! Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo!
Tôi đã đến rồi.
· 18) Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ với vị
Thiên ấy:
Chúng
sanh được hiểu biết,
Những
điều được nói lên,
Và
chấp trước thái độ,
Trên
những điều được nói.
Nếu
họ không liễu tri
Những
điều được nói lên,
Họ
đi đến trói buộc.
Do
thân chết chi phối,
Nếu
họ liễu tri được
Những
điều được nói lên,
Họ
không có tưởng tri,
Những
điều được nói ra.
Đối
với vị như vậy,
Lỗi
lầm nhất định không.
Nếu
các Ông có biết,
Hãy
nói lên Dạ-xoa.
· 19) -- Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý
nghĩa một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
Lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng
rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
(Thế
Tôn):
20)
Bằng, thắng hay thua Ta,
Nghĩ
vậy đấu tranh khởi;
Cả
ba không dao động,
Bằng,
thắng không khởi lên.
Nếu
như Ông có biết,
Hãy
nói lên, Dạ-xoa.
· 21) -- Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý
nghĩa một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
Lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng
rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
(Thế
Tôn):
22)
Hãy từ bỏ tính toán,
Không
chạy theo hư tưởng,
Từ
bỏ mọi tham ái,
Đối
danh sắc ở đời,
Vị
ấy đoạn triền phược,
Không
lo âu, không ái.
Chư
Thiên và loài Người,
Đời
này hay đời sau,
Ở
cảnh giới chư Thiên,
Hay
tại mọi trú xứ,
Tìm
cầu nhưng không gặp,
Vết
tích của vị ấy.
Nếu
Ông biết người ấy
Hãy
nói lên, Dạ-xoa.
· 23) -- Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt của
Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa rộng rãi như sau:
Khắp
thế giới chớ làm,
Điều
ác thân, miệng, ý,
Từ
bỏ mọi ái dục,
Chánh
niệm, tâm tỉnh giác,
Không
khổ hạnh ép xác,
Vô bổ, không lợi ích.
III. PHẨM KIẾM (S.I,13)
· ... (Nhân duyên ở Sàvatthi). Đứng một bên,
vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
I. Kiếm:
Như
kiếm đã chạm da,
Như
lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo
hãy chánh niệm,
Xuất
gia bỏ ái dục.
(Thế
Tôn):
Như
kiếm đã chạm da,
Như
lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo
hãy chánh niệm,
Xuất
gia bỏ thân kiến.
II.
Xúc Chạm
Không
xúc, không có chạm,
Có
xúc, thời có chạm,
Nên
hại người không hại,
Tức
có xúc, có chạm,
Ai
hại người không hại,
Người
tịnh, không ô nhiễm,
Kẻ
ngu hái quả ác,
Như
ngược gió tung bụi.
III
. Triền Phược
Nội
triền và ngoại triền,
Chúng
sanh bị triền phược,
Con
hỏi Gotama,
Ai
thoát khỏi triền này ?
(Thế
Tôn):
Người
trú giới có trí,
Tu
tập tâm và tuệ,
Nhiệt
tâm và thận trọng,
Tỷ-kheo
ấy thoát triền.
Với
ai, đã từ bỏ
Tham,
sân và vô minh,
Bậc
Lậu tận, Ứng cúng,
Vị
ấy thoát triền phược.
Chỗ
nào danh và sắc,
Được
đoạn tận, vô dư,
Đoạn
chướng ngại, sắc tưởng,
Chỗ
ấy triền phược đoạn.
IV.
Chế Ngự Tâm (S.i,14)
Chỗ
nào ý chế ngự,
Chỗ
ấy đau khổ tận.
Ý
chế ngự hoàn toàn,
Thoát
đau khổ hoàn toàn.
(Thế
Tôn):
Không
nên chế ngự ý,
Hoàn
toàn về mọi mặt,
Chớ
có chế ngự ý,
Nếu
tự chủ đạt được.
Chỗ
nào ác pháp khởi,
Chỗ
ấy chế ngự ý.
V.
Vị A - La - Hán (Tạp 22.6 - 7, La-hán, Đại 2,154b (S.i,14)( Biệt Tạp 9.6,
Đại 2,435c)
Vị
Tỷ-kheo La-hán,
Đã
làm điều phải làm,
Các
lậu được đoạn tận,
Thân
này, thân tối hậu.
