Dhammapada
Sutta
(Khuddaka Nikaya - Sutta Pitaka)
Đạo đức Phật giáo qua kinh Pháp Cú
Thích Nữ
Giới Toàn
A – DẪN
NHẬP
Nói đến đạo Phật, người ta liền nghĩ đến đạo đức,
một nếp sống hướng thượng đem lại hạnh phúc cho mình và cho người mà người
khai sáng, Đức Phật, đã giải thoát và đã truyền bá nếp sống ấy cho mọi
chúng sanh đang đau khổ.
Cùng với sự thăng trầm của lịch sử nhân loại, đạo Phật luôn sẳn mình trợ
duyên một cách tính cực. Đến thời đại của chúng ta, đầu thế kỷ thứ 21 này,
khoa học kỷ thuật đã mang lại nhửng tiện nghi vật chất cho con người bấy
nhiêu những tai họa khủng khiếp.
Môi trường sống tự nhiên bị hủy hoại, chiến tranh tội phạm ngày càng sử
dụng những phương tiện giết người tinh vi và tàn bạo, xã hội ngày càng sa
đọa, một phần nhỏ của nhân loại sống "thiên đường" hơn mọi "thiên đường";
và một phần lớn sống - đúng ra là chết dần chết mòn thê thảm - trong nghèo
đói, tật bệnh... y hệt cảnh "địa ngục". Đương nhiên, chúng ta không lên án
khoa học kỹ thuật. Các tiến bộ khoa học kỹ thuật là quy luật tất yếu. Và
chúng ta càng không đổ trách nhiệm cho những nhà phát minh, các vị là
những đấng tinh hoa mà nhân loại lấy làm tự hào. Vấn đề là ở chỗ tương
quan giữa khoa học và đạo đức. Người ta cho rằng, tư duy khoa học thuần
túy loại trừ mọi xúc động, mọi tình cảm; ở đây không có yêu ghét, thích
hay không thích, tốt hay xấu, hay hay dở, mà chỉ có đúng hay sai đối chiếu
với thực tế. Đó là đặc thù của Tây phương hiện đại đã hình thành qua một
quá trình lâu dài. Với tư duy ấy, con người khó thông cảm với đạo đức. Và
bởi vì khoa học phát triển trong những thế kỷ qua chiếm ưu thế áp đảo,
chinh phục mọi người, cho nên đã hình thành một thứ tâm lý khoa học rất
phổ biến. Người ta tin rằng, khoa học tạo ra mọi giá trị, ngoài khoa học
không có giá trị nào đáng kể. Kiểu tư duy ấy là nguyên nhân chủ yếu làm
cho đạo đức giảm giá, mất giá. Thật đúng như lời của Hòa Thượng Tuyên Hóa
trong buổi lễ chúc tết tại Mỹ năm 1994: "Nhân loại một mai có thể hủy
diệt. Sự hủy diệt này không phải do thiên tai hay do chiến tranh mà do
chính con người dần dần mất đi đạo đức nhân loại". Trước tình hình đó, với
tư cách là sứ giả của hòa bình và an lạc, đạo đức Phật giáo cần được tìm
hiểu sâu hơn, phát huy mạnh mẽ hơn và cần phổ cập trong quần chúng. Hầu
ngăn chặn những hành vi tội phạm; xây dựng con người đạo đức gương mẫu;
kiến tạo một xã hội thanh bình an lạc; rút ra những bài học thực tiễn,
sinh động, rồi phối hợp với những tư tưởng văn minh hiện đại, tạo thành
lối giáo dục đạo đức nhân bản, khai phóng, tiến bộ để hướng con người đến
cuộc sống hoàn thiện hơn.
Đức Phật, một vị thầy hoàn hảo, là khuôn vàng thước ngọc, là chuẩn mực đạo
đức cho nhân sinh, cho những ai học hạnh của Ngài. Những việc làm, lời
nói, tư tưởng của Ngài được kiết tập trong tam tang Phật giáo, Kinh, Luật,
Luận là những lời dậy tiêu biểu về đạo đức, về một lối sống an lạc, giải
thoát. Đối với Đức Phật, một đời sống có đạo đức là một đời sống hạnh
phúc, một đời sống hạnh phúc là một đời sống có đạo đức nên những lời dạy
của Ngài luôn bao hàm Giới, Định, Tuệ nền tảng của đạo đức.
Mục đích của Đức Phật là hướng dẫn chúng sanh đạt đến cảnh giới giải
thoát, an lạc, tức là Niết Bàn. Tất nhiên không phải ai cũng đạt đến mục
đích đó. Nhưng dù sao đó cũng là mục đích cho mọi người vươn tới. Trên con
đường tiến tới mục đích ấy, có người đi được nhiều, có người đi được ít;
tất cả đều phụ thuộc vào sự nổ lực học đạo và sự tự rèn luyện của mỗi
người. Nhưng bất kỳ ai đã tình nguyện đi theo con đường ấy thì đều dần dần
vứt bỏ cái xấu ác, và ngày càng trở nên tốt đẹp hơn.
Trong tam tạng Phật giáo, chúng ta không thể không đề cập đến kinh Pháp cú
(Dhammapada), thuộc kinh tạng Pàli. Theo phân loại, kinh này nằm trong 15
kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka-Nikàya) như sau:
1)
Khuddakapàtha, 2) Dhammapada (Pháp Cú), 3) Udàna, 4) Itivuttaka, 5)
Suttanipàta, 6) Vimànavattha, 7) Petavatthu, 8) Theragàtha 9) Therìgàtha,
10) Jàtaka, 11) Niddesa, 12) Patisambhidà, 13) Apadàna, 14) Buddhavamsa,
15) Catiyapitaka.
Và
kinh điển Pàli gồm có 5 Nikàya (bộ): Dìghanikàya (Trường bộ kinh),
Majjhimanikàya (Trung bộ kinh), Samyuttanikàya (Tương Ưng bộ kinh),
Angutaranikàya (Tăng chi bộ kinh) và Khuddakanikàya (Tiểu bộ kinh).
Kinh Pháp Cú gồm những câu nói ngắn gọn và đầy ý nghĩa của Đức Phật qua
300 trường hợp giáo hóa khác nhau trong suốt 45 năm thuyết pháp của Ngài.
Kinh này gồm những lời dạy về triết lý, luân lý để hoàn thiện mẫu người
đạo đức và mang lại cho người hành trì những lợi ích thiết thực. Những lời
dạy giản dị mà thâm thúy trong kinh làm cho chúng ta cảm thấy an lạc và
hạnh phúc bởi những đức tính từ bi, hỷ xả, bình tĩnh... giúp chúng ta lạc
quan vươn lên giữa những ngang trái, hẹp hòi, khổ đau, điên đảo của cuộc
thế vô thường.
Với mong mỏi cuộc sống con người được an lạc, hạnh phúc người viết đã chọn
đề tài: Đạo đức Phật giáo qua kinh Pháp Cú làm luận văn tốt nghiệp.
Tuy thật cố gắng, nhưng khả năng có hạn, người viết kính mong giáo sư
hướng dẫn và quý vị cao minh chỉ dạy thêm. Người viết vô cùng biết ơn.
B – NỘI DUNG
I.
KHÁI NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC.
I.1) Đạo đức là gì?
Theo từ điển tiếng Việt,
do Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội, Việt Nam - xuất bản năm 1992 định
nghĩa:
"Đạo đức là những tiêu
chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận quy định hành vi, quan
hệ của con người với nhau và đối với xã hội".
Theo từ điển tiếng Việt,
NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1977 thì:
"Đạo đức là những nguyên
tắc căn cứ vào chế độ chính trị mà đặt ra quan hệ giữa người và người,
giữa cá nhân và xã hội để bảo vệ kinh tế và chế độ xã hội."
Như vậy, xét về nhiều
phương diện, đạo đức không phải là một phạm trù trừu tượng mà là một phạm
trù lịch sử. Bởi một khi hình thức kết cấu xã hội và cơ sở kinh tế cải
biến thì đạo đức cũng cải biến theo.
Theo mô tả của nhà triết
học hiện sinh M. Heidegger: "Đạo đức là lĩnh vực của con người mà các hành
vi, các mối quan tâm, những tình cảm được chia xẻ giữa người này và người
khác theo những mục tiêu và những tiêu chí nhất định liên quan đến tự do
và trật tự phức tạp của cộng đồng".
Nhà đạo đức học nổi tiếng
Bandreladre cho rằng: "Đạo đức của con người là khả năng phục vụ một cách
tự giác và tự do cho những người khác và xã hội... Nơi nào không có hành
động tự nguyện, tự giác của con người thì nơi đó không có nhân phẩm, không
thể thực sự có đời sống xã hội. Đặc trưng của đời sống con người và bản
thân tính người hoặc nhân phẩm là ở đạo đức, và nội dung của đạo đức chính
là năng lực phục vụ tự nguyện, tự giác lợi ích của người khác và của toàn
xã hội.
Đạo đức thường được hiểu
là những gì cao quý, đẹp đẽ, là những gì làm nên văn hóa của một cộng
đồng, một xã hội. Các công trình sáng tạo là suối nguồn của nền văn minh;
và các vai trò xây dựng, phát triển xã hội của đạo đức là suối nguồn văn
hóa của một dân tộc. Dù gì đi nữa thì đạo đức vẫn là sản phẩm của tư duy
con người luôn có sự thừa kế và hoàn thiện hơn. Và mặc cho sự thừa kế đó
có diễn ra một cách triệt để và sâu sắc đến bao nhiêu thì mỗi thời, mỗi
nơi, mỗi tầng lớp xã hội, mỗi trình độ nhận thức... bao giờ cũng có những
hệ thống quan điểm về giá trị đạo đức riêng. Cái chung, con người luôn
mong ước được an ổn, hòa bình và hạnh phúc. Vì vậy, đạo đức phải là nền
tảng của sự an ổn, hòa bình và hạnh phúc ấy. Do đó, đạo đức cần phải được
xây dựng trên một hệ thống triết lý, tâm lý và mẫu người đạo đức lý tưởng
nói lên được mối quan hệ giữa con người với nhau, giữa con người và cuộc
đời.
Trên cơ sở đó, đạo đức
Phật giáo là những gì hết sức cụ thể. Nó được xây dựng từ nền tảng trí tuệ
thực nghiệm, là nếp sống đưa đến hạnh phúc an lạc tại đây và bây giờ,
trong đời này và đời sau.
I.2)
Đạo đức học là gì?
Đạo đức học (Ethica) và
đạo đức (Mozart) về mặt nguyên từ có ý nghĩa gần giống nhau. Ethica từ
tiếng Hy Lạp cổ Ethos, có nghĩa là truyền thống, phong tục, đặc tính, loại
hình tư tưởng. Các nhà tư tưởng cổ Hy Lạp dùng từ Ethos để nói về đặc điểm
đã được hình thành bền vững ở con người hoặc các hiện tượng xã hội. Còn
Mozart có nghĩa như những luân lý của con người sống trong một xã hội cụ
thể.
Có một số định nghĩa về
đạo đức như sau:
- "Đạo đức học là khoa
học triết học nghiên cứu đạo đức, giải thích bản tính và vai trò phát
triển đạo đức trong xã hội, nguồn gốc và quy luật phát triển đạo đức
trong xã hội, nguồn gốc và quy luật phát triển đạo đức trong lịch sử
cũng như cơ sở lý luận của những loại hình đạo đức cụ thể".
- "Đạo đức học là khoa
học nghiên cứu nội dung và quá trình phát sinh, phát triển của đạo đức".
- "Đạo đức học là môn
học về cách cư xử của con người. Không phải chỉ để tìm thấy sự thật như
sự thật của sự vật mà còn tìm hiểu giá trị hay điều thiện của các hành
vi của con người; là khoa học về đức tính con người, liên hệ đến sự phán
xét về bổn phận hay nghĩa vụ (cái đúng, cái sai, cái phải làm,) và liên
hệ tới các phán xét về giá trị (tốt hay xấu).
- "Đạo đức học là môn
học liên hệ đến các phán xét về điều chấp nhận hay phủ định, đúng hay
sai, tốt hay xấu, đức hạnh hay phi đức hạnh, dục vọng hay trí tuệ của
các hành vi của con người".
