SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM
THỨ
2
PHẨM
NGHIỆP
TƯƠNG
ƯNG
16.
KINH GIÀ-LAM
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du hóa tại Già-lam viên,
cùng đại chúng Tỳ-kheo, đến Ki-xá tử,
trụ trong vườn Thi-nhiếp-hòa,
phía Bắc thôn Ki-xá tử.
Bấy giờ những người
Già-lam ở Ki-xá tử nghe đồn Sa-môn Cù-đàm thuộc dòng họ Thích,
đã từ bỏ dòng họ Thích, xuất gia học đạo, đang du hóa tại Già-lam viên
cùng chúng Đại Tỳ-kheo đến Ki-xá tử này, trụ trong rừng Thi-nhiếp-hòa ở
phía Bắc thôn Ki-xá tử. Vị Sa-môn Cù-đàm ấy có tiếng tăm lớn, truyền khắp
mười phương rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác,
Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự,
Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu. Vị ấy ở trong thế gian này giữa chư Thiên,
Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ loài người cho đến loài trời, tự tri tự
giác, tự tác chứng, thành tựu và an trụ. Pháp mà vị ấy thuyết, khoảng đầu
thiện, khoảng giữa thiện, cứu cánh cũng thiện, có nghĩa, có văn, hiển hiện
phạm hạnh thanh tịnh trọn đủ’.
Nếu gặp được Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác để tôn trọng, lễ
bái cúng dường, thừa sự, thì sẽ được nhiều thiện lợi. Chúng ta hãy cùng
nhau đến gặp Sa-môn Cù-đàm để lễ bái, cúng đường”.
Những người Già-lam ở Ki-xá tử, nghe như vậy rồi, mỗi người cùng với quyến
thuộc của mình kéo nhau ra khỏi Ki-xá tử, đi về phía Bắc, tới rừng
Thi-nhiếp-hòa, họ muốn gặp Đức Thế Tôn để lễ bái cúng dường.
Đi đến chỗ Phật ngụ,
những người Già-lam ấy hoặc có người lễ bái cúi đầu dưới chân Phật rồi
ngồi sang một bên, hoặc có người chào hỏi Đức Phật rồi ngồi sang một bên,
hoặc có người chắp tay hướng đến Phật rồi ngồi sang một bên, hoặc có người
từ đàng xa thấy Đức Phật rồi im lặng ngồi xuống.
Lúc đó, những người
Già-lam đều ngồi yên. Đức Phật thuyết pháp cho họ, khuyến phát, khát
ngưỡng, thành tựu hoan hỷ.
Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết pháp, khuyến phát, khát ngưỡng
thành tựu hoan hỷ, Ngài ngồi im lặng.
Bấy giờ những người
Già-lam sau khi được Đức Phật thuyết pháp, khuyến phát, khát ngưỡng, thành
tựu hoan hỷ, họ đều từ chỗ ngồi đứng dâïy, sửa áo trịch vai bên hữu, chắp
tay đến hướng Đức Phật, rồi bạch Đức Thế Tôn rằng:
“Thưa Cù-đàm, có một
vị Sa-môn, Phạm chí đi đến Già-lam chỉ tự khen ngợi tri kiến của mình mà
chê bai tri kiến của người khác. Thưa Cù-đàm, lại có một vị Sa-môn, Phạm
chí đi đến Già-lam cũng chỉ tự khen ngợi tri kiến của mình mà chê bai tri
kiến của kẻ khác. Thưa Cù-đàm, chúng tôi nghe vậy liền sanh ngờ vực: Những
vị Sa-môn, Phạm chí ấy, vị nào thật? Vị nào hư?”
Đức Thế Tôn nói
rằng:
“Này các người
Già-lam, các người chớ sanh lòng ngờ vực. Vì sao vậy? Vì nhân có ngờ vực
liền sanh ra do dự.
Này các người Già-lam, các ngươi tự mình không có tịnh trí để biết có đời
sau hay không có đời sau. Này các người Già-lam, các người cũng không có
tịnh trí để biết điều đã làm có tội hay không có tội. Này các người
Già-lam, nên biết các nghiệp vốn sẵn có ba tập nhân.
Những gì là ba? Này các người Già-lam, tham là tập nhân sẵn có của các
nghiệp. Này các người Già-lam, nhuế và si là tập nhân sẵn có của các
nghiệp.
“Này các người
Già-lam, người có tham bị tham che lấp, tâm không nhàm đủ, hoặc sát sanh,
hoặc lấy của không cho, hoặc hành tà dâm, hoặc biết mà nói dối, hoặc lại
uống rượu. Này các người Già-lam, người có nhuế bị nhuế che lấp, tâm không
nhàm đủ, hoặc sát sanh, hoặc lấy của không cho, hoặc hành tà dâm, hoặc
biết mà nói dối, hoặc lại uống rượu. Này các người Già-lam, người có si bị
si che lấp, tâm không nhàm đủ, hoặc sát sanh, hoặc lấy của không cho, hoặc
hành tà dâm, hoặc biết mà nói dối, hoặc lại uống rượu.