Vị
ấy có thể nói:
"Chính
tôi vừa nói lên"
Vị
ấy có thể nói:
"Họ
nói là của tôi".
(Thế
Tôn):
Vị
Tỷ-kheo La-hán,
Đã
làm điều phải làm,
Các
lậu được đoạn tận,
Thân
này, thân tối hậu.
Vị
ấy có thể nói:
"Chính
tôi vừa nói lên",
Vị
ấy có thể nói:
"Họ
nói là của tôi".
Vị
ấy khéo biết rõ,
Danh
xưng ở thế gian,
Vì
chỉ là danh xưng,
Vị
ấy cũng danh xưng.
(Vị
Thiên):
Vị
Tỷ-kheo La-hán,
Đã
làm điều phải làm,
Các
lậu được đoạn tận,
Thân
này, thân tối hậu.
Có
phải Tỷ-kheo ấy,
Đi
gần đến kiêu mạn,
Khi
vị ấy có nói:
"Chính
tôi vừa nói lên".
Khi
vị ấy có nói:
"Họ
nói là của tôi"?
(Thế
Tôn):
Ai
đoạn tận kiêu mạn,
Không
còn những buộc ràng,
Mọi
hệ phược kiêu mạn,
Được
hoàn toàn đoạn tận.
Vị
có trí sáng suốt,
Vượt
khỏi mọi hư tưởng,
Vị
ấy có thể nói:
"Chính
tôi vừa nói lên",
Vị
ấy có thể nói:
"Họ
nói là của tôi".
Vị
ấy khéo biết rõ,
Danh
xưng ở thế gian,
Vì
chỉ là danh xưng,
Vị
ấy cũng danh xưng.
VI. Ánh Sáng (Tạp,
Đại 2,360b (S.i,15) (Biệt Tạp 15.12, Đại 2,478c)
Vật
gì chiếu sáng đời,
Do
chúng, đời chói sáng ?
Con
đến hỏi Thế Tôn,
Muốn
biết lời giải đáp.
(Thế
Tôn):
Bốn
vật chiếu sáng đời,
Thứ
năm, đây không có.
Ngày,
mặt trời sáng chói,
Đêm,
mặt trăng tỏ rạng,
Lửa
cháy đỏ đêm ngày,
Chói
sáng khắp mọi nơi.
Chánh
giác sáng tối thắng,
Sáng
này, sáng vô thượng.
VII
Nước Chảy (S.i,15)
Chỗ
nào nước chảy ngược ?
Chỗ
nào nước xoáy dừng ?
Chỗ
nào danh và sắc,
Được
đoạn diệt, không dư ?
Chỗ
nào nước và đất,
Lửa,
gió không vững trú,
Do
vậy nước chảy ngược,
Chỗ
ấy nước xoáy dừng,
Chỗ
ấy danh và sắc,
Được
đoạn diệt, không dư.
VIII.
Giàu Lớn (S.i,15)
Sát-đế-lỵ
giàu lớn,
Tài
sản, quốc độ lớn,
Luôn
luôn ganh tỵ nhau,
Hưởng
dục không biết ngán,
Giữa
người sống dao động,
Trôi
theo dòng tái sanh.
Ai
bỏ tật và ái,
Không
dao động giữa đời.
(Thế
Tôn):
Vị
xuất gia bỏ nhà,
Bỏ
con, gia súc, thân,
Bỏ
tham và bỏ sân,
Và
từ bỏ vô minh,
Bậc
Lậu tận, La-hán,
Không
dao động giữa đời.
XI.
Bốn Bánh Xe (S.i,16)
Bốn
bánh xe, chín cửa,
Đầy
uế, hệ lụy tham,
Chìm
đắm trong bùn nhơ,
Ôi,
thưa bậc Đại Hùng,
Sanh
thú người như vậy,
Tương
lai sẽ thế nào ?
(Thế
Tôn):
Cắt
hỷ và buộc ràng,
Dục
tham và tà ác,
Ái
căn được đoạn tận,
Sanh
thú sẽ như vậy.
X.
Con Sơn Dương (S.i,16)
Chân
như chân sơn dương,
Vừa
thon lại vừa mạnh,