Như vậy, đạo đức học là
một môn khoa học triết học nghiên cứu, đánh giá về cách cư xử của con
người nói chung và hành động xuất phát từ thân, khẩu, ý của mỗi người nói
riêng; phân biệt rõ ràng những gì nên làm hay không nên làm, nhằm giúp con
người nhận chân được giá trị của cuộc sống; có những lối sống tốt đẹp để
ổn định xã hội và thăng hoa cuộc đời.
I.3)
Các quan niệm về đạo đức.
Như đã đề cập, giá trị đạo
đức và chuẩn mực đạo đức tùy theo mỗi hệ tư tưởng, mỗi thời đại, v.v...mà
có sự sai khác. Tuy nhiên, đạo đức là vấn đề luôn được đáng quan tâm. Cho
nên, trong kho tàng văn hóa nhân loại, quan niệm về đạo đức không phải là
ít. Đây là phạm trù mà các nhà tư tưởng lớn của thế giới thường đề cập.
Vào khoảng 500 B.C, Hy
Lạp, chiếc nôi của nền văn minh phương Tây, nơi xuất hiện nhiều triết gia
như Socrate, Platon, Aristote... mỗi vị đều có một quan niệm về đạo đức
riêng đáng để cho đàn hậu lai tham khảo và học tập.
Socrate, nhà triết học duy
tâm Hy lạp cổ đại (469 - 396 B.C) cho rằng: "Một nền đạo đức thì không thể
căn cứ vào một hệ thống giáo lý mơ hồ. Ta có thể tạo dựng một nền đạo đức
hoàn toàn không lệ thuộc vào thần học, một nền đạo đức có thể phù hợp cho
những người có tôn giáo và không tôn giáo. Và như thế, nền đạo đức cũng có
thể ổn định xã hội mà không cần đến thần học". Theo Socrate, một xã hội có
đạo đức thì tự khắc xã hội đó (bất kỳ là người có tôn giáo hay không có
tôn giáo) đều có được cuộc sống an lành, ổn định, không cần đến thần học.
Đạo đức do suy luận mà có. Và tri thức là cơ sở của cái thiện. Vì Socrate
quan niệm tri thức ở đây chỉ là tri thức triết học, hơn nữa lại là triết
học duy tâm, nên cái thiện của ông muốn nói là cái thiện của tư tưởng và ý
chí.
Cũng một quan niệm về đạo
đức nhưng Platon (427 - 347 B.C), môn đệ của Socrate, đã xem đạo đức như
là sự điều hòa của tập thể, sự công bằng, sự phối hợp hoàn hảo. Theo ông:
"Công bằng là sự ổn cố của tâm hồn. Tâm hồn cần có công bằng cũng như thể
xác cần có sức khỏe. Tất cả sự xấu xa trên đời đều có sự thiếu công bằng
giữa người và vũ trụ, giữa những yếu tố trong tâm hồn của mỗi người".
Platon cho rằng, sự công bằng là sức mạnh, không phải quyền lực của kẻ
mạnh mà là sự điều hòa không quá khích của toàn thể. Mỗi phần tử ở đúng vị
trí của nó, trả lại cho xã hội những gì "họ" đã nhận của xã hội.
Trong số học trò của
Platon, Aristote (384 - 322 B.C), là một môn đệ thông minh xuất chúng. Ông
có quan niệm rất lành mạnh về bản chất của con người. Thuyết "trung dung"
biểu tả quan niệm đạo đức của ông: "Đạo đức học tùy thuộc vào sự suy luận
chính xác, sự kiểm soát tinh thần, sự bình quân của lòng ham muốn. Đó
không phải là đức tính của những người thường mà là kết quả của sự tập
luyện và kinh nghiệm trong những người hoàn toàn trưởng thành. Con đường
đi đến mục đích đó là ý niệm trung dung. Mỗi một tính có thể xếp thành ba
loại. Loại đầu và loại chót là những đặc tính quá khích, chỉ loại giữa mới
là đạo đức. Tính can đảm thuộc về loại giữa, nghĩa là đạo đức". Tuy nhiên,
thuyết trung dung chưa phải là bí quyết đến hạnh phúc một cách hoàn mỹ.
Aristote cho rằng, những nhu cầu vật chất, một tài sản vừa phải có thể đem
đến cho con người đời sống tự do, không tham lam dành dật quá đáng. Mặc
dù, những tiện nghi vật chất là cần thiết cho đời sống hạnh phúc. Song,
yếu tố chính vẫn là sự sáng suốt của tâm hồn. Hạnh phúc là sự khoái lạc
của tâm trí‚.
Vào thế kỷ thứ 17, nhà
toán học cũng là triết gia nổi tiếng, Spinoza (1632 - 1677) đã đồng hóa
hai quan niệm đạo đức và nghị lực. Con người đạo đức là con người có nghị
lực để tranh thủ những cái gì lợi ích đối với mình. Sự ích kỷ chỉ là kết
quả của bản năng tự tồn. Sự ích kỷ hợp với thiên nhiên vì bản năng tự tồn
hợp với thiên nhiên. Spinoza xây dựng tư tưởng đạo đức của ông không phải
trên sự vị tha, cũng không phải trên sự đấu tranh một mất một còn. Ý niệm
ích kỷ của Spinoza có thể xem là sự dung hòa giữa hai cực đoan ấy. "Một
nền đạo đức bắt buộc con người phải chịu đựng một cách yếu hèn là một nền
đạo đức vô giá trị". Spinoza không tán thành sự nhún nhường, ông cho là
một sự giả dối. Ông cũng không tán thành sự ăn năn hối hận. Những kẻ ăn
năn hối hận là những kẻ yếu hèn tự làm khổ mình một cách vô ích. Quan niệm
đạo đức của Spinoza bắt nguồn từ những tư tưởng siêu hình của ông. Các
định luật thiên nhiên thể hiện cho ý muốn của Thiên Chúa, và do đó thành
lập nên một nền trật tự hoàn hảo trong vũ trụ. Về phương diện đạo đức,
chính lý trí đóng vai trò điều hợp để lập nên một nền trật tự trong tất cả
hành vi của con người. Sự hành động theo hướng dẫn của lý trí là ý niệm
căn bản về đạo đức‚.
Sang phương Đông, Trung
Hoa là nơi có nền văn hóa cổ đại nhất. Ở đây, với những tư tưởng lỗi lạc,
các vị Thánh nhân đã để lại cho nhân loại một nền triết lý sâu sắc. Trong
đó, tiêu biểu nhất là tư tưởng về đạo đức.
Khổng Tử (551 - 479 B.C):
Đạo đức của Khổng Tử chủ yếu qua thuyết "chính danh" nhằm mục đích chính
trị và ổn định xã hội. "Đức" của Khổng Tử là sự khái quát về mặt thực tiễn
đạo đức tư tưởng nhân đạo của ông. Khổng Tử không những coi trọng tri thức
đạo đức mà còn coi trọng thực tiễn đạo đức. "Đức" chính là phẩm chất tư
tưởng của con người thông qua học tập và thực hành đạo mà thu được vào
mình, giữ lại cho mình.
"Nhân" là chuẩn tắc cao
nhất của Khổng Tử. Tương ứng với nó, Khổng Tử còn đưa ra một loạt các quy
luật đạo đức. Cụ thể:
a) Hiếu để: "Quân tử vu
bản, bản lập nhi đạo sinh, hiếu để dã giả, kỳ vi nhân chi bản dã (người
quân tử cốt ở cái gốc, gốc có vững thì mới sanh đạo, hiếu để cũng vậy,
nó là cái gốc của nhân nghĩa đấy).
b) Trung thứ: (lời khoan
dung, rộng lượng): Tằng Tham, khi giải thích câu: "Ngô đạo nhất dĩ quán
chi" có nói: "Phu tử chi đạo, trung thứ nhi dĩ hỷ" (Bản thân đạo của
thầy Khổng đã bao gồm sự khoan dung, rộng lượng rồi).
c) Tín nghĩa: "Nhân chi
vô tín, bất tri kỳ khả dĩ" (con người mà không có đức tín thì không biết
được khả năng làm việc của mình) - (Vị Chính). "Chủ trung tín, tỷ nghĩa,
sùng đức dã" (cái chính là là trung tín, chuyển cái nghĩa là cao cả vậy)
(Nhan Uyên). Kiên trì trung tín đầy đủ thì hoàn toàn có đủ điều kiện để
nâng cao đức hạnh của chính mình.
d) Trung dung: "Trung
dung chi đức dã, kỳ chí hỷ hồ!" (Trung dung chính là đức, cái tạo đức
cao cả nhất) - (Ung Dã).
Đạo đức của Khổng Tử với
một mục đích thực tiễn là ở chỗ làm cho con người ta trở thành người có
đức, từ đó có thể "Vi chính dĩ đức" (Lấy đức để thực thi chính sự).
Mạnh Tử (372 - 289 B.C):
Ông đã kế thừa và phát huy học thuyết của Khổng Tử làm mục đích cuộc đời.
Nếu đạo đức của Khổng Tử (nhân) được đề cập, giải thích bằng nhiều mặt thì
Mạnh Tử tập trung giải thích đạo đức (nhân) đó là tình yêu con người. Ông
nói: "Nhân giả ái nhân" (nhân là tình yêu thương con người) - (Ly Lâu Hạ).
Mạnh Tử nêu lên, nhân bắt
nguồn từ tính thiện của con người. Con người sinh ra vốn đã có nhiều trắc
ẩn. Nhân là kết quả của việc mở rộng và phát triển cái lòng trắc ẩn đó:
"Trắc ẩn chi tâm, nhân chi đoan dã" (Lòng trắc ẩn, nỗi trắc ẩn, ấy là
nhân) - (Cao Tử Thượng).
Cũng chính ý nghĩa đó,
Mạnh Tử đã quả quyết "Nhân, nhân tâm dã ; (Nhân, ấy là lòng nhân). Sự tu
dưỡng của từng người phải phát xuất từ nội tâm, tự giác cởi mở lòng trắc
ẩn. Tinh thần nhân và các hành vi nhân nghĩa đã tạo thành nội dung căn bản
về đạo đức của Mạnh Tử.
Lão Tử (khoảng 580 - 500
B.C): Đạo đức của Lão Tử chính là sự đảm bảo chắc chắn của đạo hình nhi
thượng. Trong cuộc sống vạn vật trong trời đất cũng như trong cuộc sống
của con người trong xã hội. Đạo khi sinh ra vạn vật trong trời đất được
giữ lại trong vật vật thúc đẩy tạo nên vạn, làm cho vạn vật tự mình sinh
trưởng. Đó chính là đức. Ông nói: "Đạo sanh chi, đức súc chi, trưởng chi,
dục chi, đỉnh chi, độc chi, cái chi, phúc chi, sinh nhi bất hữu, nhi vi
bất thị, trưởng nhi bất tể, thị vi huyền đức" (nghĩa là: Đạo sanh ra nó,
đức chứa đựng nó, nuôi dưỡng nó trưởng thành, nếu ngăn cản nó, làm hại nó,
che đậy nó, lấp úp nó thì dù sinh ra những vẫn coi như không có, có đấy mà
cũng không dựa được, có lớn đấy mà cũng không quản được. Đó là đức mơ hồ,
huyền hoặc không thể tin được) (Chương 51).
Đức thể hiện đạo, chứa
đựng và làm cho vạn vật trưởng thành. Đức sâu nặng nhất cũng chính là thể
hiện đạo một cách trọn vẹn theo bản tính tự nhiên của nó. Vì thế, chỉ cần
quán triệt phổ biến tư tưởng đạo vào đời sống con người trong xã hội thì
đức cũng thực sự bao trùm lên xã hội: "Đạo tu chi vu thân, kỳ đức nãi
chân; tu chi vu gia, kỳ đức nã chỉ; tu chi vu lương, kỳ đức nãi trường; tu
chi vu bang; kỳ đức nãi phong; tu chi vu thiên hạ, kỳ đức nãi phổ" (nghĩa
là đạo tu ở bản thân, cái đức mới thật; tu ở nhà, đức mới nhiều; tu ở xóm
làng thì đức mới rộng; tu khắp thiên hạ thì đức mới trở nên phổ biến sâu
rộng) - (Chương 54).