“Này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa việc giết hại, dứt bỏ sự
giết hại, dẹp bỏ dao gậy; có tàm, có quý, có tâm từ bi, làm lợi ích cho
tất cả, cho đến côn trùng. Vị ấy đối với sự sát sanh, tâm đã trừ sạch.
“Này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa việc lấy của không cho,
đoạn trừ việc lấy của không cho; vui thích trong việc lấy của đã cho,
thường ưa sự bố thí, vui vẻ không keo kiệt, không mong người kia đền trả.
Vị ấy đối với việc lấy của không cho, tâm đã trừ sạch.
“Này các người
Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa việc phi phạm hạnh, đoạn trừ việc phi
phạm hạnh; siêng tu phạm hạnh, siêng tu diệu hạnh, thanh tịnh, không uế,
ly dục, đoạn dâm. Vị ấy đối với việc việc phi phạm hạnh, tâm đã trừ sạch.
“Này các người
Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa việc nói dối, đoạn trừ sự nói dối; nói
lời chân thật, ưa thích sự chân thật, an trụ nơi chân thật không di động,
tất cả những điều vị ấy nói đều đáng tin, không lừa gạt thế gian. Vị ấy
đối với việc nói dối, tâm đã trừ sạch.
“Này các người
Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa sự nói hai lưỡi, đoạn trừ việc nói hai
lưỡi, không phá hoại kẻ khác, không nghe nơi người này nói lại người kia
muốn phá hoại người này, không nghe nơi người kia nói lại với người này
muốn phá hoại người kia; những người xa lìa nhau thì muốn kết hợp lại,
thấy người kết hợp lại thì vui vẻ, không kết bè đảng, không khen việc kết
bè đảng. Vị ấy đối với việc việc nói hai lưỡi, tâm đã trừ sạch.
“Này các người
Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa việc nói thô ác, đoạn trừ việc nói thô
ác. Nếu có những lời mà từ khí thô bạo, âm thanh hung dữ trái tai, mọi
người không vui, mọi người không ưa, làm cho người khác khổ não, làm cho
họ không được an ổn, vị ấy đoạn trừ những lời nói như vậy. Nếu có những
lời hòa nhã dịu dàng, xuôi tai, đi sâu vào lòng người, đáng thích, đáng
yêu, làm cho người kia an lạc, âm thânh vừa đủ rõ ràng, không làm cho
người kia sợ sệt, làm cho người kia được an ổn, vị ấy nói những lời như
vậy. Vị ấy đối với việc nói lời thô ác, tâm đã tịnh trừ.
“Này các người
Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa lời nói thêu dệt,
đoạn trừ lời nói thêu dệt; nói đúng lúc, đúng sự thật, nói về pháp, nói về
nghĩa, nói về tịch tĩnh, ưa nói về tịch tĩnh, hợp việc, hợp thời, thích
nghi, khéo dạy dỗ, khéo quở rầy. Vị ấy đối với việc nói lời thêu dệt, tâm
đã tịnh trừ.
“Này các người
Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa tham lam, đoạn trừ tham lam, không ôm
lòng não hại, thấy của cải và các nhu cầu sinh sống của người khác không
móng lòng tham lam, muốn cho được trở về mình. Vị ấy đối với việc tham lam
tâm đã tịnh trừ.
“Này các người
Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa giận dữ, đoạn trừ giận dữ, có tàm, có
quý, có tâm từ bi, làm lợi ích cho tất cả, cho đến loài côn trùng. Vị ấy
đối với sự giận dữ tâm đã tịnh trừ.
“Này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa tà kiến, đoạn trừ tà
kiến, thực hành chánh kiến, không điên đảo; thấy như vậy, nói như vậy: ‘Có
sự bố thí, có sự trai phước, và cũng có chú thuyết, có nghiệp thiện ác, có
nghiệp báo thiện ác. Có đời này và đời sau. Có cha, có mẹ, trên đời có
những bậc chân nhân đi đến thiện xứ, khéo vượt qua, khéo hướng đến, trong
đời này và đời sau mà tự tri tự giác, tự tác chứng thành tựu và an trụ. Vị
ấy đối với việc tà kiến, tâm đã tịnh trừ.
“Này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử thành tựu tịnh nghiệp nơi thân,
thành tựu tịnh nghiệp nơi khẩu và ý. Xa lìa nhuế, xa lìa não hại, trừ bỏ
thùy miên, không trạo cử, cống cao, đoạn trừ nghi, vượt qua mạn, chánh
niệm, chánh trí, không có ngu si; tâm vị ấy tương ứng với từ, biến mãn một
phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, trong hai, ba, bốn phương, tứ duy,
thượng, hạ, cùng khắp tất cả, tâm tương ứng với từ, không thù, không oán,
không sân nhuế, không não hại, rất rộng lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến
mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, tâm bi, hỷ; tâm tương
ứng với xả, không thù không oán, không sân nhuế, không não hại, rộng lớn
vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Cũng
vậy, này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không thù, không oán,
không sân nhuế, không não hại, liền được bốn trụ xứ an ổn.
