SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM
THỨ
3
PHẨM
XÁ-LÊ
TỬ
TƯƠNG
ƯNG
28. KINH
GIÁO HÓA BỊNH[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Phật du hóa
tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ Trưởng giả
Cấp Cô Độc
mang bệnh hiểm nghèo. Lúc ấy Trưởng giả Cấp Cô Độc bảo sứ giả rằng:
“Ngươi hãy đi đến
chỗ Đức Phật, vì ta mà đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn hỏi thăm sức khỏe,
xem Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng thoải
mái, khí lực có được bình thường không? Rồi nói như vầy: ‘Trưởng giả Cấp
Cô Độc cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, thăm hỏi Đức Thế Tôn Thánh thể có
được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực có
được bình thường không?’ Sau khi ngươi đã vì ta mà thăm hỏi Đức Thế Tôn
rồi hãy đi đến chỗ Tôn giả Xá-lê Tử, hãy vì ta mà đảnh lễ dưới chân ngài
rồi hỏi thăm Tôn giả xem Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh
tật, đi đứng thoải mái, khí lực có được bình thường không? Rồi nói như
vầy: ‘Trưởng giả Cấp Cô Độc cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Xá-lê Tử,
thăm hỏi Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng
thoải mái, khí lực có được bình thường không? Bạch Tôn giả Xá-lê Tử,
Trưởng giả Cấp Cô Độc đang mang bệnh tật rất hiểm nghèo, nay đã đến hồi
nguy kịch. Trưởng giả Cấp Cô Độc với tâm chí thiết rất muốn được gặp Tôn
giả Xá-lê Tử, nhưng cơ thể quá yếu đuối không còn chút khí lực để đi đến
chỗ Tôn giả Xá-lê Tử được. Lành thay, Tôn giả Xá-lê Tử, xin ngài hãy vì
lòng từ, mong ngài đến nhà Trưởng giả Cấp Cô Độc’.”
Bấy giờ, sau khi
vâng lời dạy của Trưởng giả Cấp Cô Độc, sứ giả liền đi đến chỗ Đức Phật,
cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Phật rồi đứng sang một bên thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, Trưởng giả Cấp Cô Độc cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, thăm
hỏi Đức Thế Tôn Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi
đứng thoải mái, khí lực có được bình thường không?
Đức Thế Tôn bảo sứ
giả rằng:
“Mong cho Trưởng giả
Cấp Cô Độc an hưởng khoái lạc. Mong cho chư Thiên, A-tu-la, Kiền-tháp-hòa,
La-sát
và các chủng lại khác, thân thể được an ổn khoái lạc”.
Bấy giờ sứ giả nghe
Phật dạy như thế, ghi nhớ kỹ, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh ba
vòng, rồi đi đến Tôn giả Xá-lê Tử, cúi đầu đảnh lễ rồi ngồi sang một bên
và thưa rằng:
“Bạch Tôn giả Xá-lê
Tử, Trưởng giả Cấp Cô Độc cúi đầu đảnh lễ dưới chân ngài, xin thăm hỏi Tôn
giả Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng thoải
mái, khí lực có được bình thường không? Bạch Tôn giả Xá-lê Tử, Trưởng giả
Cấp Cô Độc đang mang bệnh tật rất hiểm nghèo, nay đã đến hồi nguy kịch.
Trưởng giả Cấp Cô Độc với tâm chí thiết rất muốn được gặp Tôn giả Xá-lê
Tử, nhưng cơ thể quá yếu đuối, không còn chút khí lực để đi đến chỗ Tôn
giả Xá-lê Tử được. Lành thay, Tôn giả Xá-lê Tử, xin ngài hãy vì lòng từ,
mong ngài đến nhà Trưởng giả Cấp Cô Độc”.
Tôn giả Xá-lê Tử
liền im lặng nhận lời. Bấy giờ sứ giả biết Tôn giả Xá-lê Tử đã im lặng
nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi quanh ba vòng rồi ra về.