Trang Tử (khoảng 269 - 286
B.C): Thừa kế và phát triển tư tưởng của Lão Tử, ông cho rằng: "Phi đạo
đức chi chính dã" (đúng nhưng chưa phải là đạo đức) - (Biền Mẫu). Cái mà
ông nói đức là để chỉ cho cái giới hạn, mức độ hài hòa khi đắc đạo. Ông
nói: "Phù đức dã, hòa dã" (Đức có nghĩa là hài hòa) - (Thiện Tính). Ông
lại nói: "Tự sự kỳ tâm giả ai lạc bất dịch thi hồ tiền, tri kỳ bất khả nãi
hà nhi an chi nhược mệnh, đức chi chí dã". (Tự mình làm theo suy nghĩ của
mình thì dù có vui hay buồn cũng không có gì dung dịch đường ăn năn cả.
Biết nó không thể khác được rồi yên trí làm theo như vậy, đó là đã đạt đến
đức vậy) - (Nhân Gian Thế).
Đạo là căn cứ để đức dựa
vào đó mà tồn tại, là nội dung, bản chất của đức; mà đức lại là sự thể
hiện cụ thể của đạo trên cơ sở con người. Vì thế, Trang Tử nhấn mạnh chỉ
có lòng thông đạo, hiểu đạo (thông đạo hồ) thì mới có thể hợp với đạo (hợp
đạo hồ).
Riêng đối với dân tộc Việt
Nam, một dân tộc có chiều dài lịch sử hơn 4.000 năm văn hiến, một đất nước
hiền hòa với lối sống định cư. Quan niệm đạo đức, truyền thống nhân đạo đã
thể hiện phổ biến qua cuộc sống của người dân. Cụ thể là những câu ca dao,
tục ngữ, thi ca; để từ đó động viên nhau, chỉ bảo nhau. Cuộc sống cũng nhờ
đó mà ngày càng tốt đẹp hơn.
Người Việt Nam sống thì
phải thanh liêm, trong sáng, không vụ lợi dù ở bất cứ hoàn cảnh nào:
"Đói cho sạch, rách
cho thơm".
Hay:
"Chết trong còn hơn
sống đục".
Con người đã sinh ra ở đời
thì phải sống. Tuy nhiên, sống phải ra sống, nghĩa là sống sao cho có ý
nghĩa, mọi việc làm, lời nói, ý nghĩ đều đem lại lợi lạc, hạnh phúc cho
chính mình và cộng đồng mình đang sống; không vì một chút tiền tài, danh
vọng mà bán rẻ phẩm giá của mình. Mọi người phải biết tự trọng, biết sống
thanh bạch. Đây chính là triết lý sống, là nền đạo đức căn bản của người
Việt Nam.
Trong suốt quá trình lịch
sử lâu dài đó, dân tộc Việt Nam phải đối đầu với nhiều thế lực ngoại xâm
cùng với thiên tai. Cho nên trong họ sớm hình thành tình đoàn kết:
"Một cây làm chẳng
nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao".
Và tình cảm nhân ái, yêu
thương, giúp đỡ lẫn nhau đã gắn bó với họ tự lúc nào:
"Lá lành đùm lá
rách".
Có thế, người dân Việt Nam
mới có thể vượt qua những thiên tai nguy khốn và những cuộc chiến tranh
tàn khốc. Tình yêu thương đùm bọc đó còn biểu hiện rõ hơn qua các câu:
"Nhiễu điều phủ lấy
giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng".
Hay:
"Bầu ơi thương lấy bí
cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn".
Hoặc:
"Thương người như thể
thương thân,
Nhường cơm xẻ áo lòng nhân mới là".
Với tính mộc mạc, chân
chất, những câu tục ngữ, ca dao còn nêu lên đạo hiếu của con người một
cách sinh động, dễ hiểu qua lối so sánh:
"Công cha như núi
Thái sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con".
Đạo làm con xưa nay vẫn
được ông cha ta chú trọng - "Làm con phải hiếu". Dù có đi tha hương lập
nghiệp, người dân Việt Nam vẫn một lòng hướng về hai đấng sinh thành:
Ai về tôi gửi buồng
cau
Buồng trước kính mẹ buồng sau kính thầy
Ai về tôi gửi đôi giày
Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi".
Không những thế, làm con,
họ sẵn sàng dâng lên những gì là của ngon vật lạ và luôn chiều theo ý của
cha mẹ khi họ đang được ở gần:
"Tôm càng lột vỏ bỏ
đuôi
Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già
Đói lòng ăn hột chà là
Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng".
Người dân Việt Nam dường
như không muốn lìa xa cha mẹ, luôn muốn ở bên cha mẹ để lo lắng, đỡ đần:
"Đi mô bỏ mẹ ở nhà
Gối nghiêng ai sửa, chén trà ai bưng".
Song song với đạo hiếu,
đạo thầy trò cũng được biểu hiện đậm nét:
"Muốn sang thì bắc
cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy".
Người làm thầy luôn được
tôn trọng và đặt lên hàng đầu. Không chỉ những vị thầy truyền dạy chữ
nghĩa, sách vở của thánh hiền; mà cả những vị thầy đã hun đúc, nhắc bảo để
tạo ra nghề nghiệp, cách sống...của chúng ta trong cuộc sống thường nhật;
thật khó thành đạt nếu không có thầy.
"Không thầy đố mày
làm nên"
Trong anh em, chị em, phải
luôn cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau:
"Nào khi chị ngã em
nâng
Nào khi em ngã chị bồng hai tay".
Trong tình yêu lứa đôi,
không những yêu nhau thì "Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua" mà
còn là sự hy sinh:
"Đói lòng ăn nửa trái
sim
Uống lưng bát nước đi tìm người thương".
Và khi thành vợ chồng, họ
sống với nhau trong sự hòa thuận, hiểu biết nhau, không quản ngại đời sống
khó khăn, vật chất thiếu thốn:
"Râu tôm nấu với ruột
bầu
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon".
Đặc biệt là sự chung thủy:
"Đi mô đem thiếp theo
cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp theo".
Hay:
"Chàng ơi phụ thiếp
làm chi
Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng".
Vợ chồng luôn có nhau, vì
nhau, hy sinh cho nhau. Họ không coi mình là gì cao quý, chỉ là cơm nguội
thôi, nhưng là cơm nguội khi đói lòng. Mà dân gian có câu: "Một miếng khi
đói, một gói khi no". Qua đó, đủ cho ta thấy, họ sống với nhau rất tình
cảm, chung thủy và đầy đức hy sinh.
Đạo đức người Việt còn thể
hiện ở chỗ, con người biết tri ân, báo ân:
"Ăn trái nhớ kẻ trồng
cây
Uống nước nhớ người nhớ người đào giếng"
Họ nhắc nhở nhau:
"Ai ơi bưng bát cơm
đầy
Dẽo thơm một hạt đắng cay muôn phần".
Khi no đủ cũng nên nhớ đến
công ơn của những người làm lụng vất vả; để rồi không vì quá no đủ mà
phung phí, hãy luôn đồng cảm với nhau trong mọi hoàn cảnh.
Đất nước Việt Nam luôn bị
giặc ngoại xâm. Ai chẳng muốn sống hạnh phúc. Nhưng làm sao an vui được
giữa cảnh xơ xác, tiêu điều của một đất nước mất tự do; trước đói rét, tủi
nhục, đau thương của đồng bào. Trong hoàn cảnh đó, độc lập tự do, khát
vọng lâu đời của dân tộc trở thành nhu cầu cấp thiết và sự đoàn kết đấu
tranh chống giặc ngoại xâm trở thành vấn đề đạo đức:
"Việc nhân nghĩa cốt
ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo". (Nguyễn Trãi)
Cùng với những trang sử
oanh liệt trong công cuộc bảo vệ nền độc lập, dân tộc Việt Nam còn có một
lịch sử tinh thần phong phú phản ánh sức sống mãnh liệt của một dân tộc
"vốn xưng nền văn hiến đã lâu". Do hoàn cảnh đặc thù của dân tộc, trong
quá trình giao lưu giữa nền văn hóa Việt Nam với các nền văn hóa trên thế
giới, nhiều giáo lý đạo đức của Phật giáo đã hòa nhập, bám sâu, bám chắc
vào đạo lý của dân tộc Việt Nam và trở thành bộ phận quý giá trong các
truyền thống đạo đức của dân tộc như nhà thơ Hồ Dzếnh từng nói: Trang sử
Việt đồng thời trang sử Phật". Thảo nào, người Việt Nam sống biết nhân
quả: "Ở hiền gặp lành," biết yêu thương, bố thí...Do đó, có thể nói đạo
đức Phật giáo là đạo đức của nhân dân Việt Nam trong suốt mấy ngàn năm
qua. Vậy, đạo đức Phật giáo như thế nào?
II. ĐẠO
ĐỨC PHẬT GIÁO QUA KINH PHÁP CÚ
II.1)
Nền tảng đạo đức Phật giáo.
Phật giáo thường được hiểu
là một tôn giáo hay một nếp sống đạo đức. Nói đến đạo đức Phật giáo là nói
đến tính nhân bản; nghĩa là tất cả vì con người, vì hạnh phúc của con
người. Con người hoàn toàn có khả năng làm chủ những gì mình đang có, đang
làm. Đức Phật không tự xưng mình là một vị cứu thế, một đấng quyền linh
ban phước, giáng họa. Ngài chỉ cho mình là một vị đạo sư, là người chỉ
đường; chỉ là một con người như bất kỳ một người nào khác. Ngài nói rằng,
tất cả những gì Ngài thực hiện được, đạt đến được, hoàn thành được là hoàn
toàn do trí tuệ, nỗ lực của chính ngài, tức là trí tuệ và nỗ lực của một
con người: "Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành". Do
đó, con người chính nó là con người phải hiểu sự thật của chính mình và
biết làm như thế nào để đạt đến hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ:
"Mình là chủ nhân
ông của chính mình, không có ai khác là chủ nhân của mình. Người khéo tự
chế mình sẽ thấy được vị chủ nhân khi tìm thấy"
Đứng trên phương diện đạo
đức, giáo lý Phật giáo là một hệ thống những phương pháp chỉ dạy cách sống
đạo đức cho những hạng người khác nhau. Những phương pháp này tùy căn cơ,
trình độ mà con người có sự tiếp nhận khác nhau. Song, dù vận dụng cách
nào chăng nữa thì mục đích của phương pháp ấy vẫn là cuộc sống hạnh phúc
của con người. Phật giáo không chú tâm cung cấp những giải đáp cho tất cả
mọi vấn đề luân lý và triết lý của nhân loại. Phật giáo cũng không đề cập
đến những khảo sát và học thuyết không có chiều hướng tiến bộ tinh thần
đạo đức. Phật giáo có mục tiêu rõ ràng và thực tiễn - chấm dứt sự khổ -
luôn nhắm vào mục tiêu ấy, và hoàn toàn gạt bỏ những gì không thích nghi.
Tuy nhiên, mọi quan sát sâu sắc về bản chất sự thật của đời sống đều được
khuyến khích. Phật giáo gợi tri thức nhiều hơn gợi tình cảm. Phật giáo chú
trọng đến nhân cách của người đệ tử Phật hơn là sức mạnh về số lượng. Vì
những đặc tính đó mà hơn 2500 năm qua, kể từ khi Đức Phật ra đời, biết bao
biến cố thăng trầm đã diễn ra trong đời sống xã hội mà đạo Phật vẫn tồn
tại một cách vững vàng. Từ Ấn Độ, đạo Phật đã lan tràn sang các nước khác.
Sở dĩ đạo Phật có địa vị tôn quý trong đời sống tinh thần của nhân dân thế
giới cũng chính là Phật giáo có sức sống mãnh liệt. Sức sống ấy là những
giá trị quý báu chứa trong những lời dạy của Đức Phật, là mục đích cao
đẹp, trong sáng nhằm vào hạnh phúc của con người mà Đức Phật đã nêu lên và
con đường đi đến mục đích đó. Con đường ấy là cả một nền đạo đức tích cực,
cụ thể và thực tiễn, hình thành nên một đạo đức Phật giáo đặc trưng cho
nền văn hóa nhân loại. Đạo đức Phật giáo là những phương thuốc hữu hiệu
giúp cho con người giải thoát khổ đau qua hệ thống nội dung cơ bản Giới -
Định - Tuệ.