Những gì là bốn?
“‘Nếu có đời này đời
sau, có quả báo của nghiệp thiện và ác. Khi ta đã được nghiệp tương ứng
với chánh kiến này rồi, ta thọ trì đầy đủ, thân hoại mạng chung chắc chắn
sanh đến thiện xứ cho đến sanh lên các cõi trời’. Như vậy, này các người
Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không sân nhuế,
không não hại; đó là trụ xứ an ổn thứ nhất.
“Lại nữa, này các
người Già-lam, ‘Nếu không có đời này và đời sau, không có quả báo của
nghiệp thiện và ác. Như vậy, ta ở ngay trong đời này không phải do cớ ấy
mà bị người khác bài bác; nhưng lại được bậc chánh trí khen ngợi, người
tinh tấn, người có chánh kiến nói là có’. Như vậy, này các người Già-lam,
Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không não hại, đó là được trụ
xứ an ổn thứ hai.
“Lại nữa, này các
người Già-lam, ‘Nếu có tạo tác gì, chắc chắn ta không có tạo ác, ta không
niệm ác. Vì sao vậy? Vì tự mình không tạo ác, khổ do đâu mà sanh?’ Như
vậy, này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán,
không não hại; đó là trụ xứ an ổn thứ ba.
“Lại nữa, này các
người Già-lam, ‘Nếu có tạo tác, chắc chắn ta không tạo ác, ta không phạm
đời sợ hay không sợ, luôn luôn nên thương xót tất cả thế gian, tâm ta
không tranh chấp với tất cả thế gian, không vẩn đục, nhưng hân hoan’. Như
vậy, này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán,
không não hại; đó là trụ xứ an ổn thứ tư.
“Như vậy, này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không
oán, không sân hận, không não hại; đó là được bốn trụ xứ an ổn”.
Những người Già-lam
bạch Phật:
“Thưa Cù-đàm, đúng
vậy, Đa văn Thánh đệ tử tâm không thù, không oán, không sân nhuế, không
não hại, liền được bốn trụ xứ an ổn. Những gì là bốn?
“‘Nếu có đời này đời sau, có quả báo của nghiệp thiện và ác. Khi ta đã
được nghiệp tương ứng với chánh kiến này rồi, ta thọ trì đầy đủ, thân hoại
mạng chung chắc chắn sanh đến thiện xứ cho đến sanh lên các cõi trời’. Như
vậy, thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không sân
nhuế, không não
hại; đó là trụ xứ an ổn thứ nhất.
“Lại nữa, thưa
Cù-đàm, ‘Nếu không có đời này và đời sau, không có quả báo của nghiệp
thiện và ác. Như vậy, ta ở ngay trong đời này không phải do cớ ấy mà bị
người khác bài bác; nhưng lại được bậc chánh trí khen ngợi, người tinh
tấn, người có chánh kiến nói là có’. Như vậy, thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ
tử tâm không kết, không oán, không não hại, đó là được trụ xứ an ổn thứ
hai.
“Lại nữa, thưa
Cù-đàm, ‘Nếu có tạo tác gì, chắc chắn ta không có tạo ác, ta không niệm
ác. Vì sao vậy? Vì tự mình không tạo ác, khổ do đâu mà sanh?’ Như vậy,
thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không não hại;
đó là trụ xứ an ổn thứ ba.
“Lại nữa, thưa
Cù-đàm, ‘Nếu có tạo tác, chắc chắn ta không tạo ác, ta không phạm đời sợ
hay không sợ, luôn luôn nên thương xót tất cả thế gian, tâm ta không tranh
chấp với tất cả thế gian, không vẩn đục, nhưng hân hoan’. Như vậy, thưa
Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không não hại; đó là
trụ xứ an ổn thứ tư.
“Như vậy, thưa
Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không sân hận, không
não hại; đó là được bốn trụ xứ an ổn.
“Thưa Cù-đàm, chúng con đã biết. Bạch Thiện Thệ, chúng con
đã hiểu. Bạch Thế Tôn, chúng con trọn đời tự quy y với Phật, Pháp và Chúng
Tỳ-kheo. Duy nguyện Thế Tôn chấp nhận cho chúng con làm Ưu-bà-tắc, bắt đầu từ hôm nay, trọn đời tự quy y, cho đến
lúc mạng chung”.
Phật thuyết như vậy.
Tất cả những người Già-lam và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ hai
11
|
12 |
13 |
14 |
15 |
16
|
17
|
18
|
19 |
20
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003