Sau khi đêm đã qua,
vào lúc sáng sớm, Tôn giả Xá-lê Tử khoác y, ôm bát đi đến nhà Trưởng giả
Cấp Cô Độc. Trưởng giả Cấp Cô Độc thấy Tôn giả Xá-lê Tử từ đàng xa đi đến,
muốn từ giường ngồi dậy. Tôn giả Xá-lê Tử thấy Trưởng giả Cấp Cô Độc muốn
từ giường ngồi dậy, liền cản lại rằng:
“Này Trưởng giả, chớ ngồi dậy. Còn giường khác đây, tôi sẽ ngồi riêng”.
Tôn giả Xá-lê Tử
liền ngồi lên giường ấy, rồi hỏi rằng:
“Bệnh trạng của
Trưởng giả hôm nay thế nào? Ăn uống được nhiều ít? Sự đau đớn giảm dần
không đến nỗi tăng thêm chăng?”
Trưởng giả Cấp Cô
Độc trả lời rằng:
“Bệnh tình của con
rất nguy kịch, ăn uống chẳng được gì cả. Sự đau đớn chỉ tăng thêm chứ
không thấy giảm bớt chút nào”.
Tôn giả Xá-lê Tử bảo
rằng:
“Này Trưởng giả chớ
sợ.
Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si, thành tựu bất tín, thì khi thân
hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả
ngày nay không hề có sự bất tín, mà chỉ có sự thượng tín. Do thượng tín ấy
Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng;
hoặc do thượng tín ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng
giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si do ác giới,
thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn
Trưởng giả không hề có ác giới, mà Trưởng giả chỉ có thiện giới. Do thiện
giới ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc
vô cùng; hoặc do thiện giới ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì
trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ.
Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si không có đa văn, thì khi thân
hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả
không hề có sự không đa văn. Do đa văn ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau
nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do đa văn ấy sẽ chứng quả
Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ.
Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có sự xan tham, thì khi thân
hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả
không hề có xan tham mà chỉ có huệ thí. Do huệ thí ấy Trưởng giả sẽ diệt
được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do huệ thí ấy
sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả
Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ.
Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có ác tuệ, thì khi thân hoại
mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không
hề có ác tuệ mà chỉ có thiện tuệ. Do thiện tuệ ấy Trưởng giả sẽ diệt được
sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do thiện tuệ ấy sẽ
chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả
Tu-đà-hoàn.
“Này Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có
tà kiến, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa
ngục. Còn Trưởng giả không hề có tà kiến mà chỉ có chánh kiến. Do chánh
kiến ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc
vô cùng; hoặc do chánh kiến ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì
Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ.
Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có tà chí,
thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn
Trưởng giả không hề có tà chí mà chỉ có chánh chí. Do chánh chí ấy Trưởng
giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc
do chánh chí ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn
đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có tà
giải, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa
ngục. Còn Trưởng giả không hề có tà giải mà chỉ có chánh giải. Do chánh
giải ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc
vô cùng; hoặc do chánh giải ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì
Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ.
Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có tà thoát, thì khi thân
hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả
không hề có tà thoát mà chỉ có chánh thoát. Do chánh thoát ấy Trưởng giả
sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do
chánh thoát ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn
đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
“Trưởng giả chớ sợ.
Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có tà trí, thì khi thân hoại
mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không
hề có tà trí mà chỉ có chánh trí. Do chánh trí ấy Trưởng giả sẽ diệt được
sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do chánh trí ấy sẽ
chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì trưởng giả vốn đã chứng quả
Tu-đà-hoàn”.
Bấy giờ bệnh trạng của Trưởng giả Cấp Cô Độc liền được thuyên giảm, bình
phục như cũ,
từ chỗ nằm ngồi dậy, khen Tôn giả Xá-lê Tử rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Ngài thuyết pháp cho bệnh nhân, thật kỳ diệu, thật hy hữu. Thưa Tôn
giả Xá-lê Tử, khi con nghe xong bài pháp giáo hóa cho bệnh nhân ấy liền
chấm dứt thống khổ, lại sanh khoái lạc vô cùng. Bạch Tôn giả Xá-lê Tử, bây
giờ bệnh con đã thuyên giảm hẳn, bình phục như cũ. Bạch Tôn giả Xá-lê Tử,
trước kia nhân có chút việc cần làm, con đi đến thành Vương xá, tạm trú
trong nhà một Trưởng giả.