(a) Giới:
Nói đến đạo đức, người ta
thường nghĩ đến ngay một khuôn mẫu mô phạm, một giá trị chuẩn mực về cách
cư xử của con người với nhau, về hành vi, về bổn phận, nghĩa vụ...của con
người. Qua đó mà hình thành nên luật pháp và luật tục.
Song le, trong Phật giáo,
giới là những quy tắc cần phải hành trì, là hàng rào phân định giữa thiện
và ác, là kỷ cương của Phật Pháp, là mạng sống của Tăng già: "Giới Luật
còn thì Phật Pháp còn; Giới Luật là thọ mạng của Phật Pháp".
Chính vì thế, khi sắp nhập
Niết Bàn, Đức Thế Tôn đã ân cần dạy các đệ tử.
"Sau khi ta diệt độ,
các ngươi phải tôn trọng trân quý Ba-La-Đề-Mộc-Xoa, như người nghèo được
của báu - Phải biết pháp này là Thầy của các ngươi, dù ta có trụ ở đời
cũng không có gì khác"
Thông thường Giới được
hiểu là ngăn ngừa điều quấy, dứt dừng điều ác (phòng phi, chỉ ác) hoặc
ngưng điều ác và làm điều thiện (chỉ ác, tác thiện).
Trong Bát Chánh Đạo, Giới
là Giới Uẩn gồm có chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng. Ở đây chỉ sự ngăn
ngừa các hành động lỗi lầm của thân, khẩu. Khi các hành động lỗi lầm không
được làm thì tránh được nhiều sự tổn hại cho những người khác. Đây nói lên
ý nghĩa cái thiện của Giới.
Chữ Giới trong Giới bổn
Ba-La-Đề-Mộc-Xoa (Sk: Pràtimoksa; Pàli: Patimokkha), có nghĩa biệt giải
thoát hay xứ xứ giải thoát, tùy thuận giải thoát. Biệt giải thoát là giải
thoát từng phần, giữ giới nhiều thì giải thoát nhiều, giữ giới ít thì giải
thoát ít. Tùy thuận giải thoát là giải thoát tùy thuận vào quả hữu vi hay
vô vi của người hành.
Từ điển của Rhys Davids
cắt nghĩa Giới (Sìla) có gốc từ ngữ căn sìl. Ngữ căn sìl có hai nghĩa:
upadhàranà (luân lý, đạo đức của Phật giáo, cách cư xử, tư cách đạo đức)
và Samàdhi (định).
Từ Patimokkha, theo cách
phân tích từ ngữ, có nghĩa là trói buộc các hành động; gìn giữ, thúc liễm
các hành động của thân và khẩu không để cho rơi vào đường ác, sai lầm, tổn
hại mình và người. Ví như buộc mồm trâu để ngăn nó ăn lúa mạ.
Giới trong nghĩa ngày trai
giới (Pàli: Uposatha; Sk: Upavasatha, Hán dịch là Bố-sa-tha) nghĩa là tịnh
trú, trưởng dưỡng, trưởng tịnh, thiện túc. Tăng Chi (III-A) định nghĩa,
ngày trai giới là ngày thực hành hạnh sống của vị Alahán (chỉ giữ 8 giới).
Trong 37 phẩm trợ đạo, Thế
Tôn dạy: Giới là nền tảng của 4 niệm xứ, 4 chánh cần, 4 như ý túc, 5 căn,
5 lực, 7 bồ đề phần, 8 thánh đạo phần. Ví như đất là nền tảng, không có nó
thì loài động vật không thể di chuyển. Cũng thế, không có giới thì 37 phẩm
trợ đạo không thể tu tập viên mãn.
Giới giúp cho hành giả đạt
được hai mục tiêu: không làm các điều ác và làm các điều lành. Phật dạy:
- "Chớ làm điều ác,
gắng làm điều lành, giữ tâm ý trong sạch. Ấy, lời chư Phật dạy". (P.C
183)
- "Hã gấp rút làm
lành, chế chỉ tâm tội ác. Hễ biếng nhác làm lành giờ nào thì tâm liền ưa
chuyện ác giờ ấy". (P.C 116)
- "Khéo thực hành
chánh pháp, chớ làm điều ác hành. Người thực hành chánh pháp, đời này
vui, đời sau vui". (P.C 169)
- "Người nào lấy
việc lành tiêu trừ việc ác, người đó là ánh sáng chiếu cõi thế gian, như
vầng trăng ra khỏi mây mù". (P.C 173)
- "Không làm nghiệp
ác là hơn, làm ác nhất định thọ khổ, làm nghiệp lành là hơn, làm lành
nhất định thọ vui". (P.C 314)
Thiện và ác (bất thiện) là
hai phạm trù đối nghịch nhau. Hai phạm trù này được Đức Phật phân định rõ
ràng:
"Tham là bất thiện,
vô tham là thiện; sân là bất thiện, vô sân là thiện; sát sanh là bất
thiện, không sát sanh là thiện; từ bỏ lấy của không cho là thiện; tà
hạnh trong các dục là bất thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện;
nói láo là bất thiện, từ bỏ nói láo là thiện; nói hai lưỡi là bất thiện,
từ bỏ nói hai lưỡi là thiện; nói lời độc ác là bất thiện; từ bỏ nói lời
độc ác là thiện; xan tham là bất thiện, từ bỏ xan tham là thiện; tà kiến
là bất thiện, từ bỏ tà kiến là thiện. Như vậy này Vacchagota, 10 pháp là
bất thiện, 10 pháp là thiện".
Nếp sống mang lại hạnh
phúc là nếp sống thiện, nếp sống đạo đức. Nên Đức Phật luôn khuyên dạy
chúng ta làm tất cả các việc thiện có thể làm, dù đó là rất nhỏ; tránh xa
tất cả các việc ác, dù việc ác cỏn con.
- "Không vì mình
cũng không vì người để làm chuyện ác, không vì cầu con trai, giàu có hay
mưu việc thiên hạ để làm việc ác, không vì cầu phồn vinh cho mình bằng
những phương tiện bất chánh. Người này thật là người giới hạnh, trí tuệ
và chánh pháp". (P.C 84)
- "Chớ khinh điều ác
nhỏ, cho rằng chẳng đưa tới quả báo cho ta. Phải biết giọt nước nhểu lâu
ngày cũng làm đầy bình. Kẻ ngu phu sở dĩ đầy tội ác bởi chứa dồn từng
chút từng chút mà nên". (P.C 121)
- "Chớ khinh điều
thiện nhỏ, cho rằng chẳng đưa đến quả báo cho ta. Phải biết giọt nước
nhểu lâu ngày cũng làm đầy bình. Kẻ trí sở dĩ hoàn thiện bởi chứa dồn
từng chút từng chút mà nên". (P.C 122)
Đức Phật đã xiển dương
thiện nghiệp ngay hiện tại,và theo luật nhân quả, thiện báo sẽ đi liền
theo. Đây là ý nghĩa thiết thực của đạo đức Phật giáo.
Không sát sanh:
Không sát sanh nghĩa là
không sát hại nhân mạng và loài vật, không tán thành sự chém giết, khuyến
khích kẻ khác giết; mà trái lại phải phóng sanh. Sở dĩ như vậy là vì con
người cũng như loài vật luôn ham sống sợ chết. Chúng ta, ai cũng coi sanh
mạng của mình là quý, là của báu tuyệt đối. Nếu ai mưu hại thì mình sẵn
sàng chống trả để bảo vệ thân mạng. Và chúng ta cũng thừa biết tất cả loại
vật đều quý thân mạng của chúng như chúng ta. Theo lẽ công bình, điều mà
ta không muốn thì không nên làm cho người khác hay loài khác. Chính Đức
Khổng Tử cũng dạy: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân" đó sao?!. Đức Phật cấm
sát sinh là tôn trọng sự sống, tôn trọng sự công bằng. Ngài dạy:
"Ai cũng sợ dao gậy,
ai cũng sợ chết, hãy lấy lòng mình suy lòng người, chớ giết, chớ bảo
giết". (P.C 129)
"Ai cũng sợ dao gậy, ai cũng thích sống, hãy lấy lòng mình suy lòng
người, chớ giết, chớ bảo giết". (P.C 130)
Giới không sát sanh un đúc
cho hành giả tăng trưởng lòng từ "tức ác hành từ". Từ bi là tình thương
hoàn toàn vị tha. Đây là một trong những yếu tố cốt tủy của Phật giáo (sẽ
nói ở phần sau).
Chúng ta không thể sát hại
nhau trong dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. Hãy trang trải lòng
thương yêu không chút vị kỷ cho nhau. Chỉ có lòng thương yêu mới làm cho
cuộc đời hạnh phúc; chỉ có lòng thương yêu mới giúp con người đứng lên
trong cuộc đời đau khổ và đầy bất hạnh này. Nếu tất cả nhân loại trên thế
giới đều không sát sanh thì chiến tranh sẽ không có. Và con người sẽ sống
cuộc sống yên vui hơn, chan hòa với muôn vật hơn. Chính vì thế, Đức Phật
đã nhiều lần khuyến khích, khen ngợi việc không sát sinh và chê trách việc
sát sanh:
"Người nào cầu an
vui cho mình mà lại lấy dao gậy não hại kẻ khác thì sẽ không được yên
vui". (P.C 131)
"Người nào cầu an vui cho mình mà không lấy dao gậy não hại kẻ khác thì
sẽ được yên vui". (P.C 132)
"Người nào nghiêm
giữ thân tâm tịch tịnh, chế ngự khắc phục ráo riết trên đường tu phạm
hạnh, không dùng dao gậy gia hại sanh linh, thì chính người ấy là Bà la
môn, là Sa môn, là Tỳ Kheo vậy". (P.C 142)
"Còn sát hại chúng
sanh, đâu được xưng là thánh hiền, không sát hại chúng sanh mới gọi là
thánh hiền". (P.C 270)
"Đệ tử Kiều Đáp la,
phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường vui điều bất sát".
(P.C 300)
"Bỏ hết đao trượng,
không tự mình giết, không bảo người khác giết đối với tất cả hữu tình
mạnh hay yếu; người như thế ta gọi là Bà la môn". (P.C 405)
Không trộm
cướp:
Trộm cướp là hành động bất
lương mà xã hội không thể chấp nhận. Đức Phật dạy, dù một lá cây, một cọng
cỏ, người ta không cho thì không được lấy. Như vậy, chúng ta có thể suy ra
những vật lớn hơn.
Trộm cướp có nhiều hình
thức: ỷ mạnh bè đảng dựt ngang của người; cậy ỷ thế quyền làm tiền kẻ yếu,
bắt chẹt người ta trong khi túng thiếu, cho vay nặng lãi, tích trữ đầu cơ
để bán giá chợ đen. Dùng mưu mẹo rình rập, lén lấy của người; cân non,
đong thiếu, trốn xâu, lậu thuế; được của người ta mà không tìm cách trả
lại v.v...
Nói tóm, bất cứ hình thức
nào do lòng gian tham lấy của người một cách bất chính đều gọi là trộm
cướp cả. Chính vì lòng tham đó mà gia đình bất hòa, hàng xóm lục đục, thế
giới chiến tranh. Cho nên Đức Phật dạy:
"Giả sử thế gian này
có được lộng lẫy như chiếc xe của vua, thì trong số người xem thấy chỉ
người ngu mới tham đắm, chớ kẻ trí chẳng hề bận tâm". (P.C 171)
Tài sản giàu có chỉ
làm hại người ngu chứ không phải để cầu sang bờ kia. Người ngu bị tài
dục hại mình, như mình vì tài dục mà hại người khác. (P.C 355)
"Đối với vật gì xấu
hay tốt, dài hay ngắn, thô hay tế, mà người ta không được lấy, được gọi
là Bà la môn". (P.C 409)
Đức Phật chế giới cấm trộm
cướp là để ngăn ngừa lòng tham. Nếu chúng ta không trộm cướp thì chúng ta
nuôi dưỡng được lòng từ bi và tránh được nghiệp báo oán thù. Người ta
thường nói: "Tiền tài là huyết mạch". Như vậy, những kẻ cướp đoạt của
người tức là cướp đoạt xương máu của người, sát hại sinh mạng người. Do
vậy, nếu chúng ta trộm cướp thì chính chúng ta là người tán tận lương tâm.