Lúc ấy vị Trưởng giả kia buổi sáng hôm sau sẽ cúng dường cơm cho Đức Phật
và Chúng Tỳ-kheo. Bấy giờ qua đêm ấy, lúc trời gần sáng, vị Trưởng giả kia
sai con cháu, nô tỳ, sứ giả và quyến thuộc: ‘Các ngươi hãy dậy sớm, cùng
nhau bày biện, trang hoàng’. Những người kia đều vâng lời, cùng nhau xếp
việc bếp núc, bày biện cỗ bàn với những loại ngon đẹp. Còn Trưởng giả đích
thân trải bày một chỗ ngồi cao, trang nghiêm vô lượng.
“Thưa Tôn giả Xá-lê
Tử, sau khi thấy vậy, con liền nghĩ thế này: ‘Hôm nay vị Trưởng giả này có
việc hôn nhân hay lễ hội rước dâu, hay việc thỉnh Quốc vương hay việc mời
Đại thần, mà lại sắm sửa tiệc cơm, mở cuộc đãi đằng lớn như vậy?’
“Bạch Tôn giả Xá-lê
Tử, suy nghĩ như vậy rồi, con liền hỏi vị Trưởng giả kia rằng:
“– Ông vì việc hôn
nhân hay vì lễ hội rước dâu, việc thỉnh Quốc vương hay việc mời Đại thần,
mà lại sắm sửa tiệc cơm, mở cuộc đãi đằng lớn như vậy?
“Lúc ấy vị Trưởng
giả kia liền trả lời con rằng:
“– Tôi không phải vì
việc hôn nhân, việc thỉnh Quốc vương hay việc mời Đại thần, nhưng tôi sắm
sửa tiệc cơm, thi thiết cuộc đại thí, vì sáng nay tôi sẽ cúng cơm cho Đức
Phật và chúng Tỳ-kheo.
“Bạch Tôn giả Xá-lê Tử, vì con chưa từng được nghe danh hiệu Đức Phật,
nên khi nghe rồi toàn thân lông dựng ngược. Con lại hỏi rằng:
“– Trưởng giả nói
Phật, vậy thế nào là Phật?
“Lúc ấy vị Trưởng
giả kia trả lời con rằng:
“– Ông chưa được
nghe sao? Có vị dòng dõi họ Thích, từ giã dòng họ Thích, cạo bỏ râu tóc,
khoác y ca-sa, với lòng tin chí thiết, lìa bỏ gia đình, sống không gia
đình, xuất gia học đạo, chứùng quả Vô thượng Chánh đẳng chánh giác. Vị ấy
được gọi là Phật.
“Con lại hỏi rằng:
“– Trưởng giả vừa
nói chúng.
Vậy thế nào là đại chúng?
“Bấy giờ vị Trưởng
giả kia trả lời con rằng:
“– Còn có rất nhiều
vị, có dòng họ và tông tộc khác nhau, cạo bỏ râu tóc, khoác y ca-sa, với
lòng tin chí thiết, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, để theo Phật
đạo. Đó gọi là Chúng. Đức Phật và chúng ấy, tôi sắp thỉnh đến.
“Bạch Tôn giả Xá-lê
Tử, con lại hỏi vị Trưởng giả ấy rằng:
“– Đức Thế Tôn bây
giờ đang ở nơi nào? Tôi muốn đi đến thăm.
“Bấy giờ vị Trưởng
giả kia trả lời con rằng:
“– Đức Thế Tôn hiện
đang ở thành Vương xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa. Ông có muốn đến đó
thì tùy ý.
“Bạch Tôn giả Xá-lê
Tử, lúc ấy con nghĩ thế này: “Mong cho mau sáng để nhanh chóng đi đến thăm
Phật. Bạch Tôn giả Xá-lê Tử, bấy giờ với tâm chí thành, con muốn đến thăm
Phật, nên lúc đang đêm ấy mà tưởng đã sáng rồi, liền từ nhà vị Trưởng giả
kia ra đi, đến trạm dừng nơi cổng thành.
Bấy giờ tại trạm dừng nơi cổng thành có hai người lính gác, một người gác
đầu hôm thì cho hành khách bên ngoài vào thành, không làm trở ngại gì, một
người gác cuối đêm thì cho hành khách ở trong thành đi ra cũng không làm
trở ngại gì. Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, con lại nghĩ thế này: ‘Đêm hãy còn
chưa sáng lắm. Vì sao vậy? Vì ở tại cổng thành có hai người lính gác; một
người gác đầu hôm thì cho hành khách bên ngoài vào thành, không làm trở
ngại gì; một người gác cuối đêm thì cho hành khách ở trong thành đi ra
cũng không làm trở ngại gì’. Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, con vượt qua trạm dừng
chân ở cửa thành để đi ra bên ngoài không lâu, ánh sáng biến mất và trời
tối hẳn lại. Bạch Tôn giả Xá-lê Tử, toàn thân lông dựng ngược, con liền sợ
hãi, mong sao đừng có người nào hay loài phi nhân đến xúc nhiễu con. Bấy
giờ, tại trại dừng chân ở cửa thành có một vị trời,
từ thành Vương xá đến Trúc lâm, vườn Ca-lan-đà, ánh sáng tỏa chiếu khắp
nơi, đến bảo con rằng: ‘Này Trưởng giả, chớ sợ. Vì sao vậy? Tôi kiếp trước
đây vốn là bằng hữu của ông, tên thật là Mật Khí,
vào lúc còn trẻ tuổi chúng ta rất yêu mến nhau. Này Trưởng giả, thuở xưa
ấy, tôi đi đến chỗ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, cúi đầu đảnh lễ dưới chân
rồi ngồi sang một bên. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên thuyết pháp cho tôi,
khuyên bảo, khích lệ, thành tựu hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện
để thuyết pháp, khuyên bảo, khích lệ,
thành tựu hoan hỷ cho tôi rồi, ngài ban cho tôi pháp ba tự quy, và trao
cho năm giới. Này Trưởng giả, tôi do ba tự quy y và thọ trì năm giới, nên
khi thân hoại mạng chung sanh lên trời Tứ vương thiên, sống ở trong trạm
dừng tại cổng thành này. Trưởng giả hãy đi mau lên, Trưởng giả hãy đi vội
lên, quả thật đi tốt hơn là đứng lại.
“Vị trời ấy nói lên
bài kệ để khuyên con như sau:
“Được trăm ngựa, nữ
tỳ,
Trăm xe đầy châu
báu;
Không bằng phần mười
sáu
Một bước đi đến
Phật.
Trăm voi trắng tối
thượng,
Thắng yên cương vàng
bạc;
Không bằng phần mười
sáu
Một bước đi đến
Phật.
Trăm nữ nhân đẹp đẽ,
Đeo chuỗi ngọc tràng
hoa;
Không bằng phần mười
sáu,
Một bước đi đến
Phật.
Chuyển luân vương
kính trọng
Báu ngọc nữ bậc
nhất;
Không bằng phần mười
sáu,
Một bước đi đến
Phật.
“Vị trời nói tụng
xong, rồi khuyên con rằng:
“– Này Trưởng giả,
đi nhanh lên. Này Trưởng giả, đi nhanh lên. Quả thật đi tốt hơn đứng lại.