Người trộm cướp, nếu không bị pháp luật thế gian trừng trị thì cũng không
thoát khỏi luật nhân quả nghiệp báo. Khi chưa bị bắt thì kẻ trộm cướp phải
tìm trăm phương nghìn kế để tẩu thoát, sống chui nhủi trong bóng tối. Khi
bị bắt, người trộm cướp phải bị trói buộc, tra khảo, ngồi tù, nhốt khám.
Phận mình đã đãnh cực thân khổ trí, lại làm cho gia đình, cha mẹ, vợ con
cũng buồn rầu xấu hổ. Người không trộm cướp thì tạo được sự tin tưởng lẫn
nhau trong cộng đồng mình đang sống. Cho nên, mọi người đều cảm được sự
yên ổn, hạnh phúc. Như trong kinh Thập Thiện nói, nếu xa lìa việc trộm
cướp thì được: "1. Tài sản nhiều - vua, giặc, nước, lửa, con bất hiếu
không thể làm tiêu tan; 2. Được nhiều người thương tưởng; 3. Không bị
người xem thường; 4. Được nhiều người ca ngợi; 5. Tiếng tốt lan khắp; 6. Ở
giữa đại chúng không sợ; 7. Không bị lo tổn hại; 8. Tài sản sức lực an ổn,
có tài biện luận; 9. Thường giữ tâm bố thí; 10. Chết sinh cõi trời, nếu
hồi hướng quả bồ đề sẽ thành Phật".
Không tà dâm:
Phật giáo không nêu lên
vấn đề cội nguồn của hiện hữu, gồm có cả cội nguồn của đạo đức. Bởi vì,
mọi hiện hữu đều do duyên sanh vô tự tánh. Nhưng mặt tương đối, Phật giáo
ghi nhận khổ đau do ái, thủ, vô minh gây ra. Vấn đề là dập tắt khổ đau của
từng cá nhân. Trong đó, ái là cái mốc quan trọng nhất.
Tuy nhiên, trong Giới tại
gia, Đức Phật chỉ chế giới tà dâm. Nghĩa là không chung sống với người
không phải là vợ hay là chồng của mình. Dù là vợ hay chồng của mình nhưng
giao tiếp không đúng lúc, không đúng chỗ và không chừng mực thì cũng bị
xem là tà dâm. Nói tóm lại, những sự quan hệ nam, nữ không được luật pháp
và luật tục thừa nhận đều được xem là tà dâm. Vi tế hơn, chúng ta không
nên phóng tâm đắm sắc, nghĩ ngợi bất chính, chơi bời lả lơi. Đây là điều
kiện để đảm bảo hạnh phúc gia đình, an toàn và ổn định xã hội.
Có gì bất hạnh hơn khi
phải sống trong gia đình có sự quan hệ bất chánh. Những hành vi bất chánh
giữa quan hệ của một trong hai người bạn đời sẽ đưa đến sự cãi vã, ghen
tuông, đánh đập; làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình; dẫn đến sự ly hôn; làm cho
con cái sống được với mẹ thì mất tình thương của cha, được sống với cha
thì mất tình thương của mẹ. Hơn thế nữa, con cái sẽ dễ dàng đi đến những
bê tha, sa đọa của các tệ nạn xã hội. Bên cạnh đó, bà con không đoái hoài;
làng xóm chê bai, bạn bè xa cách, danh giá hoen ố.
Đức Phật cấm tà dâm là tôn
trọng sự công bằng. Mỗi người ai cũng có một gia đình đầm ấm, yên vui. Nếu
ai cũng giữ được giới này thì xã hội sẽ không có người phá hoại gia cang,
không có người làm nhục nhã tông môn người, không đưa vợ con người vào con
đường dâm loạn. Như chúng ta thấy trong thực tế, không có sự thù oán nào
mã liệt bằng sự thù oán do sự lừa dối hay phụ rẫy về tình ái gây ra. Các
cuộc án mạng xảy ra hàng ngày, phần lớn là kết quả của sự tà dâm. Cho nên,
đối với các cư sĩ tại gia, Đức Phật đã khéo léo dạy bảo một lối sống gia
đình hạnh phúc, êm ấm:
"Buông lung theo vợ
người, phải mắc vào bốn nạn: mắc tội, ngủ không yên, bị chê, đọa địa
ngục". (P.C 309)
"Vô phước, đọa ác thú, thường sợ hãi ít vui, quốc vương kết trọng tội.
Vậy, chớ theo vợ người". (P.C 310)
Riêng đối với hàng xuất
gia, Đức Phật dạy nên dứt hẳn dâm dục. Vì dâm dục là nhân đi đến sự đọa
lạc, luân hồi trong sanh tử. Ái càng nặng thì trói buộc càng chặt, sự đau
khổ do đó mà tăng trưởng. Động cơ của ái là si, tựa vào gốc si mê, ích kỷ
để yêu thương. Do đó, ái chỉ làm cho mình và người đau khổ. Nếu sự yêu
thương bị ngăn chặn hoặc bị từ chối thì yêu thương biến thành oán thù. Nếu
yêu thương được thỏa màn thì càng mê đắm, mù quáng. Giáo lý đạo Phật nhằm
thoát khỏi khổ đau; mà nguyên nhân chính của khổ là ái. Thế nên, đạo Phật
dạy nên xa lìa ái dục và tán thán người xa lìa ái dục như sau:
"Giả sử mưa xuống
vàng bạc cũng chẳng thỏa mãn lòng tham dục. Người trí đã biết rõ ái dục
vui ít mà đau khổ nhiều. Thế nên, dù sự dục lạc ở cõi đời, ngươi cũng
chớ nên sanh tâm mong cầu. Đệ tử Đấng Chánh Giác chỉ mong cầu diệt trừ
ái dục mà thôi". (P.C 186, 187)
Xuất gia dứt hết ái
dục là khó, tại gia theo đường sinh hoạt là khó, không phải bạn mà chung
ở là khổ, qua lại vòng luân hồi là khổ. Vậy các ngươi đừng qua lại vòng
sanh tử luân hồi ấy. (P.C 302)
Ở thế gian này nếu
bị ái dục buộc ràng thì những điều sầu khổ càng tăng, như loại cỏ tỳ la
gặp mưa. (P.C 335)
Ở thế gian này nếu hàng phục được ái dục khó hàng phục, thì sầu khổ tự
nhiên rụng như nước giọt lá sen. (P.C 336)
"Đây là sự lành mà ta bảo các ngươi: các ngươi hày dồn hết sức vào để
nhổ sạch gốc ái dục, như người muốn trừ cỏ tỳ la thì phải nhổ gốc nó.
Các ngươi chớ lại để bị ma làm hại như loài cỏ lau gặp nước lũ". (P.C
337)
"Đốn cây mà chưa đào hết gốc rễ sâu bền thì cây vẫn sanh ra, đoạn trừ ái
dục mà chưa sạch căn gốc thì khổ não vẫn sanh trở lại mãi". (P.C 338)
"Những người trì
trục theo ái dục, vùng vẫy khác nào thỏ bị sa lưới. Càng buộc ràng với
phiền não càng chịu khổ lâu dài". (P.C 342)
"Những người trì trục theo ái dục, vùng vẫy khác nào thỏ bị sa lưới.
Hàng Tỳ Kheo vì cầu vô dục nên phải tự gắng lìa dục". (P.C 343)
Những người say đắm
ái dục, trôi theo ái dục là tự mình lao vào lưới trói buộc, như nhện mắc
lưới. Ai dứt được sự buộc ràng, không còn dính mắc thì sẽ lìa mọi thống
khổ mà ngao du tự tại. (P.C 347)
Như nước giọt lá
sen, như hột cải đặt đầu mũi kim, người không đắm nhiễm dục cũng như
thế. Ta gọi họ là Bà la môn. (P.C 401)
Chẳng lẫn lộn với
tục luân, chẳng xen tạp với tăng lữ, xuất gia lìa ái dục. Đó gọi là Bà
la môn. (P.C 404)
Không nói lời
không chân thật (giới về miệng):
Nói cho đủ là không nói
dối, không nói hai lưỡi, không nói lời thêu dệt, không nói lời thô ác.
Nghĩa là phải nói lời chân thật, không nên đến người này nói thế này, đến
người khác nói thế kia, không nên thổi phồng vấn đề bằng những lời hoa mỹ
để mị người khác, không nên dùng lời thô ác mắng nhiếc người khác.
Lời nói là một trong những
phương tiện dùng để giao tiếp. Hiện nay, ngôn ngữ giao tiếp có nhiều - các
ký hiệu, các hệ thống truyền tin hiện đại. Tin tức sẽ được truyền đi nhanh
và rộng. Chúng ta cần tôn trọng sự thật khi phổ biến tin tức để khỏi gây
cho người khác bức xúc, quần chúng hoang mang. Phật giáo đề cao lời nói
chân thật, lời nói hòa nhã, hầu mang lại sự tin tưởng, thông cảm và cuộc
sống hòa bình, hạnh phúc.
Chúng ta thử hình dung một
cuộc sống mà mọi người luôn lừa dối nhau. Liệu họ có thể tin tưởng nhau để
cộng tác, chung sống; hay họ luôn nhìn nhau, xem nhau bằng những hoài nghi
và tâm lý luôn đề phòng - Không biết có nên tin hay không vào một người
nào đó... Còn hơn thế, người có học thức hơn thì viết sách, viết báo kích
bác nhau, nhục mạ nhau...Có nhiều lúc, họ suy luận sai và nói oan cho
người khác làm cho người khác ngậm hờn suốt đời, oan ức, tức tối...Trong
cuộc sống, có người lúc có nói không, không nói có, nói những lời văn hoa
dối mị, hình thành một lối đạo đức khó hiểu mà người ta thường gọi là "đạo
đức giả". Họ đối đãi với nhau như một tấm lòng tốt. Nhưng không, trái lại,
lòng họ nham hiểm vô cùng. Thế nên dân gian có câu: "Khẩu Phật tâm xà".
đúng là không ngoa tí nào.
Giữ giới về miệng mang lại
sự tôn trọng sự thật, sự tin tưởng lẫn nhau và sự ổn định xã hội. Trong
luật Sa di nói: "Phù sĩ xử thế, phủ tại khẩu trung, sở dĩ trảm thân, do kỳ
ác ngôn". Nghĩa là, người đời búa để trong miệng, sở dĩ giết mình là do
lời nói ác". Thế nên, Đức Thế Tôn dạy:
"Chớ nói lời thô ác,
khi ngươi dùng lời thô ác nói với người khác thì người khác cũng dùng
lời thô ác nói với ngươi. Thương thay những lời nóng giận thô ác, chỉ
làm cho các ngươi đau đớn khi chịu như dao gậy mà thôi". (P.C 133)
"Nếu ngươi yên lặng như cái la đồng trước lời thô ác, cãi vã thì ngươi
đã tự tại đi trên đường Niết bàn, người kia chẳng tranhcãi với ngươi
được nữa." (P.C 134)
Những ai vi phạm đạo
nhất thừa, những ai ưa nói lời vọng ngữ, những ai không tin có đời sau
thì chẳng có điều ác nào mà họ không làm được. (P.C 176)
"Thường nói lời vọng
ngữ, có làm nói không làm, người tạo 2 nghiệp ấy, chết cùng đọa vào địa
ngục". (P.C 306)
"Chỉ nói lời chân
thật hữu ích, không nói lời thô ác xúc phạm người khác, đó gọi là Bà la
môn". (P.C 408)
Chúng ta đang sống trong
vọng tưởng. Vì vậy, muốn có một cuộc sống an lạc thực sự thì chúng ta phải
cố gắng phá tan vọng tưởng ấy. Nếu không làm được như thế mà còn chồng
chất lên cái vọng tưởng những sự dối trá, lừa phỉnh thì cuộc sống ngày
càng điên đảo. Trong đó, động lực chính của sự dối trá là lòng ích kỷ, độc
ác, luôn muốn hại người để thỏa lòng dục vọng đen tối của mình. Tuy nhiên,
người lừa dối phỉnh gạt, thêu dệt kia sẽ phải đau khổ vì mình, có khi
vương thù mắc oán, có khi phải tan gia bại sản. Do đó, người phạm giới về
miệng là người đã tự bóp chết tình thương trong lòng của họ. Một khi lòng
từ bi không còn nữa, tức là cái động lực chính đưa đến cuộc sống tốt đẹp
đã mất, thì cơ nguy của những việc đồi bại, xấu xa xuất hiện. Vì vậy, để
cuộc sống hạnh phúc, chúng ta nên giữ giới về miệng.