“Bạch Tôn giả Xá-lê Tử, con lại nghĩ thế này: ‘Đức Phật có ân đức che chở
bao trùm. Pháp và Chúng Tỳ-kheo cũng có ân đức bao trùm. Vì sao vậy, cho
đến bậc trời cũng muốn ta đến yết kiến’. Bạch Tôn giả Xá-lê Tử, con do ánh
sáng ấy mà đi đến Trúc lâm, vườn Ca-lan-đa. Bấy giờ đêm còn chưa sáng tỏ,
Đức Thế Tôn
từ thiền thất đi ra, kinh hành ở khoảng đất trống để chờ con. Bạch Tôn giả
Xá-lê Tử, từ xa con trông thấy Đức Thế Tôn đẹp đẽ trang nghiêm như mặt
trăng giữa các vì tinh tú, ánh sáng chói lọi rực rỡ, sáng rực như tòa núi
toàn vàng, đầy đủ tướng tốt, oai thần vời vợi, các căn tịch tĩnh, chẳng có
gì che khuất, thành tựu điều ngự, tức tâm tĩnh mặc. Con thấy rồi liền hoan
hỷ đi đến trước Đức Phật, đảnh lễ sát dưới chân, rồi kinh hành theo Ngài,
theo pháp của bậc Trưởng giả mà nói bài tụng thăm hỏi rằng:
“Thế Tôn ngủ an ổn,
Đến trọn đêm khỏe
chăng?
Như Phạm chí diệt
độ,
Vì không nhiễm trước
dục.
Xả ly tất cả nguyện,
Được an ổn vô cùng.
Tâm trừ không nóng
bức
Ngủ an lạc vui vẻ.
“Bấy giờ Đức Thế Tôn
vừa đi đến cuối đường kinh hành, liền trải Ni-sư-đàn, ngồi kiết già. Bạch
Tôn giả Xá-lê Tử. Lúc ấy, con đảnh lễ dưới chân Phật rồi ngồi sang một
bên. Đức Thế Tôn thuyết pháp cho con, khuyên bảo, khích lệ, thành tựu hoan
hỷ cho con rồi, như pháp thông lệ của chư Phật, trước nói pháp đoan chánh,
để người nghe hoan hỷ. Đó là nói thí, nói giới, nói pháp sanh thiên, chê
dục vọng là tai họa, sanh tử là nhơ uế; ngợi khen vô dục là đạo phẩm vi
diệu, bạch tịnh. Đức Thế Tôn nói những pháp như vậy cho con nghe rồi, Đức
Phật biết con có tâm hoan hỷ, tâm cụ túc, tâm nhu nhuyến, tâm kham nhẫn,
tâm vươn lên, tâm chuyên nhất, tâm không nghi, tâm không che lấp, có khả
năng kham thọ chánh pháp, nghĩa là những điều chánh yếu nào mà chư Phật
nói ra; Thế Tôn liền nói: Khổ, Tập, Diệt, Đạo cho con. Bạch Tôn giả Xá-lê
Tử, ngay khi con ngồi đấy đã thấy được bốn Thánh đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
Cũng như tấm vải trắng dễ nhuộm thành màu sắc, con cũng như vậy, ngay trên
chỗ đang ngồi đã thấy bốn Thánh đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Thưa Tôn giả
Xá-lê Tử, con đã thấy pháp, đắc pháp, giác ngộ pháp bạch tịnh, đoạn nghi,
độ hoặc, không còn tôn sùng ai, cũng chẳng theo người khác, không còn do
dự, đã trụ nơi quả chứng, được sự không sợ hãi đối với giáo pháp Đức Thế
Tôn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Đức Thế Tôn bạch rằng:
“– Bạch Thế Tôn, con
hôm nay tự quy y Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Xin nguyện Thế Tôn chấp nhận
cho con làm Ưu-bà-tắùc; bắt đầu từ hôm nay sẽ trọn đời tự quy y, cho đến
lúc mạng chung.
“Bạch Tôn giả Xá-lê
Tử, con liền chắp tay thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn,
ngưỡng mong Thế Tôn nhận lời mời của con cùng Chúng Tỳ-kheo đến nước Xá-vệ
để an cư mùa mưa.
“Lúc ấy Đức Thế Tôn
hỏi con rằng:
“– Ông tên là gì,
nhân dân nước Xá-vệ gọi ông là gì?
“Con liền trả lời
rằng:
“– Con tên là
Tu-đạt-đa.
Vì con thường cung cấp cho những người cô độc, do đó nhân dân nước Xá-vệ
gọi con là Cấp Cô Độc.
“Bấy giờ Đức Thế Tôn
lại hỏi con rằng:
“– Tại nước Xá-vệ,
ông đã có phòng xá gì chưa?