Không uống
rượu:
Nghĩa là tất cả các chất
men làm say người đều không được uống. Cho đến, các chất độc hại làm con
người say đắm cũng không được chích, hút. Chính mình không dùng, không bảo
người khác, không khuyến khích, ép nài người khác dùng. Có thể nói rượu là
chất nguy hiểm hơn cả thuốc độc. Một chén thuốc độc uống vào là chết ngay,
nhưng chỉ chết một thân hiện tại. Rượu được uống vào rồi thì có nguy cơ
mất giống trí tuệ nhiều đời, nhiều kiếp. Tuy việc uống rượu chính nó không
phải là một tội lỗi như sát sanh trộm cướp..., nhưng nó có thể là nguyên
nhân cho các tội lỗi kia phát sinh. Khi đã uống rượu say thì tội nào cũng
có thể phạm vào được, như câu chuyện sau đây:
Có một anh nông phu đang
cày ruộng, bỗng thấy xuất hiện một hung thần to lớn, kỳ dị, toan giết anh.
Anh kinh sợ khóc lóc xin tha mạng. Vị hung thần bảo:
- Nếu người làm một
trong ba việc này ta sẽ tha chết cho: hoặc là giết cha ngươi, hoặc là
giết mẹ ngươi, hay uống hết lít rượu để trên bàn nhà ngươi.
Anh nông phu suy nghĩ một
hồi rồi trả lời:
- Xin Ngài cho con được
uống lít rượu.
Ác thần nghe xong tỏ vẻ
hài lòng rồi biến mất.
Trưa hôm ấy, anh nông phu
về nhà thấy lít rượu mà ông thân mua để đãi khách, vì nhà sắp có giỗ. Anh
ta vội vàng chụp lấy và nốc cạn 1 hơi. Cha anh thấy đứa con hỗn láo, nắm
gậy xông lại đánh mắng anh. Lúc này, men đã thấm. Anh không còn biết phải
trái, giật gậy của cha và đánh ông một cây chết tốt. Bà mẹ chạy đến ôm con
kêu la. Anh ta chưa hả cơn giận, đánh mẹ túi bụi. Làng xóm chạy lại bắt
anh dẫn lên quan vì tội giết cha, đánh mẹ. Tỉnh lại anh mới biết, uống
rượu là tội nặng nhất trong ba điều mà hung thần đã bắt anh làm.
Câu chuyện trên có vẻ như
thần thoại. Ở đây chúng ta không xét về việc hư cấu của mẫu chuyện mà xét
về nội dung chuyển tải cũng như ý nghĩa của nó. Rượu đã làm cho con người
mù quáng, tối tăm. Chắc chắn ai trong chúng ta cũng sẽ lựa chọn việc làm
như anh nông phu mà có ngờ đâu hậu quả của việc uống rượu đối với thực tại
đời sống con người. Do đó, nếu giữ được giới uống rượu thì: không mất tiền
của, thân ít bệnh tật, không sanh lòng độc ác giết hại, bớt nóng giận, trí
tuệ tăng trưởng, tuổi thọ cao. Được như vậy thì gia đình yên vui, con cái
ít bệnh tật, xã hội hòa mục, nòi giống hùng cường.
Trên đây là những giới căn
bản. Đức Phật chế năm điều này cho cả người tại gia cũng như xuất gia.
Chúng là nền tảng để hình thành nhân cách cao đẹp hơn của những người giữ
10 giới, 250 giới, 348 giới... Tuy nhiên, người ngoại đạo cũng nên giữ
những giới trên, vì đây là nền tảng đạo đức cho cả một xã hội, một cộng
đồng. Không luận một xã hội nào hay một quốc gia nào muốn hùng cường, phồn
thịnh đều có thể áp dụng những điều này. Kinh dạy:
"Trong thế gian này,
ai hay sát sinh, hay nói dối, hay lấy cắp, hay phạm dâm, hay say đắm
rượu chè; ai có các hành vi đó tức là tự đào bỏ thiện căn của mình ngay
ở cõi này." (P.C 246, 247)
Như đã nói, đạo Phật là
đạo chú trọng đến hạnh phúc, an lạc của cuộc sống. Những việc làm, lời nói
phải được trí tuệ soi sáng. Do vậy, trong những giới luật Đức Phật chế ra,
tùy theo mỗi giới mà có khai, giả, trì, phạm, miễn sao cho cuộc sống con
người được lành mạnh, an vui. Cho nên, tùy theo trường hợp mà chúng ta nên
phương tiện quyền xảo, nghĩa là có thể phạm vào một trong những điều răn
cấm trên mà mang lại lợi ích lớn hơn, tốt đẹp hơn cho số đông. Ví như:
giết một người tội ác để cứu được nhiều người; những kẻ trộm ở Ả Rập vẫn
được coi là những vị anh hùng; vào chốn lầu xanh để khuyên lơn, hóa giải
làm cho những người khách làng chơi trở về với lối sống tốt đẹp; nói dối
không phương hại ai mà có thể cứu được người khác; uống rượu để trị
bệnh... Cũng trên cơ sở đó, giới luật của Phật giáo tuy có tính khuôn mẫu
nhưng chúng hoàn toàn phát xuất từ sự tự nguyện của mỗi cá nhân khi họ
nhận thấy được giá trị của nó đối với cá thể và cộng đồng.
Tất cả hành động do thân,
khẩu tạo tác, không một hành động nào mà không có sự tham gia của ý thức.
Ý là đầu mối cho các hành động thiện ác. Trong kinh dạy:
"Trong các pháp, tâm
dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nếu nói hoặc làm với tâm ô nhiễm, sự
khổ sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo". (P.C
1)
"Trong các pháp, tâm
dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nếu nói hoặc làm với tâm thanh tịnh.
Sự vui vẻ sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình". (P.C 2)
Tâm ô nhiễm ở đây chính là
tâm tham, sân, si. Tâm thanh tịnh là tâm vô tham, vô sân, vô si. Do đó,
muốn kiểm soát thân, khẩu, chúng ta cần phải kiểm soát ý, không cho tham,
sân, si khởi lên. Trong thế gian vô minh này, tham, sân, si là cội nguồn
của tất cả tội lỗi. Kẻ thù độc hại nhất của nhân loại là lòng tham, tức là
sự luyến ái, bám víu vào cái được gọi là "ta" hay là "của ta". Tất cả
nghiệp dữ xảy ra do lòng tham gây nên. Khi bị trở ngại lòng tham thì tức
giận, thù hằn.
Chúng ta luôn luôn lựa
chọn, hoặc vui thích những gì vừa ý, hoặc ghét bỏ những gì phật lòng. Vừa
ý thì luyến ái, bám víu. Trái lòng thì bất mãn, xua đuổi, sân hận, oán
ghét. Lòng tham thường thúc dục chúng ta bám víu dục lạc như ăn uống, ngủ
nghỉ, tiền tài, danh vọng, sắc đẹp..., và tìm mọi cách để thỏa mãn nhục
dục. Tâm sân làm cho ta tức giận, lắm khi đến độ cố gắng tiêu diệt điều
không ưa thích. Đến khi ta diệt được tự ngã không còn chấp cái "ta" nữa
thì ta nhận thức được rằng, tất cả đều là tạm bợ và tất cả đều bị định
luật vô thường chi phối. Lúc ấy, tham, sân, si tự nhiên tiêu tan, không
còn nữa.
Tham, sân, si được Đức
Phật nêu rõ:
"Không lửa nào bằng
lửa tham dục, không cố chấp nào bằng tâm sân giận, không lưới nào trói
buộc bằng lưới ngu si, không sông nào đắm chìm bằng sông ái dục". (P.C
251)
Trong khi lần bước từng
thang tiến hóa tinh thần, chúng ta lần hồi từ bỏ luyến ái, thô kệch và vi
tế, mọi hình thức đeo víu vào những gì liên quan đến "ta" và "của ta". Đến
chừng ấy hành giả tự nhiên xem thường các dục lạc, lần hồi chấm dứt mọi
hình thức luyến ái, và một ngày tươi đẹp kia, hoàn toàn dập tắt lửa tham.
Sân hận là một tánh bẩm
sanh cũng khó trị. Phạn ngữ Vayàpàda, bao hàm ý nghĩa tức giận, ác
ý, bất thỏa mãn, hận thù. Tâm sân hận không những bào mòn người có tâm ấy
mà còn ảnh hưởng không tốt đến người xung quanh.
Si là một trạng thái không
có trí tuệ. Nó luôn luôn hiện hữu. Tuy nhiên, si chỉ thể hiện rõ nhất khi
tham và sân bị chìm lắng.
Tham, sân, si được nhà
Phật gọi là giặc tam độc. Chúng phá hoại tất cả các thiện căn - Vì lòng
tham, sân, si mà thế giới chiến tranh, gia đình bất hòa. Muốn trở thành
một người tốt, một người có đạo đức thanh cao, chúng ta phải tự thắng
tham, sân, si nơi chính bản thân mình, tự mình làm hòn đảo cho chính mình:
"Thắng ngàn quân ở
chiến trường, chẳng bằng tự thắng. Người tự thắng là chiến sĩ oanh liệt
nhất". (P.C 103)
"Tự thắng mình vẻ
vang hơn thắng kẻ khác. Muốn thắng mình thì phải tiết chế lòng tham
dục". (P.C 104)
"Chính tự mình làm
chỗ dựa cho chính mình chứ người khác làm sao nương dựa được? Tự mình
khéo tu tập mới đạt đến chỗ nương dựa nhiệm mầu". (P.C 160)
Đó là những lời dạy thiết
thực về giới của Đức Phật. Và giới là tiền đề cho Định.
(b) Định.
Định (Samàdhi - P)
- cũng dịch là Tam-ma-đề (hay Chỉ), là chỉ cho trạng thái tâm ý chuyên
chú, tập trung vào một đề mục, một đối tượng, một biểu thức nhất định ngõ
hầu để tâm không bị xao động, nhiễu loạn, phân tán do những tác động chủ
quan và khách quan.
Thiền định là con đường
dẫn đến giác ngộ tối thượng. Cho nên, Đức Phật đã dạy đệ tử rất nhiều
phương pháp qua các kinh, đặc biệt thông qua Tứ niệm xứ.
"Đây là con đường
độc nhất khiến chúng sanh được thanh tịnh, giúp vượt qua sầu, bi, chấm
dứt khổ ưu, chứng đạt chân lý, chứng ngộ Niết Bàn tức là tứ niệm xứ" (TB
I, P. 56).
"Để đoạn trừ ba lậu
hoặc (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu), tứ niệm xứ cần được tu tập".
Này các Tỳ kheo, các
ông sống hày hộ trì giới bổn,... Rồi y cứ trên giới, an trú trên giới,
hày tu tập tứ niệm xứ".
Này các Tỳ kheo, khi
nào các ông được giới khác thanh tịnh và chánh tri kiến, các ông hãy y
cứ trên giới tu tập tứ niệm xứ theo ba cách: nhiệt tâm, chánh niệm, tỉnh
giác; nhiếp phục những tham ưu ở đời.
"Định niệm hơi thở
vô, hơi thở ra là Thánh trú, là phạm trú, là Như Lai trú".
"Thế Tôn trong mùa
mưa đã an trú vào định niệm hơi thở vô, hơi thở ra. Các Tỳ kheo hữu học
tu tập niệm hơi thở vô, hơi thở ra để đoạn tận lậu hoặc, các bậc A la
hán làm cho sung mãn niệm hơi thở vô, hơi thở ra để được hiện tại lạc
trú". (Theo Tương Ưng V, P. 334, 335)
Thiền định là con đường
xuất ly, là con đường an tịnh. Khi tu tập thiền định, hành giả sẽ cảm được
sự giải thoát tùy theo cấp độ tu tập từ thấp đến cao, từ thô đến tế. Đấy
là lộ trình liên tục ra đi, liên tục tĩnh giác và liên tục từ bỏ những
chứng đắc để liên tục đạt được những trạng thái tâm giải thoát, an lạc cao
hơn. Do đó, định là kỷ luật tâm linh cần thiết đặt ra cho người tu nhằm
đối trị tâm tán loạn, buông lung, phóng dật. Với định, chúng ta luôn luôn
biết rõ, chú ý đến những hoạt động của thân, khẩu. Cho nên, chăn giữ, gạn
lọc tâm (hay định) là nền tảng đạo đức, là điều tối cần thiết nhằm mang
lại hạnh phúc an lạc cho loài người. Chính vì thế, Đức Thế Tôn dạy nên tu
tập thiền định và chế ngự các buông lung bằng những lời sau:
"Không buông lung
đưa đến cõi bất tử, buông lung đưa đến cõi tử vong, người không buông
lung thì không chết, kẻ buông lung thì sống như thây ma". (P.C 21)
"Kẻ trí biết chắc điều ấy nên gắng làm theo sự không buông lung. Không
buông lung thì đặng an vui trong các cõi Thánh". (P.C 22)
"Nhờ kiên nhẫn, dõng mãnh tu thiền định, kẻ trí được giải thoát an ổn,
chứng nhập vô thượng NB". (P.C 23)
"Không buông lung, cố gắng, hăng hái, chánh niệm, khắc kỷ theo tịnh
hạnh, sinh hoạt đúng như pháp, thì tiếng lành càng tăng trưởng". (P.C
24)
"Bằng sự cố gắng, hăng hái, không buông lung, tự khắc chế lấy mình, kẻ
trí tự tạo cho mình hòn đảo, chẳng còn ngọn thủy triều nào nhận chìm
được". (P.C 25)
"Người ám độn ngu si đắm chìm trong buông lung, nhưng kẻ trí lại chăm
giữ tâm không buông lung, như người giàu chăm giữ của báu". (P.C 26)
"Chớ chôn theo buông lung, chớ mê say dục lạc, hày tĩnh giác tu thiền
mới mong đặng đại an lạc". (P.C 27)
"Nhờ trừ hết buông lung, kẻ trí không còn lo sợ gì. Bậc Thánh Hiền bước
lên lầu trí tuệ, nhìn thấy kẻ ngu si còn nhiều lo sợ, như được lên núi
cao, cúi nhìn muôn vật trên mặt đất". (P.C 28)
"Nhờ không buông
lung, Ma-già được làm chủ chư thiên. Không buông lung được người khen
ngợi, buông lung bị người khinh chê". (P.C 30)
"Tỳ kheo thường ưa không buông lung, hoặc sợ thấy sự buông lung. Ta ví
họ như ngọn lửa hồng đốt thiêu tất cả kiết sử lớn nhỏ". (P.C 31)
"Tỳ kheo nào thường ưa không buông lung, hoặc sợ thấy sự buông lung. Ta
biết họ gần đến Niết Bàn, nhất định không bị đọa lạc dễ dàng như trước".
(P.C 32)
"Đệ tử Kiều Đáp Ma,
phải luôn tự tĩnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường ưa tu thiền quán".
(P.C 301)
"Các ngươi hù nỗ lực
lên! Như Lai chỉ dạy cho con đường giác ngộ. Sự trói buộc của ma vương
sẽ tung sức Thiền định của các ngươi mà được giải thoát". (P.C 276)
"Như thành ở biên
khu, được phòng hộ trong ngoài. Tự phòng hộ mình cũng vậy, giây lát chớ
buông lung, hễ giây lát buông lung là giây lát đọa vào địa ngục". (P.C
315)
"Chế phục được mắt,
lành thay; chế phục được tai, lành thay; chế phục được mũi, lành thay;
chế phục được lưỡi, lành thay; chế phục được thân, lành thay; chế phục
được tâm ý, lành thay; chế phục được hết thảy, lành thay. Tỳ kheo nào
chế phục được hết thảy thì giải thoát hết khổ". (P.C 360, 361)
"Các ngươi hày tự
cảnh sách, các ngươi hày tự phản tỉnh! Tự hộ vệ và chánh niệm mới là Tỳ
kheo an trú trong an lạc". (P.C 379)
Và Định là cơ sở cho Tuệ
sinh khởi.
(c) Tuệ.
Mục đích cuối cùng của
Phật pháp là có được sự giác ngộ bằng trí tuệ. Nội dung của tuệ học chính
là toàn bộ giáo lý mà Đức Phật đã thuyết giảng trong 45 năm, được tập
trung trong giáo lý Duyên Khởi và giáo lý Tứ Đế. Nó bao gồm đủ cả giới học
và định học, hay giáo lý Tứ Đế và Nhân duyên sinh. Như vậy, tuệ học là sự
thấu rõ tường tận về bốn chân lý (khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt tận khổ
và con đường đưa đến sự diệt tận khổ), và hiểu rõ duyên khởi (trực nhận
rằng các pháp hữu vi ở thế gian này đều do nhiều yếu tố, nhờ nhiều nhân
duyên mà có mặt và cũng do nhân duyên mà đoạn diệt). Hiểu rằng bản chất
của các pháp là như vậy. Các pháp là vô thường, là vô ngã, nằm ngoài sự
sáng tạo của đấng "tối cao". Do đó, không nên vì sợ hãi, bất an mà quy đạo
các vị thần núi, thần cây...
"Vì sợ hãi bất an mà
đến quy y thần núi, quy y rừng cây, quy y miếu thờ thọ thần, nhưng đó
chẳng phải là chỗ nương tựa yên ổn, là chỗ quy y tối thượng. Ai quy y
như thế thì khổ não vẫn còn nguyên. Trái lại, quy Phật, Pháp, Tăng, phát
trí tuệ chơn chánh, hiểu thấu bốn lẽ mầu: biết khổ, biết khổ nhân, biết
khổ diệt, biết tám chi thánh địa diệt trừ khổ não. Đó là chỗ quy y an
ổn, là chỗ quy y tối thượng. Ai quy y được như vậy, giải thoát hết khổ
đau". (P.C 188, 189, 190, 191, 192)
Trí tuệ ở đây chính là sự
nhìn đúng sự thật của cuộc sống, nhìn đúng sự thật nhân sinh và vũ trụ; nó
không bao giờ xem xét sự vật bằng cảm quan, bằng suy lường, bằng cảm nhận;
mà nó nhìn sự vật, hiện tượng qua sự thể nghiệm thiền tập và đi vào chánh
định, chánh kiến. Đức Phật dạy:
"Người tâm không an
định, không hiểu biết chánh pháp, lòng tin không kiên cố thì trí tuệ khó
thành". (P.C 38)
Trí tuệ có thể phân tích
rạch ròi ra thành 3 loại:
- Loại thứ 1: Trí tuệ
phát sinh bằng cách nghe lời dạy của người khác (sutamaya-pannà).
- Loại thứ 2: Trí tuệ theo lối hiểu biết phát sinh do sự suy luận
(cintamaya-pannà).
- Loại thứ 3: Trí tuệ có được bằng lối thiền định để được khai thông,
sáng suốt (bhàvanàmaya-pannà).
Hai loại đầu chỉ cho ta sự
sáng suốt về lý luận thế gian. Do 2 phương pháp ấy ta chỉ có thể hiểu biết
sự vật trong phạm vi mà triết lý có thể thấu hiểu đến như phân biệt thiện,
ác; những gì nên làm, những gì không nên làm; không bị lầm chơn, phản
chánh:
"Phi chơn tưởng là
chơn, chơn thật lại thấy phi chơn, cứ tư duy một cách tà vạy, người như
thế không thể đạt đến chân thật". (P.C 11)
"Chơn thật nghĩ là chơn thật, phi chơn biết là phi chơn, cứ tư duy một
cách đúng đắn, người như thế mau đạt đến chân thật". (P.C 12)
Xử sự lỗ mãng đâu
phải hạnh của người thờ phụng chánh pháp. Vậy người trí cần biện biệt
đâu chánh đâu tà". (P.C 256)
Đối với loại thứ ba, nhờ
thiền định ta có thể chứng được bằng trực giác những chân lý ngoài phạm vi
lý trí. Bhàvanà, hay trạng thái chú tâm vào đề mục thiền định không phải
là tâm trạng mơ màng, tiêu cực; mà là một sự nỗ lực, linh động, tích cực.
Chính nhờ thiền định ta có thể vượt qua mọi cảnh giới vật chất, nhờ thiền
định ta có thể đặt mình vào đời sống kỷ cương, tự kiểm soát thân tâm, tự
mình giác ngộ và sáng suốt hoàn toàn. Thiền định là thuốc bổ cho cả tâm
lẫn trí. Loại trí tuệ này được Đức Phật đề cập, tán thán rất nhiều:
"Sống trăm năm mà
không thấy pháp vô thường sanh diệt, chẳng bằng sống một ngày mà thấy
pháp vô thường sanh diệt". (P.C 113)
"Sống trăm năm mà không thấy đạo tịch tịnh vô vi, chẳng bằng sống một
ngày mà thấy đạo tịch tịnh vô vi". (P.C 114)
"Sống trăm năm mà không thấy pháp tối thượng, chẳng bằng sống một ngày
mà thấy pháp tối thượng". (P.C 115)
"Con thiên nga chỉ
bay được giữa hư không, người có thần thông chỉ bay được khỏi mặt đất,
duy bậc đại trí trừ dẹp ma quân mới bay được khỏi thế gian này". (P.C
175)
"Các hành là vô
thường", khi được trí tuệ soi xét như thế, thì sẽ nhàm lìa thống khổ. Đó
là thanh tịnh đạo". (P.C 277)
"Các hành đều là khổ", khi được trí tuệ soi xét như thế, thì nhàm lìa
thống khổ. Đó là thanh tịnh đạo". (P.C 278)
Các pháp đều vô ngã , khi được trí tuệ soi xét như thế, thì sẽ nhàm lìa
thống khổ. Đó là thanh tịnh đạo". (P.C 279)
Như vậy, trí tuệ vô lậu
khác hẳn với trí tuệ thế gian hay tri thức thế gian. Trí tuệ vô lậu là con
đường giải thoát hoàn toàn, là nguồn sống an lạc, hạnh phúc chân thật; mà
trí tuệ thế gian chỉ là yếu tố trợ duyên.
Giới - Định - Tuệ, ba môn
vô lậu học, chỉ có trong giáo lý của Đức Phật. Ba môn học này giúp cho
hành giả vượt khỏi sự trói buộc của phiền não, hoàn toàn tự tại; là phương
tiện giúp cho hành giả không bị rớt trong ba cõi Dục giới, Sắc giới, Vô
Sắc giới, tâm không bị ràng buộc bởi mọi lậu hoặc, không dừng lại ở phước
báo nhân thiên.
Trên cơ sở phân tích, có
thể nói rằng, nhân giới sanh định, nhân định phát tuệ. Nhưng thực ra, Giới
- Định - Tuệ có mối quan hệ logic biện chứng, trùng trùng nhân quả và
tương quan mật thiết với nhau như một vòng tròn khép kín, không thể tách
rời nhau. Cho nên, Đức Phật đã nhiều lần thuyết pháp với Giới - Định -
Tuệ; cái mà chúng ta cần phát triển gần như đồng bộ tùy theo khả năng từng
người. Ý nghĩa cuộc sống, giá trị đạo đức được Đức Phật nhấn mạnh:
"Sống trăm năm mà
phá giới, không tu thiền, chẳng bằng chỉ sống một ngày mà trì giới, tu
thiền định". (P.C 110)
"Các ghi nhớ người
hãy nỗ lực sám hối như con ngựa đã hay còn thêm roi. Hã lấy chánh tín,
tịnh giới, tinh tấn, tam - ma - địa (thiền định), trí phân biệt chánh
pháp và minh hạnh túc để tiêu vô lượng thống khổ". (P.C 144)
II.2)
Những đặc hạnh tốt đẹp.