“Con trả lời rằng:
“– Tại nước Xá-vệ
con chưa có phòng xá gì cả.
“Bấy giờ Đức Thế Tôn
bảo con rằng:
“– Nếu có phòng xá
thì các Tỳ-kheo mới có thể vãng lai, mới có thể trú ngụ được.
“Con lại thưa rằng:
“– Thật vậy, bạch
Thế Tôn. Vì thế con sẽ xây cất phòng xá để các thầy Tỳ-kheo có thể vãng
lai, và có thể trú ngụ nước Xá-vệ. Mong Đức Thế Tôn cho một vị đến giúp
con.
“Bấy giờ Đức Thế Tôn
liền sai Tôn giả Xá-lê Tử; khiến Tôn giả Xá-lê Tử đến giúp đỡ.
“Bấy giờ sau khi
nghe Đức Phật dạy xong, con khéo léo ghi nhớ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
đảnh lễ Phật, đi quanh ba vòng rồi ra về.
“Khi công việc cần
làm tại thành Vương xá đã hoàn tất, con cùng Tôn giả Xá-lê Tử đi đến nước
Xá-vệ. Nhưng không vào nước Xá-vệ, cũng chẳng trở về nhà mà lập tức đi dạo
khắp nơi bên ngoài thành để xem chỗ nào có thể đi lại tốt nhất, ban ngày
không ồn ào, ban đêm thì tịch tĩnh, không có muỗi mòng, cũng không ruồi
bọ, không lạnh, không nóng, có thể xây phòng xá để cúng dường Đức Phật và
đại chúng.
“Bạch Tôn giả Xá-lê
Tử, bấy giờ con chỉ thấy vườn của Thắng Đồng tử
là đi lại tốt nhất, ban ngày không ồn ào, ban đêm thì tịch tĩnh, không có
muỗi mòng, cũng không ruồi bọ, không lạnh, không nóng. Con thấy rồi liền
suy nghĩ thế này: ‘Chỉ có chỗ này là tốt nhất để xây cất phòng xá để cúng
dường Phật và đại chúng’. Bạch Tôn giả Xá-lê Tử, lúc ấy con vào nước
Xá-vệ, nhưng cũng chưa về nhà, liền đi đến chỗ Thắng Đồng tử thưa rằng:
“– Thưa Đồng tử,
ngài có thể bán khu vườn kia lại cho tôi không?
“Bấy giờ Đồng tử bảo
con rằng:
“– Trưởng giả nên
biết, tôi không bán khu vườn đâu.
“Cứ như vậy lần hai
rồi lần ba, con thưa rằng:
“– Thưa Đồng tử,
ngài có thể bán khu vườn kia lại cho tôi không?
“Bấy giờ Đồng tử
cũng lại lần thứ hai, lần thứ ba bảo rằng:
“– Tôi không bán khu
vườn đâu. Chỉ khi nào ức ức
trải đầy.
“Con liền thưa rằng:
“– Này Đồng tử, ngài
đã quyết định giá cả, chỉ còn việc trao tiền nữa thôi.
“Bạch Tôn giả Xá-lê
Tử, người thì nói đã quyết định giá cả, người thì nói chưa quyết định giá
cả, cùng nhau tranh tụng lớn. Rồi dắt nhau đến pháp đình
nước Xá-vệ để phán quyết về việc này. Bấy giờ vị pháp quan
nước Xá-vệ bảo Thắng Đồng tử rằng:
“– Này Đồng tử, thế
là ngươi đã quyết định giá cả rồi, chỉ còn việc nhận tiền nữa thôi.
“Thưa Tôn giả Xá-lê
Tử, con liền vào nước Xá-vệ, trở về nhà lấy tiền, dùng voi ngựa và xe cộ
để chuyên chở các kho lẫm đem đến, đã xuất ra tới ức ức để trải khắp mặt
đất, nhưng còn vài chỗ chưa khắp đến. Bạch Tôn giả Xá-lê Tử, con nghĩ như
vầy: Nên xuất ở kho nào nữa để đem đến trải khắp chỗ dư này, không thừa
cũng không thiếu? Bấy giờ Thắng Đồng tử liền bảo con rằng:
“– Này Trưởng giả,
nếu có ăn năn về số tiền này thì hãy tự mang trở về, khu vườn trả lại cho
tôi.
“Con bảo với Đồng tử
rằng:
“– Quả thật tôi không có ăn năn; mà tôi còn suy nghĩ xem nên lấy ở kho nào
nữa để mang trải khắp chỗ dư này không thừa cũng không thiếu.
“Bấy giờ Thắng đồng
tử liền suy nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn hẳn là một bậc cao cả, có đức hựu
lớn. Pháp và Đại chúng Tỳ-kheo hẳn cũng là rất cao cả, có đức hựu lớn. Vì
sao thế? Vì có vậy mới làm cho Trưởng giả thi thiết sự cúng dường vĩ đại,
coi rẻ của cải đến thế. Nay ta có lẽ xây cất nhà cổng ngay nơi này để cúng
dường Đức Phật và Đại chúng Tỳ-kheo’. Rồi Thắng Đồng tử liền bảo vói con
rằng:
“– Này Trưởng giả,
hãy thôi đi, đừng xuất tiền để trả khoảng đất còn lại nữa. Vì ngay chỗ này
tôi sẽ cất cất nhà cổng cúng dường Đức Phật và đại chúng Tỳ-kheo.
“Bạch Tôn giả Xá-lê
Tử, vì lòng từ mẫn nên con đồng ý để lại chỗ ấy cho Thắng Đồng tử.
“Bạch Tôn giả Xá-lê
Tử, rồi ngay trong mùa hạ ấy, con cho xây mười sáu dãy nhà lớn,
sáu mươi câu-hi.
Tôn giả Xá-lê Tử giúp đỡ con việc ấy. Thế nhưng Tôn giả Xá-lê Tử thuyết
pháp để giáo hóa người bệnh, còn rất kỳ diệu, hy hữu hơn. Con nghe bài
pháp giáo hóa người bệnh này rồi, bệnh khổ quá nặng nề ấy liền được giảm
bớt, lại phát sanh ra sự an lạc vô cùng.
“Bạch Tôn giả Xá-lê
Tử, bây giờ con không còn bệnh nữa, và được an ổn. Mong Tôn giả Xá-lê Tử ở
lại đây thọ trai”.
Bấy giờ Tôn giả
Xá-lê Tử im lặng nhận lời. Lúc ấy Trưởng giả biết Tôn giả Xá-lê Tử đã im
lặng nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, tự mình lấy nước rửa, đem tất cả
các thứ đồ ăn ngon, tinh khiết, dồi dào, các loại nhai và nuốt,
tự tay dọn sớt, cho đến khi Tôn giả được no đủ. Ăn xong, dọn dẹp và lấy
nước rửa tay xong, ông trải một chỗ ngồi nhỏ, ngồi riêng để nghe pháp.
Sau khi Trưởng giả
ngồi xong, Tôn giả Xá-lê Tử thuyết pháp cho ông khuyên bảo, khích lệ,
thành tựu hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp, khuyên
bảo, khích lệ, thành tựu hoan hỷ cho Trưởng giả rồi, Ngài từ chỗ ngồi đứng
dậy ra về.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
đang thuyết pháp cho vô lượng đại chúng vây quanh trước sau. Từ đàng xa
Đức Thế Tôn thấy Tôn giả Xá-lê Tử đi lại, liền bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Tỳ-kheo Xá-lợi-phất
là bậc thông tuệ, tốc tuệ, tiệp tuệ, lợi tuệ, quảng tuệ, thâm tuệ, xuất
yếu tuệ, minh đạt tuệ, biện tài tuệ, Tỳ-kheo Xá-lợi-phất đã thành tựu thật
tuệ.
Vì sao vậy? Vì về bốn hạng Tu-đà-hoàn
mà ta đã nói sơ lược, thì Tỳ-kheo Xá-lợi-phất triển khai thành mười hạng
để nói cho Trưởng giả Cấp Cô Độc.
Đức Phật thuyết như
vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật nói xong hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ Ba
21 |
22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
29
|
30 |
31
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003