Khai thác một hầm mỏ là
một điều khó; để tìm một mỏ kim cương, mỏ dầu hay một nhiên liệu quý báu
khác, con người phải tốn hao biết bao tiền của và công sức; phải trải qua
biết bao gian khổ, có khi phải nguy hiểm đến tánh mạng để đào sâu trong
lòng đất. Cũng vậy, những ai muốn tận dụng cơ hội quý báu được sanh làm
người; muốn khai thác kho tàng quý báu đang ngủ ngầm trong tâm, thì phải
hết sức cố gắng gột rửa những tật xấu còn lại, phát triển đức hạnh, hướng
đến cao thượng, trong sạch - Muốn được như thế, mỗi người phải kiên trì,
cố gắng, gia công, nhẫn nại...
Sân hận (dosa) là một tật
xấu có sức tàn phá vô cùng khốc liệt. Đối diện với lòng sân, là tâm "từ"
(mettà), một đức độ nhẹ nhàng êm dịu, làm cho con người trở nên cao thượng
tuyệt luân.
Hung bạo (himsà) là một
tật xấu khác đã gây biết bao trọng tội, những điều tàn ác trên thế giới.
Tâm "bi" (karunà) là vị thuốc có thể tiêu trừ bịnh hung bạo.
Ganh tỵ (issà) là chất độc
cho cơ thể, là động lực thúc đẩy con người vào những tranh đua nhơ bẩn và
những cuộc tranh chấp hiểm nguy. Phương thuốc nhiệm mầu và công hiệu nhất
để trị bịnh ganh tỵ là tâm "hỉ" (mudità).
Bám víu những gì ưa thích
và bất toại nguyện với những gì không vừa lòng làm cho tâm trí mất bình
thản. Sự phát triển tâm xả (upekkhà) sẽ làm cho 2 tệ đoan trên dần dần
tiêu diệt.
Đây là những đặc tính giúp
con người trở nên tốt đẹp, hoàn thành và có một lối sống của bậc thánh.
Nếu mỗi người tự cố gắng thực hành, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc,
nam nữ v.v...thì mỗi người sẽ trở thành một công dân lý tưởng trong một
thế giới hòa bình.
Tâm từ (mettà).
Nghĩa đen của mettà là cái
gì làm cho lòng êm dịu. Mettà là tâm trạng của một người bạn tốt. Mettà là
lòng mong ước thành thật cho tất cả chúng sanh đều được an lành vui vẻ.
Mettà có khi được định nghĩa là lòng mong mỏi chân thành của người bạn
hiền thành thật muốn cho bằng hữu mình được an vui hạnh phúc.
Tâm từ không phải là sự
yêu thương thiên về xác thịt, cũng không phải là lòng luyến ái đối với
người nào. Tình dục và luyến ái là nguồn gốc của bao phiền não. Tâm từ
không phải chỉ là tình thương riêng biệt đối với người láng giềng. Bởi vì,
người có tâm từ không phân biệt kẻ thân người sơ. Tâm từ không phải chỉ là
tình huynh đệ giữa người và người mà phải bao trùm tất cả chúng sanh,
không phân biệt. Bởi vì, loài cầm thú, các người bạn xấu số của chúng ta
cũng cần đến sự giúp đỡ và tình thương của chúng ta.
Nói tóm, tâm từ bao la,
rộng rãi, đồng đều đối với chính mình cũng như đối với những người thân
cận, những người không quen biết và những người có ác cảm với mình. Có
lòng từ ái đối với người khác không có nghĩa là phải quên mình. Sự hy sinh
bản thân mình vì một lợi ích nào là một đức độ cao thượng khác; không chấp
ngã cũng là một loại tâm cao thượng khác nữa. Đó là những quan niệm tế nhị
mà ta không nên lẫn lộn. Người thực hiện từ tâm đến mức độ cùng tột sẽ
thấy mình đồng hóa với tất cả chúng sanh; không còn sự khác biệt giữa mình
và người. Cái gọi là "ta" lần lần mở rộng lan tràn cùng khắp càn khôn vạn
vật. Mọi sự chia rẽ đều tiêu tan, biến mất như đám sương trong nắng sáng.
Vạn vật trở thành một, đồng thể, đồng nhất. Tâm từ cùng khắp thì tâm sân
hận, ác ý, thù oán, oán ghét không thể phát sinh. Ngược lại, oán thù cũng
không thể chứa mettà. Thế nên, Đức Phật dạy:
"Chớ vì lợi ích của
kẻ khác mà quên hẳn lợi ích cho chính mình. Người biết lo lợi ích mình
mới thường chuyên tâm vào những điều lợi ích tất cả". (P.C 166)
Không những dập tắt được
lòng sân, tâm từ còn diệt được các mầm tư tưởng bất thiện đối với người
khác. Người có tâm từ không khi nào nghĩ đến làm hại, làm giảm giá trị,
hoặc bài xích ai, không bao giờ sợ ai cũng không bao giờ làm ai sợ.
Kẻ thù gián tiếp thường
mang lốt bạn của tâm từ một cách sâu ẩn bất ngờ là lòng trìu mến vị kỷ.
Nếu quan niệm không đúng, tâm từ dễ dàng trở thành luyến ái. Nó hành động
như người ẩn nấp trong rừng sâu hay ở sau một sườn núi để chờ hại người
khác. Tâm từ chỉ tạo an lành hạnh phúc.
Khi nhìn vào gương, nếu
mặt ta vui vẻ hiền lành, phản ảnh của nó sẽ là hiền lành vui vẻ. Trái lại,
nếu mặt ta quau quó, phản ảnh của nó cũng quau quó. Cũng vậy, thế gian bên
ngoài là phản ảnh những hành vi tư tưởng thiện hay ác của con người. Người
hèn hạ xấu xa chỉ biết nhìn vào lỗi của kẻ khác. Như chúng ta biết, trong
con người tốt nhất vẫn có những điểm xấu; mà trong con người xấu nhất cũng
có những điểm tốt - "nhân bất thập toàn". Tại sao ta lại tìm phần xấu xa
tội lỗi mà không để ý đến phần tốt của người. Nếu mọi người nhìn phần tốt
đẹp của nhau thì nhân loại hạnh phúc biết bao. Còn hơn thế, chúng ta nên
đem tâm từ đến cho những người ác tâm với mình, nếu có. Đem tâm từ đến với
những người mình coi là thù nghịch. Lấy thái độ ôn hòa đối lại những cử
chỉ bất hòa, như lời Đức Phật dạy:
"Sung sướng thay ta
sống không thù oán giữa những người thù oán. Giữa những người thù oán,
ta sống không thù oán". (P.C 197)
Tâm bi (Karunà).
Bi là động lực làm cho tâm
rung động trước sự đau khổ của kẻ khác, là cái có thể xoa dịu đau khổ của
người khác. Đặc tính của tâm bi là ý muốn giúp người khác thoát khỏi cảnh
khổ.
Lòng của người có tâm bi
thật là mềm dịu. Ngày nào chưa cứu giúp được kẻ khác thì tâm bi không hề
thỏa mãn. Lắm khi để làm êm dịu sự đau khổ của người khác, người có tâm bi
không ngần ngại hy sinh đến cả tính mạng. Chính do nơi tâm bi mà con người
có thể hoàn toàn vị tha trong khi phục vụ. Người có tâm bi không sống cho
mình mà sống cho kẻ khác, luôn tìm cơ hội để giúp đời. Tuy vậy, họ không
bao giờ mong đền ơn, đáp nghĩa.
Đối tượng của tâm bi là
những kẻ nghèo nàn đói rách, những người túng thiếu cơ hàn, đau ốm, cô đơn
dốt nát, hư hèn. Người nào có đời sống bẩn thỉu, buông lung là hạng người
cần đến tâm bi của những tấm lòng trắc ẩn cao thượng, không luận nam nữ;
không phân chủng tộc, giai cấp, tôn giáo...Người giàu tiền của có bổn phận
giúp đỡ kẻ nghèo về vật chất. Người giàu tinh thần cũng có bổn phận giúp
đỡ kẻ nghèo tinh thần, mặc dù người ấy có thể là đại phú gia. Tiền rừng
bạc biển, một mình không tạo nên hạnh phúc hoàn toàn; kho tàng của báu
không đem lại an vui cho tinh thần. Tâm trạng an vui chỉ do kho tàng đạo
đức mà ra. Hạng người phóng đãng tội lỗi càng được các nhà đạo đức cao
thượng thương xót hơn, vì họ là những người bịnh hoạn về tinh thần. Ta
không nên khinh rẻ hoặc bài xích những người yếu đuối ấy, vì họ bị lầm
đường lạc lối. Trái lại, ta nên thương xót dìu dắt họ trở lại đường phải.
Tâm bi phải bao trùm tất cả chúng sanh đau khổ. Nhưng riêng với những
người bịnh hoạn về tinh thần, ta nên có lòng thương xót đặc biệt và hết
lòng giúp đỡ, dẫn dắt họ trở lại đường lành. Như Đức Phật xưa kia độ cho
Ambapàli, người phụ nữ lạc bước giang hồ. Và tận tâm tế độ Angulimàla, tên
sát nhơn tàn ác, toan hại Ngài. Về sau, cả hai đều theo Ngài và hoàn toàn
đổi tánh. Bên trong mỗi người, dù xấu xa thế nào cũng ngầm có những đức
tính tốt đẹp. Đôi khi chỉ có lời nói phải, đúng lúc, cũng có thể làm đổi
hẳn con người. Như vua Àsoka ngày xưa, tàn bạo đến nỗi, người đời bấy giờ
gọi là "Àsoka, con người tội lỗi". Thế mà, khi nghe được lời nói phải của
một thầy Sadi trẻ tuổi, Ngài đổi hẳn lại tính tình, mạnh tiến trên con
đường tự giác và trở thành, Àsoka con người hiền đức".
Tâm bi không nhìn nhận thế
lực và oai quyền của hạng người được xã hội coi là trên trước. Ta cũng nên
nhận định rằng, tâm "bi" của Phật giáo không phải là giọt nước mắt nhỏ
suông gọi là thương xót. Kẻ thù gián tiếp của tâm bi là âu sầu, phiền não
(domanassa).
Tâm từ và tâm bi thường đi
chung với nhau. Người sống có tâm từ bi thì mọi hận thù trên thế gian này
sẽ tiêu tan.
"Ở thế gian này chẳng
phải hận thù trừ được hận thù. Chỉ có từ bi trừ được hận thù. Đó là định
luật ngàn thu". (P.C 5)
Tâm hỷ (Mudità).
Hỷ không phải là trạng
thái thỏa thích suông, cũng không phải là cảm tình riêng đối với một người
nào. Hỷ là lòng vui thích trước hạnh phúc của kẻ khác, trước sự thành công
của mọi chúng sanh. Lòng ganh tỵ là kẻ thù trực tiếp của hỷ. Chính hỷ là
cái vui làm tiêu tan lòng ganh tỵ. Ganh tỵ có sức phá hoại vô cùng. Có
nhiều người lấy làm khó chịu bực tức khi thấy hoặc nghe người khác thành
tựu mỹ mãn một công việc; thấy người khác thất bại thì vui. Người đó không
thể chịu đựng sự thành công của kẻ khác. Họ cố gắng phá hoại và bóp méo sự
thật để chê bai người thay vì vui lên để tán dương thắng lợi của người ấy.
Người có tâm hỷ sẽ trực
tiếp hưởng nhiều lợi ích do tâm ấy đem lại cho mình hơn cả người khác, vì
tâm hỷ không chấp chứa lòng ganh tỵ. Do đó, họ không bao giờ trở ngại tiến
bộ và phá rối sự an lạc của người khác.
Cũng như tâm từ, tâm hỷ
đối với thân bằng quyến thuộc phát hiện rất dễ dàng, nhưng khó mà bộc lộ
trước những người thù nghịch. Thật vậy, con người tầm thường không bao giờ
bộc lộ được vẻ vui trước cái vui của kẻ thù. Lòng ganh tỵ lại còn thúc đẩy
họ làm những điều vô cùng độc ác. Đó là bản tính tội lỗi của người thế